1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Pháp luật về biểu tình ở việt nam và một số nước trên thế giới thực trạng và kiến nghị

110 643 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 480,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nếu người dân không được biểu tình để bày tỏ quan điểm, thể hiện những bức xúc của mình đối với hoạt động của Nhà nước do chính mình lập nên thì chưa thể hiện hết sự dân chủ đó trong xã

Trang 1

MỤC LỤC

&

–– ——

CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN BIỂU TÌNH

Trang

Phần mở đầu 1

1 Khái niệm biểu tình……… 6

2 Phân biệt giữa biều tình với một số hoạt động khác……… ….…13

3 Ý nghĩa của biểu tình……….… 15

4 Vì sao phải luật hóa biểu tình trong thời gian sớm nhất……….……… …16

5 Mối quan hệ giữa quyền biểu tình với biểu tình và một số quyền khác….….…19 5.1 Mối quan hệ giữa quyền biểu tình và biểu tinh……….……… …19

5.2 Mối quan hệ giữa quyền biểu tình và quyền tự do ngôn luận……….… … 20

5.3 Quyền biểu tình và quyền tự do hội họp……… ……… ….… 22

6 Xu hướng phát triển của biểu tình trên thế giới……… 23

6.1 Xu hướng phát triển chung của thế giới……… 23

6.2 Xu hướng quốc tế hóa biểu tình……… 24

Kết luận chương I……….25

CHƯƠNG II PHÁP LUẬT VỀ BIỂU TÌNH Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ 1 Quy định về việc thông báo khi tổ chức biểu tình 30

2 Cấm hoặc hạn chế một số hình thức biểu tình trong một số trường hợp………….36

3 Cấm và thời gian cấm biểu tình……… ………38

4 Phạm vi cấm biểu tình .41

5 Vấn đề quy trách nhiệm 43

5.1 Trách nhiệm của cá nhân, tổ chức 43

Trang 2

5.2 Trách nhiệm của cơ quan Nhà nước 44

6 Chế tài xử phạt 45

7 Cấm sử dụng loa ở một số địa điểm 48

8 Quyền hạn chế hoặc giải tán cuộc biểu của Nhà nước……….… 49

9 Lấy ý kiến đóng góp của nhân dân về dự thảo xây dựng luật biểu tình

50

Kết luận chung 50

BẢNG TỪ NGỮ VIẾT TẮT POA 1986 : Public Oder Act 1986 - Công đạo luật 1986

SOCPA 2005 : Serious Organised Crime and Police Act 2005 - Đạo luật các tội phạm nghiêm trọng có tổ chức và cảnh sát 2005

Luật số 101 : Luật số 101/ SL-L-003 ngày 20-5-1957 của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa về quyền tự do hội họp

Phần mở đầu.

1 Tính cấp thiết của đề tài

Quyền biểu tình là một trong những quyền cơ bản của công dân, được chính thức ghi nhận ở nhiều nước trên thế giới Việt Nam cũng thừa nhận quyền này trong Hiến pháp Tuy nhiên, pháp luật hiện hành vẫn chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào để cụ thể hoá quyền biểu tình nên kể từ khi Hiến pháp có quy định đến nay, quyền biểu tình vẫn chưa thực sự đi vào đời sống của nhân dân, mặc

dù đây là yêu cầu khách quan của toàn xã hội Tính cấp thiết của đề tài thể hiện ở những điểm cơ bản sau

Đòi hỏi của một xã hội dân chủ

Một trong những hình thức thể hiện dân chủ là việc người dân có quyền tham gia vào c của Nhà nước Quyền lợi hợp pháp của nhân dân phải được đặt lên hàng đầu Chủ trương và chính sách có liên quan đến người dân thì người dân có quyền được biết và đóng góp ý kiến, Nhà nước có trách nhiệm tạo mọi điều kiện có thể để nhân dân thực hiện quyền của mình Biểu tình là một hình thức để nhân dân thực hiện sự giám sát đối với hoạt động của Nhà nước Nếu người dân không được biểu tình để bày tỏ quan điểm, thể hiện những bức xúc của mình đối với hoạt động của Nhà nước do chính mình lập nên thì chưa thể hiện hết sự dân chủ đó trong xã hội

Đòi hỏi của một nền pháp chế.

Trang 3

Thực tế cho thấy muốn xã hội ổn định thì những vấn đề quan trọng liênquan trực tiếp đến Nhà nước, công dân, xã hội… phải được luật hóa và phổ biếnmột cách đầy đủ, kịp thời Biểu tình là một lĩnh vực rất quan trọng có tác độngkhông chỉ đến an ninh mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển chung của đất nước.Bởi vậy, không có pháp luật về biểu tình để điều chỉnh trực tiếp là một thiếu sótlớn Có luật biểu tình thì chúng ta mới có thể thực thi được quyền biểu tình trênthực tế Đó không chỉ là cơ sở để Nhà nước tổ chức thi hành luật biểu tình mộtcách chính thức mà còn là khuôn khổ, chuẩn mực để nhân dân thực hiện quyềnbiểu tình Cả Nhà nước và nhân dân đều dựa trên luật biểu tình để thực hiện quyền

và nhiệm vụ của mình Luật biểu tình không có thì không thể xử lý những vướngmắc phát sinh, nếu để tình trạng đó diễn ra dài không những ảnh hưởng đến tâm lý

xã hội mà còn ảnh hưởng xấu đến hệ thống pháp luật của nước ta

Trước thực trạng đó, cơ quan Nhà nước rất lúng túng trong việc giải quyếtkhi có một cuộc biểu tình xảy ra Nếu lực lượng cảnh sát vào cuộc để ngăn ngừanhững cuộc biểu tình thì dễ bị những phần tử phản động cho là làm mất dân chủ,

áp bức nhân dân…còn nếu không có động thái để giữ gìn trật tự công cộng thì cóthể tính mạng, sức khỏe của nhiều người khác bị ảnh hưởng

Việt Nam chưa có luật biểu tình nên chưa có sự phân biệt giữa quyền biểutình với quyền tự do ngôn luận và quyền tự do hội họp Lợi dụng kẽ hở đó, những

kẻ phản động thường đồng nhất quyền biểu tình vào quyền tự do ngôn luận vàquyền tự do hội họp để tụ tập đông người và đưa ra những thông tin sai lệch, gâyhoang mang trong nhân dân hoặc chống phá chính quyền Những lý lẽ mà bọnphản động đưa ra không có sức thuyết phục, nhà nước và nhân dân ta phản đốinhưng trên thực tế Việt Nam chưa có luật biểu tình nên chúng ta cũng không cónhững lý lẽ xác đáng để bác bỏ hoàn toàn những luận điểm sai trái của bọn phảnđộng Hiện nay, sự chống phá trực tiếp bằng vũ trang rất ít được áp dụng nhưngchúng chống phá bằng cách lợi dụng thiếu sót của pháp luật để kích động, muachuộc quần chúng làm tình hình đất nước bất ổn Khi an ninh chính trị không ổnđịnh thì rất khó để phát triển kinh tế, nâng cao mức sống của nhân dân Hơn nữa,luật biểu tình chưa ra đời nên nhà nước không có cơ sở để đảm bảo quyền biểu tình

Trang 4

của người dân cũng như giải quyết những trường hợp lợi dụng biểu tình làm tráipháp luật hoặc gây bạo động, bạo loạn… và người dân cũng không có cơ sở pháp

lý để biểu tình hợp pháp

Muốn giải quyết triệt để mâu thuẫn trên, chúng ta nên xây dựng luật biểutình để Nhà nước quản lý, kiểm soát xã hội tốt hơn, vừa đảm bảo cho nhân dân cóthể tự do biểu tình bày tỏ những bức xúc, tâm tư nguyện vọng của mình Hơn nữa,luật biểu tình còn là cơ sở để hạn chế đến mức thấp nhất sự lợi dụng của kẻ xấu,đáp ứng yêu cầu của tình hình mời Đó là một đòi hỏi rất cấp bách trong bối cảnhhiện nay

Trên cơ sở những nhận định trên, các tác giả quyết định chọn vấn đề này đểlàm đề tài nghiên cứu khoa học Mong rằng, sau khi đề tài được nghiệm thu những

ý kiến đóng góp của các tác giả sẽ góp phần vào việc xây dựng luật biểu tình ởViệt Nam

2 Mục tiêu của đề tài

Biểu tình diễn biến phức tạp nhưng Việt Nam chưa có luật biểu tình quyđịnh cụ thể vấn đề này Nhiều hệ lụy từ biểu tình xảy ra mà không có căn cứ để xử

lý, đó là một thiếu sót rất lớn và chưa đáp ứng được đòi hỏi của xã hội

Qua đề tài này, các tác giả muốn khẳng định:

1 Sự cần thiết phải có luật biểu tình ở Việt Nam Biểu tình là quyền cơ bảncủa công dân đã được ghi nhận trong Hiến pháp hiện hành Và nhiệm vụ của Nhànước là phải đảm bảo cho quyền này được thực hiện trên thực tế thông qua việcban hành luật biểu tình

2 Xây dựng khái niệm “biểu tình” trên cơ sở đó giúp Nhà nước quản lýđược hoạt động biểu tình, đồng thời đảm bảo cho quyền và lợi ích hợp pháp củacông dân

3 Phân biệt giữa biểu tình với bạo loạn, bạo động

4 Nêu lên vai trò, ý nghĩa của hoạt động biểu tình

5 Mối quan hệ giữa biểu tình và các quyền tự do hội họp, tự do ngôn luận

6 Phân tích những quy định liên quan đến biểu tình tại Việt Nam và cácnước trên thế giới trên cơ sở đó so sánh đối chiếu những điểm chính cần phải cótrong luật biểu tình để xây dựng luật luật biểu tình ở Việt Nam

Nhằm mục đích cao nhất và cuối cùng là đóng góp vào việc xây dựng luật biểutình của Việt Nam sau này

3 Phương pháp nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu.

3.1 Phương pháp nghiên cứu:

Trang 5

Đề tài được thực hiện trên cơ sở áp dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vậtbiện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để nghiên cứu mối quan hệ giữa thực tiễnbiểu tình và các quy định của pháp luật về quyền biểu tình ở Việt Nam Ngoài racác tác giả còn sử dụng các phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp….

là một trong những tiền đề quan trọng để tiến tới việc thực hiện biểu tình Do đó,chúng ta có thể tham khảo, kế thừa những quan điểm pháp lý tiến bộ trong văn bảntrên để hoàn thiện các quy định về biểu tình trong quá trình xây dựng luật biểu tìnhcủa nước ta sau này

Bên cạnh đó, các tác giả còn tham khảo thêm những quy định của pháp luậtnước ngoài có liên quan đến quyền biểu tình của một số nước trên thế giới, đặc biệt

là hai đạo luật của Anh: Công đạo luật 1986 - Public Oder Act 1986 (POA 1986)

và Đạo luật các tội phạm nghiêm trọng có tổ chức và cảnh sát 2005 - SeriousOrganised Crime and Police Act 2005 (SOCPA 2005)

4 Tóm tắt nội dung đề tài

Đề tài bao gồm hai chương Chương I các tác giả trình bày những vấn đề lý

luận về biểu tình bao gồm 6 vấn đề sau đây

Thứ nhất: các tác giả đã đưa ra hai khái niệm biểu tình Một khái niệm dướicái nhìn từ thực tiễn và một khái niệm trên cơ sở pháp lý Để trả lời cho hai câuhỏi: biểu tình là gì ? biểu tình như thế nào là đúng pháp luật ?

Thứ hai: từ khái niệm chính thức đã nêu các tác giả đưa ra sự phân biệt giữa biểu tình và một số hình thức khác tương tự Qua đó chúng ta tránh được sựlẫn lộn trong nhận thức về các hoạt động này, tạo sự thuận lợi cho cơ quan Nhànước xử lý vi phạm một cách rõ ràng và người dân biết được việc nào nên làm,việc nào nên tránh

Thứ ba: các tác giả nêu lên ý nghĩa của biểu tình

Thứ tư: biểu tình nằm trong nhóm quyền cơ bản của công dân và khôngtách rời với những quyền cơ bản khác Để làm rõ điều đó, các tác giả đã nêu lênmối quan hệ giữa quyền biểu tình với quyền tự do ngôn luận và quyền tự do hội

Trang 6

họp Đây là hai quyền rất quan trọng làm tiền đề cho quyền biểu tình, nếu không cóhai quyền này thì biểu tình không thể thực hiện được trên thực tế.

