Tiểu luận triết học
Trang 1Tiểu luận triết học
Đề tài:
ý thức và vai trò của tri thức khoa học trong công
cuộc đổi mới của nớc ta hiện nay
Chơng 1 Nguồn gốc , bản chất và kết cấu của ý thức
ời Bộ óc ngời là cơ quan vật chất của ý thức ý thức là chức năng của bộ ócngời Hoạt động ý thức của con ngời diễn ra trên cơ sở hoạt động sinh lý thầnkinh của bộ óc ngời ý thức phụ thuộc vào hoạt động bộ óc ngời , do đó khi bộ
óc bị tổn thơng thì hoạt động ý thức sẽ không bình thờng hoặc bị rối loạn Vìvậy không thể tách rời ý thức ra khỏi hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc ýthức không thể diễn ra , tách rời hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc ngời
Bộ óc của con ngời hiện đại là sản phẩm của quá trình tiến hoá lâu dài vềmặt sinh vật - xã hội sau khi vợn biến thành ngời , óc vợn biến thành óc ngời
Bộ óc là một tổ chức vật chất sống đặc biệt , có cấu trúc tinh vi và phức tạp , baogồm từ 14 dến 15 tỷ tế bào thần kinh Các tế bào này có liên quan với nhau vàvới các giác quan , tạo thành vô số những mối liên hệ thu nhận , điều khiển hoạt
động của cơ thể trong quan hệ với thế giới bên ngoài qua các phản xạ không
điều kiện và có điều kiện Trong bộ óc ngời , quá trình ý thức không đồng nhất
Trang 2và cũng không tách rời , độc lập hay song song với quá trình sinh lý Đây chính
là hai mặt của một quá trình - quá trình sinh lý thần kinh trong bộ óc ng ời mangnội dung ý thức , cũng giống nh tín hiệu vật chất mang nội dung thông tin Ngày nay sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - kỹ thuật hiện đại đã tạo
ra những máy móc thay thế cho một phần lao động trí óc của con ngời Chẳnghạn các máy tính điện tử , rôbốt " tinh khôn " , trí tuệ nhân tạo Song điều đókhông có nghĩa là máy móc cũng có ý thức nh con ngời Máy móc dù có tinhkhôn đến.đâu đi chăng nữa cũng không thể thay thế đợc cho hoạt động trí tuệcủa con ngời Máy móc là một kết cấu kỹ thuật do con ngời tạo ra , còn con ng-
ời là một thực thể xã hội Máy móc không thể sáng tạo lại hiện thực dới dạngtinh thần trong bản thân nó nh con ngời Do đó chỉ có con ngời với bộ óc củamình mới có ý thức theo đúng nghĩa của từ đó
Tuy nhiên , nếu chỉ có bộ óc không thôi mà không có sự tác động của thếgiới bên ngoài để bộ óc phản ánh lại các tác động đó thì cũng không thể có ýthức Phản ánh là một thuộc tính phổ biến của mọi dạng vật chất Phản ánh đợcthể hiện trong sự tác động qua lại giữa các hệ thống vật chất ; đó là năng lực giữlại , tái hiện của hệ thống vật chất này những đặc điểm của hệ thống vật chất Thí dụ : nớc và oxi tác động vào kim loại gây ra sự han gỉ của kim loại phản ánh
đặc điểm của nớc và oxi
Trong quá trình phát triển lâu dài của thế giới vật chất , tơng ứng với sựphát triển của các hình thức hoạt động của vật chất , thì thuộc tính phản ánh củavật chất cũng phát triển Hệ thống vật chất có tổ chức càng phức tạp thì nănglực phản ánh càng cao
Phản ánh đơn giản nhất ở trong giới vô sinh là phản ánh vật lí Hìnhthức phản ánh này đợc thể hiện qua những biến đổi cơ , lí , hoá dới những hìnhthức biểu hiện cụ thể nh thay đổi vị trí , biến dạng và phá huỷ
Giới hữu sinh có hệ thống tổ chức cao hơn so với giới vô sinh Song bảnthân giới hữu sinh lại tồn tại với những trình độ khác nhau tiến hoá từ thấp đếncao , từ đơn giản đến phức tạp nên hình thức phản ánh sinh vật cũng thể hiện ởthực vật và các cơ thể động vật bậc thấp Khác với phản ánh vật lý mang tínhthụ động , không chọn lọc , phản ánh kích thích đã có sự chọn lọc trớc những sựtác động của môi trờng Thí dụ hoa hớng dơng hớng đến mặt trời , rễ cây pháttriển mạnh về phía có nhiều phân bón
ở động cao cấp phản ánh đợc phát triển cao hơn do việc xuất hiện hệthần kinh Tính cảm ứng ( năng lực có cảm giác ) là hình thức phản ánh nảysinh do những tác động từ bên ngoài lên cơ thể động vật và cơ thể phản ứng lạitrớc tác động đó của môi trờng So với tính kích , tính cảm ứng hoàn thiện hơn ,
nó đợc thực hiện trên cơ sở các quá trình thần kinh điều khiển mối liên hệ giữacơ thể với môi trờng thông qua cơ chế phản xạ không điều kiện
Phản ánh tâm lý , hình thức cao nhất trong giới động vật gắn liền với quátrình hình thành các phản xạ có điều kiện ở phản ánh tâm lý ngoài cảm giác ,
