Các hình thức tái cơ cấu kinh tế: + Tái cấu trúc hệ thống quản trị vĩ mô hệ thống ngân sách, hệ thống ngân hàng, đầu tư công, cải cách hành chính…; + Tái cấu trúc hệ thống phân cấp quản
Trang 1TIỂU LUẬN MÔN HỌC KINH TẾ VĨ MÔ
Đề tài số 8:
TÁI CƠ CẤU KINH TẾ
Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Hạ Thị Thiều Dao Lớp : CH K15 A
Nhóm 4 : Vương Thị Minh Tâm
Trang 2MỤC LỤC
Chương 1 Tổng quan về tái cơ cấu kinh tế 3
1.1 Định nghĩa 3
1.2 Các hình thức tái cơ cấu kinh tế 3
1.3 Mục đích của tái cơ cấu kinh tế 3
1.4 Vì sao phải tái cơ cấu kinh tế 4
1.5 Kinh nghiệm các nước và bài học cho Việt Nam 4
Chương 2 Tái cơ cấu kinh tế tại Việt Nam 9
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 30
Trang 3CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÁI CƠ CẤU KINH TẾ
1.1 Định nghĩa
Cơ cấu kinh tế là một tổng thể các bộ phận hợp thành kết cấu (hay cấu trúc) củanền kinh tế trong quá trình tăng trưởng sản xuất xã hội Các bộ phận đó gắn bó vớinhau, tác động qua lại lẫn nhau và biểu hiện ở các quan hệ tỷ lệ về số lượng, tươngquan về chất lượng trong những không gian và thời gian nhất định, phù hợp vớinhững điều kiện kinh tế xã hội nhất định nhằm đạt được hiệu quả kinh tế xã hội cao
Cơ cấu kinh tế luôn ở trạng thái vận động, biến đổi không ngừng
Tái cơ cấu là thực hiện đổi chiến lược, mục tiêu, tầm nhìn của một hệ thống hoặc
là sự cơ cấu lại hệ thống bao gồm các hoạt động như sắp xếp lại, chuyển đổi hìnhthức hoạt động, xác định lại mục tiêu, chiến lược, tầm nhìn, các giá trị cốt lõi vàchuẩn mực
Từ hai khái niệm trên, có thể hiểu tái cơ cấu nền kinh tế là tổ chức lại nền kinh tếthông qua các biện pháp điều chỉnh một cách toàn diện các quan hệ, các bộ phận cấuthành nền kinh tế để tạo ra một nền kinh tế mới ưu việt hơn, hợp lý hơn hiệu quả và
có năng lực cạnh tranh, vận hành hiệu quả hơn và đáp ứng yêu cầu phát triển
1.2 Các hình thức tái cơ cấu kinh tế:
+ Tái cấu trúc hệ thống quản trị vĩ mô (hệ thống ngân sách, hệ thống ngân hàng, đầu
tư công, cải cách hành chính…);
+ Tái cấu trúc hệ thống phân cấp quản lý trung ương - địa phương;
+ Tái cấu trúc khu vực doanh nghiệp nhà nước, trước hết là các tập đoàn kinh tế nhànước;
+ Tái cấu trúc hệ thống các khu kinh tế, khu công nghiệp, cụm công nghiệp
+ Tái cấu trúc ngành sản xuất và dịch vụ
+ Tái cấu cơ cấu và phát triển hệ thống hạ tầng
1.3 Mục đích của tái cơ cấu kinh tế
Từng bước làm thay đổi cách thức tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu.Nâng cấp trình độ phát triển của nền kinh tế, tăng năng lực cạnh tranh và tiềm năngphát triển cho nền kinh tế
Trang 4Ví dụ như tái cơ cấu các doanh nghiệp nhà nước nhằm tạo mội trường pháp lýcạnh tranh bình đẳng nhằm buộc các doanh nghiệp phải hoạt động hiệu quả Cácdoanh nghiệp nhà nước luôn được ưu ái việc tiếp cận các nguồn lực kinh tế như vốn,đất đai, tín dụng, mua sắm công…tạo ra sự bất bình đẳng trong môi trường kinhdoanh Việc kinh doanh lời ăn, lỗ nhà nước chịu nên gây ra sự mất hiệu quả kinhdoanh trong các doanh nghiệp nhà nước Do đó sự thay đổi cấu trúc sẽ giúp nângnăng lực phát triển cho nền kinh tế.