Thứ năm: để thấy được tầm quan trọng của hoạt động biểu tình trong đờisống xã hội ngày nay Các tác giả đã nêu lên vai trò của biểu tình bao gồm hai nộidung sau

· Biểu tình là một trong những kênh thông tin tốt nhất để Nhànước nắm bắt tâm tư nguyện vọng của người dân

· Biểu tình là một cách để nhân dân hạn chế sự lạm dụng quyềnlực của cơ quan Nhà nước

Cuối cùng: các tác giả nêu lên xu hướng phát triển của biểu tình trên thếgiới Việc đảm bảo quyền biểu tình cho người dân là một xu thế tất yếu trên toàncầu Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng hơn với tất cả các nước Vì thế, luậthóa quyền biểu tình là điều cần thiết và chúng ta cũng nên theo xu hướng chungnày

Trong chương II từ các quy định của pháp luật liên quan đến quyền biểutình ở Việt Nam và các nước trên thế giới các tác giả đã phân tích, so sánh để nêubật lên những ưu điểm, hạn chế Từ đó rút ra những giải pháp cho kiến nghị xâydựng luật biểu tình ở Việt Nam bao gồm các mục sau:

1 Quy định về việc thông báo khi tổ chức biểu tình

2 Cấm hoặc hạn chế một số hình thức biểu tình trong một số trường hợp

3 Cấm và thời gian cấm biểu tình

4 Phạm vi cấm biểu tình

5 Vấn đề quy trách nhiệm

5.1 Trách nhiệm của cá nhân, tổ chức

5.2 Trách nhiệm của cơ quan Nhà nước

6 Chế tài xử phạt

7 Cấm sử dụng loa ở một số địa điểm

8 Quyền hạn chế hoặc giải tán cuộc biểu tình của Nhà nước

9 Lấy ý kiến đóng góp của nhân dân về dự thảo xây dựng luật biểu tình

CHƯƠNG INHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN BIỂU TÌNH

1 Khái niệm biểu tình

Trang 7

Biểu tình là một vấn đề phức tạp Hiện nay, trên thế giới chưa có một định

nghĩa về biểu tình thật sự thống nhất Những nước khác nhau có những quan điểm

về biểu tình cũng khác nhau Luật pháp của nhiều quốc gia thừa nhận quyền biểutình nhưng hầu hết lại không định nghĩa thế nào là biểu tình

Theo bách khoa toàn thư Bắc Mỹ (Encyclopaedia Americana) thì biểu tình được hiểu “là hành động bất bạo lực của một nhóm người, nhằm mục đích đưa đến cộng đồng một quan điểm hay một cách nhìn về một vấn đề nào đó trong xã

hội[1]” Định nghĩa này đã nêu được ba yếu tố hợp thành đó là Thứ nhất: hành

động bất bạo lực Thứ hai: sự tham gia của một nhóm người Thứ ba: mục đích của

biểu tình nhằm đưa đến cộng đồng một quan điểm hay một cách nhìn về một vấn

đề nào đó trong xã hội Nhược điểm của định nghĩa này ở chỗ

Thứ nhất: hành động bất bạo lực Trên thực tế, biểu tình không hẳn chỉ đơn

thuần là hành động bất bạo lực Hầu hết, mọi cuộc biểu tình ban đầu diễn ra mộtcách ôn hòa nhưng ở giai đoạn cuối thường có kèm theo cả những hành động bạolực ở những mức độ khác nhau như xô xát nhỏ, ném chai lọ Ví dụ: phong tràochống thuế ở Trung Kỳ mà tiêu biểu là ở Huế “Từ đầu tháng 4 - 1908 nhân dânThừa Thiên biểu tình, bọn cầm quyền vội điều binh lính tới ngăn chặn, bọn lính nổsúng bắn chết một người Đám biểu tình xông lên tước khí giới chúng rồi trói tênPhó Lãnh Binh và bắt Viên Phủ Doãn phải dẫn đầu đoàn biểu tình Trên đường kéo

về Huế, một số nơi đã bố trí sẵn để cắt tóc ngắn và khâu ngắn lại cho những ai cònbúi tóc và mặc áo dài[2] Trong ví dụ này, ban đầu đoàn biểu tình không có hànhđộng bạo lực nhưng khi lợi ích của họ bị xâm phạm, một số hành động bạo lực đãxảy ra đó là “xông lên tước khí giới, trói tên phó lãnh binh” Như vậy, biểu tìnhđược xem là hành động bất bạo lực một cách hoàn toàn thì không ổn Nếu ta xétriêng rẽ hành động của từng người và dựa vào định nghĩa của biểu tình, bạo loạn,bạo động thì có thể phân biệt đó là hành động biểu tình hoặc bạo động, bạo loạnmột cách rõ ràng Nếu xét hành động biểu tình trong tổng thể của cả một tập đoànngười thì rất khó Ví dụ: một cuộc biểu tình có nửa triệu người tham gia Nămngười có hành động bạo lực còn lại tất cả đều không có hành động bạo lực Trongtrường hợp này rõ ràng có bạo lực xảy ra, nếu căn cứ theo định nghĩa trên thì đâykhông được gọi là một cuộc biểu tình Bởi vì, để được gọi là biểu tình thì tất cảmọi người tham gia đều không được có hành động bạo lực Nếu vì hành động bạolực của năm người mà xem đây không phải là một cuộc biểu tình thì quá cứngnhắc

Thứ hai: số lượng người tham gia Định nghĩa đưa ra một định mức ở một

nhóm người Quan điểm này cho thấy, biểu tình phải có nhiều người tham gianhưng chỉ giới hạn ở một nhóm người thì quá hạn hẹp Nhiều cuộc biểu tình có đếnvài chục vạn người tham gia, thậm chí thu hút gần như toàn bộ cư dân của mộtthành phố thì không thể gọi là một nhóm người được Ví dụ cuộc biểu tình của 70

Trang 8

vạn quần chúng Sài Gòn ngày 16 – 6 - 1963 đã lôi kéo gần như mọi tầng lớp nhândân[3] Cuộc biểu tình ngày 15 – 3 - 2010 ở Thái Lan do phe Áo đỏ phát động đãthu hút khoảng một trăm ngàn người[4] Một nhóm người là quá nhỏ, khái niệm đókhông thể bao hàm hết một lượng người quá lớn lên đến hàng vạn hoặc hàng triệungười.

Thứ ba: mục đích của cuộc biểu tình Hoạt động biểu tình nhằm đưa đến

một quan điểm hay hay cách nhìn về một vấn đề nào đó trong xã hội Theo các tácgiả thì sự thống nhất về cách nhìn hay quan điểm đúng là mục đích của biểu tìnhnhưng đó không phải là mục đích cuối cùng Nếu ta chỉ dừng ở đó thì không triệt

để Thực chất, cái đích của người biểu tình là làm sao cho quyền lợi của mình, củachủ thể khác hoặc của xã hội được đáp ứng Các chủ thể bị phản đối cần phải có sựthay đổi để đáp lại nguyện vọng của người biểu tình Quan điểm hay cách nhìnthống nhất chỉ là một bước mà người biểu tình mong muốn và cần đạt cho bằngđược, để đưa đến mục đích cuối cùng là quyền lợi Đó có thể là những lợi ích vềvật chất hoặc tinh thần, trực tiếp hay gián tiếp Theo các tác giả để được xem làbiểu tình trên thực tế thì nhất thiết phải có ba yếu tố sau

Thứ nhất: nhiều người tham gia Thứ hai: phải thể hiện sự ủng hộ hay phản đối công khai Thứ ba: mục đích của biểu tình nhằm đòi hỏi quyền lợi cho mình cho xã hội hoặc cho một đối tượng nào đó.

Thứ nhất: có nhiều người tham gia Bất kỳ một cuộc biểu tình nào nổ ra

cũng phải tập hợp được một lực lượng đông đảo Họ bày tỏ những quan điểm củamình và phản đối chính sách của Nhà nước, tổ chức hay cá nhân nào đó Đấu tranhbằng phương pháp hòa bình là chủ đạo nên phải nhiều người mới tạo được sứcmạnh cần thiết để tác động đến những chủ thể mà họ không bằng lòng Ví dụ: cuộcbiểu tình đòi thả Phan Bội Châu có hàng vạn người đủ các tầng lớp nhân dân[5].Lịch sử hình thành của quyền biểu tình cũng được thực hiện dưới hình thức nhiềungười Họ có thể có những cách thức đấu tranh khác nhau nhưng không đối lập.Tất cả những người biểu tình có điểm chung đó là: hướng đến đối tượng mà họ ủng

hộ hay phản đối để đòi hỏi những gì mà mình mong muốn Vì thế, người biểu tình

có nhu cầu liên kết lại Một người lẻ loi đứng ra bày tỏ quan điểm ủng hộ hay phảnđối về bất cứ một vấn đề nào thì chưa từng có tiền lệ gọi đây là hành động biểutình

Biểu tình thể hiện dưới nhiều hình thức như: diễu hành[6], chiếm đóng[7],giả chết Sau đây là đặc điểm và một số ví dụ về từng hình thức biểu tình trên

Diễu hành hay còn gọi là mít tinh được hiểu là việc xuống đường của nhiều

người di chuyển trong trật tự từ địa điểm này đến địa điểm khác Ở Việt Nam cũnghay tổ chức những cuộc mít tinh mừng ngày giải phóng hoàn toàn Miền Namthống nhất đất nước 30 tháng 4 hay ngày quốc tế lao động 1 – 5 Đoàn người vừa

Trang 9

đi vừa hô khẩu hiệu theo sự chỉ dẫn của những người tổ chức Đây cũng là mộthình thức biểu tình nhưng được thể hiện dưới dạng ủng hộ Thông thường, Nhànước đứng ra tổ chức và người dân tham gia.

Chiếm đóng được hiểu là sự bao vây của nhiều người quanh một địa điểm

nhất định nào đó trong một khoảng thời gian Ví dụ: cuộc biểu tình của hàng chụcngàn người tại Thái Lan ngày 3 – 4 -2010 “Các tòa nhà văn phòng và hàng chụctrung tâm thương mại sầm uất tại thủ đô Bangkok đã phải đóng cửa vì lý do anninh Giao thông trên nhiều tuyến phố bị tê liệt Người biểu tình áo đỏ cho biết họ

sẽ tiếp tục chiếm đóng các trung tâm thương mại cho tới khi nào yêu cầu của họđược đáp ứng Rất nhiều người biểu tình Áo đỏ đã ngủ lại qua đêm trên hèphố.”[8]

Giả chết được hiểu là hình thức biểu tình khổ hạnh Thông thường, người

biểu tình sắp đặt một cảnh tượng chết chóc bi thương để phản đối những vấn đềcũng mang tính chết chóc như chiến tranh hay một sản phẩm nào đó có hại tương

tự Ví dụ: một nhóm sinh viên Mỹ biểu tình chống chiến tranh tại Iraq Họ tậptrung ở những nơi công cộng Tất cả nằm ra giả như đã chết, bên cạnh họ có nhữngtấm khẩu hiệu yêu cầu chấm dứt chiến tranh ngay lập tức

Thứ hai: phải thể hiện sự ủng hộ hay phản đối công khai Dù biểu tình

được thực hiện dưới hình thức nào cũng phải thể hiện sự phản đối hoặc ủng hộcông khai Những chính sách hay quyết định của bất kỳ Nhà nước, tổ chức, cánhân nào gây phương hại đến những người khác đều có thể trở thành đề tài phảnđối của người biểu tình Ví dụ: phe Áo đỏ ở Thái Lan phát động một cuộc biểu tìnhtrên quy mô lớn phản đối các nhà lãnh đạo và sự điều hành của Chính phủ Ngườiđứng đầu và đoàn biểu tình “gây sức ép đòi Thủ tướng từ chức, giải tán Hạ Viện vàtiến hành bầu cử sớm”[9] Trong trường hợp này, người biểu tình rõ ràng thể hiệnthái độ không đồng tình với những chủ trương mà những người đứng đầu Chínhphủ đưa ra Tuy nhiên, biểu tình không chỉ thể hiện sự phản đối, mà trong nhiềutrường hợp nó còn bày tỏ sự ủng hộ Nhiều vấn đề người dân bày tỏ thái độ ủng hộ,đơn thuần chỉ vì họ thấy nó phù hợp, đem lại lợi ích cho mình và xã hội NếuChính phủ hoặc tổ chức, cá nhân đang có những lựa chọn cách giải quyết cho mộtvấn đề nào đó thì sự ủng hộ của người biểu tình góp phần củng cố quyết tâm củanhững chủ thể đưa ra quyết định hơn Ví dụ: cuộc biểu tình ngày 19 – 4 - 2010 củangười dân New York “Cuộc biểu tình do Chiến dịch Hỗ trợ và trách nhiệm với cácnạn nhân chất độc da cam dioxin Việt Nam phát động đã diễn ra tại công viênProspect, nơi diễn ra sự kiện chạy vì nước sạch của công ty Dow tổ chức Nhữngngười tổ chức biểu tình cho rằng công ty Dow đang lợi dụng các hoạt động như:Chạy vì nước sạch để che giấu hành vi gây ô nhiễm nguồn nước và phá hủy hệ sinhthái ở Việt Nam và nhiều nơi khác”[10]