Trang 3đã xuất hiện tri giác và bểu tợng Cảm giác , tri giác , biểu tợng là những biểuhiện của phản ánh tâm lý ở động vật có hệ thần kinh trung ơng
Cùng với quá trình vợn biến thành ngời , phản ánh tâm lý ở động vật caocấp chuyển hoá thành phản ánh ý thức của con ngời Phản ánh ý thức là mộthình thức phản ánh mới đặc trng của một dạng vật chất có tổ chức cao nhất , đó
là bộ não con ngời
Là hình thức cao nhất của sự phản ánh thế giới hiện thực , ý thức chỉ nảysinh ở giai đoạn phát triển cao của thế giới vật chất , cùng với sự xuất hiện củacon ngời ý thức là ý thức của con ngời , nằm trong con ngời , không thể táchrời con ngời ý thức bắt nguồn từ một thuộc tính của vật chất - thuộc tính phản
ánh - phát triển thành ý thức ra đờì là kết quả phát triển lâu dài của thuộc tínhphản ánh của vật chất , nội dung của nó là thông tin về thế giới bên ngoài , vềvật đợc phản ánh ý thức là sự phản ánh thế giới bên ngoài vào trong bộ óc ngời Bộ óc ngời là cơ quan phản ánh , song chỉ có riêng bộ óc thôi thì cha thể có ýthức Không có sự tác động của thế giới bên ngoài lên các giác quan và qua đó
Loài vật tồn tại nhờ vào những vật phẩm có sẵn trong tự nhiên dới dạngtrực tiếp , còn loài ngời thì khác hẳn Những vật phẩm cần thiết cho sự sống th-ờng không có sẵn trong tự nhiên Con ngời phải tạo từ những vật phẩm ấy Chính thông qua hoạt động lao động nhằm cải tạo thế giơí khách quan mà conngời mới có thể phản ánh đợc thế giới khách quan , mới có ý thức về thế giới
đó
Quá trình hình thành ý thức không phải là quá trình con ngời thu nhận thụ
động Nhờ có lao động con ngời tác động vào các đối tợng hiện thực , bắt chúngphải bộc lộ những thuộc tính , những kết cấu , những quy luật vận động củamình thành những hiện tợng nhất định và các hiện tợng này tác động vào bộ ócngời ý thức đợc hình thành không phải chủ yếu là do tác động thuần tuý tựnhiên của thế giới khách quan vào bộ óc ngời , mà chủ yếu là do hoạt động củacon ngời cải tạo thế giới khách quan , làm biến đổi thế giới đó Quá trình hìnhthành ý thức là kết quả hoạt động chủ động của con ngời Nh vậy , không phảingẫu nhiên thế giới khách quan tác động vào bộ óc ngời để con ngời có ý thức ,
mà trái lại, con ngời có ý thức chính vì con ngời chủ động tác động vào thế giới
Trang 4thông qua hoạt động thực tiễn để cải tạo thế giới Con ngời chỉ có ý thức do cótác động vào thế giới Nói cách khác , ý thức chỉ đợc hình thành thông qua hoạt
động thực tiễn của con ngời Nhờ tác động vào thế giới mà con ngời khám phá
ra những bí mật của thế giới , ngày càng làm phong phú và sâu sắc ý thức củamình về thế giới
Trong quá trình lao động , ở con ngời xuất hiện nhu cầu trao đổi kinhnghiệm cho nhau Chính nhu cầu đó đòi hỏi sự xuất hiện của ngôn ngữ Ph
Ăngghen viết : " Đem so sánh con ngời với các loài vật , ngời ta sẽ thấy rõ rằngngôn ngữ bắt nguồn từ trong lao động và cùng phát triển với lao động , đó làcách giải thích duy nhất đúng về nguồn gốc của ngôn ngữ "
Ngôn ngữ do nhu cầu của lao động và nhờ vào lao động mà hình thành
Nó là hệ thống tín hiệu vật chất mang nội dung ý thức Không có hệ thống tínhiệu này - tức ngôn ngữ , thì ý thức không thể tồn tại và thể hiện đợc Ngôn ngữ, theo C.Mác là cái vỏ vật chất của t duy , là hiện thực trực tiếp của t tởng ,không có ngôn ngữ , con ngời không thể có ý thức Ngôn ngữ ( tiếng nói và chữviết ) vừa là phơng tiện giao tiếp đồng thời là công cụ của t duy Nhờ ngôn ngữcon ngời mới có thể khái quát hoá , trừu tợng hoá , mới có thể suy nghĩ , táchkhỏi sự vật cảm tính Nhờ ngôn ngữ , kinh nghiệm , hiểu biết của ngời này đợctruyền cho ngời kia , thế hệ này cho thế hệ khác ý thức không phải là hiện t-ợng thuần tuý cá nhân mà là một hiện tợng có tính chất xã hội , do đó không cóphơng tiện trao đổi xã hội về mặt ngôn ngữ thì ý thức không thể hình thành vàphát triển đợc Nh vậy , nhôn ngữ là yếu tố quan trọng để phát triển tâm lý , tduy và văn hoá con ngời , xã hội loài ngời nói chung Vì thế Ph.Ăngghen viết :"sau lao động và đồng thời với lao động là ngôn ngữ đó là hai sức kích thíchchủ yếu " của sự chuyển biến bộ não của con ngời , tâm lý động vật thành ý thức
2 Bản chất của ý thức
Dựa trên lý luận phản ánh của mình , chủ nghĩa duy vật biện chứng đãgiải quyết một cách khoa học vấn đề bản chất của ý thức Trớc C.Mác , các nhàduy vật đều thừa nhận sự vật , vật chất tồn tại khách quan và ý thức là sự phản