1.4 Vì sao phải tái cơ cấu kinh tế
Khi nền kinh tế có những bất ổn về kinh tế như lạm phát, thâm hụt ngân sách,thâm hụt cán cân thương mại, việc gia tăng nợ công , lúc này tình trạng nền kinh tếđang sa vào nhiều vấn đề nghiêm trọng, bế tắc và lộ ra suy thoái Do đó, việc tái cơcấu nền kinh tế là cần thiết nhằm làm cân bằng và ổn định nền kinh tế
Bên cạnh đó, trong nền kinh tế hội nhập với thế giới thì khi các điều kiện đáp ứngyêu cầu phát triển trong hội nhập thiếu thốn, yếu kém, chứng tỏ năng lực hội nhậpkém và tính ít triển vọng tranh đua trong hội nhập Vì vậy, cần có một sự thay đổitrong cấu trúc của nền kinh tế để nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho đất nước.Ngoài ra, tái cấu trúc là một hệ quả của sự cải tiến liên tục để đáp ứng sự thay đổikhông ngừng của cơ chế thị trường, môi trường nhân văn và sinh thái và sự thay đổimôi trường công nghệ khoa học
1.5 Kinh nghiệm các nước và bài học cho Việt Nam
1.6.1 Tư nhân hoá khu vực Doanh nghiệp nhà nước Các nước OECD
Đến đầu thập niên 2000, hơn 100 quốc gia đã tiến hành các chính sách tư nhânhóa, dù ở các mức độ khác nhau Tổng giá trị tài sản nhà nước được thực hiện tư nhânhóa đã lên tới hơn 1 nghìn tỷ USD, trong đó hơn ¾ là ở các nước thành viên OECD.Trong quá trình tư nhân hóa, Chính phủ ở các nước OECD thường đặt ra nhiềumục tiêu: (1) thắt chặt kỷ luật tài khóa và kiểm soát chi tiêu công và nợ công; (2) thuhút thêm đầu tư từ nhiều nguồn; (3) cải thiện hiệu quả hoạt động của các DNNN; (4)tạo lập môi trường cạnh tranh ở một số ngành độc quyền; (5) hướng tới phát triển thịtrường vốn; (6) hướng đến các mục tiêu chính trị
Từ đây rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam như sau:
Trang 5 Thứ nhất, cam kết chính trị là yếu tố tối quan trọng
Thứ hai, quá trình chuyển đổi DNNN phải gắn chặt với việc xác định các mụctiêu và lộ trình phù hợp, minh bạch và có tính giải trình đầy đủ
Thứ ba, việc thành lập một cơ quan chuyên biệt thúc đẩy và giám sát quá trìnhchuyển đổi DNNN không phải là yêu cầu bắt buộc, với điều kiện là cam kếtchính trị được đảm bảo ở mức cao nhất
Thứ tư, quá trình chuyển đổi DNNN không tách rời với việc duy trì và đảmbảo môi trường kinh tế vĩ mô ổn định, phù hợp
Thứ năm, sau khi đã thu nhỏ khu vực DNNN đến một mức độ có thể kiểm soátđược (dưới 10% GDP) cần tìm cách thu hẹp đầu mối quản lý khu vực DNNNbằng cách chuyển tất cả các DNNN sang cho một công ty quản lý quĩ (holdingcompany)
Cuối cùng, cần lưu tâm đúng mức đến việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho
cả quá trình chuyển đổi DNNN cũng như môi trường hoạt động cạnh tranh phùhợp, hiệu quả cho các DNNN hoạt động hậu chuyển đổi
