Trải qua gần 1000 năm lịch sử, Văn Miếu- Quốc Tử Giám vẫn giữ được vẻ cổ kính với đặc điểm kiến trúc của nhiều thời đại và là một trong những di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu và quan trọng bậc nhất của Thủ đô và cả nước. - Văn Miếu được dựng lên vì có đạo Khổng, căn cứ vào hiện trạng vào trình tự bố trí các công trình kể cả tên đặt cho các công trình ta thấy rõ ràng Khổng Miếu ở Khúc Phụ của Trung Quốc và Văn Miếu QTG có họ hàng rất gần. Bố cục chung của Văn Miếu đã làm theo một công thức xây Khổng Miếu mà phong kiến Trung Quốc đã phổ biến. Tuy nhiên Văn Miếu Quốc Tử Giám cũng có một phong cách riêng của Việt Nam. - Văn Miếu được xây dựng vào tháng 10 - 1070 dưới thời vua Lý Thánh Tông. Văn Miếu đã có từ thời phong kiến phía bắc thống trị và truyền bá đạo Khổng; còn công trình thì được “sửa sang” vào thời Lý.
Trang 1Nhóm 2 Page 1
VĂN MIẾU – QUỐC TỬ GIÁM (HÀ NỘI)
I GIỚI THIỆU VĂN MIẾU - QUỐC TỬ GIÁM
- Trải qua gần 1000 năm lịch sử, Văn Miếu- Quốc Tử Giám vẫn giữ được
vẻ cổ kính với đặc điểm kiến trúc của nhiều thời đại và là một trong
những di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu và quan trọng bậc nhất của Thủ đô
và cả nước
- Văn Miếu được dựng lên vì có đạo Khổng, căn cứ vào hiện trạng vào
trình tự bố trí các công trình kể cả tên đặt cho các công trình ta thấy rõ
ràng Khổng Miếu ở Khúc Phụ của Trung Quốc và Văn Miếu QTG có họ
hàng rất gần Bố cục chung của Văn Miếu đã làm theo một công thức xây
Khổng Miếu mà phong kiến Trung Quốc đã phổ biến Tuy nhiên Văn
Miếu Quốc Tử Giám cũng có một phong cách riêng của Việt Nam
- Văn Miếu được xây dựng vào tháng 10 - 1070 dưới thời vua Lý Thánh
Tông Văn Miếu đã có từ thời phong kiến phía bắc thống trị và truyền bá
đạo Khổng; còn công trình thì được “sửa sang” vào thời Lý
- Đến năm 1076, vua Lý Nhân Tông cho lập Quốc Tử Giám kề sau Văn
Miếu, ban đầu là nơi học của các hoàng tử, sau mở rộng thu nhận các học
trò giòi trong thiên hạ Quốc Tử Giám và Văn Miếu được sửa sang thời
Trần, năm 1243; thời Lê đã trùng tu tất cả 4 lần năm 1511, 1567, 1762,
1785
- Quần thể kiến trúc Văn Miếu - Quốc Tử Giám bao gồm: hồ Văn, khu
Văn Miếu - Quốc Tử Giám và vườn Giám, mà kiến trúc chủ thể là Văn
Miếu - nơi thờ Khổng Tử và Quốc Tử Giám và là trường đại học đầu tiên
của Việt Nam Khu Văn Miếu - Quốc Tử Giám có tường gạch vồ bao
quanh, phía trong chia thành 5 lớp không gian với các kiến trúc khác
nhau Mỗi lớp không gian đó được giới hạn bởi các tường gạch có 3 cửa
để thông với nhau (gồm cửa chính giữa và hai cửa phụ hai bên) Từ ngoài
vào trong có các cổng lần lượt là: cổng Văn Miếu, Đại Trung, Khuê Văn
Các, Đại Thành và cổng Thái Học
Trang 2Nhóm 2 Page 2