ánh sự vật đó Tuy nhiên , do chịu ảnh hởng bởi quan điểm siêu hình nên nhiềunhà duy vật trớc C.Mác đã coi ý thức là sự phản ánh thụ động giản đơn , máymóc sự vật mà không thấy đợc tính năng động sáng tạo của ý thức , tính biệnchứng của quá trình phản ánh Trái lại , các nhà duy tâm lại cờng điệu tính năng
động , sáng tạo của ý thức đến mức coi ý thức sinh ra vật chất , chứ không phải
là sự phản ánh của vật chất
Khác với những quan điểm trên đây , chủ nghĩa duy vật Mácxít coi ý thức
là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc ngời một cách năng động ,sáng tạo
Điểm xuất phát để hiểu bản chất của ý thức là phải thừa nhận ý thức là sựphản ánh , là cái phản ánh , còn vật chất là cái đợc phản ánh Cái đợc phản ánh -
Trang 5tức vật chất - tồn tại khách quan , ở ngoài và độc lập với cái phản ánh là ý thức
" ý thức không bao giờ có thể là cái gì khác hơn là sự tồn tại ý thức " , là hình
ảnh tinh thần của sự vật khách quan Vì vậy không thể đồng nhất hoặc tách rời
ý thức với vật chất ý thức là cái phản ánh thế giới khách quan , nhng nó là cáithuộc phạm vi chủ quan , là thực tại chủ quan , không có tính vật chất ý thức làhình ảnh phi cảm tính của các đối tợng vật chất có tồn tại cảm tính Nếu coi ýthức cũng là một hiện tợng vật chất thì sẽ lẫn lộn giữa vật chất và ý thức , làmmất ý nghĩa của sự đối lập giữa vật chất và ý thức , từ đó đó dẫn đến làm mất đi
sự đối lập giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm
Tuy nhiên , ý thức không phải là bản sao giản đơn , thụ động máy của sựvật ý thức là của con ngời , mà con ngời là một thực thể xã hội năng động ,sáng tạo ý thức phản ánh thế giới khách quan trong quá trình con ngời tác động, cải tạo thế giới Do đó ý thức con ngời là sự phản ánh có tính năng động , sángtạo ý thức là sự phản ánh sáng tạo lại hiện thực , theo nhu cầu thực tiễn xã hội Vì vậy ý thức " chẳng qua chỉ là vật chất đợc đem chuyển vào đầu óc con ngời
và đợc cải biến đi ở trong đó " Nói cách khác , ý thức là hình ảnh chủ quan củathế giới khách quan
Tính sáng tạo của ý thức đợc thể hiện ra rất phong phú Trên cơ sở nhữngcái đã có , ý thức có thể tạo ra tri thức về sự vật , có thể t ởng tợng ra cái không
có trong thực tế ý thức có thể tiên đoán , dự báo tơng lai ( phản ánh vợt trớc ) ,
có thể tạo ra những ảo tởng , những huyền thoại , những giả thuyết , lý thuyếtkhoa học hết sức trừu tợng và khái quát cao , thậm chí ở một số ngời có nhữngkhả năng đặc biệt nh tiên tri , thôi miên , ngoại cảm , thấu thị Những khảnăng đó càng nói lên tính chất phức tạp và phong phú của đời sống tâm lý - ýthức ở con ngời mà khoa học còn phải tiếp tục đi sâu nghiên cứu để làm sáng tỏbản chất của những hiện tợng kì lạ đó
ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc ngời , song đây làphản ánh đặc biệt - phản ánh trong quá trình con ngời cải tạo thế giới Quá trình
ý thức là quá trình thống nhất của 3 mặt sau đây :
Một là , trao đổi thông tin giữa chủ thể và đối tợng phản ánh Sự trao đổinày mang tính hai chiều , có định hớng và chọn lọc các thông tin cần thiết Hai là ,mô hình hoá đối tợng trong t duy dới dạng hình ảnh tinh thần Thực chất đây là quá trình sáng tạo lại hiện thực của ý thức theo nghĩa mã hóacác đối tợng vật chất thành các ý tởng tinh thần phi vật chất
Ba là , chuyển mô hình từ t duy ra hiện thực khách quan , tức quá trìnhhiện thực hóa t tởng , thông qua hoạt động thực tiễn biến cái quan niệm thànhcái thực tại , biến các ý tởng phi vật chất trong t duy thành các dạng vật chấtngoài hiện thực Trong giai đoạn này con ngời lựa chọn những phơng pháp , ph-
ơng tiện , công cụ để tác động vào hiện thực khách quan nhằm thực hiện mục
đích của mình Điều đó càng nói lên tính năng động sáng tạo của ý thức
Tính sáng tạo của ý thức không có nghĩa là ý thức đẻ ra vật chất Sáng tạocủa ý thức là sáng tạo của sự phản ánh , theo quy luật và trong khuôn khổ của sự
Trang 6phản ánh , mà kết quả bao giờ cũng là những khách thể tinh thần Sự sáng tạocủa ý thức không đối lập , loại trừ , tách rời sự phản ánh , mà ngợc lại thống nhấtvới phản ánh , trên cơ sở phản ánh Phản ánh và sáng tạo là hai mặt thuộc bảnchất của ý thức ý thức - trong bất kỳ trờng hợp nào - cũng là sự phản ánh vàchính thực tiễn xã hội của con ngời tạo ra sự phản ánh phức tạp , năng động ,sáng tạo của bộ óc
