1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá hiệu quả kinh tế, tiềm năng giảm nhẹ và vai trò thích ứng với biến đổi khí hậu của một số mô hình nông lâm kết hợp truyền thống tại huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên

118 754 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 2,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hệ thống nông lâm kết hợp làm giảm tính dễ bị tổn thương của nông dân và giúp họ thích nghi với điều kiện thay đổi ở quy mô nhỏ, thường đáp ứng được để trồng rừng, tái trồng rừng đủ điều

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN THỊ THU HẰNG

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ, TIỀM NĂNG GIẢM NHẸ VÀ VAI TRÒ THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU CỦA MỘT SỐ MÔ HÌNH NÔNG LÂM KẾT HỢP TRUYỀN THỐNG

TẠI HUYỆN TUẦN GIÁO, TỈNH ĐIỆN BIÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

THÁI NGUYÊN - 2014

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN THỊ THU HẰNG

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ, TIỀM NĂNG GIẢM NHẸ VÀ VAI TRÒ THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU CỦA MỘT SỐ MÔ HÌNH NÔNG LÂM KẾT HỢP TRUYỀN THỐNG

TẠI HUYỆN TUẦN GIÁO, TỈNH ĐIỆN BIÊN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào để bảo vệ luận án Thạc sĩ, Tiến sĩ Các hình và ảnh sử dụng trong công trình là của tác giả và tập thể cộng tác

Tác giả

Nguyễn Thị Thu Hằng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Đề tài: “Đánh giá hiệu quả kinh tế, tiềm năng giảm nhẹ và vai trò thích ứng với biến đổi khí hậu của một số mô hình NLKH truyền thống tại huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên” được hoàn thành theo chương trình đào tạo Cao học,

Ngành Lâm Nghiệp, khoá 21, năm học 2012 - 2014, trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên

Trong quá trình học tập cũng như hoàn thành luận văn, tác giả đã nhận được

sự quan tâm, giúp đỡ của Ban giám hiệu, phòng Quản lý Đào tạo Sau đại học và các thầy giáo, cô giáo thuộc Trường Đại học nông lâm Thái nguyên Nhân dịp này cho tôi xin chân thành cảm ơn về sự giúp đỡ quý báu đó

Đặc biệt tác giả xin gửi lời biết ơn sâu sắc tới TS Hồ Ngọc Sơn - Khoa

Lâm nghiệp - Trường Đại học Nông Lâm - Thái Nguyên với tư cách là những người hướng dẫn khoa học, đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tác giả trong suốt quá trình thực hiện luận văn này

Tôi xin cảm ơn tổ chức FAO (Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc) đã hỗ trợ kinh phí cũng như phương pháp để tôi có cơ hội tham gia nghiên cứu và hoàn thành luận án một cách tốt nhất

Tôi cũng xin cảm ơn các cán bộ phòng Nông Nghiệp huyện, các cán bộ thuộc 3 xã Quài Nưa, Pú Nhung, Thị trấn, thuộc huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên

là địa bàn tác giả tham gia nghiên cứu đã tạo điều kiện giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập và thu thập số liệu ngoại nghiệp để hoàn thành luận văn này

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè và người thân trong gia đình đã giúp đỡ, động viên tác giả trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn

Vì điều kiện thời gian, nhân lực và những khó khăn khách quan nên bản luận văn này chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các các thầy, cô giáo, bạn bè đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Tác giả

Nguyễn Thị Thu Hằng

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC HÌNH viii

DANH MỤC CÁC HÌNH viii

MỞ ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Ý nghĩa khoa học của đề tài 3

Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

1.1 Tổng quan về Nông Lâm kết hợp 4

1.1.1 Khái niệm NLKH 4

1.1.2 Lợi ích của canh tác NLKH 6

1.1.3 Tình hình NLKH trên thế giới 7

1.1.4 Sự phát triển NLKH ở Việt Nam 11

1.1.5 Sự phát triển NLKH ở Điện Biên 15

1.2 Tổng quan về ứng phó với biến đổi khí hậu 17

1.2.1 Biến đổi khí hậu (BĐKH) ở Việt Nam 17

1.2.2 Ứng phó với BĐKH 18

1.3 Mối quan hệ giữa NLKH và ứng phó với BĐKH 20

1.3.1 NLKH và vai trò thích ứng với BĐKH 20

1.3.2 NLKH và tiềm năng giảm nhẹ BĐKH 22

1.4 Tổng quan khu vực nghiên cứu 24

1.4.1 Đặc điểm tự nhiên 24

1.4.1.1 Vị trí địa lý 24

1.4.1.2 Địa hình 25

1.4.2 Đặc điểm tài nguyên 25

1.4.2.1 Quỹ đất đai 25

Trang 6

1.4.2.2 Tài nguyên 28

1.4.3 Khí hậu, thủy văn 28

1.4.4 Đặc điểm kinh tế, xã hội 31

1.4.4.1 Dân số, đời sống và nguồn lao động 31

1.4.4.2 Điều kiện về thị trường 32

1.4.4.3 Quy hoạch sản xuất nông nghiệp; các sản phẩm chủ lực 32

1.4.4.4 Về sản xuất Nông - Lâm nghiệp 33

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 35

2.1 Đối tượng nghiên cứu 35

2.2 Địa điểm nghiên cứu 35

2.3 Nội dung nghiên cứu 35

2.4 Phương pháp nghiên cứu 35

2.4.1 Phương pháp kế thừa số liệu sơ cấp 35

2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu 36

2.4.2.1 Tổng quan NLKH tại vùng nghiên cứu và đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình NLKH truyền thống 36

2.4.2.2 Phương pháp chọn mô hình và hộ gia đình điển hình tiến hành

nghiên cứu 36

2.4.2.3 Tiềm năng giảm nhẹ với biến đổi khí hậu của mô hình NLKH

truyền thống 37

2.4.2.4 Vai trò thích ứng với biến đổi khí hậu của mô hình NLKH 42

2.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 44

2.4.3.1 Đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình NLKH truyền thống 44

2.4.3.2 Tiềm năng giảm nhẹ với biến đổi khí hậu của mô hình NLKH

truyền thống 45

2.4.3.3 Vai trò thích ứng với biến đổi khí hậu của mô hình NLKH 47

2.4.3.4 Quy đổi thành lượng CO2 đã được hấp thụ 48

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 49

3.1 Tình hình phát triển chung của các hệ thống NLKH tại huyện Tuần Giáo 49

3.1.1 Tình hình cơ bản của các hệ thống NLKH tại huyện Tuần Giáo 49

Trang 7

3.1.2 Sơ lược về các hệ thống NLKH truyền thống hiện có 50

3.2 Đánh giá hiệu quả kinh tế của một số mô hình NLKH truyền thống điển hình tại huyện Tuần Giáo 63

3.3 Khả năng giảm nhẹ BĐKH của mô hình NLKH truyền thống tại Tuần Giáo 67

3.3.1 Lượng carbon tích lũy trong thành phần thực vật của mô hình NLKH

truyền thống 68

3.3.2 Lượng carbon tích lũy trong đất của các phương thức NLKH truyền thống 69

3.3.3 Tổng lượng CO2 hấp thụ của 2 phương thức canh tác NLKH truyền thống và giá trị thương mại 71

3.4 Đánh giá vai trò của mô hình NLKH trong thích ứng với BĐKH 73

3.4.1 Khả năng đảm bảo an ninh lương thực 74

3.4.2 Khả năng duy trì độ phì, dinh dưỡng đất 75

3.4.3 Khả năng giảm nhẹ rủi ro thiên tai 77

3.4.4 Khả năng giữ nước và duy trì độ ẩm trong đất 78

3.5 Thuận lợi, khó khăn trong phát triển nông lâm nghiệp tại huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên 80

3.6 Đề xuất các khuyến nghị chính sách nhằm phát triển và mở rộng mô hình NLKH 81

3.6.1 Đối với cấp quản lý 81

3.6.2 Đối với hộ gia đình 83

KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 87

1 Kết luận 87

2 Tồn tại 89

3 Kiến nghị 90

TÀI LIỆU THAM KHẢO

I Tài liệu tiếng Việt

II Tài liệu tiếng Anh

III Website

PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

FAO : Food and Agriculture Organization of the United Nations -

Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc

NLKH : Nông lâm kết hợp

KNK : Khí nhà kính

BĐKH : Biến đổi khí hậu

TSTN : Tái sinh tự nhiên

ODA : Hỗ trợ phát triển chính thức

(viết tắt của cụm từ Official Development Assistance)

SALT : Kỹ thuật canh tác trên đất dốc

UBND : Ủy ban nhân dân

CDM : Cơ chế phát triển sạch

(viết tắt của cụm từ clean development machenism)

RVAC : Rừng, vườn, chuồng, ruộng

VAC : Vườn, ao, chuồng

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Tình hình sử dụng đất đai của huyện Tuần Giáo năm 2010 - 2013 26

Bảng 1.2: Phân bố dân số, lao động và đời sống xã hội của huyện Tuần Gáo 31

Bảng 3.1: Các mô hình ở 3 xã Quài Nưa, Thị Trấn, Pú Nhung thuộc huyện

Tuần Giáo 52

Bảng 3.2: Các dạng hệ thống NLKH truyền thống điển hình tại 3 xã Quài Nưa, 55

Bảng 3.3: Tỷ lệ phân bố của các dạng hệ thống NLKH truyền thống và không thuộc NLKH truyền thống trong quá trình điều tra 57

Bảng 3.4: Phân bố số hộ canh tác các dạng mô hình theo diện kinh tế hộ gia đình 63

Bảng 3.5: Hiệu quả kinh tế của hệ thống NLKH và không thuộc hệ thống NLKH 64

Bảng 3.6: Hiệu quả kinh tế của ba dạng mô hình nghiên cứu 66

Bảng 3.7: Tổng hợp sinh khối khô của các thành phần 67

Bảng 3.8: Kết quả tổng hợp lượng carbon tích lũy trung bìnhtrong thành phần thực vật ở các dạng mô hình điển hình điều tra 68

Bảng 3.9: Kết quả tổng hợp lượng carbon tích lũy trong đấtcủa 3 phương thức nghiên cứu 70

Bảng 3.10: Kết quả tổng hợp lượng Carbon tích lũy và lượng CO2 hấp thụ của 2 phương thức NLKH truyền thống 71

Bảng 3.11: Giá trị thương mại của 2 phương thức NLKH truyền thống 73

Bảng 3.12: Hiệu quả kinh tế và lượng thóc quy đổi hàng năm của các dạng

mô hình 74

Bảng 3.13 Bảng tổng hợp thành phần dinh dưỡngcủa các thành phần đất trong 2 phương thức NLKH truyền thống nghiên cứu và 1 phương thức nông nghiệp tuần đối chứng 76

Bảng 3.14: Phần trăm độ ẩm trong đất của các dạng mô hình nghiên cứu 79

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1 Biểu đồ biến thiên nhiệt độ trung bình trong 30 năm của huyện Tuần Giáo 29

Hình 1.2: Biểu đồ biến thiên lượng mưa trung bình trong 30 năm của

huyện Tuần Giáo 30

Hình 1.3 Biểu đồ biến thiên của nhiệt độ, lượng mưa trung bình trong 30 năm của huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên 30

Hình 2.1: Lập các ô tiêu chuẩn, ô tiêu bản 38

Hình 2.2: Băm nhỏ mẫu và cân mẫu đi phân tích 40

Hình 2.3: Lấy mẫu vật rơi rụng và thảm mục 41

Hình 2.4: Lấy và xử lý mẫu đất 42

Hình 3.1: Sơ đồ lát cắt hệ thống mô hình NLKH truyền thống

R-AC-CAQ-Lúa nương 61

Hình 3.2: Sơ đồ lát cắt hệ thống mô hình NLKH truyền thống R-AC-CAQ-

Lúa nước 62

Hình 3.3: Sơ đồ lát cắt hệ thống mô hình nông nghiệp thuần C-CM 62

Hình 3.4: Biểu đồ tỷ lệ tích lũy Carbon trong các thành phần của mô hình NLKH truyền thống 72