1.6.2 Tái cấu trúc doanh nghiệp ở Hàn Quốc
Cuộc khủng hoảng tiền tệ xảy ra năm 1997 sau đó lan rộng ra các nước Đông Á,nền kinh tế và các doanh nghiệp Hàn Quốc đã rơi vào khủng hoảng trầm trọng Đứngtrước những thách thức như vậy, Chính phủ Hàn Quốc đã tiến hành tái cấu trúc nềnkinh tế trên 4 lĩnh vực chính: hệ thống ngân hàng, hệ thống doanh nghiệp, đổi mớikhu vực công và đổi mới thị trường lao động
Mục tiêu tái cấu trúc doanh nghiệp là để tăng cường tính trách nhiệm của các nhàquản trị (và các cổ đông chính có khả năng kiểm soát việc quản trị) đối với các cổđông khác; cải thiện cấu trúc vốn; xóa bỏ việc bảo lãnh cho các khoản nợ chéo giữacác chi nhánh trong cùng tập đoàn; nâng cao tính minh bạch trong quản trị; yêu cầucác công ty tập trung vào lĩnh vực kinh doanh chính
Các chính sách của Chính phủ Hàn Quốc đạ thực hiện là đưa ra một loạt chínhsách cải cách quản trị công ty và tái cấu trúc vốn; Chỉ định các tập đoàn lớn xem xétlại cấu trúc vốn; Hạn chế việc nắm giữ cổ phần trong các công ty khác và bảo lãnh
Trang 6các khoản nợ chéo; Loại bỏ các công ty yếu kém và hoán đổi kinh doanh giữa các tậpđoàn lớn
Từ kinh nghiệm tái cấu trúc thành công các doanh nghiệp của Hàn Quốc, ta rút rabài học kinh nghiệm cho việc tái cấu trúc hệ thống doanh nghiệp Việt Nam sau mộtthời gian dài tăng trưởng cao và bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàncầu từ năm 2007 đến nay
Thứ nhất, trong giai đoạn đầu, Chính phủ cần phải là người dẫn dắt, chỉ đạoviệc tái cấu trúc các doanh nghiệp và tập đoàn kinh tế bằng việc ban hành luật,các quy định Tuy nhiên, khi các doanh nghiệp, các tập đoàn kinh tế đã pháttriển ổn định, Nhà nước cần giảm vai trò điều hành trực tiếp vào việc tái cấutrúc doanh nhiệp mà để cho thị trường tự điều chỉnh
Thứ hai, các tập đoàn kinh tế cần tập trung vào lĩnh vực chính của mình, tránhviệc đầu tư dàn trải Cần thực hiện việc hoán đổi các lĩnh vực kinh doanh giữacác tập đoàn cho phù hợp với ngành nghề và thế mạnh của mình
Thứ ba, để thực hiện tái cấu trúc doanh nghiệp một cách hiệu quả, phải xâydựng hệ thống các tiêu chí đánh giá và xếp hạng các doanh nghiệp trên cơ sở
đó xác định được doanh nghiệp nào cần tái cấu trúc và tái cấu trúc như thế nào
Thứ tư, doanh nghiệp là một bộ phận của nền kinh tế, do đó quá trình tái cấutrúc doanh nghiệp sẽ có những tác động tới các khu vực khác và ngược lại hiệuquả của quá trình tái cấu trúc doanh nghiệp chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng bởi quátrình tái cấu trúc trong các khu vực khác, ví dụ khu vực tài chính-ngân hàng
Vì vậy, quá trình tái cấu trúc doanh nghiệp không thể thực hiện một cách riêng