ý thức không phải là một hiện tợng tự nhiên thuần tuý mà là một hiện ợng xã hội ý thức bắt nguồn từ thực tiễn lịch sử - xã hội , phản ánh những quan
t-hệ xã hội khách quan C.Mác khẳng định :" ngay từ đầu , ý thức đã là một sảnphẩm xã hội , và vẫn là nh vậy chừng nào con ngời còn tồn tại "
3 Kết cấu của ý thức
ý thức có kết cấu phức tạp , bao gồm nhiều thành tố có quan hệ với nhau
Có thể phân chia kết cấu đó theo nhiều cách khác nhau tuỳ theo cách tiếp cận
ở đây có thể chia cấu trúc đó theo hai chiều sau đây :
3.1 Theo chiều ngang
Bao gồm các yếu tố cấu thành nh tri thức , tình cảm , niềm tin , lý trí , ý trí Trong đó tri thức là nhân tố cơ bản , cốt lõi
Tri thức là kết quả của quá trình con ngời nhận thức thế giới , là sự phản
ánh thế giới khách quan Tri thức có nhiều lĩnh vực khác nhau nh tri thức về tựnhiên , về xã hội , về con ngời và có nhiều cấp độ khác nhau nh tri thức cảmtính và tri thức lý tính , tri thức kinh nghiệm và tri thức lý luận , tri thức tiềnkhoa học và tri thức khoa học Để cải tạo tự nhiên và xã hội , con ngời phải cóhiểu biết về thế giới , nghĩa là phải có tri thức về sự vật Do đó mọi hiện tợng ýthức đều có nội dung tri thức ở mức độ nhất định ý thức mà không bao hàm trithức , không dựa vào tri thức vì ý thức đó là một sự trừu tợng , trống rỗng ,không giúp ích gì cho con ngời trong hoạt động thực tiễn Theo Mác tri thức làphơng thức mà theo đó ý thức tồn tại và theo đó một cái gì đó nảy sinh ra đối với
ý thức Cho nên một cái gì đó nảy sinh ra đối với ý thức chừng nào mà ý thứcbiết cái đó Quá trình hình thành và phát triển của ý thức cũng là quá trình conngời tìm kiếm , tích luỹ tri thức về thế giới xung quanh Càng hiểu biết về sự vậtthì ý thức về sự vật càng sâu sắc
Tuy nhiên , sự tác động của thế giới bên ngoài đến con ngời không chỉ
đem lại hiểu biết về thế giới mà còn đem lại tình cảm của con ngời đối với thếgiới Tình cảm là một hình thái đặc biệt của sự phản ánh tồn tại , nó phản ánhquan hệ giữa ngời với ngời và quan hệ giữa ngời với thế giới khách quan Tìnhcảm tham gia vào mọi hoạt động của con ngời và trở thành một trong những
động lực quan trọng của hoạt động con ngời Tri thức có biến thành tình cảmmãnh liệt mới sâu sắc và phải thông qua tình cảm thì mới biến thành hành độngthực tế , mới phát huy đợc sức mạnh của mình
3.2 Theo chiều dọc
Trang 7Đó là lát cắt theo chiều sâu của thế giới nội tâm con ngời bao gồm cácyếu tố nh tự ý thức , tiềm thức , vô thức Tất cả những yếu tố đó cùng vớinhững yếu tố khác quy định tính chất phong phú , phức tạp trong thế giới tinhthần và hoạt động tinh thần của con ngời
Trong quá trình nhận thức thế giới xung quanh , con ngời đồng thời cũng
tự nhận thức bản thân mình , đó chính là tự ý thức Nh vậy , tự ý thức cũng là ýthức , là một thành tố quan trọng của ý thức , song đây là ý thức về bản thânmình trong mối quan hệ với ý thức về thế giới bên ngoài Tự ý thức là ý thứccủa con ngời về những hành vi , những tình cảm , t tởng , động cơ , lợi ích củamình , về địa vị của mình trong xã hội Tự ý thức là ý thức hớng về nhận thứcbản thân mình thông qua quan hệ với thế giới bên ngoài Thông qua phản ánhthế giới xung quanh , con ngời ý thức mình nh một cá nhân đang tồn tại , đanghoạt động , có t duy , có cảm giác , có các hành vi đạo đức và có vị trí trong xãhội Tự ý thức không chỉ là tự ý thức của cá nhân mà còn là tự ý thức của mộtgiai cấp , một tập đoàn xã hội , thậm chí của xã hội Trình độ tự ý thức nói lêntrình độ phát triển của nhân cách , trình độ làm chủ bản thân Nhờ có tự ý thức ,con ngời tự điều chỉnh bản thân theo các quy tắc , các chuẩn mực mà xã hội đề
ra
Tiềm thức là những hoạt động tâm lý ( chủ yếu là hoạt động nhận thức ởcả hai trình độ cảm tính và t duy) tự động diễn ra bên ngoài sự kiểm soát củachủ thể , song lại có liên quan trực tiếp đến các hoạt động tâm lý đang diễn ra d-
ới sự kiểm soát của chủ thể ấy Về thực chất , tiềm thức là những tri thức màchủ thể đã có đợc từ trớc ( bằng cách trực tiếp hoặc gián tiếp nắm bắt chúng )nhng đã gần nh trở thành bản năng , thành kĩ năng nằm trong tầng sâu của ýthức chủ thể , là ý thức dới dạng tiềm năng Do đó tiềm thức có thể tự động gây