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Hai thách thức lớn nhất của nhân loại hiện nay là an ninh lương thực và biến đổi khí hậu toàn cầu [3] Ngành nông lâm nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết và giảm thiểu hai thách thức đó Sản xuất nông lâm nghiệp, bao gồm cả phá rừng đưa vào khí quyển khoảng 18% lượng khí thải khí nhà kính chủ yếu là khí Mê-tan (NH4) từ sản xuất lúa nước và chăn nuôi, khí NO từ sử dụng phân hóa học Hiện nay chúng ta đang rất quan tâm tới nhưng phương thức canh tác vừa mang lại hiệu quả kinh tế vừa giảm thải được lượng khí nhà kính và vừa thích ứng với biến đổi khí hậu Bảo Huy và nnk (2011) [8] đã khảng định “Phương thức canh tác nông lâm kết hợp (NLKH) được coi là phương thức canh tác vừa đảm bảo an ninh lương thực và giảm phát thải khí nhà kính”

Hệ thống nông lâm kết hợp mang lại lợi ích tạo nhiều thu nhập tăng thêm từ các nguồn khác nhau, tăng sản xuất lương thực, cải thiện cung cấp thức ăn cho người

và gia súc; tăng cung cấp củi, đất đai được cải thiện khả năng sản xuất và cung cấp nước, cải thiện môi trường sống… Các thành phần đa dạng được cung cấp, cho thu hoạch nhiều vào các thời điểm khác nhau trong năm, qua đó đảm bảo thu nhập và giảm nguy cơ mất mùa Với những lợi ích này, nông lâm kết hợp có thể cải thiện cuộc sống của người nông dân, giúp xóa đói giảm nghèo, và duy trì sự ổn định sinh thái Thêm vào đó nông lâm kết hợp có khả năng cao trong hấp thụ carbon bởi các loài thực vật, trong đó đáng kể nhất là thực vật thân gỗ sống lâu năm Hệ thống nông lâm kết hợp làm giảm tính dễ bị tổn thương của nông dân và giúp họ thích nghi với điều kiện thay đổi ở quy mô nhỏ, thường đáp ứng được để trồng rừng, tái trồng rừng

đủ điều kiện trong cơ chế phát triển sạch (CDM) Sự tương tác của các thành phần khác nhau của các hệ thống nông lâm kết hợp có thể giúp hấp thụ và cô lập carbon dioxide và các khí nhà kính khác từ khí quyển [7,8]

Việt Nam là một trong những nước chịu ảnh hưởng nhất do biến đổi khí hậu Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH (2008) đã xác định khu vực

Trang 12

miền núi phía Bắc, cùng với khu vực ven biển là khu vực bị tổn thương nhất Việt Nam Đặc biệt miền núi phía Bắc nước ta chịu nhiều tác động của BĐKH như lũ lụt,

lũ quét, hạn hán, rét đậm rét hại… hàng năm gây ra thiệt hại rất lớn nhất là về nông lâm nghiệp cộng thêm địa hình chia cắt nên việc canh tác nông lâm nghiệp sao cho đạt hiệu quả nhất còn gặp nhiều khó khăn Tại vùng núi phía Bắc, các kiểu hình canh tác NLKH xuất hiện từ xa xưa, truyền từ đời này sang đời khác với các loại cây, con bản địa đã và đang được người dân địa phương áp dụng phần nào thể hiện được sự hiệu quả và tính thích nghi cao

Điện Biên là một tỉnh nằm ở vùng Tây Bắc, miền Bắc Việt Nam, đây là một tỉnh mà người dân chủ yếu sống bằng nguồn thu từ nông lâm nghiệp Từ xưa người dân ở đây đã biết canh tác theo các phương thức NLKH truyền thống trên những vùng đất dốc của họ, vì vậy nơi đây có nhiều mô hình NLKH truyền thống điển hình đem lại lợi ích kinh tế và có ý nghĩa lớn trong việc bảo vệ tài nguyên đất, bảo vệ môi trường sống

Tuy nhiên đến nay vẫn chưa có nghiên cứu nào đánh giá được hiệu quả của các phương thức canh tác nông lâm kết hợp truyền thống đó trên các lĩnh vực đảm bảo an ninh lương thực, tiềm năng giảm phát thải khí nhà kính và vai trò thích ứng với BĐKH

Xuất phát từ thực tế trên, tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu “Đánh giá hiệu

quả kinh tế, tiềm năng giảm nhẹ và vai trò thích ứng với biến đổi khí hậu của một số mô hình NLKH truyền thống tại huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên”

2 Mục tiêu nghiên cứu

+ Mục tiêu chung:

Nhằm đánh giá hiệu quả kinh tế và tiềm năng giảm nhẹ, và vai trò thích ứng với biến đổi khí hậu của một số mô hình nông lâm kết hợp truyền thống hiện đang được áp dụng tại huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên

+ Mục tiêu cụ thể:

- Đánh giá được hiệu quả kinh tế của mô hình NLKH truyền thống

- Đánh giá được tiềm năng giảm nhẹ biến đổi khí hậu của mô hình NLKH truyền thống

Trang 13

- Xác định được vai trò thích ứng với biến đổi khí hậu của mô hình NLKH truyền thống

- Bước đầu đề xuất một số giải pháp để phát triển và nhân rộng các mô hình NLKH truyền thống trong vùng nghiên cứu và các vùng lân cận

3 Ý nghĩa khoa học của đề tài

- Ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học:

Kết quả đề tài góp phần làm sáng tỏ vai trò cộng hưởng của mô hình NLKH truyền thống, đó là vai trò cải thiện sinh kế (hiệu quả kinh tế), giảm nhẹ và thích ứng với biến đổi khí hậu tại huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên

- Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất:

Đề tài đã phân tích và đề xuất được các giải pháp có tính thực tiễn nhằm thúc đẩy sự phát triển của NLKH tại tỉnh Điện Biên nói chung và huyện Tuần Giáo nói riêng

Trang 14

Chương 1

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan về Nông Lâm kết hợp

1.1.1 Khái niệm NLKH

Nông lâm kết hợp là một hệ thống quản lý đất vững bền làm gia tăng sức sản xuất tổng thể của đất đai, phối hợp sản xuất các loại hoa màu (kể cả cây trồng lâu năm), cây rừng và/hay với gia súc cùng lúc hay kế tiếp nhau trên một diện tích đất,

và áp dụng các kỹ thuật canh tác tương ứng với các điều kiện văn hóa xã hội của dân cư địa phương [36]

Nông lâm kết hợp là một hệ thống quản lý đất đai trong đó các sản phẩm của rừng và trồng trọt được sản xuất cùng lúc hay kế tiếp nhau trên các diện tích đất thích hợp để tạo ra các lợi ích kinh tế, xã hội và sinh thái cho cộng đồng dân cư tại địa phương [6]

NLKH là một hệ thống sử dụng đất trong đó phối hợp cây lâu năm với hoa màu và/ hay vật nuôi một cách thích hợp với điều kiện sinh thái và xã hội, theo hình thức phối hợp không gian và thời gian, để gia tăng sức sản xuất tổng thể của thực vật trồng và vật nuôi một cách bền vững trên một đơn vị diện tích đất, đặc biệt trong các tình huống có kỹ thuật thấp và trên các vùng đất khó khăn [41]

NLKH là tên chung của những hệ thống sử dụng đất trong đó các cây lâu năm (cây gỗ, cọ, tre, hay cây ăn quả, cây công nghiệp ) được trồng có suy tính trên cùng 1 đơn vị diện tích qui hoạch đất với hoa màu và/hoặc với vật nuôi dưới hệ thống xen theo không gian hay theo thời gian Trong các hệ thống NLKH có mối tác động hỗ tương qua lại về cả mặt sinh thái lẫn kinh tế giữa các thành phần của chúng [40]

Các tác giả Trần Ngọc Ngoạn và Cs (1999) [14] cho rằng: NLKH là thuật ngữ dùng để chỉ các hệ thống sử dụng đất, ở đó có các cây, con nông nghiệp (cây trồng, cây cỏ, vật nuôi ) được bố trí kết hợp với các cây lâm nghiệp theo không gian hoặc luân canh và có sự tương tác giữa cây, con nông nghiệp và lâm nghiệp về

cả mặt sinh thái và kinh tế

Trang 15

Vào năm 1997, Trung Tâm Quốc Tế nghiên cứu về NLKH (gọi tắt là ICRAF) đã xem xét lại khái niệm NLKH và phát triển nó rộng hơn như là một hệ thống sử dụng đất giới hạn trong các nông trại Ngày nay nó được định nghĩa như là một hệ thống quản lý tài nguyên đặt cơ sở trên đặc tính sinh thái và năng động nhờ vào sự phối hợp cây trồng lâu năm vào nông trại hay đồng cỏ để làm đa dạng và bền vững sự sản xuất cho gia tăng các lợi ích về xã hội, kinh tế và môi trường của các mức độ nông trại khác nhau từ kinh tế hộ nhỏ đến " kinh tế trang trại " Một cách đơn giản, ICRAF đã xem "Nông Lâm kết hợp là trồng cây trên nông trại" và định nghĩa nó như là một hệ thống quản lý tài nguyên tự nhiên năng động và lấy yếu tố sinh thái làm chính, qua đó cây được phối hợp trồng trên nông trại và vào hệ sinh thái nông nghiệp làm đa dạng và bền vững sức sản xuất để gia tăng các lợi ích kinh tế, xã hội

và sinh thái cho người canh tác ở các mức độ khác nhau [20]

Các định nghĩa trên chỉ ra những đặc trung cơ bản của NLKH đó là:

- Thông thường có hai hoặc nhiều loài cây (có thể gồm cả động vật) nhưng ít nhất một trong chúng phải là những cây gỗ sống lâu năm

- Một hệ thống NLKH luôn có hai hoặc nhiều sản phẩm đầu ra

- Chu kỳ của một hệ thống NLKH dù đơn giản nhất vẫn phức tạp hơn hệ thống độc canh cả về phương diện kinh tế cũng như sinh thái học (bao gồm cả cấu trúc và chức năng sinh thái học)

Hơn thế ở đây còn có ba đặc tính mà xét về phương diện lý luận thì tất cả các

hệ thống NLKH đều phải có đó là: Khả năng sản xuất; Tính bền vững; Tính khả khi [16], [19], [20], [23], [33], [36]

Các hệ thống NLKH có thể phân loại dựa trên các tiêu chuẩn về cơ sở cấu trúc, về cơ sở chức năng, về cơ sở kinh tế - xã hội, về cơ sở sinh thái… các cách phân loại này cũng chỉ có ý nghĩa tương đối và chúng có quan hệ mật thiết với nhau Ở vùng đất dốc, người ta thường chia các hệ thống NLKH ra làm 2 nhóm chính là: hệ thống NLKH truyền thống và hệ thống NLKH cải tiến

Trang 16

Hệ thống NLKH truyền thống đây là hệ thống canh tác được phát triển và tích lũy kinh nghiệm qua nhiều thế hệ, được kiểm nghiệm qua thời gian Chúng thường được phổ biến ở các cộng đồng người dân tộc sống ở gần hay tại rừng Nói cách khác,

hệ thống NLKH truyền thống là các kiểu canh tác NLKH được phát triển bởi chính người dân địa phương Điều này chứng minh rằng lý thuyết NLKH là mới mẻ nhưng thực ra là một kiểu canh tác đã được người dân sáng tạo ra từ lâu Nhiều kỹ thuật NLKH đã được đúc kết, tồn tại và thử nghiệm bởi người nông dân qua hàng ngàn năm Các yếu tố để xem xét một hệ thống là truyền thống/ bản địa bao gồm:

- Hệ thống được tồn tại từ lâu

1.1.2 Lợi ích của canh tác NLKH

Hệ thống nông lâm kết hợp mang lại nhiều lợi ích tạo nhiều thu nhập tăng thêm

từ các nguồn khác nhau, tăng sản xuất lương thực, cải thiện cung cấp thức ăn cho người

và gia súc, tăng cung cấp củi, đất đai được cải thiện khả năng sản xuất, cung cấp nước cải thiện môi trường sống… Các thành phần đa dạng được cung cấp, cho thu hoạch nhiều vào các thời điểm khác nhau trong năm, qua đó đảm bảo thu nhập và giảm nguy

cơ mất mùa.Tính chất đa chức năng của NLKH cung cấp hàng loạt cơ hội, lợi ích cho các thành phần trên và dưới mặt đất, ví dụ tạo ra hàng rào sống, gỗ và môi trường sống của động vật hoang dã, cải thiện môi trường cho hoạt động của sinh vật đất Với những lợi ích này nông lâm kết hợp có vai trò cải thiện cuộc sống của người nông dân, giúp xóa đói giảm nghèo, duy trì sự ổn định sinh thái [8]