Trang 10

Sự phân biệt giữa ủng hộ hay phản đối cũng chỉ ở mức tương đối vì nhiềucuộc biểu tình có sự đan xen giữa hai yếu tố này Thông thường, một cuộc biểutình ủng hộ ai đó thì đồng thời cũng là một biểu hiện cho sự phản đối với bên kia.Điển hình trong cuộc chiến tranh giữa Mỹ và Việt Nam Người dân yêu chuộnghòa bình trên toàn thế giới tổ chức nhiều cuộc biểu tình phản đối cuộc chiến của

Mỹ tại Việt Nam Những cuộc biểu tình như thế này không thể nói chỉ có sự phảnđối Thông qua sự không đồng tình với nhà cầm quyền Mỹ, người biểu tình đã trựctiếp hoặc gián tiếp ủng hộ với sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam Sự tụhọp đông người không thể hiện sự phản đối hoặc ủng hộ thì không là biểu tình Cóthể đó là sự tụ họp, bàn bạc, thảo luận để đưa ra ý kiến mang tính chất đóng góphay bổ sung Cách thức thể hiện cũng được thể hiện dưới những hình thức khácnhau nhưng biểu tình phải công khai Bản chất của biểu tình nằm ở chỗ Bằng sứcmạnh của số đông, người biểu tình muốn truyền tải thông điệp đến đối tượng mà

họ hướng đến ngay lập tức và nhanh chóng Cho nên, sự công khai là đặc điểm bắtbuộc Ví dụ: “cuộc biểu tình đòi thả Phan Bội Châu năm 1925 thu hút đông đảothanh niên, sinh viên, học sinh Họ giương cao biểu ngữ, phân phát truyền đơn,phản đối sự bắt bớ đối với Phan Bội Châu Có những tờ đơn kháng cáo còn đượcgửi tới tận Hội Quốc Liên, Tòa án quốc tế Lahay (Hà lan), Nghị Viện Pháp đòi hủybản án cho Phan Bội Châu[11]”

Thứ ba: mục đích của biểu tình nhằm đòi hỏi quyền lợi cho mình, cho chủ thể khác hoặc cho xã hội.

Điều cốt yếu nhất của hiện tượng biểu tình đó là sự xung đột lợi ích giữacác giai cấp, tầng lớp, nhóm xã hội Người ta đi biểu tình vì chính Nhà nước, tổchức, cá nhân nào đó làm ảnh hưởng đến quyền lợi của họ, của chủ thể khác hoặccủa xã hội Người biểu tình nhận thấy rằng, nếu cứ để tình trạng đó diễn ra thì thật

sự không tốt bằng cách họ tập hợp nhau lại đấu tranh đòi quyền lợi Thời gian gầnđây, người dân trên khắp thế giới biểu tình chống chiến tranh, đòi bảo vệ môitrường sinh thái, bảo vệ động vật hoang dã Những hành động ấy là sự thể hiện cho

ý thức bảo vệ lợi ích của xã hội loài người một cách lâu dài

Từ những sự phân tích trên thực tế, các tác giả đưa ra định nghĩa trong thựctiễn về biểu tình như sau:

Biểu tình là sự tập hợp của nhiều người để bày tỏ thái độ phản đối hay ủng

hộ công khai về một vấn đề nào đó trước Nhà nước, tổ chức hoặc cá nhân nhằmđòi hỏi quyền lợi cho mình, cho chủ thể khác hoặc cho xã hội

Trên thực tế, biểu tình còn có cả hành động bạo lực xen vào Chính yếu tốbạo lực làm cho tình hình khó kiểm soát, dễ dẫn đến tình trạng cuộc biểu tình ônhòa chuyển hóa thành bạo động hoặc bạo loạn Một khi có bạo loạn hoặc bạo độngxảy ra thì quyền lợi của cả người biểu tình và những chủ thể mà họ hướng đến đều

Trang 11

bị ảnh hưởng Sự chết chóc, xung đột vũ trang, mâu thuẫn nội bộ càng làm cho tìnhhình thêm phức tạp Nếu chúng ta thừa nhận biểu tình có bạo lực dẫn đến việc Nhànước khó có thể kiểm soát được sự ổn định và phát sinh một số khó khăn trên thựctiễn Bởi vì, đó đã là quyền của người biểu tình, Nhà nước mà ngăn cản thì chínhNhà nước lại vi phạm pháp luật do mình ban hành Nếu Nhà nước không ngăn cảnthì tình hình xã hội càng phức tạp thêm.

Việc các tác giả phân tích tỷ mỷ thế nào là biểu tình không phải để tranh cãithế nào là biểu tình, mà để đưa ra một định nghĩa về biểu tình thật toàn diện và phùhợp với thực tiễn hiện nay nhằm xây dựng luật biểu tình Trên cơ sở kiến nghị xâydựng một văn bản pháp luật về vấn đề biểu tình Văn bản pháp luật đó không chỉđáp ứng được những đòi hỏi rất bức thiết của người biểu tình mà đó còn là công cụ

để Nhà nước kiểm soát xã hội Dù thực tế, biểu tình có diễn ra như thế nào nhưng

để đảm bảo được lợi ích chung thì pháp luật vẫn phải có sự hạn chế nhất định Sựhạn chế này không phải vì Nhà nước thu hẹp quyền biểu tình của người dân màmục đích nhằm bảo vệ sự an toàn của chính người biểu tình và sự ổn định chính trị,tạo điều kiện cho kinh tế xã hội phát triển toàn diện

Đứng trên phương diện pháp luật, các tác giả đưa ra định nghĩa chính thức

về biểu tình như sau:

Biểu tình là sự tập hợp tự nguyện từ mười người trở lên, hành động mangtính phi bạo lực, để bày tỏ thái độ phản đối hay ủng hộ công khai về một vấn đềnào đó trước Nhà nước, tổ chức hoặc cá nhân nhằm đòi hỏi quyền lợi cho mình,cho chủ thể khác hoặc cho xã hội

Con số mười người mà các tác giả đề xuất ở định nghĩa trên chỉ mang tínhtương đối Qua thực tế cho thấy, biểu tình phải tập hợp được một lượng ngườiđông đảo, hai hoặc ba người không thể làm nên một cuộc biểu tình được Chúng takhông nên quy định theo kiểu “có nhiều người tham gia” bởi vì hai người trở lêncũng được xem là nhiều người Tuy khó nhưng luật phải đưa ra một con số cụ thể,giới hạn nhỏ nhất là bao nhiêu để làm căn cứ xác định đâu là biểu tình Nếu dựavào bản chất của biểu tình thì không thể xác định được chính xác phải có tối thiểubao nhiêu người tham gia thì sẽ được coi là một cuộc biểu tình Sự lựa chọn con sốmười người, mười lăm người hoặc một con số khác làm định lượng tối thiểu để coi

đó là một cuộc biểu tình phần lớn do chủ quan của mỗi nhà làm luật ở mỗi quốcgia Việc xác định một con số tối thiểu sẽ giúp cho Nhà nước dễ dàng quản lý vàcông nhận một cuộc biểu tình, tránh tình trạng luật không có quy định dẫn đến mộtnhóm hai hoặc ba cũng đòi biểu tình nhưng hiệu quả của biểu tình không cao, đồngthời Nhà nước phải quản lý thêm nhiều những cuộc biểu tình quá nhỏ bé

So sánh định nghĩa về biểu tình trên cơ sở pháp luật với thực tiễn chúng ta

thấy có ba điểm giống nhau Thứ nhất: đều là sự tập hợp của nhiều người Thứ

Trang 12

hai:đều bày tỏ thái độ phản đối hay ủng hộ công khai về một vấn đề nào đó trước Nhà nước, tổ chức hoặc cá nhân Thứ ba: về mục đích biểu tình Những đặc điểm

này nhóm tác giả đã phân tích ở trên Ở đây, các tác giả chỉ phân tích thêm hai sự khác biệt giữa hai định nghĩa này đó là: tính tự nguyện và tính phi bạo lực

Thứ nhất: tính tự nguyện Không phải mọi sự tụ họp đều có thể coi đó là

biểu tình Chỉ những sự tụ họp nào mà người tham gia có sự tự ý thức được rằng:cần phải biểu tình hoặc có sự tác động từ người khác dẫn đến người bị tác độngtham gia biểu tình nhưng sự tác động đó không phải là lôi kéo, dụ dỗ, mua chuộchay ép buộc Ví dụ: đối với những cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ tại ViệtNam, Iraq Điều đương nhiên là hành động xâm lược của Mỹ là vi phạm nghiêmtrọng độc lập và chủ quyền của Iraq và Việt Nam Bất cứ ai cũng có thể tự nhậnthấy chiến tranh xâm lược là một tội ác Vì thế, họ tập hợp nhau đi biểu tình, tuyêntruyền cho cả những người khác hiểu và cùng tụ họp lại biểu tình phản đối chiếntranh Trên thực tế, có không ít trường hợp một số người vì động cơ chính trị Họ

đã bịa đặt ra những thông tin phỉ báng chính quyền và kêu gọi người dân đi biểutình Nếu ai đi biểu tình sẽ được cho một khoản tiền, đây là những thủ đoạn muachuộc, dụ dỗ Chúng dựa vào sự không hiểu biết của người dân để thực hiện ý đồriêng Dưới gốc độ pháp lý không nên xem sự tụ họp đông người trong trường hợpnhư vậy là biểu tình

Thứ hai: tính phi bạo lực Để biểu tình diễn ra trong tình trạng ôn hòa,

quyền lợi của người biểu tình được đảm bảo An ninh trật tự vẫn được duy trì thìbiểu tình không được có bạo lực Rất nhiều cuộc biểu tình vào giai đoạn cuối xảy

ra những hành động bạo lực giữa những người biểu tình với cảnh sát, giữa đoànbiểu tình này với đoàn biểu tình khác Biểu tình phải có sự kiểm soát của Nhànước Một khi đã được luật hóa quyền biểu tình thì không thể xem những hànhđộng bạo lực đó nằm trong hoạt động của đoàn biểu tình Đó là những biến tướngcủa biểu tình Ta nên dựa vào những hành vi cụ thể để xử phạt hành chính hay truycứu trách nhiệm hình sự nếu thỏa mãn những dấu hiệu theo quy định của pháp luật

Có như vậy, Nhà nước mới có thể kiểm soát được an ninh trật tự, đấu tranh có hiệuquả với những người có âm mưu lợi dụng biểu tình để gây rối Ví dụ: một ngànngười biểu tình ở thành phố A tỏ thái độ không đồng tình với chính quyền trongviệc chậm trễ xử lý nguồn nước ô nhiễm, gây ảnh hưởng đến cuộc sống của ngườidân Ban đầu, đoàn người diễu hành trong trạng thái ôn hòa nhưng khi đến trụ sở

Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố A Mười người người biểu tình đã tấn công nhânviên bảo vệ, ném gạch đá vào cảnh sát cơ động, đập phá tường rào Trường hợpnày, chúng ta không nên công nhận hành động bạo lực của mười người sau khi đếntrụ sở Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố A nằm trong hoạt động biểu tình mà xem xét

nó như những hành vi độc lập để xử lý

Trang 13

Khái niệm của bất cứ một vấn đề nào đó luôn rất quan trọng, đặc biệt đối

với biểu tình khi mà chúng ta còn nhiều cách hiểu khác nhau và chưa có định nghĩachính thức Với vấn đề này các tác giả có kiến nghị như sau Khi tiến hành xâydựng luật biểu tình thì phải đưa ra khái niệm rõ ràng về biểu tình để khi nhìn vào

đó chúng ta thấy được những đặc trưng riêng có Từ đó, đưa ra những khái niệmpháp lý khác để phân biệt các hoạt động tương tự với biểu tình Đó là các kháiniệm về bạo loạn, bạo động, nổi loạn, ẩu đả…

2 Phân biệt giữa biểu tình với một số hoạt động khác

Quan niệm về biểu tình đã không thật sự thống nhất còn cách hiểu củachúng ta nhiều khi vẫn có sự lẫn lộn giữa hoạt động biểu tình với một số hoạt độngtương tự khác như: bạo động, bạo loạn, ẩu đả …Sự mập mờ ấy không chỉ gây khókhăn cho hoạt động nghiên cứu nói chung mà còn dẫn đến nhiều cách hiểu và ápdụng pháp luật không thật sự thống nhất Ví dụ: một nhóm người kéo nhau diễuhành ở đường Sau đó họ tập trung quanh trụ sở của Ủy Ban Nhân Dân huyện Ađòi chính quyền phải giảm thuế sử dụng đất, tăng cường tiếp xúc để cung cấpthông tin cho nhân dân Trong trường hợp này, ta xem những hành động vây quanhtrụ sở của ủy Ban Nhân Dân, đưa ra những yêu sách là biểu tình hay bạo loạn, bạođộng Việc xét hành động đó vào loại nào có vai trò cực kỳ quan trọng Bởi vì, Nhànước sẽ áp dụng những chế tài xử lý mà hậu quả của nó hoàn toàn khác nhau Nếuxem đó là hoạt động biểu tình thì chính quyền có nghĩa vụ lắng nghe và tiếp thu ýkiến để đưa ra cách thức giải quyết thoả đáng cho người dân Nếu chính quyền cho

đó là hành động bạo loạn, có ý đồ chống chính quyền nhân dân thì không nhữngnhóm người đó không được đáp ứng quyền lợi gì mà còn có thể bị xử phạt hànhchính hoặc hình sự

Chính sự khác biệt về cách thức xử lý, hậu quả để lại cho người bị xử phạt,quyền và nghĩa vụ của chính quyền khi xem xét hành động đó là biểu tình hoặc bạoloạn, bạo động buộc chúng ta phải có sự phân biệt rõ ràng Có như vậy, quyền vàlợi ích hợp pháp của Nhà nước và người dân mới được đảm bảo

Theo bách khoa toàn thư mở Wikipedia “Bạo loạn” là một hành động chống phá bằng bạo lực có tổ chức do lực lượng phản động hay lực lượng ly khai, đối lập trong nước hoặc cấu kết với nước ngoài tiến hành nhằm gây rối loạn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội hoặc lật đổ chính quyền (địa phương hoặc

trung ương)[12]”.