ra các hoạt động tâm lý và nhận thức mà chủ thể không cần kiểm soát chúngmột cách trực tiếp Tiềm thức có vai trò quan trọng cả trong hoạt động tâm lýhàng ngày của con ngời và cả trong t duy khoa học Trong t duy khoa học , vaitrò của tiềm thức chủ yếu gắn với các loại hình t duy chính xác , với các hoạt
động t duy thờng lặp đi lặp lại nhiều lần ở đây tiềm thức góp phần làm giảm sựquá tải của đầu óc trong việc xử lý một khối lợng các tài liệu , dữ kiện , tin tứcdiễn ra một cách lặp đi , lặp lại mà vẫn đảm bảo đợc độ chính xác và chặt chẽcần thiết của t duy khoa học
Vô thức là những hiện tợng tâm lý không phải do lý trí điều khiển Lĩnhvực vô thức là lĩnh vực các hiện tợng tâm lý nằm ngoài phạm vi của lý trí mà ýthức không kiểm soát đợc trong một lúc nào đó Chúng liên quan đến nhữnghoạt động xảy ra bên ngoài phạm vi của lý trí hoặc cha đợc con ngời ý thức đến Con ngời là một thực thể xã hội có ý thức nhng không phải mọi hành vi của conngời đều do lý thí chỉ đạo Trong đời sống của con ngời , có những hành vi dobản năng chi phối hoặc do những động tác đợc lặp đi lặp lại nhiều lần trở thànhthói quen tới mức chúng vẫn tự động xảy ra ngay cả khi không có sự chỉ đạo của
lý trí Những hành vi thuộc loại nh vậy là những hành vi vô thức , do vô thức
Trang 8điều khiển , nói cách khác , vô thức là những trạng thái tâm lý ở chiều sâu , điềuchỉnh sự suy nghĩ , hành vi , thái độ ứng xử của con ngời mà cha có sự truyền tinbên trong , cha có sự kiểm tra , tính toán của lý trí Vô thức biểu hiện ra thànhnhững hiện tợng khác nhau nh bản năng ham muốn , giấc mơ , bị thôi miên ,mặc cảm , sự lỡ lời , nói nhịu , trực giác Mỗi hiện tợng vô thức có vùng hoạt
động riêng , có vai trò , chức năng riêng , song tất cả đều có một chức năngchung là giải toả những ức chế trong hoạt động thần kinh vợt ngỡng nhất lànhững ham muốn bản năng không đợc phép bộc lộ ra và thực hiện trong quy tắccủa đời sống cộng đồng Nó góp phần quan trọng trong việc lập lại thế cân bằngtrong hoạt động tinh thần của con ngời mà không dẫn tới trạng thái ức chế quámức nh ấm ức , sự dày vò mặc cảm Nghiên cứu những hiện tợng vô thức giúpcho con ngời luôn luôn làm chủ đời sống nội tâm của mình , có phơng pháp kìmchế đúng quy luật những trạng thái ức chế của tinh thần Nh vậy vô thức có vaitrò và tác dụng nhất định trong đời sống và hoạt động của con ngời Nhờ vôthức , con ngời tránh đợc tình trạng căng thẳng không cần thiết do thần kinh khilàm việc quá tải Nhờ vô thức mà những chuẩn mực con ngời đặt ra đợc thựchiện một cách tự nhiên không có sự khiên cỡng Vô thức có ý nghĩa quan trọngtrong hoạt động giáo dục thế hệ trẻ , trong hoạt động khoa học và nghệ thuật Vì vậy không thể phủ nhận vai trò của vô thức trong cuộc sống , nếu phủ nhậnvô thức sẽ không thể hiểu đầy đủ và đúng đắn về con ngời Tuy nhiên không nêncờng điệu hoá , tuyệt đối hóa và thần bí hoá vô thức Không nên coi vô thức làhiện tợng tâm lý cô lập , hoàn toàn tách biệt khỏi hoàn cảnh xã hội xung quanh
và tuyệt nhiên không phải nó không có liên hệ gì đến ý thức Thực ra vô thức làvô thức nằm trong con ngời có ý thức , con ngời là một thực thể có ý thức Giữvai trò chủ đạo trong hoạt động của con ngời là ý thức chứ không phải vô thức Nhờ có ý thức mới điều khiển đợc các hiện tợng vô thức hớng tới chân , thiện ,
mỹ Vô thức chỉ là một mắt khâu trong cuộc sống có ý thức của con ngời
4 Vai trò và tác dụng của ý thức ý nghiã phơng pháp luận của mối quan
hệ giữa vật chất và ý
Kẻ thù của chủ nghĩa Mác thờng xuyên tạc là chủ nghĩa Mác chỉ biết đếnvật chất , kinh tế mà coi nhẹ vai trò của ý thức t tởng Thực ra hoàn toàn khôngphải nh vậy Chỉ có chủ nghĩa duy vật tầm thờng , không biện chứng , duy vậtkinh tế mới phủ nhận hoặc coi nhẹ vai trò của các yếu tố tinh thần , ý thức màthôi
Khi khẳng định vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức , chủ nghĩaduy vật Mácxít đồng thời cũng vạch rõ sự tác động trở lại vô cùng quan trọngcủa ý thức đối với vật chất ý thức do vật chất sinh ra và quyết định , song saukhi ra đời , ý thức có tính độc lập tơng đối nên có tác động trở lại to lớn đối vớivật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con ngời ý thức của con ngời có tác