Vai trò cung cấp lương thực và thực phẩm: Nhiều mô hình NLKH được hình thành và phát triển nhằm vào mục đích sản xuất nhiều loại lương thực, thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao đáp ứng nhu cầu của hộ gia đình Điển hình là hệ

Trang 17

thống VAC được phát triển rộng rãi ở nhiều vùng nông thôn nước ta Ưu điểm của các hệ thống NLKH là có khả năng tạo ra sản phẩm lương thực và thực phẩm đa dạng trên một diện tích đất mà không yêu cầu đầu vào lớn [29]

Vai trò tạo việc làm: NLKH gồm nhiều thành phần canh tác đa dạng có tác dụng thu hút lao động, tạo thêm ngành nghề phụ cho nông dân

Vai trò tăng thu nhập nông hộ: Với sự phong phú về sản phẩm đầu ra và ít đòi hỏi về đầu vào, các hệ thống NLKH dễ có khả năng đem lại thu nhập cao cho nông hộ

Vai trò giảm rủi ro trong sản xuất và tăng mức an toàn lương thực: Nhờ có cấu trúc phức tạp, đa dang được thiết kế nhằm làm tăng các quan hệ tương hỗ (có lợi) giữa các thành phần trong hệ thống, các hệ thống NLKH thường có tính ổn định cao trước các biến động bất lợi về điều kiện tự nhiên (như dịch sâu bệnh, hạn hán, v.v ) Sự đa dạng về loại sản phẩm đầu ra cũng góp phần giảm rủi ro về thị trường

và giá cả cho nông hộ Mặt khác nó là nguồn cung cấp lương thực, thực phẩm trong sinh hoạt thường ngày cho nông hộ [6,30,33]

Có thể thấy phương thức NLKH đem lại cho hộ canh tác lợi ích kinh tế: như tạo

ra đa dạng sản phẩm, xóa đói giảm nghèo, cải thiện cuộc sống của người dân trong và gần rừng Các lợi ích xã hội: như tạo công ăn việc làm cho người dân và đặc biệt là các lợi ích về môi trường: như cải thiện môi trường đất, nước, không khí, điều hòa nguồn nước, đa dạng sinh học Đây chính là vai trò của NLKH trong giảm nhẹ và thích ứng với biến đổi khí hậu Mô hình NLKH không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất, mà còn đáp ứng các yêu cầu về bền vững môi trường như bảo vệ, cải thiện đất, giữ nước và hấp thụ và lưu giữ khí CO2 trong hệ thống, giảm lượng khí gây hiệu ứng nhà kính trong khí quyển, đóng góp vào việc giảm thiểu sự biến đổi khí hậu [7]

1.1.3 Tình hình NLKH trên thế giới

Thật khó có thể xác định một cách chính xác thời điểm mà tại đó hệ thống NLKH ra đời Mặc dù vậy, người ta vẫn thừa nhận rằng sự hình thành và phát triển của nó gắn liền với sự phát triển của các ngành khoa học thuộc nông lâm nghiệp, và gắn liền với sự nhận thức của con người về sử dụng đất và nhu cầu kinh tế Lúc đầu, du canh được xem là phương thức canh tác cổ xưa nhất, tiếp theo

Trang 18

cuộc cách mạng về kỹ thuật chăn nuôi, trồng trọt, sau du canh, sự ra đời của phương thức Taungya (canh tác đồi núi) ở vùng nhiệt đới được xem là một dấu hiệu báo trước cho phương thức NLKH sau này Trên thế giới có rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu về NLKH trong sử dụng và bảo vệ đất dốc, khó có thể xác định được số người đi sâu vào nghiên cứu vấn đề này do vậy chỉ có thể bó hẹp trong phạm vi nghiên cứu nào đó trên thế giới

“Trong vòng hai thập niên 60 và 70 của thế kỷ XX, dưới sự bảo trợ của nhóm nghiên cứu Nông nghiệp Quốc tế (CGIAR) nhiều trung tâm nghiên cứu nông nghiệp quốc tế được thành lập ở nhiều khu vực trên thế giới nhằm nghiên cứu nâng cao năng suất của các loại cây trồng và vật nuôi chủ yếu ở các vùng nhiệt đới Tuy nhiên các nhà quản lý đã sớm nhận thấy rằng các kỹ thuật thâm canh mới đã làm tăng nhu cầu phân bón và các chi phí đầu vào khác trong khi đó vẫn còn một bộ phận lớn nông dân nghèo nằm ngoài tầm ảnh hưởng tích cực của cuộc cách mạng trên Phần lớn các trung tâm nghiên cứu nông nghiệp quốc tế và các chương trình phát triển nông nghiệp quốc gia trong thời gian này mới chỉ tập trung nghiên cứu các loại cây trồng riêng rẽ trong khi nông dân lại canh tác một cách tổng hợp: Trồng xen các loại cây nông nghiệp khác nhau, cây ngắn ngày với cây gỗ dài ngày

Canh tác cây thân gỗ cùng với cây trồng nông nghiệp trên cùng một diện tích là một tập quán sản xuất lâu đời của nông dân nhiều nước trên thế giới Theo King (1987) [45], cho đến thời trung cổ ở châu Âu vẫn tồn tại một tập quán phổ biến là “chặt và đốt” rồi sau đó tiếp tục trồng cây thân gỗ cùng với cây nông nghiệp hoặc sau khi thu hoạch nông nghiệp Hệ thống canh tác này vẫn tồn tại ở Phần Lan cho đến cuối thế kỷ

19, và vẫn còn ở một số vùng của Đức đến tận những năm 1920 Nhiều phương thức canh tác truyền thống ở châu Á, châu Phi và khu vực nhiệt đới châu Mỹ đã có sự phối hợp cây thân gỗ với cây nông nghiệp để nhằm mục đích chủ yếu là hỗ trợ cho sản xuất nông nghiệp và tạo ra các sản phẩm phụ khác: gỗ, củi, đồ gia dụng

Du canh được đánh giá là phương thức canh tác cổ xưa nhất, lúc này con người

đã tích lũy được ít nhiều những kiến thức sơ đảng về tự nhiên Loài người đã vượt qua thời kỳ này bằng cuộc cách mạng về kỹ thuật, chăn nuôi và trồng trọt Song không phải tất cả các nước, có không ít các nước vận động rất chậm sau cuộc cách mạng này

Trang 19

Sau du canh sự ra đời của phương thức Taungya ở vùng nhiệt đới được xem như là một sự báo trước cho sự ra đời của phương thức NLKH sau này [41] Nguồn gốc của phương thức này là từ địa phương của ngôn ngữ Myanma: “Taung” nghĩa

là canh tác, “ya” nghĩa là đồi núi, như vậy Taungya là phương thức canh tác trên đất đồi núi, điều đó cũng đồng nghĩa với phương thức canh tác đất dốc Cuối cùng hệ thống Taungya được đưa vào sử dụng rất sớm ở Ấn Độ sau đó được truyền bá rộng rãi qua châu Á, châu Phi và Mĩ La Tinh Ngày nay hệ thống Taungya được biết đến với nhiều tên gọi khác nhau, ở một số nước nó được gọi như là một sự biểu tượng đặc biệt của phương thức du canh ở Indonexia người ta gọi là Tumpansary, ở Philippin là Kaingyning, ở Malaixia là Ladang[32]

Đối với các ngước Đông Nam Á, NLKH ngày càng được quan tâm và phát triển Các nước đã có các nghiên cứu tìm ra những dạng mô hình thích hợp nhất với tập quán canh tác, địa hình, khí hậu, đất đai từng vùng Tham khảo một số mô hình chính ở một số nước Đông Nam Á có NLKH phát triển:

* Trung Quốc: Hệ thống nông lâm kết hợp đa dạng theo nhiều phương thức

trồng và mật độ khác nhau được áp dụng rộng rãi ở miền Trung và miền Bắc của Trung Quốc Cây đa mục đích được trồng xen theo nguyên tắc đa loài tạo ra sản phẩm quanh năm và mang tính hàng hoá Trung Quốc phân loại nông lâm kết hợp theo vùng sinh thái (vùng núi cao, vùng trung du miền núi, vùng đồng bằng ) Mỗi loại hình nông lâm kết hợp phù hợp với sinh thái riêng nhưng đều đảm bảo lợi ích kinh tế theo kiểu kinh tế trang trại

* Indonesia: Từ năm 1972 hoạt động NLKH ở nước này do các công ty lâm

nghiệp, nông nghiệp tổ chức và quản lý Việc chọn đất khai hoang để trồng cây lâm nghiệp, nông dân được các cán bộ kỹ thuật của công ty hướng dẫn trồng cây lâm nghiệp kết hợp với cây nông nghiệp Sau khi trồng cây nông nghiệp hai năm nông dân lại bàn giao rừng cho công ty, sản phẩm nông nghiệp do họ hoàn toàn sử dụng Với phương thức này tại khu rừng trồng ở Savadan trên diện tích 300 ha người ta đã thu được 1426 tấn lúa, 126 tấn sắn, 73 tấn ngô và 19,5 tấn đậu đỏ Tổng giá trị thành tiền là 155.000 USD, thực lãi 116.000 USD (bình quân 385 USD/ha/vụ) Các

mô hình trồng xen chủ yếu là:

Trang 20

+ Sầu riêng - cây gỗ - Quế - Cà phê

+ Cà phê - 2 hoặc 3 tầng cây gỗ hoặc xen cây ăn quả

+ Cây lấy gỗ - Nhục đậu khẩu - Quế

+ Cây ăn quả - cây gỗ - cây lâm nghiệp

* Philipin: Philippin được nhiều người biết đến với các mô hình canh tác

trên đất dốc (SALT) Đây là hệ canh tác theo hướng bảo vệ đất được phát triển từ những năm 1970 do trung tâm đời sống nông thôn (RLC) ở Baptist của Mindanao thực hiện kỹ thuật NLKH này dựa trên cơ sở thỏa mãn nhu cầu sản xuất ngô vùng đồi núi phía nam Philippin SALT đã đạt được mong muốn ở phần lớn các nước châu Á và được đánh giá là một khuynh hướng canh tác phù hợp về sinh thái học, hiệu quả kinh tế là công cụ nhạy bén

* Thái Lan: Những vườn hộ đa tầng trên đất thổ cư thường được áp dụng

trong các cộng đồng định cư bao gồm cây lâm nghiệp lâu năm (cây gỗ lớn ) cây gỗ vừa, cây gỗ nhỏ và củi phục vụ sinh hoạt gia đình Cây ăn quả, cây lương thực, cây cải tạo đất trồng xen trên những khu đất bằng

Ngoài ra NLKH phát triển ở một số nước như: Ấn Độ nổi tiếng thế giới về cuộc “cách mạng xanh” về canh tác NLKH trong đó hệ canh tác trong các vườn gia đình, vườn rừng được áp dụng phổ biến Nhờ cuộc cách mạng này mà Ấn Độ từ một nước đông dân chẳng những không bị thiếu mà còn xuất khẩu lương thực Trong các cây trồng của Ấn Độ, dừa là cây đáng chú ý, người ta gọi đây là cây “chúa trời” (Tree

of heaven) hoặc cây bách dụng (Tree of hundred uses) Ngoài dừa, hồ tiêu cũng là loài cây được chú ý, nó được trồng kết hợp trong các gia đình Cacao là cây trồng xen với

dừa trong điều kiện nước tưới thuận lợi Cà phê và cao su được trồng kết hợp với cây

hồ tiêu, mít và cây ăn quả khác Tếch, mít rừng và phi lao thường được trồng kết hợp với tre tạo thành các đai bảo vệ cũng là một hình thức phổ biến Các mô hình

thường gặp là:

+ Dừa - sắn - cà phê - hồ tiêu - đai bảo vệ ; Dừa - ca cao

+ Dừa - khoai sọ - đai bảo vệ ; Dừa - chuối - đai bảo vệ

Trang 21

Ở Brazin NLKH phổ biến là: Doi kết hợp với hồ tiêu đen, doi là loài cây được trồng phổ biến trong vài năm gần đây với hình thức trồng dưới tán hồ tiêu leo lên cột

gỗ Sau 4-6 năm hồ tiêu chết, doi bắt đầu cho sản phẩm Ca cao thường được trồng xen với Doi và Quế trong các vườn rừng và vườn gia đình hoặc ca cao kết hợp với cao su

Trên thế giới, hiện nay NLKH ngày càng phát triển và thực sự là phương thức canh tác mang lại hiệu quả nhiều mặt cho người dân vùng đồi núi Cùng với việc nghiên cứu các hệ thống cây trồng trên đất ruộng bằng phẳng theo hướng luân canh, thâm canh tăng vụ, bố trí cây trồng tối ưu theo điều kiện tự nhiên của vùng Các nhà khoa học trên Thế giới đã tập trung nghiên cứu hệ thống canh tác ở vùng đồi núi theo hướng đa dạng hóa cây trồng, bảo vệ đất, chống xói mòn, xây dựng hệ thống canh tác lâu bền trên đất dốc trông đó các thành phần gồm cây lâm nghiệp, cây ăn quả, cây công nghiệp dài ngày được đưa vào kinh doanh trong các hộ gia đình

1.1.4 Sự phát triển NLKH ở Việt Nam

Ở Việt Nam, tập quán canh tác nông lâm kết hợp đã có từ lâu đời, như các hệ thống canh tác nương rẫy truyền thống của đồng bào các dân tộc ít người, hệ sinh thái vườn nhà ở nhiều vùng địa lý sinh thái trên cả nước Từ thập niên 60 của thế kỷ trước, song song với phong trào thi đua sản xuất giỏi, những năm 1960 hệ sinh thái VAC được nhân dân các tỉnh miền Bắc phát triển mạnh mẽ và lan rộng trên khắp cả nước dưới nhiều hình thức khác nhau, thích hợp cho từng vùng sinh thái cụ thể Sau

đó là hệ thống Rừng-Vườn-Ao-Chuồng (RVAC) và vườn đồi được phát triển mạnh

mẽ ở các khu vực dân cư miền núi Các hệ thống rừng ngập mặn-nuôi trồng thuỷ sản cũng được phát triển mạnh mẽ ở vùng duyên hải các tỉnh miền Trung và miền Nam Các dự án ODA cũng giới thiệu các mô hình canh tác trên đất dốc theo đường đồng mức (SALT) ở một số khu vực miền núi Theo đó, cho đến nay các mô hình nông lâm kết hợp bao gồm:

- Trồng xen cây nông nghiệp ngắn ngày với cây rừng trong giai đoạn rừng trồng chưa khép tán

- Trồng xen cây lương thực, thực phẩm, dược liệu dưới tán rừng

- Trồng xen cây nông nghiệp ở cả 2 giai đoạn của rừng trồng: Khi rừng chưa

Trang 22

khép tán: trồng xen lúa nương, sắn, lạc Khi rừng trồng đã khép tán: trồng xen sa nhân dưới tán rừng

- Trồng và kinh doanh các cây công nghiệp lâu năm với cây rừng (cà phê, ca cao, cao su.)

- Trồng và kinh doanh “rừng lương thực, thực phẩm” (rừng dẻ, rừng sến mật, rừng dừa, rừng điều.)

- Vườn quả, vườn rừng và rừng vườn (Táo + lạc + đậu tương; Vải thiều + dong riềng; Mít + chè, dứa;.)

- Chăn nuôi trâu bò, chăn thả luân phiên dưới tán rừng trồng (bạch đàn + keo

mỡ cho đất đã lại bị chặt và đốt Đất thoái hóa dần, năng suất cây trồng giảm dần, rừng tái sinh biến mất nhường chỗ cho những trảng cỏ hoặc cây bụi Môi trường bị đảo lộn, mùa khô nghiệt ngã kéo dài tới 6 tháng dễ làm các tràng cỏ và cây bụi bốc cháy, đất lại càng trơ trọi với gió và nắng Diện tích đất bazan thoái hóa không ngừng mở rộng

- Người Mường ở miền núi Thanh Hóa và Hà Tây, Hòa Bình từ xưa đã có tập quán gieo hạt xoan sau khi phát nương, đốt rẫy để nhờ nhiệt độ cao kích thích cho hạt xoan nảy mầm, chọc lỗ bỏ hạt lúa xen với xoan Người ta chăm sóc lúa nương kết hợp chăm sóc cho xoan Mật độ cây xoan để lại khoảng 1000-1500 cây/ha Sau 3 vụ lúa nương, năng suất lúa thấp dần và rừng xoan đã bắt đầu khép kín, hình thành một trạng thái rừng 2 tầng: xoan và tre lứa Cây xoan là cây mọc nhanh gỗ không bị mối mọt được vùng này rất ưa thích Tre nứa và măng cũng là những lâm sản cần thiết cho đời sống nhân dân địa phương Sau khoảng trên 10

Trang 23

năm, người ta có thể khai thác tận dụng xoan, tre nứa và tiếp tục phát đốt làm nương rẫy đợt sau Người ta cũng làm như vậy khi xen luồng với lúa, với ngô nương Hệ canh tác này bền vững qua nhiều thế kỷ

- Đồng bào dân tộc ít người ở vùng núi Lào Cai, Yên Bái, Quảng Ninh, Quảng Nam, Đà Nẵng có tập quán trồng quế kết hợp với lúa nương và sắn trong 3 năm đầu tạo bóng che cần thiết cho cây quế lúc còn non [26]

Ở nước ta đất dốc chiếm tỷ lệ lớn (72% diện tích đất canh tác là đất có độ dốc), nên cần có phương thức sử dụng và bảo vệ đất dốc trên quan điểm bền vững Nhiều tác giả đã nghiên cứu về vấn đề này và đưa ra một số biện pháp kỹ thuật như sau:

- Ở độ dốc dưới 120 dùng các biện pháp nông nghiệp: trồng xen, trồng gối

- Ở độ dốc từ 12 - 250 có thể dùng các biện pháp: Che phủ bằng thảm thực vật theo phương thức NLKH; Che phủ bằng vật không sống như rơm rạ, các tấm nhựa, ni lon; Các biện pháp công trình làm thềm bậc thang, rãnh sườn dốc

- Ở độ dốc trên 250 dùng các biện pháp lâm nghiệp [9], [12]

Tuy nhiên trong thực tế do sức ép về dân số của nước ta, tỷ lệ diện tích đất canh tác/đầu người thấp nên nhiều nơi nông dân đã trồng độc canh cây nông nghiệp ngay trên cả đất có độ dốc trên 250 Vì vậy, việc canh tác NLKH là giải pháp tốt nhất để canh tác đất dốc lâu bền trong giai đoạn hiện nay ở nước ta [31]

Ở Việt Nam trên cơ sở kết quả hoạt động nghiên cứu khoa học NLKH, một

số tác giả như Hoàng Hòe, Nguyễn Đình Hường, Nguyễn Ngọc Bình đã phân hệ canh tác NLKH ở nước ta thành 8 hệ thống chính gọi là “hệ canh tác” là đơn vị cao nhất, dưới hệ canh tác là các “phương thức” hay “kiểu” canh tác và cuối cùng là các

“mô hình” NLKH ở các nông hộ [25] Theo nguyên tắc phân loại này hệ canh tác NLKH ở Việt Nam được chia thành 8 hệ sau:

1: Hệ canh tác nông - lâm; 2: Hệ canh tác lâm - súc; 3: Hệ canh tác nông - lâm - súc; 4: Hệ cây gỗ đa tác dụng; 5: Hệ lâm - ngư; 6: Hệ nông - lâm - ngư; 7: Hệ ong - cây lấy gỗ; 8: Hệ nông - lâm - ngư - súc [25, 35, 33].Các hệ này được chia thành 27 kiểu canh tác/hệ thống khác nhau theo thành phần chính trong hệ thống ở từng vùng sinh thái, các hộ gia đình sản xuất NLKH gọi là các mô hình NLKH

Trang 24

Các tác giả trên đã tập hợp các mô hình NLKH điển hình và phân chia các vùng sản xuất NLKH chính, trên cơ sở phân vùng địa lý tự nhiên để xác định khả năng thực hiện ở mỗi vùng

- Vùng Ven biển: với các loài cây ngập mặn, chịu phèn, chống cát di động

- Vùng đồng bằng: các hệ thống như VAC (vườn ao chuồng), trồng cây phân tán, đai xanh phòng hộ

- Vùng đồi núi và trung du: Các hệ thống VR (vườn - rừng), VAC (vườn - ao

- chuồng), RVC (rừng - vườn - chuồng), trồng rừng kết hợp nuôi ong lấy mật (R-O), RVCRg (rừng - vườn - chuồng - ruộng),

- Vùng đồi núi cao chăn thả dưới tán rừng, làm ruộng bậc thang với rừng phòng hộ đầu nguồn [25, 33]

Nhìn chung cách phân loại về hệ thống NLKH ở nước ta và trên thế giới về bản chất cấu thành hệ thống là hoàn toàn giống nhau, cũng có thể trước khi phân loại NLKH ở Việt Nam các nhà khoa học đã vận dụng phương pháp phân loại của thế giới nhưng rất cụ thể Điều đó cho phép chúng ta vận dụng một cách linh hoạt hơn những kết quả nghiên cứu về các hệ thống NLKH trên thế giới ứng dụng vào điều kiện từng vùng sinh thái ở Việt Nam

Trong phong trào phát triển kinh tế đồi rừng hiện nay, các địa phương đã có nhiều nỗ lực tìm ra các biện pháp canh tác thích hợp vừa tiến hành sản xuất vừa bảo

vệ môi trường đất đai và môi trường sinh thái, nhiều mô hình canh tác tiến bộ đã được giới thiệu và áp dụng có kết quả tốt Việc sử dụng hợp lý tài nguyên đất dốc giữa kiến thức lâu đời của người dân địa phương với những kỹ thuật tiên tiến theo phương thức NLKH là một phương thức canh tác chiến lược cần được phổ cập rộng rãi đối với vùng đồi núi [24, 28]

Đặng Văn Minh, (2005) [10] khi nghiên cứu về sự ảnh hưởng tới chất lượng đất của mô hình sản xuất trang trại NLKH tại trung tâm thực hành, thực nghiệm, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã đưa ra kết luận: Canh tác trên đất dốc theo mô hình trang trại NLKH đã có ảnh hưởng tích cực tới việc duy trì chất lượng đất

Trang 25

Đặng Kim Vui và Cs, 2005 [33] khi nghiên cứu về biện pháp kỹ thuật cải tiến một số mô hình NLKH trên địa bàn huyện Võ Nhai - Thái Nguyên đã chỉ ra: để làm tăng năng suất cây trồng và đảm bảo canh tác lâu bền trên đất dốc ngoài việc lựa chọn hệ thống cây trồng phù hợp thì cần phải trồng xen các loài cây cải tạo đất như Cốt khí, Muồng đen, Keo dậu

Như vậy NLKH được tiến hành không chỉ nhằm nâng cao năng suất cho sản xuất nông - lâm nghiệp mà còn tạo ra môi trường ổn định sinh thái cho mỗi vùng

Tóm lại, NLKH có lịch sử phát triển ở Việt Nam từ rất lâu, các dạng mô hình rất phong phú thể hiện sự phù hợp của mình trong mọi thời kỳ phát triển của đất nước Không chỉ từ xa xưa mà cho đến tận ngày nay, NLKH luôn được người dân, nhà nước quan tâm và luôn ưu tiên hàng đầu trong sự phát triển của nông lâm nghiệp