Tượng thờ vua Lý Thánh Tông – người có công lập ra Quốc Tử Giám
II KIẾN TRÚC VĂN MIẾU – QUỐC TỬ GIÁM
1 Sơ lược
Trang 3Nhóm 2 Page 3
Mô hình toàn cảnh Văn Miếu - Quốc Tử Giám được trưng bày tại nhà Thái Học
- Văn Miếu – Quốc Tử Giám nằm phía Nam thành Thăng Long (nay là Hà
Nội), quay mặt về hướng Nam với tổng diện tích 55.027m2 gồm Hồ Văn,
vườn Giám và Nội tự Nội tự được chia làm năm khu vực:
Khu thứ nhất : từ cổng Văn Miếu tới cổng Đại Trung
Khu thứ hai : nổi bật với Khuê Văn Các, một công trình kiến trúc độc đáo
gỗ, bốn mặt có cửa sổ tròn và những con tiện tỏa ra tứ phía
sáng
Khu thứ ba : là nơi lưu giữ bia tiến sĩ được dựng từ năm 1484
Khu thứ tư : thờ Khổng tử và bài vị của 72 vị học trò xuất sắc của Khổng Tử
Tử Giám
Khu thứ năm : là nhà Thái Học, vốn là Quốc Tử Giám xưa, trường đại học
trình kiến trúc của Văn Miếu được dựng bằng gỗ lim, gạch đất
nghệ thuật của các triều đại Lê, Nguyễn và những hàng cây cổ
Trang 4Nhóm 2 Page 4
vinh truyền thống văn hóa giáo dục của Việt Nam, công trình
2000 trên nền của Quốc Tử Giám xưa (Thái Học đường) với
diện tích mặt bằng hơn 6000m2
- Nhà chính của Văn Miếu là Đại Thành thờ Khổng Tử, ba gian hai chái, lợp
ngói đồng
- Hai bên Đông – Tây điện Đại Thành là dãy nhà nhỏ hơn để thờ các vị “Tiên
Hiền”, mỗi dãy 7 gian
- Điện Canh Phúc là nơi vua thay áo trước khi vào lễ, có một gian hai chái
- Nhà Thái Học là nơi trụ sở chính của trường gồm 3 gian, lợp ngói đồng
Giảng đường phía Đông, phía Tây hai dãy đều 14 gian Nhà ở của học sinh
phía Đông và Tây nhà Thái Học, mỗi bên 3 dãy, mỗi dãy 25 gian, mỗi gian 2
người ở
2 Kiến trúc từng khu
a) Khu thứ nhất:
- Bắt đầu với cổng chính Văn Miếu Môn đi đến cổng Đại Trung Môn, hai bên
có cửa nhỏ là Thành Đức Môn và Đạt Tài Môn
Văn miếu môn, cổng dẫn vào khu thứ nhất
Trang 5Nhóm 2 Page 5
Đại Trung Môn
- Tứ trụ được xây bằng gạch, hai trụ giữa xây cao hơn trên có hình 2 con nghê
chầu vào Hai trụ ngoài đắp nổi 4 con chim phượng xoè cánh chắp đuôi vào
nhau
- Văn Miếu môn tức là cổng tam quan phía ngoài Cổng có ba cửa, cửa giữa
cao to và xây 2 tầng Kiểu dáng kiến trúc Văn Miếu môn nhiều nét độc đáo
rất đáng lưu ý trong khi nghiên cứu kiến trúc cổ Việt Nam Nhìn bên ngoài
tam quan là 3 kiến trúc riêng biệt Cửa chính giữa thực chất xây 2 tầng Mặt
bằng hình vuông Tầng dưới to, tầng trên nhỏ chồng lên giữa tầng dưới
- Ngang hàng với Đại Trung môn bên trái có Thành Đức môn, bên phải có Đạt
Tài môn
- Hai bên tả hữu của cả khu Văn Miếu, cùng với tường ngang nơi Văn Miếu
môn tạo thành một khu hình gần vuông có tường vây khép kín ra vào bằng
Văn Miếu môn Trong khu vực này trồng cây bóng mát gần kín mặt bằng
Hai chiếc hồ chữ nhật nằm dài sát theo chiều dọc bên ngoài Cảnh này gây