động tích cực , làm biến đổi hiện thực , vật chất khách quan theo nhu cầu củamình Quan hệ giữa vật chất và ý thức không phải là quan hệ một chiều mà là
Trang 9quan hệ tác động qua lại Không thấy điều đó sẽ rơi vào quan niệm duy vật tầmthờng và bệnh bảo thủ trì trệ trong nhận thức và hành động
Nói tới vai trò của ý thức về thực chát là nói tới vai trò của con ng ời , bởivì ý thức là ý thức của con ngời Bản thân ý thức không trực tiếp thay đổi đợc gìtrong hiện thực cả Theo Mác " lực lợng vật chất chỉ có thể đánh đổi bằng lực l-ợng vật chất " , cho nên muốn thực hiện t tởng phải sử dụng lực lợng thực tiễn
Điều đó cũng có nghĩa là con ngời muốn thực hiện thực hiện đợc các quy luậtkhách quan thì phải nhận thức vận dụng đúng đắn những quy luật đó , phải có ýchí và có phơng pháp để tổ chức hành động Cho nên vai trò của ý thức là ở chỗchỉ đạo hoạt động của con ngời , hình thành mục tiêu , kế hoạch , ý chí , biệnpháp cho hoạt động của con ngời ở đây ý thức , t tởng có thể quyết định làmcho con ngời hoạt động đúng hay sai , thành công hay thất bại trên cơ sở những
điều kiện khách quan nhất định
Vai trò tích cực của ý thức , t tởng không phải ở chỗ nó trực tiếp tạo rahay thay đổi thế giới vật chất mà là nhận thức thế giới khách quan và từ đó làmcho con ngời hình thành đợc mục đích , phơng pháp , biện pháp và ý chí cầnthiết cho hoạt động của mình Sức mạnh của ý thức con ngời không phải ở chỗtách rời điều kiện vật chất , thoát ly hiện thực khách quan , mà biết dựa vào điềukiện vật chất đã có , phản ánh đúng quy luật khách quan để cải tạo thế giớikhách quan một cách chủ động , sáng tạo với ý chí , nhiệt tình cao Con ngờiphản ánh càng đầy đủ và chính xác thế giới khách quan thì càng cải tạo thế giới
có hiệu quả Vì vậy phải phát huy tính năng động , sáng tạo của ý thức , pháthuy vai trò nhân tố con ngời để tác động cải tạo thế giới khách quan Đồng thờiphải khắc phục bệnh bảo thủ , trì trệ , thái độ tiêu cực , thụ động , ỷ lại , ngồichờ trong quá trình đổi mới hiện nay
Tuy nhiên cơ sở cho việc phát huy tính năng động chủ quan là việc thừanhận và tôn trọng tính khách quan của vật , của các quy luật tự nhiên và xã hội Nếu nh thế giới vật chất - với những thuộc tính và quy luật vốn có của nó - tồntại khách quan , không phụ thuộc vào ý thức con ngời thì trong nhận thức vàhoạt động thực tiễn phải xuất phát từ thực tế khách quan , lấy thực tế khách quanlàm căn cứ cho mọi hoạt động của mình Chính vì vậy , Lênin đã nhiều lần nhấnmạnh rằng không đợc lấy ý muốn chủ quan của mình làm chính sách , không đ-
ợc lấy tình cảm làm điểm xuất phát cho chiến lợc và sách lợc cách mạng Nếuchỉ xuất phát từ ý muốn chủ quan , nếu lấy ý chí áp đặt cho thực tế , lấy ảo tởngthay cho hiện thực thì sẽ mắc phải bệnh chủ quan duy ý chí
Trớc Đại hội Đảng lần thứ VI , bên cạnh những thành tựu đạt đợc , chúng
ta đã phạm những sai lầm trong việc xác định mục tiêu và bớc đi về xây dựng cơ
sở vật chất - kỹ thuật , cải tạo xã hội chủ nghĩa và quản lý kinh tế Chúng ta đãnóng vội muốn xoá bỏ ngay nền kinh tế nhiều thành phần , vi phạm nhiều quyluật khách quan Cơng lĩnh của Đảng đợc thông qua tại Đại hội lần thứ VII đãkhẳng định :" Đảng đã phạm sai lầm chủ quan duy ý chí , vi phạm quy luậtkhách quan " Vì vậy , từ lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin cũng nh từ những kinh
Trang 10nghiệm thành công và thất bại trong quá trình lãnh đạo cách mạng , Đại hội lầnthứ VII của Đảng ta đã rút ra bài học quan trọng là : " Mọi đờng lối , chủ Đảngphải xuất phát từ thực tế , tôn trọng quy luật khách quan " Bài học đó có ý nghĩathời sự nóng hổi trong quá trình đổi mới đất nớc ta Đại hội lần thứ VIII của
Đảng ta đã tổng kết 10 năm đổi mới , đề ra những mục tiêu , phơng pháp chothời kì mới - thời kì đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nớc Trongthời kì mới này phải " lấy việc phát huy nguồn lực con ngời làm yếu tố cơ bảncho sự phát triển nhanh và bền vững " , chúng ta cần tránh sai lầm chủ quannóng vội trong công nghiệp hoá , hiện đại hóa đồng thời phải " khơi dậy trongnhân dân lòng yêu nớc , ý chí quật cờng , phát huy tài chí của nguời Việt Nam ,quyết tâm đa nớc nhà ra khỏi nghèo nàn và lạc hậu "
Trang 11Chơng 2 Vai trò của tri thức khoa học trong công cuộc
đổi mới nền kinh tế ở nớc ta
