Như vậy, việc tái cơ cấu theo Đề án tái cơ cấu nền kinh tế trong đó có tái cơ cấu đầu tư công của Chính phủ tháng 2 năm 2013 vẫn chưa có tác động nhiều đến cơ cấu đầu tư của nền kinh tế.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH
KHOA SAU ĐẠI HỌC
KINH TẾ VĨ MÔ
ĐỀ TÀI SỐ 7:
TÌNH HÌNH KINH TẾ VĨ MÔ 2014
VÀ TRIỂN VỌNG 2015
Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS.Hạ Thị Thiều Dao
Hoàng Hà Anh
Lê Mỹ Nguyện
Nguyễn Thành Đồng Phạm Trần Trí Thức
Nguyễn Thị Thủy Bùi Thị Lan
Lớp : Cao học 15A
Trang 2TP Hồ Chí Minh, tháng 11 năm 2014
NHÓM 9 - ĐỀ TÀI 7:
TÌNH HÌNH KINH TẾ VÍ MÔ 2014 VÀ TRIỂN VỌNG 2015
Phân công công việc:
2 Các chính sách kinh tế vĩ mô tại Việt Nam Thành Đồng
1 Dự báo tình hình kinh tế thế giới Trí Thức
2 Triền vọng phát triển kinh tế Việt Nam Thủy
Trang 3A TÌNH HÌNH KINH TẾ VĨ MÔ NĂM 2014
Từ đầu năm đến nay, kinh tế xã hội tiếp tục có chuyển biến tích cực, nền kinh tế tiếp tục phục hồi Sau khi tăng trưởng GDP quý III/2014 bất ngờ đạt mức 6,19%, nâng tăng trưởng GDP của cả 3 quý lên 5,62% Chính vì vậy, mục tiêu tăng trưởng GDP 5,8% năm nay là khá khả thi
1.1.1 Tiêu dùng và dịch vụ
Tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 8 đạt 242,3 nghìn tỷ đồng, tăng 1,49% so với tháng trước và tăng 11,97% so với cùng kỳ năm trước (Hình 1) Có
sự tăng nhẹ về tổng mức bán lẻ Tháng 6, tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt tỷ lệ cao nhất 17,15% Tuy nhiên, tháng 7 và 8 lại chững lại với tỷ lệ thấp hơn nhưng cao hơn so với tỷ lệ tăng của tháng 2, 3, 4 và 5
Hình 1 Tỷ lệ tăng tổng mức bán lẻ so với cùng kỳ (%)
13.35
11.57
10.31 11.96 11.49
17.15
11.92 11.97
0.00 5.00 10.00 15.00 20.00
Jan-14 Feb-14 Mar-14 Apr-14 May-14 Jun-14 Jul-14 Aug-14
Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam
Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 8 đạt 184,2 nghìn tỷ đồng, tăng 0,9% so với tháng trước và tăng 12,2% so với cùng kỳ năm trước
Tính chung 8 tháng năm nay, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 1900,4 nghìn tỷ đồng, tăng 11,4% so với cùng kỳ năm 2013, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 6,4%, cao hơn mức tăng 5,3% của cùng kỳ năm 2013 Thị trường giá cả ổn định là một trong những nguyên nhân làm cho hàng hóa tiêu dùng tăng khá hơn Mặt khác, lượng khách quốc tế đến Việt Nam 8 tháng năm nay tăng cao hơn mức tăng của cùng kỳ năm trước cũng góp phần kích thích tăng cầu tiêu dùng
1.1.2 Đầu tư
Hình 2 Vốn đầu tư toàn xã hội (tỷ VNĐ) và tỷ lệ vốn đầu tư toàn xã hội/GDP (%)
29.6 29.6
31.2
30.4
28.4
30.1
26 28 30 32
0 100 200 300 400
Q1/2013 Q2/2013 Q3/2013 Q4/2013 Q1/2014 Q2/2014
Trang 4Ghi chú: Tỷ trọng vốn đầu tư toàn XH so với GDP được tính lũy kế từ đầu năm
Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam
Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện quý 1 và 2 năm 2014 theo giá hiện hành ước tính đạt 502,5 nghìn tỷ đồng, tăng 8,2% so với cùng kỳ năm trước và bằng 30,1% GDP (thấp hơn tỷ lệ 30,4 của năm 2013)
Hình 3 Cơ cấu đầu tư toàn xã hội Q1/2013- Q1-2014 (%)
0%
20%
40%
60%
80%
100%
Q1/2013 Q2/2013 Q3/2013 Q4/2013 Q1/2014 Q2/2014
Đầu tư từ NSNN/Tổng đầu tư của toàn XH
Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam
Cơ cấu chi đầu tư từ NSNN so với tổng đầu tư của toàn xã hội (Hình 3) Quí 2 năm
2014 tăng lên 41,1%, cao hơn mức tăng bình quân quí của năm 2013 (39,9%) và cao hơn so với Quí 1 năm nay (36,5%) Như vậy, việc tái cơ cấu theo Đề án tái cơ cấu nền kinh tế trong
đó có tái cơ cấu đầu tư công của Chính phủ (tháng 2 năm 2013) vẫn chưa có tác động nhiều đến cơ cấu đầu tư của nền kinh tế
Đầu tư từ ngân sách Nhà nước
Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tháng 8 ước tính đạt 19610 tỷ đồng, bằng 10,6% kế hoạch năm và tăng 3,0% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Vốn trung ương 4314 tỷ đồng, bằng 10,9% và tăng 2,6%; vốn địa phương 15296 tỷ đồng, bằng 10,5% và tăng 3,2%
Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước 8 tháng năm nay đạt 129046 tỷ đồng, bằng 69,7% kế hoạch năm và tăng 2,1% so với cùng kỳ năm 2013
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam tính từ đầu năm đếnngày 20/8/2014 thu hút 992 dự án được cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 7.246,2 triệu USD, tăng 29,0% về số
dự án và giảm 2,1% về số vốn so với cùng kỳ năm 2013 Đồng thời có 349 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước được cấp vốn bổ sung với 2.985,9 triệu USD Như vậy tổng vốn đăng ký của các dự án cấp mới và vốn cấp bổ sung đạt 10.232,1 triệu USD, giảm 19,0% so với cùng kỳ năm 2013 (Hình 4) Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 8 tháng năm nay ước tính đạt 7,9
tỷ USD, tăng 4,5% so với cùng kỳ năm trước
Trang 5Hình 4 FDI cấp phép, FDI đăng ký mới và FDI thực hiện theo tháng
0
1
2
3
4
5
6
FDI cấp phép(tỷ $) FDI đăng ký mới (tỷ $) FDI thực hiện (tỷ $)
Ghi chú: số liệu lấy vào ngày 20 hàng tháng Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI cam kết trong tháng 10 đạt 2,52 tỷ USD, tăng mạnh so với tháng 9 (950 triệu USD) Tổng FDI đăng ký mới và tăng thêm 10 tháng đầu năm đạt 13,7 tỷ USD, bằng 71,2% so với cùng kỳ 2013 Tuy nhiên, tổng vốn FDI đã giải ngân trong 10 tháng đầu năm đạt 10,15 tỷ USD, tăng 5,9% so với cùng kỳ năm 2013 Các lĩnh vực thu hút nhiều FDI đăng ký nhất là công nghiệp chế biến - chế tạo (9,7 tỷ USD), bất động sản (1,2 tỷ USD) và xây dựng (1,0 tỷ USD) Hàn Quốc đang dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm 3,6 tỷ USD, tiếp đến là Singapore 2,6 tỷ USD, Hồng Kông 1,67 tỷ USD
và Nhật Bản 1,66 tỷ USD
1.1.3 Xuất nhập khẩu:
Trang 6Tháng 10/2014 kim ngạch xuất khẩu cả nước đạt 13,2 tỷ USD, kim ngạch nhập khẩu đạt 13,6 tỷ USD Tính chung 10 tháng, kim ngạch xuất khẩu đạt 123,1 tỷ USD (tăng 13,4% so với cùng kỳ năm 2013), kim ngạch nhập khẩu đạt 121,2 tỷ USD (tăng 11,2% so với cùng kỳ năm 2013) Cán cân thương mại xuất siêu 1,87 tỷ USD (10 tháng đầu năm 2013 xuất siêu 97 triệu USD) Các mặt hàng XK chủ lực là điện thoại và linh kiện (19,2 tỷ USD), hàng dệt may (17,6 tỷ USD), giày dép (8,2 tỷ USD)
Về thị trường hàng hóa xuất khẩu, Hòa Kỳ vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với 18,5 tỷ USD, tăng 22,5% so với cùng kỳ năm 2013; tiếp đến là EU với 17,9 tỷ USD, tăng 13,3%; ASEAN đạt 12,4 tỷ USD, tăng 0,5%; Trung Quốc đạt 9,8 tỷ USD, tăng 15,2%, cao hơn nhiều so với mức tăng 1,6% của cùng kỳ năm 2013; Nhật Bản đạt 9,9 tỷ USD, tăng 12,7%; Hàn Quốc đạt 4,3 tỷ USD, tăng 3,1%