nên cảm giác tĩnh mịch, thanh nhã của nơi "văn vật sở đô" Cửa Đại Trung
môn làm kiểu 3 gian, xây trên nền gạch cao, có mái lợp ngói mũi hài, có hai
hàng cột hiên trước và sau, ở giữa là hàng cột chống nóc Gian giữa cổng treo
một tấm biển nhỏ đề 3 chữ sơn then Đại Trung môn
b) Khu thứ hai
- Từ Đại Trung Môn vào đến khuê Văn Các (do Đức Tiền Quân Tổng trấn Bắc
Thành Nguyễn Văn Thành cho xây năm 1805) Khuê văn các là một lầu
vuông tám mái, bao gồm bốn mái thượng và bốn mái hạ, cao gần chín thước,
do Tổng trấn Nguyễn Văn Thành triều Nguyễn đương thời cho xây dựng vào
năm 1805
Trang 6Nhóm 2 Page 6
Tỷ lệ của Khuê Văn Các
- Gác dựng trên một nền vuông cao cân xứng có lát gạch Bát Tràng mỗi bề có
chiều dài là 6,8 mét Để bước lên được nền vuông này phài đi qua ba bậc
thang đá Kiểu dáng kiến trúc Khuê Văn Các rất hài hòa và độc đáo Tầng
dưới là 4 trụ gạch vuông, mỗi cạnh của trụ có chiều dài một mét và trên các
mặt trụ đều có chạm trổ các hoa văn rất tinh vi và sắc sảo Tầng trên là kiến
trúc gỗ sơn son thếp vàng trừ mái lợp và những phần trang trí góc mái hoặc
trên bờ nóc là bằng chất liệu đất nung hoặc vôi cát có độ bền cao
- Sàn gỗ có chừa 2 khoảng trống để bắc thang lên gác Bốn cạnh sàn có diềm
gỗ chạm trổ tinh vi Bốn góc sàn làm lan can con tiện cũng bằng gỗ Bốn mặt
tường bịt ván gỗ, mỗi mặt đều làm một cửa tròn có những thanh gỗ chống tỏa
ra bốn phía Cửa và những thanh gỗ chống tượng trưng cho sao Khuê và
những tia sáng của sao Mé trên sát mái phía cửa ngoài vào treo một biển sơn
son thiếp vàng 3 chữ 奎文閣 (Khuê văn các) Mỗi mặt tường gỗ đều chạm
một đôi câu đối chữ Hán thiếp vàng
- Khuê Văn Các là công trình kiến trúc tuy không đồ sộ song tỷ lệ hài hòa và
đẹp mắt Kiến trúc gồm 4 trụ gạch vuông (85 cm x 85 cm) bên dưới đỡ tầng
gác phía trên, có những kết cấu gỗ rất đẹp
- Tầng trên có 4 cửa hình tròn, hàng lan can con tiện và con sơn đỡ mái bằng
gỗ đơn giản, mộc mạc Mái ngói chồng hai lớp tạo thành công trình 8 mái, gờ
mái và mặt mái phẳng Hai bên phải trái Khuê Văn Các là Bi Văn Môn và
Súc Văn Môn dẫn vào hai khu nhà bia Tiến sĩ
Trang 7Nhóm 2 Page 7
Khuê Văn Các - Thiên Quang Tỉnh, nơi giao hoà của đất, trời
c) Khu thứ ba
- Gồm hồ nước Thiên Quang Tỉnh (giếng soi ánh mặt trời), có hình vuông Hai
bên hồ là khu nhà bia tiến sĩ
- Giếng hình vuông, quanh bờ đều xây hàng lan can tới độ ngang lưng Một
con đường nhỏ lát gạch bao quanh giếng cho phép người ta có thể dạo quanh
giếng, lên gác Khuê Văn, vào cửa Đại Thành hoặc rẽ sang 2 vườn bia đá ở 2
bên
Trang 8Nhóm 2 Page 8
Toàn cảnh Thiên Quang Tỉnh (nhìn từ gác Khuê Văn), hai bên là hai khu nhà bia,
phía cuối hình là Đại thành môn dẫn vào không gian thứ ba
- Mỗi tấm bia được làm bằng đá, khắc tên các vị thi đỗ Trạng nguyên, Bảng