1 Vai trò của tri thức khoa học trong nền kinh tế - xã hội
Trên phạm vi thế giới những tiến bộ khoa học - kỹ thuật và công nghệ mới
đẫ làm cho lợi thế so sánh của mỗi quốc gia biến đổi không ngừng , làm thay
đổi mối quan hệ giữa các nớc , trong đó mỗi nớc đều có cơ hội to lớn để tìm ralợi thế so sánh mới cho mình và đều đứng trớc những thách thức mới Trong
điều kiện nh vậy các nớc phụ thuộc lẫn nhau rất mạnh mẽ
Tiến bộ khoa học - kỹ thuật thực sự góp phần không nhỏ vào quá trìnhquốc tế hoá đời sống kinh tế này , đã làm nảy sinh sự liên kết kinh tế đa dạng ,nhiều chiều Chính tiến bộ khoa học - kỹ thuật , một mặt đang làm thay đổinhững quan điểm trớc đây về một nền kinh tế độc lập , tự chủ , hoàn chỉnh , dẫnthế giới đến một chỉnh thể đầy mâu thuẫn đòi hỏi phải có cách giải quyết mới ,mặt khác , dẫn đến sự cấu trúc lại nền kinh tế cả trên phạm vi thế giới lẫn trongnội bộ từng nớc
Nền kinh thế giới chuyển dần sang cơ cấu phát triển theo chiều sâu , đặcbiệt là trong công nghiệp cơ cấu đó chuyển dịch khá nhanh về phía những ngành
có hàm lợng khoa học , công nghệ và trí tuệ cao , cơ cấu tiêu thụ giảm theo hớnggiảm các sản phẩm dùng nhiều lao động và nguyên liệu Chính tiến bộ khoa học
- kỹ thuật đã làm cho vai trò của năng lợng và lợi thế so sánh của nguyên liệu vàsản phẩm sơ cấp trong công nghiệp giảm dần , do vậy mà mới có tình trạng chỉ
số giá cả các sản phẩm sơ cấp và nguyên liệu trên thị trờng thé giới giảm tói40% so với đầu thập kỷ 80 Cũng do sự chuyển dịch nhanh chóng đó mà hiệnnay đã có tới 11 trong số 28 ngành công nghiệp chính của thế giới đang bị lu mờ, bị coi là đã xế chiều và đang bị các ngành mới ra đời lấn át hoặc thay thế hoàntoàn Trớc tình hình đó để tránh thua thiệt những nớc xuất khẩu nguyên liệu vàcác sản phẩm sơ cấp - mà ở đây chủ yếu là các nớc đang phát triển - phải tìmcách nhanh chóng nâng cao năng lực biến đổi tài nguyên thành sản phẩm tiêudùng cao cấp , muốn nh thế thì không có cách nào khác hơn là phải tìm đến tiến
bộ khoa học - kỹ thuật
Nh vậy , do tác động của tiến bộ khoa học - kỹ thuật mà yêu cầu phải đổimới về mặt kinh tế , từ cơ cấu sản xuất cho đến quan hệ giữa các quốc gia , trởthành một tất yếu không thể cỡng lại đợc nếu nh quốc gia đó muốn tồn tại vàkhông bị nhấm chìm
Tiến bộ khoa học - kỹ thuật trong giai đoạn hiện nay , một mặt , tạo điềukiện cho sự quản lý sản xuất , quản lý xã hội nhanh nhạy và linh hoạt hơn , mặtkhác nó lại cũng đòi hỏi phải có sự quản lý đối với nó nhanh nhạy và linh hoạt
nh vậy Vì thế tiến bộ khoa học - kỹ thuật thực tế là mâu thuẫn với cơ chế tậptrung quan liêu bao cấp Những thay đổi nhanh chóng trong kỹ thuật và trong
Trang 12công nghệ cũng nh trong tổ chức sản xuất , trong các mặt hàng , các sản phẩm
đợc làm ra đòi hỏi phải có cách quản lý linh hoạt , mềm dẻo có hiệu quả cao ,nghĩa là để chuyển sang chất lợng mới của sự phát triển thì phải có sự đổi mớisâu sắc và căn bản trong cơ chế quản lý Một hệ thống kinh tế bị đóng kín , bịgiới hạn từ trên xuống dới , bị hạn chế quan hệ ngang , đợc điều khiển bằngmệnh lệnh tập trung và quan liêu không tránh khỏi kìm hãm sự phát triển của xãhội , sự tiến bộ khoa học - kỹ thuật cho nên tất yếu phải bị thay thế
Ngày nay việc quản lý xã hội , trong đó quan trọng quản lý kinh tế , quản
lý nhà nớc , thành công đến mức nào là tuỳ thuộc vào khả năng xử lý thông tin Không theo kịp những biến đổi hết sức mới trong lĩnh vực này mà kh kh giữ lấycách quản lý cũ , lạc hậu thì không tránh khỏi bỏ lỡ thời cơ có thể vơn lên đểtiến kịp cùng thời đại và thoát ra sự trì trệ
Cùng với những biến đổi về chất lợng trong lực lợng sản xuất , trong kinh
tế và trong quản lý xã hội , tiến bộ khoa học - kỹ thuật còn tạo nên những biến
đổi ghê gớm trong lĩnh vực kỹ thuật quân sự , trong việc tạo ra những phơng tiệnphá hoại và huỷ diệt sự sống , làm gay gắt những vấn đề toàn cầu của thời đại Sức mạnh quân sự của một quốc gia lúc này không chỉ phụ thuộc vào số lợnglớn binh lính , vào những loại vũ khí thông thờng có sức công phá lớn đã từngmột thời làm mọi ngời khiếp đảm mà còn phụ thuộc rất lớn vào các vũ khí dựatrên những tiến bộ khoa học - kỹ thuật mới nhất , thậm chí có khi chỉ phụ thuộcvào một số ít ngời thuộc các ngành nghề khác nhau từ nhà chính trị cho đến nhàsinh học , y học chuyên nghiên cứu các vi khuẩn gây bệnh , từ nhà vật lý hạtnhân cho đến ngời điều khiển tên lửa mang đầu đạn hạt nhân Những tiến bộkhoa học - kỹ thuật mới nhất đợc sử dụng để sản xuất các loại vũ khí giết ngờihàng loại