Mục 2.2 (POA 1986 ) thì bạo loạn (Violent disorder.) được hiểu là trường hợp từ ba người trở lên có mặt cùng sử dụng hoặc đe dọa sử dụng bạo lực bất hợp pháp và hành động của họ là nguyên nhân chủ yếu tại hoàn cảnh đó làm cho một người bình thường tại hiện trường lo sợ cho an toàn cá nhân mình, mỗi người sử

dụng hoặc đe dọa sử dụng bạo lực bất hợp pháp là phạm tội bạo loạn[13].

Trang 14

Mục 1.1 (POA) thì bạo động (Riot) được hiểu là trường hợp từ 12 người trở lên có mặt cùng sử dụng hoặc đe dọa sử dụng bạo lực bất hợp pháp cho một mục đích chung và hành động của họ là nguyên nhân chủ yếu tại hoàn cảnh đó làm cho một người bình thường tại hiện trường lo sợ cho an toàn cá nhân mình, mỗi người

sử dụng bạo lực bất hợp pháp là phạm tội bạo động[14].

Theo bách khoa toàn thư Việt Nam “Bạo động là hoạt động của một số

đông người dùng bạo lực nổi dậy nhằm lật đổ chính quyền[15]”.

Qua định nghĩa về bạo động và bạo loạn nêu trên ta có thể thấy giữa chúng

có điểm chung sau Thứ nhất: bạo động và bạo loạn phải có nhiều người tham gia.Thứ hai: bạo động và bạo loạn phải mang tính bạo lực Thứ ba: mục đích của

bạo động và bạo loạn nhằm gây rối an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội hoặc lật

đổ chính quyền

Sự khác biệt giữa biểu tình với bạo động, bạo loạn thể hiện ở những điểm sau.

Thứ nhất: về tính bạo lực Bạo động và bạo loạn luôn luôn có kèm theo

hành động bạo lực Từ khi bắt đầu đến khi kết thúc, hành động bạo lực là chủ đạo

và xuyên suốt Cuộc bạo động năm 2003 tại Gia Lai và Đắc Lắc là một ví dụ Dưới

sự kích động của bọn phản động nước ngoài Những người dân tộc thiểu số mang

vũ khí các loại, tập trung chiếm trụ sở của chính quyền, đập phá nhiều công trìnhcông cộng Hành động bạo lực này là có chủ ý và có sự chuẩn bị từ trước nhằm lật

đổ chính quyền nhân dân và lập nên Nhà nước tự trị Đề Ga Biểu tình không kèmtheo hành động bạo lực, nếu có bạo lực xảy ra trong lúc biểu tình thì hành động đóchỉ là những biến tướng Người có hành động bạo lực ấy sẽ bị xử lý riêng biệt vàhành động ấy không được xem là biểu tình Ý chí chủ đạo của đoàn biểu tình vẫn

là ôn hòa, không chủ trương dùng bạo lực để giải quyết vấn đề Thông thường bạolực chỉ xảy ra vào giai đoạn cuối Cuộc biểu tình ngày 2 - 6 - 2007 của người dânthành phố Rostock là một ví dụ “Cuộc biểu tình bắt đầu trong tinh thần hòa hoãn,phần lớn người biểu tình không có ý muốn bạo động Tuy nhiên, một số trong đoànbiểu tình đã gây hấn với lực lượng cảnh sát và bạo động xảy ra đã đẩy thành phốcảng Rostock ở phía bắc nước Ðức vào tình trạng hỗn loạn[16]”

Thứ hai: về mục đích Bạo động và bạo loạn nhằm gây rối an ninh chính trị,

trật tự an toàn xã hội, hoặc lật đổ chính quyền Trong khi đó, mục đích của ngườibiểu tình không phải đi gây rối an ninh chính trị hoặc lật đổ chính quyền mà họ đòihỏi quyền lợi cho mình, cho chủ thể khác hoặc cho toàn xã hội thông qua đấu tranh

ôn hòa Ví dụ cuộc biểu tình chống đạo luật hôn nhân gia đình sửa đổi của Italiangày 12 – 5 - 2007 “Những người biểu tình đã yêu cầu Quốc hội bác bỏ đạo luật

kể trên bởi nó "phi truyền thống" và sẽ hủy hoại các gia đình truyền thống[17]”.Các nước phát triển Châu Âu thường có tỷ lệ sinh thấp Vì thế, việc Chính phủ

Trang 15

thông qua Luật hôn nhân gia đình sửa đổi có nội dung trao thêm quyền cho nhữngcặp kết hôn đồng giới đã thật sự đe dọa đến tương lai của xã hội Đặc biệt, nó viphạm tính truyền thống của người Italia Họ đi biểu tình vì muốn bảo vệ những giátrị truyền thống và sự phát triển bình thường của cả dân tộc.

3 Ý nghĩa của biểu tình

Hoạt động biểu tình là sự thể hiện sự dân chủ Thông qua hoạt động biểutình người dân được thực hiện cả hai quyền rất quan trọng nằm trong các quyền cơbản của công dân đó là quyền tự do ngôn luận và tự do tụ họp Bên cạnh đó thôngqua hoạt động biểu tình người dân được quyền nói lên những quan điểm của mìnhmột cách công khai và mạnh mẽ nhất đối với các chủ thể khác mà đặc biệt là đốivới Nhà nước Sự tự do dân chủ thể hiện ở chỗ người dân không chỉ dừng lại ởviệc nói lên các quan điểm suy nghĩ của mình, mà trong những trường hợp cụ thể

họ có thể đấu tranh thông qua hoạt động biểu tình làm cho các chủ thể khác đápứng quyền lợi chính đáng của mình

Trong điều kiện nước ta hiện nay, điều này toàn toàn phù hợp với chủtrương xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh của Đảng và Nhà

nước Theo Điều 3 Hiến Pháp 1992 có ghi nhận: “Nhà nước đảm bảo và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân, thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh…”

Luật hóa quyền biểu tình sẽ làm nâng cao tính dân chủ trong đời sống xãhội, thể hiện rõ Nhà nước ta là Nhà nước của dân do dân và vì dân Một xã hội màngười dân không được tự do nói lên những gì mà mình muốn chứng tỏ xã hội đócòn bị hạn chế dân chủ

Chính vì có ý nghĩa quan trọng trong việc thể hiện một nền dân chủ trong xã hội.Bên cạnh đó, Nhà nước chúng ta đang xây dựng là Nhà nước của dân do dân và vìdân Lấy mục tiêu luôn đặt con người ở vị trí trung tâm của sự phát triển của xãhội

4 Vì sao phải luật hóa biểu tình trong trong thời gian sớm nhất.

Khi nghiên cứu vấn đề biểu tình trong thực tiển nước ta,, các tác giả cho rằng việc xây dựng luật biểu tình trong điều kiện nước ta ngày nay là hoàn toàn phù hợp và cần thiết Điều này thể hiện qua những mặt sau đây:

Sự đòi hỏi của một nền pháp chế.

Trong quá trình xây dựng mô hình Nhà nước của dân do dân và vì dân, Đảng và Nhà nước ta đã tiếp thu nhiều quan điểm tiến bộ để thực hiện mục tiêu của mình Trong đó, quan điểm về một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đã được thừa nhận rộng rãi là một trong những bước đi tiếp theo trong quá trình xây

Trang 16

dựng mô hình Nhà nước của dân do dân và vì dân Nhận thức này ngày càng thốngnhất trong toàn Đảng và được khẳng định rõ tại Đại hội IX của Đảng (4 - 2001):

Nhà nước ta là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là Nhà

nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân.[18]

Quan điểm này đã được thể hiện trong việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 và cụ thể

hóa trong Điều 2: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”.

Khái niệm về Nhà nước pháp quyền được hiểu theo nguyên nghĩa là sự tối thượng của pháp luật hay chế độ chính trị pháp trị (The rule of law) Nó bao gồm hai nội dung sau (1) Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật và (2) Nhà nước bị ràng buộc bởi pháp luật[19]

Tư tưởng Nhà nước pháp quyền không chỉ dừng lại ở việc thiết lập một khuôn khổ pháp lý nhằm chế ngự quyền lực nhà nước, thực hiện quyền dân chủ màcòn hướng tới một xã hội phát triển bền vững, toàn diện và tích cực nhằm giải phóng con người[20]

Xuất phát từ bản chất của Nhà nước ta là nhà nước dân chủ của dân, do dân, vì dân nên nhiệm vụ của hệ thống pháp luật nước ta là phải đảm bảo các quyền con người, quyền công dân cho nhân dân ta được thực thi trong đời sống Ý chí lợi ích của nhân dân không chỉ dựa trên các văn bản pháp luật mà cần phải trở thành những ứng xử trên thực tế

Ngày nay, Đảng và Nhà nước ta đang từng bước xây dựng một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân do dân và vì dân bằng việc từng bước hoàn thiện một hệ thống pháp luật dân chủ và tiến bộ nhằm đảm bảo quyền lợi cho nhân dân Tuy nhiên, vẫn còn những quyền công dân mà thực tế chưa đi vào đời sống, chưa thực sự trở thành những ứng xử trên thực tế Bởi vì, Nhà nước ta vẫn chưa ban hành những văn bản quy phạm pháp luật cần thiết để điều chỉnh, điển hình là vấn đề biểu tình

Đây là một hoạt động sinh hoạt chính trị phổ biến ở các nước có hệ thống pháp luật phát triển, là một hình thức thể hiện tính dân chủ của công dân trong đời sống xã hội Đặc biêt là trong một Nhà nước dân chủ như chúng ta thì đây còn là một hoạt động thể hiện ý chí của người dân đối với các vấn đề của xã hội nói chung và của Nhà nước nói riêng, để từ đó thể hiện quyền làm chủ của công dân

Biểu tình là một trong những kênh thông tin tốt nhất để Nhà nước nắm bắt được tâm tư nguyện vọng của người dân

Trang 17

Chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước trong côngcuộc xây dựng và phát triển đất nước có phù hợp hay không được phản ánh qua sựđón nhận như thế nào của nhân dân Thông qua hoạt động biểu tình, người dân sẽphản ánh một cách trung thực những quan điểm của họ đối với những chính sáchđược ban hành Khi những đường lối không được lòng dân thì biểu tình là mộtcách để Nhà nước nhận ra những điểm chưa hợp lý Nhà nước càng lắng nghe ýkiến của dân một cách tích cực thì người dân cũng có những phản ứng tích cựchơn Nếu ý kiến của mình không được lắng nghe người dân sẽ tiếp tục có sự đấutranh Sự đấu tranh ấy mà Nhà nước tiếp tục thể hiện sự thờ ơ thì nhân dân sẽ phảnứng bằng nhiều cách khác nhau như: không quan tâm gì đến những chính sách củaNhà nước, không đóng góp ý kiến khi Nhà nước tổ chức lấy ý kiến Tiêu cực hơn,nhiều người còn bất mãn tổ chức những cuộc bạo loạn, khủng bố, nội chiến làmcho đất nước cực kỳ hỗn loạn Gốc rễ sự ổn định của đất nước là ở nhân dân Vìthế, việc Nhà nước tiếp thu và giải quyết những bức xúc trong lòng dân là mộttrong những cách để duy trì sự ổn định xã hội, tận dụng mọi nguồn lực trong nhândân để phát triển đất nước.