nhãn, Thám hoa, Hoàng giáp, Tiến sĩ Bia đặt trên lưng một con rùa Hiện
còn 82 tấm bia về các khoa thi từ năm 1442 đến năm 1779
Vườn bia trước khi tu sửa Khu nhà bia
tiến sĩ
Trang 9Nhóm 2 Page 9
Tượng thờ Tư nghiệp Quốc Tử Giám Chu Văn An,
Tượng thờ đức Khổng Tử tại điện Đại thành
một nhà giáo tài đức, có nhiều học trò thành đạt đời Trần
d) Khu thứ tư
- Đại Thành Môn – Khu Điện Thờ là khu trung tâm và là kiến trúc chủ yếu của
văn Miếu, gồm hai công trình lớn bố cục song song và nối tiếp nhau Toà
ngoài nhà là Bái đường, toà trong là Thượng cung
- Cửa Đại Thành là một kiến trúc 3 gian với hai hàng cột hiên trước sau và một
hàng cột giữa Cửa Đại Thành mở đầu cho khu vực của những kiến trúc
chính, nơi thờ Khổng Tử, Chu Công, Tứ Phối, Thất thập nhị hiền v.v và
cũng là nơi giảng dạy của trường giám thời xưa, mang một cái tên đầy ý
nghĩa tưởng không còn có thể chọn một tên nào có ý nghĩa hay hơn
Trang 10Nhóm 2 Page 10
- Hai cửa nhỏ là Kim Thành bên phải và Ngọc Thành bên trái, hiện nay là Kim
Thanh môn và Ngọc Chấn môn nằm ngang với cửa Đại Thành, song 2 cửa
này không mở vào thẳng khu vực chính, mà để đi qua con đường lát gạch
phía sau 2 dãy Tả Vu và Hữu Vu để tiếp tục qua sang khu Khải Thánh phía
cuối cùng của di tích
- Bước qua cửa Đại Thành là tới một sân rộng mênh mang lát gạch Bát Tràng
Hai bên phải trái của sân là 2 dãy Hữu Vu và Tả Vu Chính trước mặt là tòa
Đại Bái Đường rộng rãi, to lớn và thâm nghiêm trải suốt chiều rộng của sân
nối giáp với đầu hồi của Tả Vu, Hữu Vu 2 bên, tạo thành cụm kiến trúc hình
chữ U cổ kính và thuyền thống Sau Đại Bái Đường, song song với Đại Bái
Đường là tòa Thượng Điện, có quy mô tương tự cả về chiều cao lẫn bề rộng
Đại Bái Đường nối với Thượng Điện bằng một Tiểu Đình hình vuông Nếu
tách riêng cụm 3 kiến trúc này ra mà nói thì chúng được xây dựng theo hình
chữ công mà Tiểu đình chính là nét sổ giữa và Đại Bái Đường, Thượng Điện
là 2 nét ngang trên và dưới
- Thượng Điện ở phía sau 9 gian, tường xây 3 phía, phía trước có cửa bức bàn
đóng kín 5 gian giữa, 4 gian đầu hồi có cửa chấn song cố định
Trang 11Nhóm 2 Page 11
Bái đường Văn Miếu
e) Khu thứ năm
- Là khu đền Khải thánh, thờ bố mẹ Khổng Tử, liên hệ với khu vực thứ 4 qua
Khải Thành môn
- Khu Khải Thánh là khu sau cùng của di tích Từ Văn Miếu sang đến Khải
Thánh người ta có thể đi theo 2 con đường lát gạch phía sau Tả Vu và Hữu
Vu, hoặc cũng có thể từ sau lưng Thượng Điện qua cửa tam quan Cửa này là
cửa chính cũng xây 3 gian, có mái lợp và cánh cửa đóng mở Từ bên ngoài
vào đền Khải Thánh cũng có thể qua một cổng nhỏ có cánh mở ở góc Đông
Nam nơi tiếp giáp với bức tường ngăn 2 khu Văn Miếu và Khải Thánh
- Trong Văn Miếu có tượng Khổng Tử và Tứ phối (Nhan Tử, Tăng Tử, Tử Tư,