Về thị trường hàng hóa nhập khẩu, Trung Quốc tuy vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất vào Việt Nam với kim ngạch đạt 27,6 tỷ USD, tăng 17,3% so với cùng kỳ năm 2013, nhưng thấp hơn mức tăng 27% của cùng kỳ năm trước Do đó nhập siêu từ Trung Quốc 8 tháng ước tính đạt 17,8 tỷ USD, tăng 18,5% so với cùng kỳ năm 2013 và thấp hơn mức tăng 50% của cùng kỳ năm 2013 Tiếp đến là ASEAN với 15,2 tỷ USD, tăng 8,4%; Hàn Quốc đạt
14 tỷ USD, tăng 5,7%; Nhật Bản đạt 8,1 tỷ USD, tăng 8%; EU đạt 5,8 tỷ USD, giảm 9,1%; Hoa Kỳ 4,2 tỷ USD, tăng 19,9%
Như vậy, về xuất khẩu ròng 10 tháng đầu năm 2014 Việt Nam xuất siêu 1,87 tỷ USD
Tóm lại, việc phân tích xu hướng thay đổi của các thành phần của tổng cầu cho thấy các thành phần của tổng cầu đang có xu hướng tăng trở lại với tín hiệu lạc quan hơn về sự phát triển kinh
tế khi chỉ số niềm tin của người tiêu dùng đạt được mức cao nhất kể từ tháng 3 Trong thời gian tới,
để có được sự bứt phá về sức cầu của nền kinh tế thì rất cần phải có sự tác động từ phía chính sách kinh tế như chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa của Chính phủ
Số liệu từ Tổng cục Thống kê (Hình 9 và 10) cho thấy ngành có đóng góp lớn nhất vào giá trị của GDP là ngành dịch vụ Đứng thứ hai là công nghiệp và xây dựng Hai quí đầu năm
2014, ngành dịch vụ đóng góp 43,8% GDP(cao hơn mức bình quân năm 2013 khoảng 2,5
Trang 7điểm %), ngành công nghiệp và xây dựng đóng góp 38,84% GDP (chỉ cao hơn mức bình quân năm 2013 là 0,5 điểm %)
Hình 9 Giá trị hiện hành của GDP theo cơ cấu ngành (tỷ đồng)
0 200000 400000 600000 800000 1000000 1200000 1400000 1600000
Nông, lâm nghiệp và thủy sản Công nghiệp và XD Dịch vụ
Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam
Hình 10 Cơ cấu GDP theo ngành (%)
0,00 10,00 20,00 30,00 40,00 50,00
Nông, lâm nghiệp và thủy sản /GDP Công nghiệp và XD /GDP
Dịch vụ /GDP
Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam
Như vậy, xu hướng biến động của ngành dịch vụ và công nghiệp và xây dựng sẽ có ảnh hưởng lớn tới sự thay đổi của GDP của Việt Nam
Theo Tổng cục Thống kê, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (Hình 11) đang trong xu hướng tăng trở lại.Tháng 8, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước tính tăng 6,7%, cao hơn so với cùng kỳ năm trước (4,4%), trong đó công nghiệp khai khoáng tăng 0,1%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,4%; sản xuất và phân phối điện tăng 10,0%; cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải tăng 7,4%
Chỉ số sản xuất công nghiệp trung bình 8 tháng 2014 ước tính tăng bình quân so với cùng kỳ 2013 là 6,88% Tuy nhiên, so với mức bình quân năm 2013 thì tỷ lệ này lại thấp hơn
Hình 11 Chỉ số sản xuất công nghiệp so với cùng kỳ năm trước (%)
Trang 8104.4
115.2
106.1 106.7
90 95 100 105 110 115 120 125
Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam
Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 01/8/2014, tăng 13,4% so với cùng thời điểm năm 2013 Tỷ lệ tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo bình quân 7 tháng là 77,3%, trong đó một số ngành có tỷ lệ tồn kho cao: Sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu 158,9%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất 125,0%; sản xuất, chế biến thực phẩm 99,1%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn 87,2%; sản xuất kim loại 89,2%