rẽ mà phải có sự kết hợp với quá trình tái cấu trúc các khu vực khác, đặc biệt làkhu vực tài chính - ngân hàng
1.6.3 Tái cơ cấu hệ thống ngân hàng ở Thái lan
Vào tháng 10/1997, chính quyền Thái Lan đã công bố chiến lược đối phó vớikhủng hoảng trong lĩnh vực Ngân hàng, bao gồm các giải pháp sau:
Đầu tiên, để khắc phục những yếu kém tồn tại trong chuẩn mực kế toán lúc bấygiờ, Chính Phủ yêu cầu tất cả các Ngân hàng phải điều chỉnh vốn chủ sở hữu, đáp
Trang 7ứng những quy định chặt chẽ hơn về phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro doNgân hàng Trung ương mới ban hành
Thứ hai, các Ngân hàng phải đệ trình kế hoạch tái cơ cấu vốn cho Ngân hàngTrung ương Đối với các Ngân hàng không thể tăng vốn, Chính Phủ sẽ nắm quyềnkiểm soát, tái cấp vốn và sau đó tư nhân hóa Ngân hàng bằng cách bán lại cho cácnhà đầu tư trong và ngoài nước, nhằm tái cơ cấu hệ thống một cách mạnh mẽ vàquyết liệt
Thứ ba, Thái Lan cho phép nới rộng giới hạn sở hữu cho các nhà đầu tư nướcngoài tại Ngân hàng lên mức rất cao (75% so với 30% hiện tại của Việt Nam) trongthời hạn 10 năm, với cam kết của cổ đông nước ngoài trong thời gian đó phải giảm tỷ
lệ sở hữu xuống thông qua việc bán lại cho cổ đông trong nước hoặc chỉ phát hànhthêm cho cổ đông trong nước Với cách thức tái cơ cấu như vậy, hiệu quả mang lạicho Thái Lan lúc bấy giờ rất khả quan Các Ngân hàng còn lại sau việc tái cơ cấu đều
đã tăng được đủ số vốn quy định sau 12 tháng, đạt được tiêu chuẩn về phân loại nợ vàtrích lập dự phòng theo chuẩn quốc tế vào năm 2000 Các NHTM quốc doanh sau đóđược cổ phần hóa với sự hỗ trợ của các Ngân hàng đầu tư của nước ngoài một cáchminh bạch, nâng cao chất lượng và hiệu quả quản trị của Ngân hàng trong nước.Qua quá trình tái cơ cấu các ngân hàng ở Thái Lan, chúng ta có thể rút ra nhữngyếu tố tiên quyết cho quá trình tái cơ cấu ngân hàng ở Việt Nam cần tuân theo nhưsau:
Thứ nhất, minh bạch thông tin nhằm đảm bảo hệ thống thanh toán hoạt độngbình thường và bảo vệ niềm tin trong hệ thống Ngân hàng nói chung, giúp giữrủi ro đạo đức ở mức tối thiểu
Thứ hai, nguồn lực cho công cuộc cải tổ phải đủ mạnh Chính Phủ có vai tròrất quan trọng, một phần chính là nhờ nguồn lực mà Chính Phủ đã bỏ ra đểthanh toán nợ xấu, nếu nguồn lực ít thì việc giải quyết nợ xấu gặp khó khan,gây trì trệ lộ trình tái cơ cấu
Bài học thứ ba, tận dụng nguồn lực của các tổ chức tín dụng nước ngoài khixâm nhập vào hệ thống ngân hàng nội địa đồng thời nâng cao các chỉ tiêu an
Trang 8toàn vốn, hệ số kinh doanh để tăng tính cạnh tranh, tránh tình trạng ngân hàngtrong nước bị các ngân hàng nước ngoài mua lại.