1.1.5 Sự phát triển NLKH ở Điện Biên

Ở Điện Biên, Nông lâm kết hợp được bà con các dân tộc như Mông, Thái, Kháng đã áp dụng từ xa xưa Nông lâm kết hợp được bà con thể hiện qua sự kết hợp giữa làm nương, chăn nuôi và ao thả cá chứ bà con không hình dung ra Nông lâm kết hợp thực chất là như thế nào? Các dạng mô hình NLKH bà con áp dụng nhiều nhất trải qua từ nhiều đời nay, được truyền từ đời này qua đời khác với mục đích tăng lượng sản phẩm, tăng nguồn thu nhập cho hộ gia đình Hiện nay, bà con các dân tộc trong tỉnh vẫn còn giữ những dạng và kiểu canh tác truyền thống như trồng lúa nương, ruộng nước ruộng bậc thang trên đất dốc dưới diện tích rừng tái sinh tự nhiên hoặc kết hợp giữa các loại cây trồng ngắn ngày như ngô, đậu tương và cây ăn quả Với sự thay đổi của thời tiết, khí hậu và thiên tai ngày càng phức tạp thì bà con đã nhận thức rõ vai trò của cây lâu năm đối với việc giữ nước và bảo tồn đất Cùng với các chính sách hỗ trợ giống cây dài ngày, giao đất giao rừng thì bà con ngày càng trú trọng phát triển cây dài ngày trong hệ thống cây trồng canh tác của hộ gia đình

Năm 2012, từ nguồn vốn Sự nghiệp Khoa học, cuối năm 2012, xã Mường Phăng (huyện Điện Biên) triển khai dự án: "Ứng dụng các tiến bộ KHKT xây dựng các mô hình Nông - lâm kết hợp tại xã Mường Phăng, huyện Điện Biên” Sở Khoa học và công nghệ là đơn vị quản lý dự án, giám sát thực tế triển khai dự án là Ban

Trang 26

quản lý rừng Mường Phăng Dự án gồm các mô hình: thâm canh sản xuất lúa nước: 20ha, trồng cây khoai tây trên đất 1 vụ lúa: 2 ha; nuôi lợn rừng sinh sản; nuôi cá: 2 ha; trồng xen cây nông nghiệp (ngô, cây họ đậu ) với cây lâm nghiệp (thông, lát hoa, vối thuốc ): 2ha Tổng số có hơn 30 hộ dân tham gia Sau gần hai năm triển khai, bước đầu mô hình đã mang lại hiệu quả, góp phần thay đổi tư duy sản xuất của người dân từ độc canh cây lúa sang sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa đa dạng, tăng thu nhập Với những kết quả tích cực ban đầu, dự án: "Ứng dụng các tiến

bộ KHKT xây dựng các mô hình Nông - lâm kết hợp tại xã Mường Phăng” mang lại

hy vọng một hướng mới tạo việc làm cho người dân nông thôn, góp phần, thay đổi tập quán sản xuất, xóa đói giảm nghèo bền vững

Hiện nay theo quyết định 279/2013/QĐ-BNN-HTQT “Xây dựng thử nghiệm NLKH tại tỉnh Sơn La, Điện Biên và Yên Bái” trong khuôn khổ dự án NLKH cho sinh kế các nông hộ nhỏ vùng Tây Bắc Việt Nam do Tổ chức Nông Lâm thế giới - ICRAF tài trợ của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành thì

bà con được tiếp cận về NLKH và hiểu được lợi ích của NLKH ICRAF đã tìm hiểu khó khăn và sự cấp thiết của người dân các tỉnh Tây Bắc trong đó có Điện Biên và đưa vào dự án AFLI là dự án NLKH cho sinh kế của nông hộ nhỏ tại khu vực Tây Bắc Việt Nam Dự án có mục đích cải thiện hiệu suất của các hệ thống nông nghiệp

hộ gia đình ở khu vực Tây Bắc Việt Nam thông qua NLKH

Dự án AFLI bắt đầu khởi động thực hiện từ tháng 2/2012 với mục tiêu tổng thể là: Cải thiện hiệu quả các hệ thống canh tác ở cấp nông hộ nhỏ tại khu vực Tây Bắc Việt Nam thông qua nông lâm kết hợp (NLKH), hướng đến gia tăng năng suất các hệ thống kết hợp giữa vật nuôi và cây trồng, tạo ra hệ thống sản xuất đa dạng, bền vững và tăng thu nhập từ các sản phẩm cây trồng Để đạt được mục tiêu tổng thể, Dự án đặt ra 4 mục tiêu chính: Thứ nhất là xây dựng các hệ thống NLKH thực tiễn tốt nhất, thứ hai là cải thiện mức độ sẵn có các nguồn giống chất lượng cao, thứ

3 là tăng cường tiếp cận thị trường và giá trị của các sản phẩm NLKH và cuối cùng

là cải thiện khuyến nông khuyến lâm và đối thoại chính sách nhằm mở rộng NLKH

Dự án hiện đang triển khai một số mô hình sau:

Trang 27

- Mô hình ngô + Nhãn chín muộn thực hiện tại: Yên Bái (Văn Chấn), Sơn La (Mai Sơn) và Điện Biên (Tuần Giáo)

- Mô hình Chè Shan + Cỏ chăn nuôi thực hiện tại: Yên Bái (Văn Chấn) và Điện Biên (Tủa Chùa)

- Mô hình Maca + Cà phê thực hiện tại: Sơn La (Mai Sơn) và Điện Biên (Tuần Giáo)

- Mô hình Chè shan + đậu tương thực hiện tại Điện Biên (Tủa Chùa)

- Mô hình Sơn Tra + Cỏ chăn nuôi thực hiện tại: Sơn La (Thuận Châu), Yên Bái (Trạm Tấu) và Điện Biên (Tuần Giáo)

- Mô hình Sơn Tra + Ngô thực hiện tại Sơn La (Thuận Châu)

- Mô hình hệ thống NLKH phức hợp gồm các loại cây trồng như: Cà Phê, mận, cỏ, tếch, keo, nhãn, xoài…

- Mô hình trồng Sa nhân dưới tán rừng thực hiện tại Sơn La (Thuận Châu) Hiện nay dự án vẫn đang được tiến hành và thay đổi để phù hợp nhất với người dân vùng tham gia dự án

Phần lớn hướng dự án đều đưa vào các loại cây, con mới có giá trị kinh tế để bà con nuôi trồng Tuy nhiên các dự án chưa chú trọng phát triển, mở rộng các dạng hệ thống canh tác truyền thống của bà con để bà con có thể canh tác và phát triển trên chính kiến thức canh tác bản địa của mình Chính vì vậy, đề tài nghiên cứu các dạng

mô hình NLKH truyền thống của bà con từ trước tới nay, tìm ra các điểm mạnh, điểm yếu của mô hình, đưa ra các khuyến nghị về chính sách và quản lý nhằm phát huy tối

đa lợi ích và hiệu quả của các mô hình NLKH truyền thống tại tỉnh Điện Biên

1.2 Tổng quan về ứng phó với biến đổi khí hậu

1.2.1 Biến đổi khí hậu (BĐKH) ở Việt Nam

Việt Nam là một trong năm nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của BĐKH [3] BĐKH sẽ có tác động tiêu cực nhiều mặt đến môi trường sống của con người và sinh vật Trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn, ngoài thủy lợi, thủy sản thì trồng trọt được nhận định là ngành chịu ảnh hưởng nặng nề nhất Đối với Việt Nam, BĐKH làm thay đổi cơ cấu mùa vụ, cơ cấu cây trồng, làm giảm năng

Trang 28

suất cây trồng dẫn đến mất cân bằng an ninh lương thực và ảnh hưởng không tốt tới

sự phát triển của rừng BĐKH làm tăng nguy cơ mất rừng, nguy cơ chuyển đổi mục đích sử dụng đất lâm nghiệp Việt Nam là nước có giá trị đa dạng sinh học cao với nhiều loại hệ sinh thái khác nhau BĐKH đe dọa tới đa dạng sinh học rừng, làm thay đổi tổ thành loài, phân bố và khả năng sinh trưởng của các loài sinh vật rừng Diện tích cây rụng lá (cây họ dầu) và nửa rụng lá với nhiều loài cây chịu hạn sẽ tăng Nhiều loài nhiệt đới ưa sáng sẽ di cư cao hơn và các loài cá nhiệt đới mất dần Số lượng quần thể các loài sinh vật quý hiếm sẽ suy kiệt đồng thời nguy cơ xuất hiện các loài sinh vật ngoại lai có hại sẽ tăng Nhiều loài phải di cư tìm nơi sống mới và nếu không thể thích nghi với điều kiện sống mới hay cạnh tranh với các loài khác sẽ vĩnh viễn biến mất khỏi hành tinh BĐKH làm tăng nguy cơ dịch bệnh, nguy cơ cháy rừng Các hệ sinh thái sẽ bị suy thoái, đặc biệt là hệ sinh thái ven biển và hệ sinh thái núi Theo dự báo, năm 2070, các loài cây nhiệt đới vùng núi cao sẽ có thể sống được ở độ cao 100-550m và dịch lên phía bắc 100-200

km Tuy nhiên, điều này phải được quan tâm nghiên cứu kỹ, vì theo tự nhiên, một loài thực vật phải mất ít nhất 100 năm mới có thể sống và phát triển thành quần thể ở một nơi cách quê hương của nó chỉ có 1 km Hạn hán và nắng nóng

đã gây ra cháy rừng ở Việt Nam, huỷ hoại nhiều cánh rừng trên đất nước Khoảng 5 triệu ha rừng dễ cháy ở bất cứ mùa nào trong năm Trong số diện tích rừng hiện có, 56% dễ bị cháy trong mùa khô Biến đổi khí hậu là một trong những nội dung nghiên cứu còn mới mẻ ở Việt Nam cả về phương pháp luận cũng như các công cụ nghiên cứu do tính phức tạp về qui mô toàn cầu và mức độ, đối tượng bị tác động

Do vậy, việc tìm hiểu và nghiên cứu về những tác động của BĐKH một nhiệm vụ khó khăn và đầy thử thách

1.2.2 Ứng phó với BĐKH

2001

:

Trang 29

Thuật ngữ thích ứng có nghĩa là điều chỉnh, hoặc thụ động, hoặc phản ứng tích cực, hoặc có phòng bị trước, được đưa ra với ý nghĩa là giảm thiểu và cải thiện những hậu quả có hại của BĐKH

Khả năng thích ứng đề cập đến mức độ điều chỉnh có thể trong hành động, xử

lý, cấu trúc của hệ thống đối với những biến đổi dự kiến có thể xảy ra hay thực sự đã và đang xảy ra của khí hậu Sự thích ứng có thể là tự phát hay được chuẩn bị trước, và có thể được thực hiện để đối phó với những biến đổi trong nhiều điều kiện khác nhau

Sự thích ứng còn có nghĩa là tất cả những phản ứng đối với BĐKH nhằm làm giảm tính dễ bị tổn thương Sự thích ứng cũng còn có nghĩa là các hành động tận dụng những cơ hội thuận lợi mới nảy sinh do BĐKH Trong việc đánh giá những tác động của BĐKH, nhất thiết phải kể đến sự thích ứng Cây cối, động vật, và con người không thể tiếp tục tồn tại một cách đơn giản như trước khi có BĐKH nhưng hoàn toàn có thể thay đổi các hành vi của mình Cây cối, động vật, và các hệ sinh thái có thể di cư sang một khu vực mới Con người cũng có thể thay đổi hành vi để đối phó với những điều kiện khí hậu khác nhau, nếu như cần thiết thì cũng có thể di

cư Để giải thích đầy đủ về tính dễ bị tổn thương do BĐKH, sự đánh giá tác động

Trang 30

cần phải tính đến quá trình tất yếu sẽ xảy ra: sự thích ứng của các đối tượng tác động Không có đánh giá về những quá trình thích ứng, nghiên cứu tác động sẽ không thể đánh giá chính xác và đầy đủ những ảnh hưởng tiêu cực của BĐKH Một

lý do nữa cho đánh giá thích ứng là giúp cho những nhà lập chính sách biết có thể làm gì để giảm thiểu các rủi ro của BĐKH

Để thích ứng với BĐKH cần hiểu rõ khái niệm thích ứng, đánh giá các công nghệ và biện pháp khác nhau nhằm phòng tránh những hậu quả bất lợi của BĐKH bằng cách ngăn chặn hoặc hạn chế chúng, bằng cách nhanh chóng tạo ra một sự thích ứng với BĐKH và phục hồi có hiệu quả sau những tác động, hay là bằng cách lợi dụng những tác động tích cực

Trang 31

đổi do tác động biến đổi khí hậu) Việc thích ứng với BĐKH của thông qua phương thức canh tác NLKH thể hiện qua các mặt sau:

* NLKH đảm bảo an ninh lương thực: Bằng cách tạo ra lợi ích trực tiếp cho nông dân như thực phẩm, thức ăn gia súc, gia cầm, gỗ nhiên liệu, các loại lâm sản ngoài gỗ và các sản phẩm khác Sự đa dạng của cây trồng cung cấp cho thu hoạch vào nhiều thời điểm khác nhau trong năm, do đó làm giảm nguy cơ mất mùa vụ và thiếu lương thực Mặt khác NLKH là phương thức tận dụng đất có hiệu quả nên làm nhu cầu mở rộng đất nông nghiệp bằng khai hoang rừng Chính vì vậy mà canh tác NLKH sẽ làm giảm sức ép của con người vào rừng tự nhiên, giảm tốc độ phá rừng [44]

* NLKH đem lại các lợi ích gián tiếp khác như bảo tồn nguồn nước, giảm thiểu xói mòn, bảo vệ đất, dinh dưỡng đất, độ màu mỡ và độ mùn của đất được cải thiện Ngày nay, một phần của tình trạng thoái hoá đất là do điều kiên khí hậu, địa hình đặc trưng của vùng, một phần là do áp dụng biên pháp kỹ thuật canh tác cũ, đặc biệt

là nông dân miền núi đã phát rừng làm rẫy vẫn diễn ra Mặt khác, dân số ngày một tăng dẫn đến thiếu đất sản xuất, nông dân miền núi phải canh tác trên đất có dốc cao hơn 25 và thường là trồng độc canh cây nông nghiệp ngắn ngày (sắn, lúa rẫy ) nên hiện tượng thoái hoá đất diễn ra càng nhanh hơn Với độ dốc cao như vậy, sự thoái hóa đất xảy ra rất nhanh và thời gian canh tác hiệu quả là rất ngắn, thường chỉ được

2 -3 vụ cây lương thực ngắn ngày, sau đó phải bỏ hóa đất, đặc biệt nguy hiểm là hiện nay nông dân miền núi vẫn áp dụng phương pháp dọn sạch cỏ dại và đốt trước khi gieo trồng Với cách làm này, dòng chảy bề mặt thường rất lớn, lượng đất bề mặt bị rửa trôi nhiều Khi tài nguyên rừng bị mất, diện tích đất trống đồi núi trọc ngày càng tăng, hiện tượng lũ lụt xảy ra nhiều và lớn hơn Do đó, năng suất cây trồng ngày càng giảm nếu không được đầu tư và áp dụng biện pháp kỹ thuật mới nhằm giảm tình trạng xói mòn đất đồi núi

* NLKH là giảm thiểu sự tác động của thiên tai lên ngành nông lâm nghiệp như: hạn hán, lũ quét, rét đậm rét hại…vì NLKH là mô hình sản xuất tương trợ lẫn nhau của các thành phần trong mô hình, có sự gắn kết chặt chẽ nên giảm thiểu sự tổn thương khi bị tác động

Trang 32

Tóm lại: NLKH giúp đa dạng hóa cây trồng và có tính đệm chống lại các rủi

ro về thu nhập, giảm phát thải khí nhà kính như CO2, CH4, N2O, O3, các khí CFC , khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu như đảm bảo an ninh lương thực, bảo tồn nguồn nước, đất, cân bằng sinh thái, giảm thiểu rủi ro khi thiên tai xảy ra và sự tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu

1.3.2 NLKH và tiềm năng giảm nhẹ BĐKH

Các bể chứa carbon chính trong các hệ sinh thái rừng nhiệt đới là các sinh khối sống của cây cối và thực vật dưới tán và khối lượng vật liệu chết của vật rơi rụng, mảnh vụn gỗ và các chất hữu cơ trong đất Carbon được lưu trữ trong sinh khối sống trên mặt đất của cây thường là các bể chứa lớn nhất Rừng cô lập và lưu trữ carbon nhiều hơn bất kỳ hệ sinh thái nào trên trái đất khác và là “phanh” tự nhiên quan trọng đối với biến đổi khí hậu

Nói cách khác, sự suy giảm lượng carbon tích lũy trong sinh khối thực vật từ trạng thái rừng nguyên sinh đến đồng cỏ diễn ra rất mạnh Về vấn đề này, Maine van Noorwijk đưa ra nhận định: “Một ha đất nông nghiệp thoái hóa hoặc một ha đất đồng cỏ không hấp thụ được dù chỉ là một chút khí carbonic, nhưng nếu chuyển sang canh tác nông lâm kết hợp, một ha có thể giữ được 50 - 100 tấn carbon’’ Vì vậy, cần phải có những giải pháp hữu hiệu để bảo vệ rừng tự nhiên nói chung rừng nhiệt đới nói riêng và những chương trình khuyến khích nông dân sử dụng đất theo hướng nông lâm kết hợp

Nông lâm kết hợp có một vai trò đặc biệt trong việc giảm thiểu tích tụ khí nhà kính ở trong khí quyển Phân tích các thay đổi sử dụng đất trong báo cáo của IPCC, cho thấy nông lâm kết hợp có tiềm năng cao nhất trong việc hấp thụ carbon, bởi vì hiện tại tổng diện tích đất được sử dụng theo hướng Nông lâm kết hợp chiếm diện tích lớn

Nông lâm kết hợp có một vai trò quan trọng trong giảm thiểu sự tích tụ các khí nhà kính (GHG) vào khí quyển Nhiều nhà nghiên cứu gợi ý rằng sự phát triển NLKH trên qui mô lớn có thể làm giảm nồng độ CO2 và các loại khí gây hiệu ứng nhà kính khác Các cơ chế của tác động này có thể là: sự đồng hóa khí CO2 nhờ quá trình quang hợp của cây thân gỗ trên nông trại; gia tăng lượng carbon trong đất nhờ

ổn định quá trình phân hủy và giảm nạn phá rừng [38,14]

Trang 33

Sự tương tác của các thành phần khác nhau của các hệ thống nông lâm kết hợp có thể giúp hấp thụ và cô lập carbon dioxide và các khí nhà kính khác từ khí quyển Các nghiên cứu đã cho thấy khoảng 5,7 triệu ha của hệ thống nông lâm kết hợp ở Philippines có thể cô lập khoảng 1,37 đến 26 triệu tấn carbon mỗi năm Một trong những vai trò quan trọng của Nông lâm kết hợp trong việc giảm tác động của biến đổi khí hậu là khả năng tích tụ cácbon thông qua hệ thống nông lâm kết hợp nhằm giảm thiểu thay đổi khí hậu

Theo đánh giá của Trung tâm Nghiên cứu NLKH (ICRAF), thì NLKH là giải pháp tốt nhất để giảm sự nóng lên toàn cầu và giảm đói nghèo của các nước đang phát triển NLKH là giải pháp hợp lý đã được thực hiện tại các vùng đệm của khu bảo tồn, các Vườn quốc gia Theo đánh giá của Trung tâm Nghiên cứu Nông lâm kết hợp thế giới (ICRAF), NLKH là giải pháp tốt nhất để giảm sự nóng lên toàn cầu

và giảm đói nghèo ở các nước đang phát triển Tại Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu cho thấy khả năng hấp thụ CO2 của rừng

Ví dụ: Vũ Tấn Phương (2009) [18] đã có những nghiên cứu tổng hợp về giá trị của rừng tự nhiên trên phạm toàn quốc với các trạng thái (1) rừng giàu, (2) rừng trung bình, (3) rừng nghèo và (4) rừng phục hồi, lần lượt các giá trị tích lũy các bon (tấn C/ha) nằm trong khoảng: (1) 123,77 - 206,23; (2) 100,10 - 155,49; (3) 84,61 - 123,88; (4) 66,05 - 106,27 Ngô Đình Quế (2008) [21] có những nghiên cứu xác định lượng các bon tích lũy trong các trạng thái cỏ và cây bụi tại Thừa Thiên Huế, giá trị lần lượt đạt: 7,60 -25,99 (tấn C/ha); 14,97 (tấn C/ha)

Các nhà nghiên cứu đã đánh giá khả năng tích lũy carbon của một số phương thức NLKH tại vùng đệm vườn quốc gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc Đề tài sử dụng phương pháp “Đánh giá nhanh khả năng tích lũy cácbon trong NLKH” của ICRAF

có tên là RACSA Lượng carbon tích lũy được đánh giá tổng hợp từ các thành phần: carbon tích lũy trong thảm thực vật (cây trồng, cây bụi, thảm tươi, thảm thực vật rơi rụng và thảm mục) và carbon trong đất Trần Bình Đà và Lê Quốc Doanh (2009) [4] sử dụng phương pháp đánh giá nhanh tích lũy carbon để tính được khả năng tích lũy carbon tại các phương thức Vải + Bạch đàn; Vải + Keo tai

Trang 34

tượng và Vải + Thông lần lượt đạt 16,07 tấn/ha; 21,84 tấn/ha và 20,81 tấn/ha Đỗ Hoàng Chung và cộng sự (2010) [2] đã đánh giá nhanh lượng carbon tích lũy trên mặt đất của một số trạng thái thảm thực vật tại Thái Nguyên, kết quả cho thấy: Trạng thái thảm cỏ, trảng cây bụi và cây bụi xen cây gỗ tái sinh lượng các bon tích lũy đạt 1,78 - 13,67 tấn C/ha; Rừng trồng đạt 13,52 - 53,25 tấn C/ha; Rừng phục hồi tự nhiên đạt 19,08 - 35,27 tấn C/ha

Việc nghiên cứu tiềm năng giảm nhẹ BĐKH của mô hình NLKH được coi là cấp bách hiện nay do mô hình NLKH gắn liền với cách thức canh tác của người dân từ trước đến nay Đặc biệt là các dạng mô hình NLKH truyền thống vùng Tây Bắc của các dân tộc miền núi, là sự kết hợp của rừng tái sinh tự nhiên với nông nghiệp và chăn nuôi đã đem lại cho hộ gia đình nguồn kinh tế cũng như sự cân bằng môi trường Trải qua thời gian dài, với tác động của thiên tai các dạng mô hình NLKH truyền thống này

đã chứng minh khả năng thích ứng và phù hợp của mình với trước biến đổi của môi trường nên các phương thức này ngày càng được áp dụng Lợi ích đem lại của dạng phương thức canh tác này là rất lớn, nhưng hiện nay chưa có nghiên cứu nào được thực hiện để chứng minh và thấy rõ vai trò của mô hình Do vậy đề tài này là rất cần thiết với thực tiễn phát triển ở các tỉnh Tây Bắc và đặc biệt là ở Điện Biên

1.4 Tổng quan khu vực nghiên cứu

1.4.1 Đặc điểm tự nhiên

1.4.1.1 Vị trí địa lý

Tuần Giáo là huyện cửa ngõ nằm ở phía Đông của tỉnh Điện Biên, có tổng diện tích đất tự nhiên là 113.629,35 ha Phía Bắc giáp huyện Tủa Chùa, phía Tây và Tây Nam giáp huyện Mường Ảng, phía Nam và Đông Nam giáp với tỉnh Sơn La, phía Tây và Tây Bắc giáp với huyện Mường Chà

Tuần Giáo có 2 tuyến Quốc lộ số 6 (trước kia là đường số 41), quốc lộ 279 (trước kia là đường số 42) đi qua, đồng thời là huyện có vị trí chiến lược trong phát triển kinh tế xã hội, quốc phòng an ninh của tỉnh Hiện nay Tuần Giáo đang là vùng kinh tế động lực, trọng điểm của tỉnh, có nhiều tiềm năng trong phát triển các ngành Nông lâm nghiệp, Công nghiệp và đặc biệt là Dịch vụ và Du lịch

Trang 35

Huyện Tuần Giáo có 19 đơn vị hành chính trong đó có 18 xã và 1 thị trấn bao gồm các xã: Chiềng Sinh, Chiềng Đông, Nà Sáy, Mường Khong, Thị trấn Tuần Giáo, Quài Nưa, Quài Cang, Quài Tở, Mùn Chung, Nà Tòng, Mường Mùn, Pú Xi,

Ta Ma, Phình Sáng, Rạng Đông, Tỏa Tình, Tênh Phông, Mường Thín, Pú Nhung

Trên địa bàn Tuần Giáo có các con suối Tông Ma, Nậm Mu, Nậm Mùn, bản Phủ, Toả Tình, Tênh Phông, Nậm Pùa, Nậm Cô và sông Nậm Mức, sông Đà, sông