Mạnh Tử) Ở điện thờ Khổng Tử có hai cặp hạc cưỡi trên lưng rùa Đây là
hình tượng rất đặc trưng tại các đền, chùa, lăng tẩm, miếu mạo ở Việt nam
Hình ảnh hạc chầu trên lưng rùa trong nhiều ngôi chùa, miếu…, hạc đứng
trên lưng rùa biểu hiện của sự hài hòa giữa trời và đất, giữa hai thái cực âm -
dương Hạc là con vật tượng trưng cho sự tinh tuý và thanh cao
Trang 12Nhóm 2 Page 12
Hai cặp hạc cưỡi trên lưng rùa tại điện thở Khổng Tử
Gác trống ở khu nhà Thái Học
- Kiến trúc đền Khải Thánh sơ sài hơn song cũng có Tả Vu, Hữu Vu 2 bên và
đền thờ ở giữa Đền Khải Thánh xưa vốn là Quốc Tử Giám, nơi rèn đúc nhân
tài cho nhiều triều đại Năm 1946 quân Pháp đã bắn đại bác phá hủy sạch
không còn lại một kiến trúc nào Kiến trúc ngày nay là hoàn toàn mới Toàn
bộ mái đều được lợp hai lớp ngói lót, trên là một lớp chì dày 1,5mm rồi đến
một lớp ngói lót nữa, và trên cùng là ngói mũi hài Phần giữa các cột nhà với
chân đá tảng cũng đặt một tấm chì dày 1,5mm để chống ẩm từ dưới lên Nền
sân đều được lát gạch bát kích thước 30x30x4cm Xung quanh nhà đều được
bó vỉa bằng đá xanh Quy mô kiến trúc khu Thái Học mới rất bề thế, trang
nghiêm và hài hoà với kiến trúc cảnh quan của khu Văn Miếu phía trước
3 Nhà Tiền đường, Hậu đường
Trang 13Nhóm 2 Page 13
- Đây là công trình xây dựng hoàn toàn mới do Trung tâm thiết kế tu bổ di tích
- Bộ Văn hoá Thông tin thiết kế kỹ thuật, nằm trong công trình trùng tu khu
Thái Học khởi công xây dựng ngày 13 - 7 - 1999
- Nhà Tiền đường 9 gian với 40 cột gỗ lim chống mái, đầu hồi xây tường bằng
gạch 30x30x7cm mặt ngoài để trần không trát Gian đầu hồi và gian thứ ba
mặt trước, mặt sau đều có cửa bức bàn chấn song con tiện dẫn sang nhà Hậu
đường
- So với nhà Bái đường của khu Văn Miếu, cột cái của nhà Tiền đường đều to
và cao hơn, đường kính cột là 0,48m, chiều cao cột là 7m Tiền đường là nơi
trưng bày truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo ngày nay, đồng thời cũng
là nơi tổ chức các cuộc hội thảo khoa học, văn hoá nghệ thuật dân tộc Ống
muống nối Tiền đường với Hậu đường vào với nhau và có hai cửa sang nhà
chuông, nhà trống
- Hậu đường là kiến trúc gỗ hai tầng, tầng 1 gồm 9 gian, 2 chái với 72 cột gỗ
lim, trong đó 8 cột cái cao 11,5m đường kính 0,56m Hai đầu hồi xây tường
bằng gạch 30x30x7cm mặt ngoài cũng để trần không trát Phía trước là cửa
bức bàn chấn song con tiện, xung quanh là vách đố lụa Gian đầu hồi mặt
sau, gian thứ 3 và gian thứ 7 mặt trước là cửa sổ chấn song con tiện
- Tầng một là nơi tôn vinh Danh sư Tư nghiệp Quốc Tử Giám Chu Văn An và
là nơi trưng bày về Văn Miếu - Quốc Tử Giám Thăng Long và nền giáo
dục Nho học Việt Nam giới thiệu khái quát lịch sử hình thành và phát triển