CHƯƠNG 2: TÁI CƠ CẤU KINH TẾ TẠI VIỆT NAM
Nội dung cơ bản tái cơ cấu kinh tế cần tập trung 3 lĩnh vực quan trọng nhất
Trang 9 Tái cấu trúc đầu tư với trọng tâm là đầu tư công;
Cơ cấu lại thị trường tài chính với trọng tâm là tái cấu trúc hệ thống ngânhàng thương mại và các tổ chức tài chính;
Tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước mà trọng tâm là các tập đoàn kinh tế vàtổng công ty nhà nước
2.1 Tái cơ cấu đầu tư, trọng tâm tái đầu tư công
Theo quyết định 339/QĐ-TTg ngày 19/02/2013 của chính phủ đã đưa ra đề ántổng thể tái cơ cấu kinh tế gắn liền với việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng theohướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh giai đoạn 2013-2020, đãđặt ra ba mục tiêu chính cho tái cơ cấu đầu tư, trọng tâm là đầu tư công như sau:
Thứ nhất, các cân đối vĩ mô được điều tiết để tổng đầu tư của nền kinh tế đượcduy trì ở tỷ lệ 30-35% GDP
Thứ hai, nhà nước huy động vốn đầu tư với tỷ trọng 35-40% tổng đầu tư.Trong tổng chi ngân sách, 20-25% được dành cho đầu tư phát triển Cơ chếphân bổ và quản lý sử dụng vốn được đổi mới để khắc phục tình trạng đầu tưdàn trải, lãng phí và nâng cao hiệu quả
Thứ ba là mở rộng tối đa phạm vi và cơ hội cho đầu tư tư nhân, đặc biệt là đầu
tư vào cơ sở hạ tầng
2.1.1 Một số văn bản quan trọng quy định về tái cơ cấu đầu tư công
Với chủ trương tái cơ cấu đầu tư công trong tổng thể tái cơ cấu nền kinh tế, NhàNước đã kịp thời đưa ra những văn bản quan trọng nhằm thực hiện theo lộ trìnhchiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm 2011-2020 và kế hoạch phát triển kinh tế
xã hội 5 năm 2011-2015
Ngày 15/10/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị 1792/CT-TTg vềtăng cường quản lý đầu tư vốn ngân sách nhà nước và vốn trái phiếu Chính phủ,nhấn mạnh “việc xây dựng các quy hoạch, kế hoạch, chương trình và dự án đầu tư từvốn ngân sách nhà nước và vốn trái phiếu Chính phủ phải bám sát mục tiêu và địnhhướng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2011 - 2020 và kế hoạch pháttriển kinh tế - xã hội 5 năm 2011 - 2015 của cả nước và của các ngành, các địa
Trang 10phương”, “từng bước điều chỉnh cơ cấu đầu tư theo hướng giảm dần đầu tư công.Tăng cường các biện pháp huy động các nguồn vốn của các thành phần kinh tế trong
và ngoài nước để đầu tư vào các dự án kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội có khả năng thuhồi vốn”
Ngày 9/11/2011, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 12/2011/QH13 quy định
“tổng mức đầu tư bằng nguồn vốn trái phiếu chính phủ giai đoạn 2011 - 2015 khôngquá 225.000 tỷ”, đồng thời yêu cầu “khẩn trương quyết định các giải pháp đối vớicác dự án, công trình thuộc diện chuyển đổi hình thức đầu tư, giãn, hoãn, khôngđược tiếp tục sử dụng nguồn vốn trái phiếu chính phủ trong giai đoạn 2011 – 2015”.Cũng trong ngày này, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 71/2010/QĐ-TTg
về việc ban hành quy chế thí điểm đầu tư theo hình thức hợp tác công – tư nhằm tăngcường và thu hút, đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư toàn xã hội Hay quyết định số1601/QĐ-TTg ngày 29 tháng 10 năm 2012 phê duyệt đề án nâng cao hiệu quả côngtác quản lý dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam Gần đây nhất là Quyết định339/QĐ-TTg ngày 19/02/2013 của chính phủ đã đưa ra đề án tổng thể tái cơ cấu kinh