Chẳng hạn , đứng về mặt kỹ thuật mà xét thì số vũ khí hiện có đã đủ để xoásạch hoàn toàn nhiều lần toàn bộ sự sống trên trái đất nếu chiến tranh hạt nhânxảy ra Chỉ riêng một tầu ngầm chiến lợc , trong số hàng trăm tàu ngầm hiện
có , cũng mang theo tiềm năng huỷ diệt tơng đơng với mấy cuộc chiến tranh thếgiới thứ hai trong cuộc chiến tranh mới đó không ai có thể tìm thấy phầnthắng Trớc nguy cơ xảy ra một cuộc chiến tranh thế giới có sức huỷ diệt lớn
nh vậy những ngời đứng đầu các quốc gia buộc phải đổi mới cách đánh giá ,cách nhìn nhận các quan hệ chính trị quốc tế , cách giải quyết mâu thuẫn khuvực và thế giới , đổi mới quan niệm về quốc phòng và an ninh mới Nếu làm ng-
ợc lại chắc chắn không thể tránh đợc những hậu quả ghê gớm khó lờng trớc
đ-ợc
Nhờ tiến bộ khoa học - kỹ thuật mà càng ngày ngời ta càng tạo ra đợcnhiều loại nguyên liệu và vật liệu có thể thay thế những thứ từ trớc đến nay chỉ
có thể dựa vào sự cung cấp của thiên nhiên Vì vậy tiến bộ khoa học - kỹ thuật
đang làm cho u thế dới dạng tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên trở nên tơng
đối
Trang 13Tiến bộ khoa học - kỹ thuật một mặt tạo thời cơ thuận lợi cho các nớc nàythoát ra khỏi sự lạc hậu và trì trệ nếu nh biết định hớng đúng , nếu có một tiềmnăng nhất định nào đó về nguồn vốn và nguồn nhân lực có trình độ cần thiết đểtiếp thu các công nghệ tơng đối hiện đại Khi đã có những kĩ thuật và công nghệmới , tiến bộ thì vấn đề đặt ra tiếp theo là giải quyết việc làm cho số lao độngdôi ra , tìm thị trờng tiêu thụ sản phẩm Nếu giải quyết tốt chúng thì khả nănghội nhập của các nớc này với trào lu chung của thế giới là hiện thực Song tiến
bộ khoa học - kỹ thuật thời đại chúng ta còn có một mặt khác nghiệt ngã là hoàntoàn có khả năng nhấn các nớc kém phát triển chìm sâu hơn trong cảnh lạc hậu
và phụ thuộc , đồng thời còn tạo nên một khoảng cách còn lớn gấp bội so vớikhoảng cách đã từng tồn tại trớc đây giữa họ và các nớc phát triển nếu nh họkhông tìm ra con đờng thích hợp hoặc cố tình duy trì cách làm ăn cũ , thói quen
cũ , không thích nghi với những biến đổi của thời đại
Nh vậy , trong thế giới hiện đại vừa liên kết hợp tác , vừa chứa đầy mâuthuẫn và cạnh tranh với nhau khốc liệt , mọi quốc gia trong đó có chúng ta , nếumuốn giành cho một vị trí xứng đáng hay ít ra để không bị nhấn chìm , đềukhông thể cỡng lại xu thế của thời đại là đổi mới mọi mặt trên cơ sở nhận thức ,
đánh giá và sử dụng đúng đắn , nhanh chóng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật mớinhất đợc loài ngời tạo ra , đồng thời biết khai thác và tạo đợc những điều kiệncho sự khai thác những nguồn lực khác có thể khai thác
2 Vai trò của tri thức khoa học trong công cuộc đổi mới của nớc ta hiện nay
2.1 Những thành tựu của công cuộc đổi mới nền kinh tế - xã hội ở nớc ta
2.1.1 Bối cảnh thế giới và trong n ớc :
Thế giới và nền sản xuất của nó đang chuyển biến hết sức nhanh chóng dới
tác động mạnh mẽ của tiến bộ khoa học - kỹ thuật mà đỉnh cao mới là nhữngtiến bộ do cách mạng công nghệ , cách mạng tin học mang lại Nhiều nớc đã và
đang tiến hành những cải cách rộng rãi , mạnh bạo , đặc biệt là trong lĩnh vựcthông tin
Tuy nhiên cũng trong bối cảnh đó các nớc xã hội chủ nghĩa đã rơi vào tìnhtrạng nặng nề và rút cục bị lạc hậu về nhiều mặt Nguyên nhân của tình trạngnày là không đánh giá đúng đắn và kịp thời những tiến bộ khoa học - kỹ thuật ,thiếu những điều kiện cần thiết , thiếu một môi trờng dân chủ thực sự để cho conngời phát huy mọi khả năng sáng tạo của mình Có thể thấy rõ điều này qua cácchỉ số so sánh cụ thể giữa Liên Xô và Mĩ
Việt Nam tiến hành đổi mới trong bối cảnh bị cô lập tơng đối về kinh tếtrong một thời gian dài Những hỗ trợ kinh tế và tài chính hầu nh không đáng kể, nguồn viện trợ vay của Liên Xô trớc đây và các nớc Đông Âu bị cắt Sự phongtoả về kinh tế , sự lôi cuốn Việt Nam vào những xung đột chính trị và quân sự đãbuộc đất nớc phải tiêu hao nguồn lực mà lẽ ra có thể sử dụng cho tăng trởngkinh tế và phát triển xã hội