Đòi hỏi của sự ổn định chính trị và trật tự xã hội

Thực tế nhiều năm nay ở Việt Nam, các phần tử phản động, thù địch

thường kích động, lôi kéo, dụ dỗ người dân biểu tình ở nhiều địa phương[21] Hệquả của các cuộc biểu tình này là gây mất ổn định xã hội rất cao

Việc các thế lực thù địch, phản động có thể tiến hành các hoạt động chốngphá ta bằng hình thức biểu tình một phần là do sự nhận thức kém của người dânnên dễ bị kẻ xấu lợi dụng, nhưng một phần cũng không kém quan trọng là do việcchúng ta thiếu những quy định về mặt pháp lý trực tiếp điều chỉnh vấn đề biểu tình

từ đó tạo ra khe hở để những thế lực nêu trên lợi dụng Bên cạnh đó, các hình thứcgần giống với biểu tình như bạo động, bạo loạn vẫn chưa có sự phân biệt rõ ràngvới biểu tình trên cơ sở pháp lý nên các phần tử xấu đồng nhất các hoạt động bạođộng bạo loạn là biểu tình và cho rằng đó là sự thể hiện dân chủ

Từ đó cho thấy, Nhà nước cần phải có một công cụ pháp lý để hạn chế việclợi dụng biểu tình của các phần tử xấu nhằm chống phá chế độ ta Vì vậy xây dựngluật biểu tình nhằm đáp ứng được yêu cầu này

Biểu tình là một cách để nhân dân hạn chế sự lạm dụng quyền lực từ phía

cơ quan Nhà nước

Hầu hết các Nhà nước sau khi ra đời đều có xu hướng lạm dụng quyền lực.

Từ sự lạm dụng quyền lực này sẽ dẫn đến nhiều tiêu cực phát sinh Tuy có quyềnlực rất lớn nhưng Nhà nước không thể bất chấp mọi phản ứng của nhân dân để làmtất cả mọi việc theo quan điểm của mình Thông qua biểu tình, nhân dân có thểngăn ngừa hoặc ít nhất cũng làm giảm bớt sự lạm dụng quyền lực của Nhà nước

Trang 18

Sự hạn chế quyền lực này của nhân dân thông qua cơ chế tự do ngôn luận, tự dohội họp, tự do thông tin, bàn bạc tranh luận Nhân dân có thể kiểm tra và theo dõiviệc thực hiện quyền lực Nhà nước và có thể thách thức hoặc “đạp đổ” hoặc “đuổiChính phủ đi”[22] “Sự giám sát của nhân dân sẽ dẫn đến một hệ quả rất quantrọng là nhân dân sẽ chế ngự bằng việc biểu tình phản đối hoặc thay đổi Chính phủmột cách hòa bình hoặc phương thức cuối cùng là nổi dậy bằng khởi nghĩa, đấutranh vũ trang”[23].

5 Mối quan hệ giữa quyền biểu tình với biểu tình và một số quyền khác Theo nhóm tác giả thì quyền là khả năng của một chủ thể được làm hay không làm một việc gì đó trong giới hạn mà những chủ thể khác không được phép ngăn cản.

Từ nhận định trên, ta có thể rút ra quyền biểu tình được hợp thành bởi haiyếu tố đó là: quyền cộng với khái niệm biểu tình

Như vậy, quyền biểu tình là khả năng của bất cứ ai, tự nguyện tập hợp từ mười người trở lên, hành động mang tính phi bạo lực, để bày tỏ thái độ phản đối hay ủng hộ công khai về một vấn đề nào đó trước Nhà nước, tổ chức hoặc cá nhân Mục đích làm cho những chủ thể đó phải có những biện pháp thích hợp để đáp ứng lợi ích của mình, của chủ thể khác hoặc của xã hội.

5.1 Quan hệ giữa biểu tình và quyền biểu tình là mối quan hệ giữa lý luận

và thực tiễn

Biểu tình là một hiện tượng trong xã hội có Nhà nước Hành động biểu tình

vẫn cứ tồn tại mặc cho Nhà nước có thừa nhận nó hay không Biểu tình góp phầnbày tỏ tiếng nói của mọi cộng đồng người Khi mà xã hội vẫn còn sự bất bình đẳngthì đây là đòi hỏi khách quan Vì vậy, Nhà nước không thể mãi mãi ngăn cản.Hành động biểu tình tồn tại một cách dai dẳng trong đời sống kinh tế xã hội, đếnmột thời điểm nhất định nó trở nên phổ biến Nhà nước nhận thức được tầm quantrọng và sức ảnh hưởng to lớn không chỉ đến kinh tế mà cả chính trị xã hội Từ đó,Nhà nước buộc phải thừa nhận và nâng chúng lên thành luật, nhằm ổn định trật tự

xã hội và áp đặt ý chí lên giai cấp khác nhằm điều chỉnh hệ tư tưởng theo đúng quỹđạo của mình Biểu tình và quyền biểu tình là hai mặt của một vấn đề Chúng cómối quan hệ mật thiết không thể tách rời nhưng không hoàn toàn đồng nhất vớinhau Quyền biểu tình là hình thức bề ngoài Nó được thể hiện bằng những quyphạm pháp luật đã được Nhà nước thừa nhận hoặc xây dựng lên[24] Biểu tìnhchính là nội dung của quyền biểu tình thông qua những hoạt động biểu tình trongthực tiễn Nếu không có biểu tình thì sẽ không bao giờ có quyền biểu tình vì mọicái mà chúng ta ghi nhận được đều xuất phát từ cuộc sống Chẳng hạn như cáccuộc biểu tình nhằm phản đối việc đối xử không công bằng với người da đen vào

Trang 19

những năm 1955 - 1968 ở Mĩ đã buộc nhà cầm quyền phải ban hành các đạo luậtnhư The Civil Rights Act of Năm 1964 [25].

Chính nhờ những cuộc biểu tình liên tiếp nổ ra trong một thời gian dài, đãbuộc Nhà nước phải thừa nhận quyền biểu tình bằng những quy phạm pháp luật cụthể Nhưng để hoạt động biểu tình thực sự trở thành một quyền cơ bản của côngdân, là công cụ để bảo vệ tự do dân chủ thì phải trải qua giai đoạn nhận thức vàđiều chỉnh pháp luật Sự hoàn thiện về lý luận về biểu tình góp phần thúc đẩy hoạtđộng biểu tình phát triển theo hướng tích cực hơn Sự phát triển song hành giữabiểu tình và quyền biểu tình là điều kiện tốt nhất để họat động biểu tình phát huyvai trò của nó Cái mà người biểu tình thực sự quan tâm đó là quyền biểu tình đượcthực thi như thế nào trên thực tế Thực tiễn là gốc rễ của mọi vấn đề, định hướngcho pháp luật bám sát cuộc sống nhưng lý luận cũng có vai trò rất quan trọng Có

sự ghi nhận quyền biểu tình bằng những quy định cụ thể thì hoạt động biểu tìnhmới có thể diễn ra dễ dàng và dân chủ hơn

5.2 Mối quan hệ giữa quyền biểu tình và quyền tự do ngôn luận

Tự do ngôn luận là sự tự do phát biểu (freedom of expression) mà không bị

kiểm duyệt hoặc hạn chế[26]

Quyền tự do ngôn luận là một trong những quyền cơ bản của con người,quyền này đã được thừa nhận như là một quyền con người trong Tuyên ngôn Quốc

tế về Nhân quyền và được thừa nhận tại Điều 19 Công ước quốc tế về các Quyền

Dân sự và Chính trị International Covenant on Civil and Political Rights

-ICCPR)

Mọi người có quyền tự do ngôn luận Quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và phổ biến mọi loại tin tức và ý kiến, không phân biệt ranh giới, bằng truyền miệng, bản viết hoặc bản in, bằng hình thức nghệ thuật, hoặc thông qua bất

cứ phương tiện truyền thông đại chúng nào khác theo sự lựa chọn của mình" [27]

Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận"[1][2] [28] có nghĩa là mọi người được tự

do bày tỏ ý kiến quan điểm của mình dưới nhiều hình thức khác nhau, bao gồm tìmkiếm, chia sẻ thông tin, tư tưởng và biểu đạt những tư tưởng đó Trong số nhữnghình thức thể hiện quyền này thì hoạt động biểu tình là một phần trong đó Bởi vì,

tự do ngôn luận là tự do bày tỏ ý kiến quan điểm của mình trước một vấn đề hay sựkiện nào đó, biểu tình cũng mang tính chất như vậy Nó cũng là hoạt động bày tỏquan điểm ý kiến của mình nhưng ở góc độ lớn hơn, tập hợp được nhiều quan điểmmang tính tập thể hơn Như vậy, biểu tình chính là một hình thức của tự do ngônluận

Trở lại với khái niệm biểu tình đã nêu trước đó “Biểu tình là sự tập hợp tự nguyện từ mười người trở lên, hành động mang tính phi bạo lực, để bày tỏ thái độ phản đối hay ủng hộ công khai về một vấn đề nào đó trước Nhà nước, tổ chức

Trang 20

hoặc cá nhân nhằm đòi hỏi quyền lợi cho mình, cho chủ thể khác hoặc cho xã hội” Giữa biểu tình và tự do ngôn luận có những điểm tương đồng là đều thể hiện

ý kiến quan điểm của người tham gia trước vấn đề được bày tỏ Quan điểm nàykhông bị giới hạn, trừ khi đó là việc giới hạn là để đảm bảo các lợi ích của xã hội,cộng đồng hay an ninh quốc gia…

Sự khác nhau giữa hai khái niệm này ở chỗ Tự do ngôn luận gắn với cánhân thường mang màu sắc cá thể, phản ánh những gì mà một chủ thể ghi nhậnđược và muốn bày tỏ nó Trong khi đó, biểu tình là một hoạt động mang tính tậpthể, ý kiến quan điểm được bày tỏ là quan điểm của số đông được tập hợp lại trên

cơ sở những quan điểm cá nhân cùng mục đích

Tự do ngôn luận thường không mang tính chất mong muốn một sự thayđổi, chỉ đơn thuần là việc bày tỏ quan điểm, ý kiến Ví dụ: như một người bày tỏquan điểm của mình về một bộ phim thì sẽ cho những ý kiến khen chê Trong khi

đó, biểu tình lại mang tính chất mong muốn sự thay đổi Đó là việc người tham giabiểu tình mong muốn quan điểm của mình sẽ được lắng nghe và tiếp thu một cáchtích cực Ví dụ: một bộ phim gây ra nhiều phản cảm thì mọi người biểu tình, ở đâykhông chỉ là bày tỏ thái độ một cách công khai mà còn thể hiện sự phản ứng, yêucầu không công chiếu

Tuy nhiên, các tác giả cho rằng tự do ngôn luận là một trong những tiền đề

để có được quyền biểu tình Sự tự do về phát biểu, tự do bày tỏ ý kiến quan điểmthì con người mới có thể tụ họp nhau lại để cùng nêu lên những ý kiến, những quanđiểm chung về cùng một vấn đề Trên cơ sở đó, họ mới thể hiện một sự đòi hỏimạnh mẽ quyết liệt hơn thông qua biểu tình Bản chất của hoạt động biểu tình làbày tỏ ý kiến và mong muốn thay đổi Do đó, sự tự do về bày tỏ về ý kiến quanđiểm là cơ sở để xây dựng nên quyền biểu tình Với những phân tích trên, ta có thểkết luận rằng biểu tình là một trong những hình thức thể hiện của quyền tự do ngônluận và quyền tự do ngôn luận là tiền đề của quyền biểu tình

5.3 Quyền biểu tình và quyền tự do hội họp

Như đã định nghĩa ở trên, hoạt động biểu tình phải gắn liền với sự tụ họpcủa nhiều người và sự tụ họp này phải nằm trong khuôn khổ của pháp luật Chính

vì vậy, bất cứ ai muốn biểu tình thì trước tiên phải có quyền tự do hội hop

Quyền tự do hội họp là quyền được liên kết lại của một nhóm người trước một vấn

đề nào đó mà họ quan tâm Mục đích để tiến hành hội họp là để trao đổi ý kiến vớinhau Đứng trước một vấn đề, mọi người thường có nhu cầu chia sẻ, bàn luận vớinhững người có cùng suy nghĩ, quan điểm với mình Tự do hội họp là một trongnhững quyền cơ bản của con người và được ghi nhận rộng rãi trong Tuyên Ngôn

Về Nhân Quyền Quốc Tế, Điều 20 của tuyên ngôn này

Trang 21

Điều 20:

1 Mọi người đều có quyền tự do hội họp và tham gia hội họp một cách hòa bình.

2 Không ai bị bắt buộc phải tham gia một hiệp hội nào.

Công ước quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị năm 1966 cũng ghi nhậnquyền này ở Điều 21

Quyền hội họp hoà bình phải được công nhận Việc thực hiện quyền này không bị hạn chế, trừ những hạn chế do pháp luật quy định và là cần thiết trong một xã hội dân chủ, vì lợi ích an ninh quốc gia, an toàn và trật tự công cộng, và để bảo vệ sức khỏe và đạo đức xã hội hoặc bảo vệ quyền và tự do của những người khác.