tế với những trọng tâm cốt lõi đã được đề cập như trên
2.1.2 Kết quả đạt được của tái cơ cấu đầu tư công
BẢNG 2.1: MỘT SỐ CHỈ TIÊU VỀ GDP VÀ TỔNG VỐN ĐẦU TƯ TOÀN XÃ HỘI
(1) Trung bình giai đoạn
2006 2010
-Kế hoạch 5 năm (2011 -2015) (4) Thực hiện
(2) Đại hội XI
(3) Điều chỉnh theo NQ 10
Trang 11Kết quả thực hiện sau 3 năm khá rõ nét khi tỷ trọng đầu tư/GDP đã giảm đáng kể,
từ mức bình quân 39% trong giai đoạn 2006-2010 xuống còn hơn 33.6% năm 2011,33.7% năm 2012 và khoảng 34.1% năm 2013 Mức giao động từ 33% - 34% nằmtrong mục tiêu đề ra của chính phủ, tuy nhiên qua 3 năm từ 2011 đến 2013 con sốnày không giảm xuống dần mà có xu hướng tăng nhẹ, do đó cần có sự kiểm soát hơnnữa trong những năm tới để hoàn thành kế hoạch 5 năm mà chính phủ đã đề ra
Tổng vốn đầu tư toàn xã hội đã liên tục tăng từ 343,135 tỷ đồng năm 2005 lên1,091,136 tỷ đồng năm 2013 (tăng lên 3.18 lần) Trong đó, khu vực vốn FDI tăngnhanh nhất (4.7 lần); tiếp đến là khu vực kinh tế ngoài nhà nước (3.15 lần) và cuốicùng là khu vực KTNN (2.73 lần) Tính theo giá thực tế, vốn đầu tư thuộc khu vựckinh tế nhà nước không tăng trong hai năm gần đây; tỷ trọng đầu tư nhà nước trongtổng đầu tư xã hội giảm từ 53.04% thời kỳ 2001-2005, xuống còn khoảng 39% thời
kỳ 2006-2010, 37 % trong năm 2011 và khoảng 40% trong hai năm 2012 và 2013.Nhờ vào việc cắt giảm số lượng lớn dự án đầu tư chưa cần thiết và tránh đầu tư giàntrải mà việc phân bố vốn nhờ đó cũng đã tập trung hơn, ý thức trách nhiệm và kỷcương nhà nước trong trong quản lý đầu tư công từng bước được cải thiện
BẢNG 2.2: CƠ CẤU TỔNG VỐN ĐẦU TƯ TOÀN XÃ HỘI (%)
Trang 12Năm Kinh tế nhànước Kinh tế ngoài nhà nước Khu vực có vốn đầutư nước ngoài (FDI)
Bảng 2.3 cũng cho thấy việc giảm tỷ trọng đầu tư công trong 3 năm gần đây chủyếu do giảm vốn từ các DNNN, điều này đặt ra câu hỏi tại sao vốn đầu tư từ lợi nhuậngiữ lại của DNNN lại sụt giảm, nguyên nhân khách quan của nền kinh tế trong giaiđoạn khó khăn hay do thất thoát hoặc đầu tư không hiệu quả Tỷ trọng vốn vay tăngrất nhanh qua các năm (từ năm 2005 đến 2013 tăng tỷ trọng gấp 1.5 lần) Nguyênnhân là trong những năm kinh tế khó khăn gần đây, ở phía cung các tổ chức tài chínhluôn sẵn sàng đầu tư vào trái phiếu chính phủ để tránh rủi ro, và ở phía cầu các dự ánnhà nước ngày một trông chờ, lệ thuộc vào vốn trái phiếu chính phủ
BẢNG 2.3: CƠ CẤU ĐẦU TƯ CÔNG (%)
2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013Đầu tư công/ Tổng
Vốn ngân sách Nhà
Trang 132011, qua năm 2012 – 2013 duy trì ở mức 6.3 Nhờ vào những biện pháp tái cơ cấu,tập trung vào nâng cao hiệu quả đầu tư, hệ số ICOR trong hai năm 2011 - 2012 đãgiảm đáng kể Xét về từng dự án, còn không ít dự án đầu tư có hiệu quả thấp, khôngđáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế và xã hội, cá biệt có những dự án, nội dungđầu tư trùng lắp, chồng chéo, hoặc gây cản trở, làm mất hiệu quả của các dự án đãđược đầu tư trước đó.