của Văn Miếu - Quốc Tử Giám
- Tầng 2 có 5 gian xung quanh là vách đố lụa, mặt trước có 5 cửa và mặt sau
có 4 cửa để ra lan can phía trước và sau Tầng 2 là nơi tôn thờ các danh nhân
đã có công xây dựng Văn Miếu - Quốc Tử Giám và đóng góp vào sự nghiệp
giáo dục Nho học của Việt Nam Đó là các vị Lý Thánh Tông, Lý Nhân
Tông và Lê Thánh Tông
4 Vật liệu
a) Gỗ
- Kiến trúc cổ Việt Nam luôn lấy gỗ làm vật liệu xây dựng cơ bản và tạo đặc
trưng riêng cho nền kiến trúc của mình Đặc biệt, các khu nhà thuộc tổng thể
Văn Miếu Quốc Tử Giám hầu hết được dựng nên bằng gỗ lim với các cột,
kèo, xà Những cột bằng gỗ lim làm cho công trình thêm chắc chắn và ổn
định hơn
Trang 14
- Ngói lợp mái truyền thống của Việt Nam là ngói mũi hài, còn gọi là ngói vẩy
rồng Ngói mũi hài mang đậm nét nghệ thuật của các triều Lê, Nguyễn Kết
hợp giữa ngói và triền mái cong cong kiểu Trung Hoa tạo nên sự thanh thoát,
lấy cảm hứng từ mũi thuyền của nền văn hoá sông nước
Trang 15
Nhóm 2 Page 15
c) Gạch
- Có thể nói, kiến trúc Văn Miếu - Quốc Tử Giám là một khu di tích đặc biệt
của thủ đô Hà Nội, tường bao xung quanh khu di tích bằng gạch vồ, loại gạch
đặc trưng từ thời Lê vào thế kỷ XVII- XVIII, có tuổi thọ đã trên 300 năm
tuổi Sân của các khu nhà lại được lát bằng gạch bát truyền thống Tổng thể
công trình ẩn hiện dưới những vòm cây toát lên một không khí thâm nghiêm
cổ kính và rất đỗi huyền bí
Trang 16
Nhóm 2 Page 16
d) Đá
- Đá được dùng để điêu khắc các con vật như rùa, rồng hay các bậc thềm đi
vào các khu nhà trong di tích Văn Miếu Đá cũng là loại vật liệu không thể
thiếu trong kiến trúc cổ Ở Việt Nam còn có rất nhiều các công trình dùng đá
làm vật liệu chính như Thành nhà Hồ (Thanh Hoá), Chùa Phát Diệm (Ninh
Bình)
Trang 17
Nhóm 2 Page 17
- Giá trị thẩm mỹ của kiến trúc Văn Miếu - Quốc Tử Giám không chỉ được tạo
bởi không gian kiến trúc đột phá nhưng lại hòa quyện với không gian xung
quanh nó mà hơn nữa là sự kết hợp hài hòa giữa đạo và đời, là thành phẩm
của công trình kiến trúc vĩnh cửu trước thời gian
- Trải qua những thăng trầm trong tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc, Văn
Miếu - Quốc Tử Giám cũng có nhiều sự đổi thay Từ tháng 4/1962, khi Văn
Miếu – Quốc Tử Giám được Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ VHTTDL)
xếp hạng là di tích cấp quốc gia cho đến nay, khu di tích đã được quan tâm
bảo tồn, tôn tạo Trong quá trình trùng tu, tất cả các hạng mục thảm cỏ, tường
bao, hệ thống chiếu sáng, nhà vệ sinh, nhà bia, nhà Thái học, hồ Văn, vườn
Giám… luôn tuân thủ tính nguyên gốc, sử dụng nguyên vật liệu truyền
thống, giữ những nét kiến trúc, đặc trưng của Văn Miếu - Quốc Tử Giám
nhưng vẫn tạo nên nét mới phù hợp với thời đại
5 Hình tượng
a) Rồng