Từ những ghi nhận mang tính quốc tế về quyền tự do hội họp và sự phân

tích của tác giả cho thấy Quyền biểu tình và quyền tự do ngôn luận có quan hệ mậtthiết với nhau Quyền tự do hội họp là tiền đề quan trọng để có được quyền biểutình Nếu không có tự do hội họp sẽ không bao giờ có được quyền biểu tình và hoạtđộng biểu tình Bởi lẽ, khi đã có được sự tự do bày tỏ ý kiến và quan điểm cộng vớiviệc được phép tự do hội họp với những người có cùng quan điểm, cùng suy nghĩ

về một vấn đề cùng quan tâm thì khi đó biểu tình mới có thể diễn ra theo đúng bảnchất của nó Tức là việc thực hiện một quyền, một hoạt động chính trị trong khuônkhổ của pháp luật với mục đích đòi hỏi những quyền lợi

Việc luật hóa quyền biểu tình có ý nghĩa quan trọng trong việc hoàn thiện

hệ thống pháp luật ở quốc gia Đặc biệt trong bối cảnh nước ta đang theo đuổi mụctiêu xây dựng một mô hình Nhà nước pháp chế xã hội chủ nghĩa Quy định vềquyền biểu tình một cách cụ thể là việc đảm bảo cho các quyền tự do dân chủ củanhân dân được thực thi trong cuộc sống Vì vậy, quyền tự do ngôn luận, quyền tự

do hội họp, quyền biểu tình của người dân là không thể thiếu

6 Xu hướng phát triển của biểu tình trên thế giới

6.1 Xu hướng phát triển chung của thế giới

Ngày càng có nhiều quốc gia trên thế giới công nhận quyền biểu tình hơn.

Biểu tình không thể đơn thuần là thừa nhận trên luật nữa mà quan trọng là đưaquyền này thực sự đi vào cuộc sống Nhìn vào tiến trình phát triển của biểu tình cóthể thấy quyền biểu tình ngày càng được mở rộng Mọi vấn đề người dân đều cóthể bày tỏ quan điểm của mình Phạm vi biểu tình đã không chỉ dừng lại ở một địaphương hay một quốc gia mà nó đã và đang trở thành một cách sinh hoạt chính trịcủa công dân nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là khi họ có chung quan điểm hay ýkiến về một vấn đề nào đó

Trang 22

Nhiều quốc gia tiến tới hoàn thiện pháp luật về vấn đề biểu tình, tiếp thu

mọi thông tin phản hồi của xã hội để có thể giải quyết những vấn đề của hiện tại,

dự báo xu hướng phát triển trong tương lai nhằm đưa ra những quyết sách có lợi

nhất Trước kia, biểu tình được cho là những hoạt động làm mất trật tự trị an,

những hành động chống đối nhưng những điểm tiêu cực đó dần được hạn chế bớt

do quá trình dân chủ hóa, quyền lợi của nhân dân được đề cao hơn Hầu hết mọichính quyền đều nhận thức được để ổn định xã hội thì điều quan trọng nhất cầnphải làm gì và một điều cần nói tới là Nhà nước có khả năng đảm bảo an ninh đểđối phó với một số âm mưu lợi dụng biểu tình để chống phá, chia rẽ dân tộc Biểutình là một hình thức thể hiện sự dân chủ công khai Nếu được phát huy tốt thì nó

sẽ đem lại những lợi ích cho đất nước Điều 19 “Tuyên ngôn toàn thế giới về nhânquyền” năm 1948 khẳng định: “Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và bầy tỏquan điểm; kể cả tự do bảo lưu ý kiến không phụ thuộc vào bất cứ sự can thiệpnào, cũng như tự do tìm kiếm, thu nhận, truyền bá thông tin và ý kiến bằng bất cứphương tiện thông tin đại chúng nào và không giới hạn về biên giới” Có thể thấy,những quyền cơ bản của con người ngày càng được thế giới có trách nhiệm hơntheo hướng mở rộng tối đa trong khả năng và điều kiện kinh tế Khoản 2 Điều 5công Ước quốc tế về Quyền Dân Sự Và Chính Trị năm 1966 cũng là một sự khẳngđịnh đối với việc bảo vệ những quyền cơ bản của con người trong đó có quyềnbiểu tình “Không được hạn chế hoặc huỷ bỏ bất kỳ quyền cơ bản nào của conngười mà đã được công nhận hoặc hiện đang tồn tại ở bất kỳ quốc gia thành viênnào của Công ước này trên cơ sở luật, điều ước, các quy định pháp luật hoặc tậpquán, với lý do là Công ước này không công nhận những quyền ấy hoặc công nhận

ở một mức độ thấp hơn” Thế giới ngày càng văn minh Việc đảm bảo quyền conngười là một tất yếu vì thế đòi hỏi phải mở rộng dân chủ hơn hay ít nhất cũng phảiduy trì những quyền đã được thừa nhận Hạn chế quyền con người chính là đingược lại lợi ích nhân dân, cản trở sự phát triển Biểu tình đóng một vai trò rấtquan trọng để nhân dân thế giới đấu tranh cho hòa bình và tiến bộ của nhân loại Vìthế, chúng ta phải xem biểu tình là một hoạt động chính trị bình thường của cảcộng đồng

6.2 Xu hướng quốc tế hóa biểu tình

Trong một quốc gia, hoạt động biểu tình là hiện tượng mang tính thườngxuyên và phổ biến, thể hiện mối tương tác giữa Nhà nước với nhân dân Nhưngkhông chỉ chỉ có thế, trong lịch sử đã từng diễn ra nhiều cuộc biểu tình của nhândân các nước đối với những nước khác Ví dụ: trong chiến tranh giữa Pháp - ViệtNam, Mỹ - Việt Nam không chỉ nhân tiến bộ Pháp, Mỹ biểu tình phản đối chiếntranh đối với chính quyền chính quốc mà nhân dân yêu chuộng hòa bình trên khắpnăm châu cũng biểu tình thể hiện sự ủng hộ đối với cách mạng Việt Nam Gần đâynhất là cuộc chiến tranh tại Iraq do Mỹ phát động đã vấp phải một làn sóng biểu

Trang 23

tình mạnh mẽ trên thế giới “Trên khắp các đường phố trung tâm ở các thành phốlớn của Mỹ và Châu Âu, đoàn người biểu tình giơ cao khẩu hiệu phản đối cuộcchiến tranh và yêu cầu đưa binh lính trở về Đây là những cuộc biểu tình có quy

mô và thể hiện sự bất bình của dân chúng đối với cuộc chiến đang ngày càng bế tắctại Iraq[29] Thế nhưng, những hoạt động biểu tình chưa thực sự mạnh mẽ, cònchậm trễ và cục bộ Thế giới hiện nay với sự phát triển vượt bậc của công nghệthông tin Mọi tin tức được truyền đi nhanh chóng Mọi diễn biến trên hành tinhchúng ta có thể cập nhật liên tục gần như không có biên giới Xu hướng quốc tếhóa làm cho các quốc gia ngày càng phụ thuộc vào nhau Mỗi nền kinh tế là mộtmắt xích của thế giới Vì thế, lợi ích của toàn nhân loại có liên quan mật thiết vớinhau nên bất cứ ở nơi đâu có biến động tiêu cực thì lập tức nhân dân của nhiềuquốc gia liền tổ chức biểu tình Ví dụ: hội nghị thượng đỉnh ở Copenhagen (ĐanMạch) bàn về vấn đề cắt giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính Khi hội nghi đangdiễn ra thì nhiều nơi trên thế giới đặc biệt là những nước nhỏ chịu ảnh hưởng nặng

nề của biến đổi khí hậu đã tổ chức nhiều cuộc biểu tình phát đi những thông điệp

rõ ràng yêu cầu những nước lớn phải có trách nhiệm trong việc làm trái đất ấm lên

và phải có hành động ngay lập tức để cứu trái đất “Nằm trong chuỗi hoạt độngbiểu tình ngày 12 - 12 , khoảng 130 thành phố trên thế giới tham gia tổ chức cáccuộc biểu tình tại địa phương”[30] Ngay trên đất nước Đan Mạch “gần 100.000người biểu tình ngày 12 - 12 gây áp lực trước địa điểm tổ chức Hội nghị biến đổikhí hậu Liên hiệp quốc tại Copenhage, thúc đẩy các bên nhanh chóng đạt đượchiệp định biến đổi khí hậu toàn cầu”[31]

Kết luận chương I Biểu tình có vai trò quan trọng trong một xã hội dân chủ, nó thể hiện quyềncủa người dân Thông qua biểu tình mọi người có thể tự do bày tỏ chính kiến hayquan điểm trước những đối tượng mà mình hướng tới Biểu tình nằm trong nhómquyền cơ bản của công dân, đã được nhiều nước chính thức thừa nhận, Việt Namcũng thể hiện sự ghi nhận quyền này tại các bản Hiến pháp Tuy nhiên, nước tađang trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật nên một số lĩnhvực còn chưa có những quy định cụ thể, điển hình như lĩnh vực biểu tình Vì vậy,hoạt động biểu tình trong thời gian qua diễn ra theo nhiều hình thức khác nhau,Nhà nước gặp khó khăn trong quản lý còn người dân thì không biết phải biểu tìnhnhư thế nào là hợp pháp

Trong Chương I, các tác giả đã tập trung làm rõ khái niệm về biểu tìnhđứng dưới cái nhìn thực tiễn nhưng mục tiêu của đề tài này là kiến nghị xây dựngluật biểu tình để Nhà nước có thể kiểm soát xã hội tốt hơn mà vẫn đảm bảo quyềnlợi cho nhân dân Vì vậy, các tác giả đưa ra khái niệm chính thức về biểu tình đứngtrên phương diện pháp lý Mục 2 là sự phân biệt biểu tình với một số hoạt độngkhác tương tự như bạo loạn, bạo động Qua sự phân biệt đó mọi người sẽ thấy

Trang 24

được những đặc trưng riêng có của biểu tình và sẽ không bị lẫn lộn với các hoạtđộng khác Mục 3 các tác giả nêu lên ý nghĩa của biểu tình và Mục 4 nêu lên mốiquan hệ của quyền biểu tình với biểu tình và một số quyền khác Qua đó, chúng tathấy rõ quyền biểu tình là một trong những quyền cơ bản phải được luật quy định

và đưa vào thực thi Mục 5 các tác giả đã nêu lên vai trò to lớn của biểu tình đốivới người dân và Nhà nước Biểu tình không phải hoàn toàn tiêu cực như một sốngười nghĩ, đó là một môi trường tương tác giữa mọi người trong xã hội với nhau,giữa người dân với Nhà nước để tìm ra những cách giải quyết tốt nhất cho các vấn

đề còn vướng mắc Cuối cùng, các tác giả nêu lên xu hướng phát triển của biểutình trên thế giới, Nhà nước ngày càng mở rộng và đảm bảo tốt hơn cho quyền lợicủa người dân Thế giới thể hiện một xu hướng tiến bộ như vậy, Việt Nam ngàycàng hòa nhập với thế giới sâu rộng hơn Vì thế, chúng ta cũng nên theo xu hướng

ấy của thế giới nhằm mở rộng dân chủ, khơi dậy tinh thần yêu nước trong nhândân

Chương II:

PHÁP LUẬT VỀ BIỂU TÌNH Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ

GIỚI THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊBiểu tình là một trong những hình thức biểu hiện của quyền tự do ngôn luận vàquyền tự do hội họp Do đó, khi xem xét các quy định về quyền biểu tình trong hệthống pháp luật của các quốc gia ta sẽ bắt gặp các quy định gián tiếp về quyền biểutình thông qua các quy định về tự do ngôn luận hay tự do hội họp

Luật pháp của Cannada đã ghi nhận quyền này tại Điểm c Điều 2 Hiếnchương về nhân quyền của Cananda[32]

Điều 1 Tu chính thứ nhất (First Amendment) của Quốc hội Hoa Kỳ cũngcông nhận những quyền này

“Quốc hội sẽ không ban hành một đạo luật nào nhằm thiết lập tôn giáo hoặc ngăn cấm tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận, báo chí và quyền của dân chúng được hội họp và yên cầu chính phủ sửa chữa những điều gây tranh chấp[33]”.