Qua các số liệu tính toán trên, ta thấy hiệu quả đầu tư từ khu vực Nhà nước có thểđược chia thành hai thời kỳ: Từ 2007-2009, hệ số ICOR tăng dần Mặc dù tỷ lệ đầu tư
từ khu vực Nhà nước so với GDP khu vực Nhà nước không tăng mà còn giảm đitrong giai đoạn này nhưng việc tạo ra giá trị gia tăng đã giảm sút, dẫn tới giá trị hệ sốICOR khu vực này tăng lên nhanh chóng, bất chấp nỗ lực cắt giảm, hạn chế đầu tưcông của khu vực Nhà nước Trong đó, vốn đầu tư từ NSNN có tỷ trọng lớn nhấtcũng chính là một trong những nguyên nhân dẫn tới sự kém hiệu quả của đầu tư khuvực nhà nước nói chung
Từ 2010 - 2013, ICOR có xu hướng giảm dần, chứng tỏ được hiệu quả đầu tư củakhu vực KTNN đã dần được cải thiện theo hướng tích cực Tuy nhiên, tính chung chogiai đoạn 2006-2013, hiệu quả đầu tư của khu vực KTNN vẫn rất thấp khi giá trị hệ
số ICOR là 8,55
BIỂU ĐỒ 2.1: HỆ SỐ ICOR CỦA KHU VỰC ĐẦU TƯ CÔNG VÀ TOÀN XÃ
HỘI GIAI ĐOẠN 2006 - 2013
Trang 14Nguồn: Nhóm nghiên cứu tính toán dựa vào số liệu của Tổng cục thống kê
Theo định hướng của Chính phủ, tỷ lệ chi đầu tư đến năm 2015 đạt đến 20% đến25% trong tổng chi NSNN, con số này nhìn chung đến 2015 có thể sẽ đạt được khigiai đoạn từ 2006 – 2013 tổng thể đạt được ở mức này Tuy nhiên dựa vào biểu đồ 2.2
có thể thấy rằng: con số này thực sự không ổn định trong 3 năm gần đây, khi năm
2011 – 2012 đạt khoảng 27% nhưng đến 2013 mức dự toán chỉ 17.73% chứng tỏ chưa
có sự phối hợp nhuần nhuyễn giữa các ban ngành trong việc tái cơ cấu chi ngân sách
và cần có sự cân đối chi, đặc biệt chú trọng chi đầu tư thay vì mức chi thuờng xuyênquá nhiều hiện nay
BIỂU ĐỒ 2.2: TỶ TRỌNG CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO ĐẦU TƯ PHÁT
TRIỂN GIAI ĐOẠN 2005 – 2013 (%)
Trang 15Nguồn: Tổng cục thống kê, Bộ tài chính
2.1.3 Một số tồn tại và nguyên nhân trong tái cơ cấu đầu tư công
Những tồn tại trong tái cơ cấu đầu tư công
Thứ nhất, việc tái đầu tư công vẫn chưa có một lộ trình tổng thể mà chỉ dựa vào đề
án tái cơ cấu kinh tế và những chỉ thị mang tính chất tản mạn, rời rạc như chỉ thị 1792đối với nguồn vốn ngân sách và trái phiếu chính phủ
Thứ hai, kết quả đạt được đến giai đoạn 2013 vẫn chưa được như yêu cầu đề rađược thể hiện qua những điểm sau:
Mất cân đối trong cung cầu đầu tư: Nhu cầu đầu tư hiện nay là rất lớn nhưngnguồn vốn lại có hạn, mặc dù đã cải thiện được phần nào nhưng chính sáchgiải quyết cân đối đầu tư còn hạn chế, chưa thực sự điều tiết được nguồn vônđầu tư từ các thành phần trong nền kinh tế, đặc biệt là tập trung phát triển vốnđầu tư từ khu vực ngoaig nhà nứơc và FDI
Chưa thiết lập và vận hành quy trình thẩm định, lựa chọn, kiểm tra, giám sátvới các dự án đầu tư công, dẫn đến vẫn còn tình trạng đầu tư giàn trải, gây lãngphí và thất thoát
Cơ cấu đầu tư công vẫn tập trung quá nhiều ở vốn từ NSNN (năm 2013 chiếmđến gần 47%), chưa có sự cải thiện trong vốn từ DNNN