Mã chảy qua

Địa hình của Tuần Giáo tương đối phức tạp do được hình thành bởi các dãy núi cao sườn dốc, có độ cao trung bình từ 525 - 1472 m so với mực nước biển Các dãy núi này phần nhiều là các núi đá vôi, nằm rải rác trên địa bàn lãnh thổ của huyện, nằm xen kẽ với các dãy núi này là những thung lũng hẹp khá bằng phẳng và màu mỡ, được phân bố trải dọc theo các dòng sông và suối Tại khu vực phía Bắc là những thung lũng rộng, nằm xen kẽ giữa các núi thấp; phía Đông và phái Nam chủ yêu là các dãy núi đá vôi, các thung lũng tại khá hẹp, có độ dốc lớn

Với đặc điểm về địa hình có nhiều núi cao, sườn dốc của một huyện miền núi nên Tuần Giáo thường xuyên gặp nhiều khó khăn vào các mùa khô, ảnh hưởng lớn tới các hoạt động sản xuất và đời sống của người dân

1.4.2 Đặc điểm tài nguyên

1.4.2.1 Quỹ đất đai

Tổng diện tích tự nhiên của Tuần Giáo là 113.776,82 ha, chiếm 11,91% diện tích tự nhiên của tỉnh Điện Biên Trong tổng diện tích đất tự nhiên năm 2013, đất nông nghiệp là 95.104,78 ha chiếm 83,59% Trong tổng diện tích đất nông nghiệp, đất sản xuất nông nghiệp là 30.340,74 Ha chiếm 31,9%; đất lâm nghiệp là 64.557,5

Trang 36

ha chiếm 67,88% và đất nuôi trồng thủy sản là 206,32 ha chiếm 0,22% Trong diện tích đất sản xuất nông nghiệp, đất trồng cây hàng năm là 28.465,88 ha, chỉ chiếm 93,82%, còn lại là đất trồng cây lâu năm [1]

Đất phi nông nghiệp của Huyện có 2.507,11 ha, chiếm 2,2% diện tích đất tự nhiên, trong đó đất ở là 1.047,43 ha; đất chuyên dùng là 773,7 ha, chủ yếu là đất quốc phòng an ninh, trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp chỉ có 17,58 ha và đất dùng vào mục đích công cộng 535,87 ha Đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp với 220,25 ha, chiếm 28,47% đất chuyên dùng.[1]

Đất chưa sử dụng của Huyện còn khá nhiều 16.164,93 ha, chiếm 14,21% diện tích đất tự nhiên, trong đó đất bằng có 12,45 ha, còn lại là đất đồi núi chưa sử dụng 15.211,17 ha, núi đá không có rừng cây 941,31 ha

Bảng 1.1: Tình hình sử dụng đất đai của huyện Tuần Giáo năm 2010 - 2013

Đơn vị: ha

2010 Năm 2012 Năm 2013 Biến động (2010 và

2012, 2013) Tổng diện tích đất tự nhiên 113.776,82 113.776,82 113.776,82 0

1.1 Đất sản xuất nông nghiệp 29.837,17 30.340,74 30.340,74 503,57 1.1.1 Đất trồng cây hàng năm 28.825,27 28.465,88 28.465,88 - 359,39 1.1.1.1 Đất trồng lúa 8.912,88 8.910,69 8.910,69 - 2,19 1.1.1.2 Đất cỏ dùng vào chăn nuôi

1.1.1.3 Đất trồng cây hàng năm khác 19.912,39 19.555,19 19.555,19 - 357,2 1.1.2 Đất trồng cây lâu năm 1.011,9 1.874,86 1.874,86 862,96 1.2 Đất lâm nghiệp 65.071,86 64.557,5 64.557,5 - 514,36 1.2.1 Đất rừng sản xuất 18.875,35 18.360,99 18.360,99 - 514,36 1.2.2 Đất rừng phòng hộ 46.196,51 46.196,51 46.196,51 0 1.2.3 Đất rừng đặc dụng

Trang 37

TT Loại đất Năm

Biến động (2010 và

2012, 2013)

1.3 Đất nuôi trồng thủy sản 206,72 206,32 206,32 - 0,4 1.4 Đất làm muối

1.5 Đất nông nghiệp khác 0,22 0,22 0,22 0

2.1 Đất ở 1.042,98 1.047,43 1.047,43 4,45 2.1.1 Đất ở tại nông thôn 990,8 995,25 995,25 4,45 2.1.2 Đất ở tại đô thị 52,18 52,18 52,18 0 2.2 Đất chuyên dùng 769,61 773,7 773,7 4,09

2.2.1 Đất trụ sở cơ quan, công

2.4 Đất nghĩa trang, nghĩa địa 225,95 225,95 225,95 0

2.5 Đất sông suối và mặt nước

Nguồn: Phòng Tài Nguyên - Môi Trường Tuần Giáo

Trang 38

Với quỹ đất như trên, huyện Tuần Giáo có nhiều thuận lợi trong phát triển nông nghiệp, đặc biệt là cây lâm nghiệp và cây công nghiệp lâu năm Quỹ đất chưa

sử dụng còn nhiều, có thể đáp ứng nhu cầu mở rộng quỹ đất chuyên dùng để xây dựng kết cấu hệ thống hạ tầng kinh tế xã hội trong Huyện trong tương lai

1.4.2.2 Tài nguyên

- Tài nguyên rừng: Theo số liệu báo cáo đến cuối năm 2013 diện tích đất lâm nghiệp của Tuần Giáo là 64.557,5 ha chiếm 56,74% tổng diện tích đất tự nhiên của toàn huyện, trong đó đất có rừng phòng hộ là 46.196,51 ha Phần lớn rừng Tuần Giáo hiện nay có chất lượng và trữ lượng không cao, một số loại gỗ quý như: lát, lim, nghiến, đinh hiện không còn nhiều Các loại đồng vật quý hiếm như: Gấu, hổ đã không còn do tập quán săn bắt bừa bãi của người dân trong thời gian qua

- Đất rừng: Tuần Giáo là một trong những huyện có diện tích đất rừng khá lớn của tỉnh Điện Biên với tổng diện tích đất có khả năng phát triển lâm nghiệp đạt tới 85.942,06 ha, chiếm khoảng 9,62% so với tổng diện tích đất lâm nghiệp, thì diện tích đất phát triển lâm nghiệp của huyện đạt 64.557,5 ha Hiện nay diện tích đất rừng ngày càng giảm do việc chặt phá rừng bừa bãi, thiên tai (lũ quét, sạt lở ).[1]

1.4.3 Khí hậu, thủy văn

Khí hậu Tuần Giáo thuộc khu vực nhiệt đới gió mùa, mùa hè chịu ảnh hưởng của gió gió Lào khô và nóng Khí hậu Tuần Giáo chia thành 2 mùa, mùa mưa (từ tháng 5 - tháng 9), mùa khô (từ tháng 10 - tháng 4) Nhiệt độ trung bình 18,20c, độ

ẩm 87%, lượng mưa trung bình 1.805 mm/năm

Hiện nay do chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu cũng như do diện tích che phủ bị giảm mạnh do diện tích và chất lượng rừng ngày càng giảm mạnh mà thời tiết của Tuần Giáo có sự thay đổi rõ nét từ nhiệt độ đến lượng mưa, thiên tai hạn hán, lũ lụt, lũ quét xảy ra nhiều hơn Dẫn đến việc canh tác nông-lâm-ngư-nghiệp của bà con

đã khó khăn thì nay lại càng khó khăn hơn Trong 5 năm trở lại đây, không chỉ các nhà chức trách, cán bộ ngành nhận biết được sự thay đổi của thời tiết, khí hậu ngày càng khắc nghiệt hơn thì bà con cũng có thể nhận ra và còn là nạn nhân chính của biến đổi khí hậu khi diện tích hoa mầu giảm, có những năm còn mất trắng do thiên tai, do dịch bệnh Thời tiết thay đổi chóng mặt, khó dự đoán làm cho bà con không kịp mùa vụ Kèm theo đó nhiệt độ ngày càng tăng vào mùa nóng, lượng mưa không

Trang 39

đều mùa thu hoạch thì lượng mưa cao còn mùa trồng, cấy thì lượng mưa ít dẫn đến năng suất ngày càng giảm Thêm vào đó là sự thay đổi giữa mưa và nắng bất chợt làm cho dịch bệnh ngày càng tăng Nhiệt độ ở huyện Tuần Giáo ngày càng biến đổi phức tạp, và nhiệt độ trung bình có chiều hướng tăng được thể hiện ở hình 1.1:

Hình 1.1 Biểu đồ biến thiên nhiệt độ trung bình trong 30 năm của huyện Tuần Giáo

Từ hình 1.1, thấy được sự biến thiên của nhiệt độ khá phức tạp Nhiệt độ trung bình các năm cũng đang có chiều hướng tăng Đối với nhiệt độ trung bình cao nhất thì có sự biến thiên không đều, lên xuống rõ nét đây là đặc điểm khó khăn cho việc canh tác của người dân Đối với nhiệt độ trung bình thấp nhất cũng có sự biến thiên nhẹ, nhưng đối với nhiệt độ thấp nhất vào mùa đông trong các năm lại gần đây

có sự thay đổi mạnh, có những năm nhiệt độ thấp cộng thêm sương muối đã gây ra những thiệt hại lớn đối với nền nông nghiệp và chăn nuôi của tỉnh Không chỉ nhiệt

độ có chiều hướng thay đổi mà lượng mưa hàng năm của Tuần Giáo cũng có biến thiên không đều được thể hiện ở hình 1.2:

Trang 40

Hình 1.2: Biểu đồ biến thiên lƣợng mƣa trung bình trong 30 năm của

huyện Tuần Giáo

Đối với sự biến thiên của lượng mưa thì thấy rằng lượng mưa trung bình năm cũng cao và có sự biến đổi giữa các năm Đối với sự phân bố lượng mưa trong năm thì không đều Mùa khô thì thiếu nước nghiêm trọng, hầu như sinh hoạt, trồng trọt, chăn nuôi đều phụ thuộc chủ yếu vào nguồn nước ngầm và nước trời Còn mùa mưa thì ngập lụt, sạt lở, lũ quét, lũ ống xảy ra thường xuyên không chỉ ảnh hưởng tới tính mạng con người mà trồng trọt, chăn nuôi cũng thiệt hại rất lớn Nhiệt độ và lượng mưa hàng năm có sự thay đổi gần như ngược nhau sự biến thiên này thể hiện

ở hình 1.3:

Hình 1.3 Biểu đồ biến thiên của nhiệt độ, lƣợng mƣa trung bình trong 30 năm

của huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên

Ngày đăng: 17/06/2015, 14:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Nguyễn Mười, Trần Văn Chính, Đỗ Nguyên Hải, Hoàng Văn Mười, Phạm Thanh Nga, Đào Châu Thu (2000). Giáo trình “ Thổ nhưỡng học”. NXB Nông nghiệp Hà Nội, tr 35-89 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình “ Thổ nhưỡng học”
Tác giả: Nguyễn Mười, Trần Văn Chính, Đỗ Nguyên Hải, Hoàng Văn Mười, Phạm Thanh Nga, Đào Châu Thu
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2000
12. MARD (1996), “Giới thiệu và các khuyến nghị về NLKH cho đất dốc của miền Bắc Việt Nam”, Hội thảo về NLKH trên đất dốc ở miền Bắc Việt Nam, Dự án của FAO về các chương trình trồng rừng ở châu Á, Phù Ninh, Vĩnh Phú 6/1996, tr. 6 - 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới thiệu và các khuyến nghị về NLKH cho đất dốc của miền Bắc Việt Nam
Tác giả: MARD
Nhà XB: Hội thảo về NLKH trên đất dốc ở miền Bắc Việt Nam
Năm: 1996
13. NACESIT. Nông lâm kết hợp có thể giảm tình trạng nóng lên toàn cầu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông lâm kết hợp có thể giảm tình trạng nóng lên toàn cầu
Tác giả: NACESIT
15. Thái Phiên - Nguyễn Tử Xiêm, (1998), Canh tác bền vững trên đất dốc ở Việt Nam, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Canh tác bền vững trên đất dốc ở Việt Nam
Tác giả: Thái Phiên - Nguyễn Tử Xiêm
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 1998
16. Thái Phiên, Nguyễn Tử Siêm (1993), “Quản lí đất dốc để sử dụng lâu bền cho phát triển nông nghiệp”, Tạp chí Khoa học đất tháng 3/1993, tr. 74 -79 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lí đất dốc để sử dụng lâu bền cho phát triển nông nghiệp
Tác giả: Thái Phiên, Nguyễn Tử Siêm
Nhà XB: Tạp chí Khoa học đất
Năm: 1993
17. Hoàng Văn Phụ (2000), “Sói mòn trên một số hệ thống canh tác đất dốc miền núi phía bắc Viêt Nam”. Kết quả nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, Nxb nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sói mòn trên một số hệ thống canh tác đất dốc miền núi phía bắc Viêt Nam
Tác giả: Hoàng Văn Phụ
Nhà XB: Nxb nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2000
18. Vũ Tấn Phương, 2009. Nghiên cứu về giá trị của rừng tại Việt Nam. NXB Khoa học và kỹ thuật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu về giá trị của rừng tại Việt Nam
Nhà XB: NXB Khoa học và kỹ thuật Hà Nội
19. Nguyễn Xuân Quát (1994), Sử dụng đất dốc bền vững - kinh tế hộ gia đình miền núi, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 76 - 109 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng đất dốc bền vững - kinh tế hộ gia đình miền núi
Tác giả: Nguyễn Xuân Quát
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1994
20. Trần Công Quân (1995), “Đánh giá hiệu quả kinh tế sinh thái mô hình Nông - Lâm kết hợp Chè xanh xen Keo lá tràm”, Luận văn thạc sỹ kinh tế lâm nghiệp, Trường Đại học Lâm nghiệp Xuân Mai, Hà Tây. Tr. 48 - 56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiệu quả kinh tế sinh thái mô hình Nông - Lâm kết hợp Chè xanh xen Keo lá tràm
Tác giả: Trần Công Quân
Nhà XB: Trường Đại học Lâm nghiệp Xuân Mai
Năm: 1995
21. Ngô Đình Quế, 2008. “Ảnh hưởng của một số loại rừng đến môi trường ở Việt Nam”, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của một số loại rừng đến môi trường ở Việt Nam”
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
22. Phan Minh Sang, Lưu Cảnh Chung, 2006. Hấp thụ Carbon. Cẩm nang ngành lâm nghiệp. Chương trình hỗ trợ ngành lâm nghiệp và đối tác Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hấp thụ Carbon
Tác giả: Phan Minh Sang, Lưu Cảnh Chung
Nhà XB: Cẩm nang ngành lâm nghiệp
Năm: 2006
23. Sở NN&PTNT tỉnh Bắc Kạn (1997), “Nghiên cứu các hệ thống Nông - Lâm kết hợp và điều tra đất”, Báo cáo số 8, Chương trình hợp tác lâm nghiệp Việt Nam - Phần Lan tại Bắc Kạn, tr. 18 - 24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu các hệ thống Nông - Lâm kết hợp và điều tra đất
Tác giả: Sở NN&PTNT tỉnh Bắc Kạn
Nhà XB: Báo cáo số 8, Chương trình hợp tác lâm nghiệp Việt Nam - Phần Lan tại Bắc Kạn
Năm: 1997
24. Nguyễn Văn Thuận (1994), “Hệ thống cây trồng trên một số loại đất nông nghiệp vùng núi thấp Đông Bắc Bắc Bộ”, Báo cáo nghiên cứu khoa học Viện KHKT Nông nghiệp Việt Nam 1994, tr. 35 - 41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống cây trồng trên một số loại đất nông nghiệp vùng núi thấp Đông Bắc Bắc Bộ”, "Báo cáo nghiên cứu khoa học
Tác giả: Nguyễn Văn Thuận
Năm: 1994
25. Phạm Đức Tuấn, Phạm Xuân Hoàn (1992), “Nông lâm kết hợp” Bài giảng môn Nông lâm kết hợp, Trường ĐHLN Xuân Mai - Hà Tây, tr. 6 - 88 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông lâm kết hợp” "Bài giảng môn Nông lâm kết hợp
Tác giả: Phạm Đức Tuấn, Phạm Xuân Hoàn
Năm: 1992
26. Chu Thị Thơm & CS, (2006), Kỹ thuật canh tác trên đất dốc, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật canh tác trên đất dốc
Tác giả: Chu Thị Thơm, CS
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2006
27. Trần Thị Thu Thủy (2011). Những giải pháp phát trriển nlkh trong các mô hình kinh tế trang trại tại một số tỉnh trung du miền núi phía bắc. Nxb khoa học kỹ thuật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những giải pháp phát trriển nlkh trong các mô hình kinh tế trang trại tại một số tỉnh trung du miền núi phía bắc
Tác giả: Trần Thị Thu Thủy
Nhà XB: Nxb khoa học kỹ thuật Hà Nội
Năm: 2011
28. Hoàng Xuân Tý (2002), Vai trò kiến thức bản địa trong các dự án phát triển nông thôn và vùng cao, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 147 - 215 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò kiến thức bản địa trong các dự án phát triển nông thôn và vùng cao
Tác giả: Hoàng Xuân Tý
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2002
29. Đàm Văn Vinh, 2011. Luận án tiến sĩ “ Đánh giá hiệu quả của một số hệ thống nông lâm kết hợp tại huyện võ nhai tỉnh thái nguyên” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiệu quả của một số hệ thống nông lâm kết hợp tại huyện võ nhai tỉnh thái nguyên
30. Phạm Quang Vinh, Phạm Xuân Hoàn (2005), Nông lâm kết hợp, NXB Nông nghiệp Hà Nội, tr.12 - 96 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông lâm kết hợp
Tác giả: Phạm Quang Vinh, Phạm Xuân Hoàn
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2005
47. www.fs.fed.us/global/iitf/pubs/gtr_so088_1992.pdf 48. mttd.tnus.edu.vn/_editor/assets/1_Phan_1.doc Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Tình hình sử dụng đất đai của huyện Tuần Giáo năm 2010 - 2013 - Đánh giá hiệu quả kinh tế, tiềm năng giảm nhẹ và vai trò thích ứng với biến đổi khí hậu của một số mô hình nông lâm kết hợp truyền thống tại huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên
Bảng 1.1 Tình hình sử dụng đất đai của huyện Tuần Giáo năm 2010 - 2013 (Trang 36)
Hình 1.1. Biểu đồ biến thiên nhiệt độ trung bình trong 30 năm của huyện Tuần Giáo - Đánh giá hiệu quả kinh tế, tiềm năng giảm nhẹ và vai trò thích ứng với biến đổi khí hậu của một số mô hình nông lâm kết hợp truyền thống tại huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên
Hình 1.1. Biểu đồ biến thiên nhiệt độ trung bình trong 30 năm của huyện Tuần Giáo (Trang 39)
Hình 1.2: Biểu đồ biến thiên lƣợng mƣa trung bình trong 30 năm của - Đánh giá hiệu quả kinh tế, tiềm năng giảm nhẹ và vai trò thích ứng với biến đổi khí hậu của một số mô hình nông lâm kết hợp truyền thống tại huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên
Hình 1.2 Biểu đồ biến thiên lƣợng mƣa trung bình trong 30 năm của (Trang 40)
Bảng 1.2: Phân bố dân số, lao động và đời sống xã hội của huyện Tuần Gáo  Chỉ tiêu  ĐV tính  2008  2009  2010  2011  2012  2013 - Đánh giá hiệu quả kinh tế, tiềm năng giảm nhẹ và vai trò thích ứng với biến đổi khí hậu của một số mô hình nông lâm kết hợp truyền thống tại huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên
Bảng 1.2 Phân bố dân số, lao động và đời sống xã hội của huyện Tuần Gáo Chỉ tiêu ĐV tính 2008 2009 2010 2011 2012 2013 (Trang 41)
Hình 2.1: Lập các ô tiêu chuẩn, ô tiêu bản - Đánh giá hiệu quả kinh tế, tiềm năng giảm nhẹ và vai trò thích ứng với biến đổi khí hậu của một số mô hình nông lâm kết hợp truyền thống tại huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên
Hình 2.1 Lập các ô tiêu chuẩn, ô tiêu bản (Trang 48)
Hình 2.2: Băm nhỏ mẫu và cân mẫu đi phân tích - Đánh giá hiệu quả kinh tế, tiềm năng giảm nhẹ và vai trò thích ứng với biến đổi khí hậu của một số mô hình nông lâm kết hợp truyền thống tại huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên
Hình 2.2 Băm nhỏ mẫu và cân mẫu đi phân tích (Trang 50)
Hình 2.3: Lấy mẫu vật rơi rụng và thảm mục - Đánh giá hiệu quả kinh tế, tiềm năng giảm nhẹ và vai trò thích ứng với biến đổi khí hậu của một số mô hình nông lâm kết hợp truyền thống tại huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên
Hình 2.3 Lấy mẫu vật rơi rụng và thảm mục (Trang 51)
Hình 2.4: Lấy và xử lý mẫu đất - Đánh giá hiệu quả kinh tế, tiềm năng giảm nhẹ và vai trò thích ứng với biến đổi khí hậu của một số mô hình nông lâm kết hợp truyền thống tại huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên
Hình 2.4 Lấy và xử lý mẫu đất (Trang 52)
Bảng 3.2: Các dạng hệ thống NLKH truyền thống điển hình tại 3 xã Quài Nƣa, - Đánh giá hiệu quả kinh tế, tiềm năng giảm nhẹ và vai trò thích ứng với biến đổi khí hậu của một số mô hình nông lâm kết hợp truyền thống tại huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên
Bảng 3.2 Các dạng hệ thống NLKH truyền thống điển hình tại 3 xã Quài Nƣa, (Trang 65)
Hình 3.3: Sơ đồ lát cắt hệ thống mô hình Ngô-Sắn-Lúa nước - Đánh giá hiệu quả kinh tế, tiềm năng giảm nhẹ và vai trò thích ứng với biến đổi khí hậu của một số mô hình nông lâm kết hợp truyền thống tại huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên
Hình 3.3 Sơ đồ lát cắt hệ thống mô hình Ngô-Sắn-Lúa nước (Trang 72)
Bảng 3.9: Kết quả tổng hợp lƣợng carbon tích lũy trong đất - Đánh giá hiệu quả kinh tế, tiềm năng giảm nhẹ và vai trò thích ứng với biến đổi khí hậu của một số mô hình nông lâm kết hợp truyền thống tại huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên
Bảng 3.9 Kết quả tổng hợp lƣợng carbon tích lũy trong đất (Trang 80)
Hình 3.4: Biểu đồ tỷ lệ tích lũy Carbon trong các thành phần - Đánh giá hiệu quả kinh tế, tiềm năng giảm nhẹ và vai trò thích ứng với biến đổi khí hậu của một số mô hình nông lâm kết hợp truyền thống tại huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên
Hình 3.4 Biểu đồ tỷ lệ tích lũy Carbon trong các thành phần (Trang 82)
Bảng 3.11: Giá trị thương mại của 2 phương thức NLKH truyền thống - Đánh giá hiệu quả kinh tế, tiềm năng giảm nhẹ và vai trò thích ứng với biến đổi khí hậu của một số mô hình nông lâm kết hợp truyền thống tại huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên
Bảng 3.11 Giá trị thương mại của 2 phương thức NLKH truyền thống (Trang 83)
Bảng 3.12: Hiệu quả kinh tế và lƣợng thóc quy đổi hàng năm của các dạng - Đánh giá hiệu quả kinh tế, tiềm năng giảm nhẹ và vai trò thích ứng với biến đổi khí hậu của một số mô hình nông lâm kết hợp truyền thống tại huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên
Bảng 3.12 Hiệu quả kinh tế và lƣợng thóc quy đổi hàng năm của các dạng (Trang 84)
BẢNG ĐIỀU TRA TẦNG CÂY CAO CHU VI NGANG NGỰC > 95 cm - Đánh giá hiệu quả kinh tế, tiềm năng giảm nhẹ và vai trò thích ứng với biến đổi khí hậu của một số mô hình nông lâm kết hợp truyền thống tại huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên
gt ; 95 cm (Trang 109)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w