Luật pháp của Anh có những quy định cụ thể về biểu tình tại hai đạo luật,

đó là Công đạo luật 1986 – Public Oder Act (POA 1986)[34] và Đạo luật các tộiphạm nghiêm trọng có tổ chức và cảnh sát 2005-Serious Organised Crime andPolice Act 2005 (SOCPA 2005)[35]

Bên cạnh đó, nhiều quốc gia theo hệ thống luật Civil Law cũng ghi nhậnquyền biểu tình trong các văn bản pháp luật của mình đặc biệt trong Hiến pháp

Trang 25

Tại Điều 57 Hiến pháp của Ba lan có đề cập tới quyền tụ do hội họp của côngdân[36] Điều 27 Hiến pháp cộng hòa hồi giáo Iran

“Cuộc tụ họp công cộng và cuộc tuần hành có thể được tự do tổ chức, không được cung cấp vũ khí tiến hành và rằng họ không gây phương hại đến các nguyên tắc cơ bản của đạo Hồi”[37].

Điều 21 Hiến pháp Nhật Bản[38] thì tự do hội họp, lập hội, ngôn luận, báochí với tất cả các hình thức biểu hiện được đảm bảo, Điều 14 Hiến pháp Singaporecũng quy định về vấn đề này[39]

Cộng đồng Châu Âu còn ghi nhận quyền này trong công ước riêng củamình trong khuôn khổ các nước thành viên như một lời cam kết về việc thực thiviệc bảo vệ quyền cơ bản của công dân tại Điều 11 Công ước nhân quyền ChâuÂu[40]

Có thể nói dù hình thức thể hiện có khác nhau nhưng quyền biểu tình đềuđược các quốc gia trên thế giới ghi nhận là một trong các quyền cơ bản của côngdân Nhận thức sâu sắc điều đó và thấy được sự cần thiết phải hợp tác quốc tế Cácquốc gia đã cùng ngồi lại với nhau, cùng đưa ra tuyên bố chung cam kết đảm bảothực hiện các quyền này bằng bản Tuyên ngôn nhân quyền thế giới và sau đó làCông ước về các quyền dân sự và chính trị (1966) cũng như các văn bản pháp luậtquốc tế khác

Hiện nay, tại Việt Nam quyền biểu tình vẫn chỉ mới được ghi nhận trongcác bản Hiến pháp[41] Ngoài ra, vẫn chưa có một văn bản chính thức ghi nhận vềvấn đề này

Liên quan đến tụ tập nơi đông người, Chính phủ đã ban hành nghị định

38/2005/NĐ - CP, trong đó có quy định “Việc tập trung đông người ở nơi công cộng phải đăng ký trước với Uỷ ban nhân dân có thẩm quyền nơi diễn ra các hoạt

động đó và phải thực hiện đúng nội dung đã đăng ký[42]”.

Đây chỉ là văn bản điều chỉnh việc tụ họp của công dân một phần của hoạt độngbiểu tình chứ không phải điều chỉnh toàn bộ họat động biểu tình

Tham khảo luật pháp Việt Nam trước đây thì nước ta đã từng có luật liên

quan đến biểu tình đó là Luật số 101/SL – L - 003 ngày 20 – 5 - 1957 của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa quy định về quyền tự do hội họp của công

dân[43], một trong những nội dung của quyền biểu tình

Như vậy, chúng ta đã từng có luật “tiếp cận khá gần” với quyền biểu tình Nhưng

để có thể có những quy phạm pháp luật điều chỉnh trực tiếp vấn đề này thì khôngphải dễ dàng Đó là một việc làm đòi hỏi sự cẩn trọng cần thiết, đặc biệt biểu tình

Trang 26

là một hoạt động phức tạp tiềm ẩn những hệ lụy và biến tướng gây ảnh hưởng đến

sự ổn định chính trị xã hội[44] Có thể thấy, nhà làm luật Việt Nam vẫn đang hếtsức thận trọng trong vấn đề này Tuy nhiên, sự cẩn trọng đó không có nghĩa làchúng ta quên đi quyền lợi mà người dân đáng được hưởng Sinh thời Chủ tịch Hồ

Chí Minh đã nhấn mạnh đến vai trò của pháp luật nước ta là “bảo vệ quyền lợi cho hàng triệu người lao động…pháp luật nước ta là pháp luật thật sự dân chủ và nó bảo vệ quyền tự do, dân chủ rộng rãi cho người dân lao động ”[45].

Hơn thế, Hiến pháp và pháp luật nước ta ghi nhận nhà nước ta luôn tôntrọng các quyền tự do về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội[46], công dân

có các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền biểu tình, quyền khiếu nại, tốcáo [47] Các quyền và sự tự do đó trong nhiều trường hợp là điều kiện để nhândân kiểm tra hoạt động của Nhà nước, nhưng trước hết đó là một trong nhữngphương thức quan trọng để thực hiện dân chủ[48]

Để có thể nêu lên những giải pháp, kiến nghị của mình một cách hoàn chỉnh nhất,các tác giả xin đưa ra những phân tích, đánh giá từ những quy định pháp luật liênquan đến biểu tình của Việt Nam và Anh quốc

Văn bản pháp luật Việt Nam mà các tác giả muốn phân tích, đánh giá, so sánh

là Luật số 101/SL – L - 003 ngày 20 – 5 - 1957 ( Luật số 101) của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa quy định về quyền tự do hội họp của công dân.

Đối với pháp luật Anh quốc các tác giả tập trung phân tích, đánh giá Công đạo luật1986– Public Oder Act (POA 1986) và Đạo luật các tội phạm nghiêm trọng có tổchức và cảnh sát 2005 - Serious Organised Crime and Police Act 2005 (SOCPA2005)

Khi phân tích các văn bản kể trên, các tác giả đã rút ra những điểm mà khi xâydựng một văn bản điều chỉnh vấn đề biểu tình của Việt Nam nên có như sau:

1 Quy định về việc thông báo khi tổ chức biểu tình

Tuy không điều chỉnh trực tiếp về vấn đề biểu tình nhưng những quy định về việcxin phép trước khi tổ chức hội họp trong Luật số 101 là những quy định rất có giátrị trong việc tham khảo nhằm xây dựng luật biểu tình của Việt Nam sau này

Điều 2 và Điều 3 (Luật số 101) quy định cụ thể những trường hợp nào hội họp màkhông phải xin phép trước, trường hợp nào phải xin phép trước một cách rất rõ

ràng Những trường hợp không phải xin phép trước đó là “Các cuộc hội họp có tính chất gia đình, giữa thân thuộc, bè bạn Các buổi sinh hoạt của các hội hợp pháp, tổ chức trong trụ sở của hội, các cuộc hành lễ thường lệ của các tôn giáo tổ chức trong những nơi thờ cúng Các buổi sinh hoạt của các đoàn thể trong Mặt

Trang 27

trận dân tộc thống nhất, và các cuộc hội họp công cộng do các đoàn thể này tổ chức” Từ những quy định trên có thể thấy, Luật số 101 đã nêu một cách tổng quát

những trường hợp được phép tụ họp tự do mà không phải xin phép trước đều lànhững trường hợp khó có thể gây ra sự mất ổn định về an ninh Thậm chí, nhữngcuộc tụ họp mang tính chất gia đình hoặc buổi sinh hoạt của các đoàn thể trongMặt trận dân tộc thống nhất còn góp phần tuyên truyền tốt hơn chính sách và phápluật của Nhà nước Nếu chúng ta kiểm soát quá gắt gao mọi cuộc tụ họp sẽ khôngkhả thi Bởi vì, mục tiêu của sự quản lý Nhà nước nhằm thiết lập sự ổn định của xãhội nói chung Những cuộc tụ họp không gây bất ổn tình hình chính trị thì khôngcần pháp luật phải can thiệp quá sâu, chính những thành viên của những cuộc hộihọp họ biết làm thế nào để phát huy điểm tích cực Đối với biểu tình, không phảitrường hợp nào cũng mang tính tiêu cực Chúng ta cần xây dựng luật biểu tình thậtchặt chẽ để người dân biểu tình trong khuôn khổ pháp luật chứ không nên bắt buộcphải xin phép khi biểu tình Qua đó, công dân được tạo điều kiện thực hiện tốt mộtquyền hiến định mà Nhà nước lại bớt đi những sự quản lý không thực sự cần thiết

Có như vậy, luật biểu tình mới thật sự hữu ích Luật vừa là cơ sở để nhân dân cóthể tự do biểu tình, vừa là phương tiện và công cụ để Nhà nước quản lý một phầncủa quyền tự do hội họp Thông qua luật, Nhà nước có thể xử lý những trường hợp

phép trước nhưng qua sự loại trừ Điều 2 còn lại đều phải xin phép trước Qua đó cóthể thấy, những người tổ chức hội họp phải xin phép trước xuất phát từ mối quan

hệ không mang tính gia đình thân thuộc Những tổ chức không được Nhà nướcthừa nhận hoạt động hợp pháp Tóm gọn, những trường hợp phải xin phép trướckhi hội họp thì Nhà nước khó kiểm soát hơn, dễ xảy ra sự kích động lôi kéo chống

chính quyền Việc đặt ra yêu cầu xin phép trước để nhằm hai mục đích sau Thứ nhất: nếu không được sự cho phép của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thì đó là

sự tụ họp không hợp pháp Qua đó, Nhà nước có quyền áp dụng những biện phápcưỡng chế thích hợp mà những người đã tụ họp không xin phép hoặc xin phép mà

không được sự chấp nhận Thứ hai: dù Nhà nước cho phép hội họp hoặc không cho

phép hội họp, chính quyền cũng có điều kiện để chuẩn bị những điều kiện cần thiết

để đối phó với những âm mưu gây rối hoặc hành động gây mất ổn định trái với luậtpháp

Về pháp luật nước ngoài, các quy định về biểu tình trong pháp luật Anh được thểhiện trong nhiều văn bản khác nhau, mà gần đây nhất là Đạo luật các tội phạm

Trang 28

nghiêm trọng có tổ chức và cảnh sát 2005 - Serious Organised Crime and PoliceAct 2005 (SOCPA 2005) và công đạo luật Public Oder Act 1986 (POA 1986).Theo mục 11 (POA 1986) thì các cuộc diễu hành hay các đám rước công cộng(public processions) phải gửi văn bản thông báo rõ ràng trao cho cảnh sát khu vực

nơi mà đám diễu hành định tổ chức, ít nhất là 6 ngày trước khi tổ chức, bao gồm

chi tiết về thời gian và tuyến đường dự định, và cho biết tên, địa chỉ của người đề

xuất tổ chức đó…[49]

Việc có thông báo bằng văn bản này được miễn cho các trường hợp các đám diễuhành để tổ chức một phong tục hay một đám ma được tổ chức bởi các nhà tanglễ[50]

Việc thông báo cho cơ quan Nhà nước trước khi tiến hành các hoạt động diễu hành

là cần thiết Bởi vì, điều này giúp cơ quan Nhà nước kiểm soát và quản lý đượchoạt động biểu tình

Tuy nhiên, việc thông báo ít nhất trước 6 ngày trước khi tổ chức diễu hành, theo

quan điểm của nhóm tác giả thì có những điểm chưa thuyết phục Bởi vì, các cuộcdiễu hành nhiều khi được tổ chức để bày tỏ thái độ, quan điểm của dư luận về mộtvấn đề nào đó khi sự việc đang còn mang tính thời sự Nếu như phải thông báotrước ít nhất 6 ngày trước khi tổ chức diễu hành thì không đảm bảo phản ánh đúngđược thái độ của người tham gia Ở mỗi thời điểm thì quan điểm, thái độ của ngườitham gia sẽ khác nhau Đặc biệt là những vấn đề mà nhu cầu bày tỏ quan điểm củangười dân là cần thiết để giải tỏa tâm lý thì không thể nào ngồi chờ đủ thời gian chophép mới tiến hành được

Tại Mục 133 của (SOCPA 2005) Thông báo về cuộc biểu tình tại khu vực quy định(Notice of demonstrations in designated area) Theo đó, một người muốn tổ chức

hay tìm kiếm một sự cho phép để tổ chức cuộc biểu tình tại các khu vực quy định (chỉ các khu vực nằm trong quy định tại mục 138 Đạo luật này) phải thông

báo cho các Ủy viên Cảnh sát của thành phố Metropolis

Các quy định này chỉ hạn chế trong phạm vi thành phố Metropolis Cũng giốngnhư quy định tai Mục 11.11 của (POA 1986) thì các thông báo này phải được gửiđến các cơ quan cảnh sát chậm nhất 6 ngày trước khi tổ chức biểu tình Nếu có lý

do thích hợp thì việc thông báo không ít hơn 24 giờ trước khi cuộc biểu tình bắtđầu[51] Việc thông báo này bao gồm các nội dung sau: ngày và thời gian khi bắtđầu, địa điểm sẽ được tiến hành, thời gian kéo dài bao lâu[52]