Hình 12 Tốc độ tăng chỉ số hàng tồn kho của ngành công nghiệp chế biến các
tháng so với cùng kỳ năm trước (%)
19,9
13,1
9
12,7 12,6 12,8 13,2 13,4
0
5
10
15
20
25
Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam
Trong khi mức tăng của chỉ số sản xuất công nghiệp tương đối ổn định, Hình 12 cho thấy chỉ số hàng tồn kho đang có xu hướng tăng Điều này cho thấy khả năng hấp thụ hàng hóa của nền kinh tế vẫn chưa có sự cải thiện sau nhiều nỗ lực của chính phủ trong điều tiết nền kinh tế
Chỉ số Nhà Quản trị mua hàng ngành sản xuất tại Việt Nam của HSBC được xây dựng trên dữ liệu thu thập hàng tháng từ 400 nhà quản trị mua hàng ở các doanh nghiệp sản xuất tham gia trả lời các bảng câu hỏi khảo sát Nhóm khảo sát được phân theo khu vực địa lý và theo Tiêu chuẩn Phân Ngành (SIC) dựa trên sự đóng góp của ngành vào GDP của Việt Nam Chỉ số trên 50 điểm cho thấy các điều kiện kinh doanh đang được cải thiện so với tháng trước, ngược lại kết quả dưới 50 điểm cho thấy sự giảm sút
Theo số liệu thu thập được, kể từ tháng 9 năm 2013 đến nay (Hình 13), chỉ số PMI liên tục cao hơn ngưỡng 50 điểm Điều này cho thấy điều kiện kinh doanh tháng sau có sự cảo
Trang 9thiện so với tháng trước Tuy nhiên kể từ tháng 5, do ảnh hưởng của sự kiện Biển Đông, chỉ số PMI đã giảm liên tiếp từ mức 52,5 điểm vào tháng 5 đã giảm xuống gần sát ngưỡng 50 điểm vào tháng 8 (50,3 điểm)
Hình 13 Chỉ số quản trị mua hàng PMI
Nguồn: HSBC
PMI tháng 10 giảm nhẹ so với tháng 9, từ mức 51,7 xuống mức 51,0, thấp hơn mức 51,5 của cùng kỳ Tuy nhiên, đây là tháng thứ 14 liên tiếp chỉ số sản xuất công nghiệp đạt trên
50 điểm Điều này cho thấy môi trường kinh doanh đã từng bước được cải thiện trong 14 tháng qua
Tóm lại, đối với phía cung chỉ số sản xuất công nghiệp tăng nhưng chưa có sự bứt phá
rõ ràng Cùng với xu hướng tăng lên của chỉ số hàng tồn kho và xu hướng giảm của chỉ số PMI cho thấy điều kiện sản xuất và kinh doanh của các doanh nghiệp hiện tại vẫn còn khó khăn Để thúc đẩy sản xuất, Chính phủ cần đẩy mạnh hơn nữa chính sách hỗ trợ sản xuất cùng với các chính sách thúc đẩy tổng cầu, giải phóng hàng tồn kho cho các doanh nghiệp
Trang 101.3 Thu ngân sách:
1.3.1 Về thực hiện dự toán thu Ngân sách Nhà nước (NSNN)
Tổng thu NSNN tháng 10/2014 ước đạt 76.800 tỷ đồng Luỹ kế thu NSNN 10 tháng đầu năm 2014 đạt 719.490 tỷ đồng, bằng 91,9% dự toán, tăng 15,2% so với cùng kỳ năm
2013, trong đó:
- Thu nội địa: lũy kế 10 tháng ước đạt 484.890 tỷ đồng, bằng 90% so với dự toán, tăng 16,5% so với cùng kỳ năm 2013 Trong đó: thu từ khu vực kinh tế nhà nước đạt 87% dự toán, tăng 27,7%; thu từ khu vực công thương nghiệp ngoài nhà nước đạt 88,5% dự toán, tăng 6,8%; thu từ khu vực FDI đạt 94% dự toán, tăng 14,7%
- Thu từ dầu thô: lũy kế 10 tháng ước đạt 88.570 tỷ đồng, bằng 104% so với dự toán, tăng 1,9% so với cùng kỳ năm 2013 Giá dầu thanh toán bình quân từ đầu năm đến nay đạt khoảng 111,2 USD/thùng, cao hơn 13,2 USD/thùng so với giá xây dựng dự toán; sản lượng dầu thanh toán ước đạt 12,6 triệu tấn, bằng 88% kế hoạch năm
- Thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu: Lũy kế thu 10 tháng năm 2014 ước đạt 142.100 tỷ đồng, bằng 92,3% dự toán, tăng 21,9% so với cùng kỳ năm 2013 nhờ kim ngạch xuất nhập khẩu 10 tháng đầu năm đạt khá và một số mặt hàng chịu thuế suất cao, trị giá lớn tăng mạnh so với cùng kỳ
1.3.2 Về chi ngân sách nhà nước
Tổng chi NSNN tháng 10 ước đạt 88.050 tỷ đồng; luỹ kế chi 10 tháng ước đạt 853.645
tỷ đồng, bằng 84,8% dự toán, tăng 11,5% so với cùng kỳ năm 2013, trong đó: chi đầu tư phát triển ước đạt 85% dự toán, tăng 3,1%; chi trả nợ và viện trợ ước đạt 96,2% dự toán, tăng 29,6%; chi phát triển sự nghiệp kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý nhà nước đạt 85,1% dự toán, tăng 10,7% Trong đó:
- Kiểm soát chi NSNN:
+ Về chi thường xuyên: Ước tính đến 31/10/2014, Kho bạc Nhà nước (KBNN) đã thực hiện kiểm soát 533.012 tỷ đồng thuộc dự toán năm 2014, đạt 75,67% dự toán Thông qua kiểm soát chi NSNN, KBNN đã phát hiện khoảng 30.000 khoản chi chưa chấp hành đúng thủ tục, chế độ quy định; từ chối thanh toán 31,5 tỷ đồng
Trang 11+ Chi đầu tư: Qua kiểm soát thanh toán vốn đầu tư, hệ thống KBNN đã từ chối thanh toán khoảng 59 tỷ đồng do đề nghị thanh toán chưa đúng quy định, sai số học hoặc ngày phê duyệt quyết định đầu tư sau ngày 31/10/2013
- Giải ngân vốn đầu tư: Theo Báo cáo của KBNN, chi đầu tư xây dựng cơ bản, trái phiếu Chính phủ (TPCP) thuộc kế hoạch 2014 giải ngân qua KBNN ước tính đến 31/10/2014
là 207.540,7 tỷ đồng, trong đó: vốn đầu tư xây dựng cơ bản giải ngân ước 119.169,9 tỷ đồng, đạt 74,8% kế hoạch; giải ngân vốn TPCP ước 65.202,6 tỷ đồng, đạt 68% kế hoạch vốn năm
2014 nhà nước giao; vốn khác là 23.168,2 tỷ đồng, đạt 64,1% kế hoạch vốn năm 2014
- Về ứng trước NSNN:
Số vốn ứng trước trong năm 2014 (tính đến ngày 24/10/2014) là 22.577,6 tỷ đồng, trong đó, vốn ứng trước NSNN được thu hồi từ nguồn NSNN là 11.107,5 tỷ đồng và vốn ứng trước TPCP là 11.165,9 tỷ đồng Tổng số vốn ứng trước được thu hồi trong năm 2014 (tính đến 24/10/2014) là 26.037,4 tỷ đồng, trong đó vốn NSNN là 3.025,3 tỷ đồng, vốn TPCP là 23.012,1tỷ đồng Tổng số vốn ứng trước còn lại chưa thu hồi đến 24/10/2014 là 90.455 tỷ đồng, trong đó, ứng vốn NSNN và vốn TPCP (thu hồi từ nguồn NSNN và TPCP) là 74.083 tỷ đồng và ứng vốn NSNN (thu hồi từ các nguồn vốn khác) là 16.372 tỷ đồng
- Bội chi NSNN tháng 10 đạt 11.250 tỷ đồng, lũy kế 10 tháng 134.155 nghìn tỷ đồng, bằng 59,9% dự toán, giảm 4,9% so với cùng kỳ
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 10/2014 tăng 0,11% so với tháng trước, chủ yếu do tăng giá
ở nhóm giáo dục và nhóm thuốc và dịch vụ y tế, trong đó nhóm giáo dục tăng 1,31% (Dịch vụ giáo dục tăng 1,46%), đóng góp 0,08% vào mức tăng chung của CPI; nhóm thuốc và dịch vụ y
tế tăng 0,53% (Dịch vụ y tế tăng 0,59%) Chỉ số giá nhóm giáo dục tăng do trong tháng có 15 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương điều chỉnh học phí các loại theo lộ trình tăng học phí của Bộ Giáo dục và Đào tạo theo Nghị định số 49/2010/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 của Chính phủ Quy định về miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập và cơ chế thu, sử dụng học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân từ năm học 2010 - 2011 đến năm học