Việc thông báo theo quy định tại phần này phù hợp hơn so với quy định tại Mục11.11 của Công đạo luật (POA 1986) ở điểm, cho phép các cuộc biểu tình có thểthông báo cho cơ quan cảnh sát trước 24 giờ trong những trường hợp có lý do thíchhợp Điều này tạo ra những biệt lệ cần thiết giúp cho việc thông báo của người dân

Trang 29

linh hoạt hơn Bởi vì, bản chất của việc thông báo là giúp cơ quan Nhà nước quản

lý trật tự công cộng Do đó, thông báo trước 24 giờ mà Nhà nước vẫn có thể quản

lý được, lợi ích của người biểu tình được đảm bảo thì vẫn cho đó là hợp pháp.Như vậy, quyền biểu tình của người dân được đảm bảo mà không phụ thuộc hoàntoàn vào ý chí của cơ quan Nhà nước Người biểu tình chỉ phải thông báo chứ

không phải xin phép Theo các tác giả, đây là một quan điểm tiến bộ, phù hợp với

quy luật phát triển của xã hội ngày nay là đặt con người vào vị trí trung tâm, đảmbảo các quyền công dân quyền được thực hiện trên thực tế Việc đề cao các quyền

cơ bản của của con người thể hiện được sự dân chủ trong xã hội Việt Nam chưa cóluật biểu tình mà chỉ có Luật số 101 quy định về quyền hội họp của công dân Tuykhông trực tiếp điều chỉnh vấn đề biểu tình nhưng giữa quyền biểu tình và quyền

tự do hội họp cũng có nhiều điểm tương đồng Vì thế, chúng ta có thể kế thừanhững điểm hay của Luật số 101 và Đạo luật (POA 1986) hay (SOCPA 2005) đểxây dựng luật biểu tình ở Việt Nam

Để đảm bảo quyền biểu tình cho người dân theo đúng nghĩa của nó, các tác giả có kiến nghị về vấn đề này như sau Đã là quyền thì khi tham gia biểu tình người dân chỉ cần thông báo cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chứ không phải xin phép Việc thông báo phải trước 3 ngày trước khi tổ chức biểu tình Trường hợp có lý do chính đáng thì việc thông báo này có thể chậm hơn nhưng phải sớm hơn 24 giờ trước khi tổ chức biểu tình Con số 6 ngày như luật của Anh là quá dài, không đảm

bảo được tính kịp thời Khi đã quy định trong luật quyền biểu tình của người dânthì Nhà nước phải chuẩn bị sẵn những điều kiện cần thiết để quản lý tốt hoạt độngbiểu tình, chứ không phải khi người dân có thông báo Nhà nước mới tiến hành cáccông việc chuẩn bị Do đó, khoảng thời gian 3 ngày là hợp lý, đảm bảo cho Nhànước chuẩn bị tốt về mọi mặt để đối phó với tình huống xấu có thể xảy ra cònnguyện vọng của nhân dân được phản ánh một cách kịp thời Quy định như vậyvừa giúp cho Nhà nước giảm đi một phần quản lý và người dân lại được đảm bảoquyền lợi hơn, bớt đi những phiền hà về xin phép Các trường hợp mà chúng tamuốn đảm bảo an ninh trong những sự kiện đặc biệt hay nhằm ngăn chặn âm mưuchống phá của các thế lực thù địch thì chúng ta sẽ có những quy định về việc cấmhẳn biểu tình trong những trường hợp nhất định hoặc quy định cấm hay hạn chếmột số hình thức biểu tình trong một số trường hợp

2 Cấm hoặc hạn chế một số hình thức biểu tình trong một số trường hợp

Biểu tình là một hoạt động có sự đa dạng về nội dung lẫn hình thức thể hiện do

đó khi xem xét các quy định về việc hạn chế biểu tình các tác giả tập trung phântích quy định tại Mục 12, 14 của (POA 1986), Mục 134 của (SOCPA 2005) Mục

12 của (POA 1986) “Imposing conditions on public processions- các hạn chế dành cho công diễu”cho phép cảnh sát được phép dùng các biện pháp áp dụng cho cuộc

Trang 30

diễu hành để ngăn chặn những ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự công cộng.Thiệt hại nghiêm trọng về hình sự, gián đoạn nghiêm trọng đến cuộc sống của cộngđồng hoặc mục đích của những người tổ chức đó là sự đe dọa của người khácnhằm thuyết phục họ không làm một hành động họ có quyền làm, hoặc làm mộthành động họ không có quyền làm [53].

Các điều kiện áp đặt là việc điều chỉnh hướng của cuộc diễu hành theo mộthướng khác với hướng mà đoàn biểu tình định tiến hành và kèm theo đó là nhânviên cảnh sát được phép đi kèm theo đoàn diễu hành[54] Luật không cho phépcảnh sát từ chối những thông báo về cuộc diễu hành của người dân nhưng cho phépcảnh sát áp dụng các biện pháp cần thiết để ngăn chặn các thiệt có thể xảy ra đốivới cộng đồng và xã hội Điều này hoàn toàn phù hợp nhằm bảo vệ lợi ích của xãhội, bên cạnh việc tôn trọng quyền diễu hành của người dân Ngoài ra, nhân viêncảnh sát theo giám sát biểu tình là một việc đảm bảo trật tự và nhắc nhở ngườitham gia chú ý đến hành động của mình, tránh vượt quá khuôn khổ pháp luật chophép

Điều luật này đã thể hiện được sự tôn trọng và quan tâm của Nhà nước đốivới quyền lợi của người dân Thay vì, Nhà nước áp dụng những biện pháp nhằmhạn chế quyền, Nhà nước đã đưa ra những quy định cụ thể mở rộng tối đa quyềndiễu hành cho người dân trong điều kiện có thể đáp ứng được Diễu hành khôngphải là xin phép nữa mà là thông báo và cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tiếpnhận không có quyền từ chối thông báo này

Ngoài ra theo quy định tại Mục 14 của (POA 1986) “Imposing conditions

on public assemblies- các hạn chế dành cho tụ họp công công” còn cho phép cảnh

sát áp đặt các biện pháp cần thiết với các cuộc tụ họp cộng cộng (publicassemblies) nhằm ngăn chặn những thiệt hại nghiêm trọng cho trật tự nói chung,thiệt hại nghiêm trọng về hình sự hoặc gián đoạn nghiêm trọng đến cuộc sống củacộng đồng Nhưng các biện pháp này được giới hạn ở những quy định cụ thể như:

số lượng những người có thể tham gia, vị trí của cuộc tụ họp và thời gian tốiđa[55]

Các biện pháp để áp đặt cho các cuộc tụ họp công cộng là một trong các giải phápnhằm hạn chế những hậu quả xấu mà các hoạt động liên quan tới biểu tình có thểmang lại Đây là một quy định cần thiết để đảm bảo biệc duy trì an ninh trật tựcông cộng Các biện pháp cũng được nhà làm luật giới hạn ở mức độ tối đa đủ đểngăn chặn hậu quả có thể xảy ra mà không làm ảnh hưởng lớn đến hoạt động củangười tham gia tụ họp Các biện pháp này dường như chỉ là những hành lang antoàn do Nhà nước áp đặt để duy trì và bảo vệ trật tự chứ không nhằm hạn chế việcthực hiện quyền của người dân

Trang 31

Theo quy định tại Mục 134 của Đạo luật (SOCPA) “Authorisation of demonstrations in designated area- Cấp phép các cuộc biểu tình tại khu vực quy định ” thì khi nhận được thông báo của người tổ chức biểu tình thì các Ủy viên

phải cho phép các cuộc biểu tình được diễn ra[56] Tuy nhiên, họ có thể áp đặt cácbiện pháp đối với cuộc biểu tình mà họ cho là cần thiết để ngăn chặn: sự xâm nhậphoặc rời khỏi Cung điện Westminster một cách trái phép, cản trở đến hoạt độngđúng đắn của Nghị viện, gây rối loạn nghiêm trọng đến trật tự, làm gián đoạn chocuộc sống của cộng đồng, gây thiệt hại nghiêm trọng về tài sản… [57] Các biệnpháp hạn chế được quy định rất cụ thể tại tiểu mục 4 mục này bao gồm: nơi mà cáccuộc biểu tình có thể hoặc không được tiến hành, khoảng thời gian mà cuộc biểutình có thể được tiến hành, số người có thể tham gia vào cuộc biểu tình, số lượng

và kích thước của các biểu ngữ hay áp phích sử dụng, tiếng ồn tối đa cho phép[58].Lưu ý là các quy định này chỉ áp dụng trong khu vực thành phố Metropolis

Việc cho phép các Ủy viên cảnh sát có thể áp dụng các biện pháp cần thiết

để ngăn chặn những hậu quả xấu có thể xảy ra do biểu tình gây ra là hoàn toàn hợp

lý, đảm bảo cho hoạt động của các cơ quan quan trọng của quốc gia như Chínhphủ, Quốc hội diễn ra một cách bình thường Trong các biện pháp được nhà làm

luật đưa ra có các quy định về tiếng ồn tối đa cho phép là một điểm cần được học tập, điều này vừa đảm bảo cho tiếng ồn do đám biểu tình gây ra không làm ảnh

hưởng xấu đến sinh hoạt bình thường của người dân xung quanh đám biểu tình,cũng vừa đảm bảo cho sức khỏe cho chính của người tham gia biểu tình

Từ những phân tích trên về hai quy định cụ thể về những hạn chế của pháp luậtAnh về hai hình thức thức thể hiện của biểu tình là diễu hành công cộng và tụ họpcông cộng, cũng như việc hạn chế việc biểu tình tại một số nơi quan trọng

Các tác giả cho rằng khi xây dựng Luật biểu tình của Việt Nam nên có những quy định về việc hạn chế biểu tình trong các trường hợp cụ thể để tránh những phần tử phản động lợi dụng biểu tình để tiến hành bạo động, bạo loạn, gây rối trật tự công cộng Bởi vì, để thực hiện việc quản lý của mình trong hoạt động biểu tình, Nhà

nước được áp dụng các biện pháp ngăn chặn hoặc hạn chế cần thiết nhằm đảm bảo

biểu tình nằm trong khuôn khổ của pháp luật Lưu ý, các biện hạn chế này là những biện pháp hạn chế trong cách thức tiến hành biểu tình chứ không phải là hạn chế quyền được biểu tình của người dân Các biện pháp này chỉ được áp dụng trong trường hợp cần thiết, tuân thủ theo các trình tự thủ tục theo quy định.

Việc hạn chế này bao gồm các nội dung sau: số lượng người tham gia, thời gian tối đa được phép biểu tình, các phương tiện phụ trợ cho việc biểu tình, thời gian tổ chức, địa điểm tổ chức Cũng cần chú ý rằng các hạn chế này phải phù hợp, đảm bảo được lợi ích của người dân Ví dụ: khi có vấn đề gây bức xúc, người

dân muốn tổ chức ngay một cuộc biểu tình vào lúc 7 giờ sáng Nhưng do lo sợ

Trang 32

công tác quản lý gặp khó khăn, cấp có thẩm quyền lại chỉ đồng ý việc biểu tình lúc

tổ chức lúc 7 giờ sáng hôm sau

Biểu tình được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như đã trình bày ở

Chương I, mỗi hình thức đều có những ưu điểm và hạn chế riêng, cần có những quyđịnh cụ thể về điều kiện áp dụng đối với mỗi hình thức biểu tình Trong một sốtrường hợp, luật cho phép tổ chức biểu tình dưới những hình thức không thích hợp

sẽ gây cản trở cho hoạt động bình thường của những người xung quanh và của cơquan Nhà nước Ví dụ: ngày tổ chức bầu cử Đại biểu Hội Đồng Nhân Dân các cấp,

là ngày hội chính trị - xã hội sâu rộng của toàn dân có ý nghĩa đặc biệt quan trọngtrong việc xây dựng bộ máy Nhà nước ta, nếu không có sự hạn chế hoạt động biểutình trong những ngày này thì hiệu quả của việc bầu cử khó mà đảm bảo được Sự

cản trở này, nhiều khi gây thiệt hại lớn về kinh tế, gây mất uy tín Nhà nước Bởi vậy, để đảm bảo cho hoạt động biểu tình vẫn diễn ra bình thường mà không hoặc ít ảnh hưởng đến những chủ thể khác trong xã hội chúng ta phải có sự hạn chế một số hình thức biểu tình trong một số trường hợp cụ thể Ví dụ: Khi

có một vị nguyên thủ nước ngoài đến thăm, chúng ta không thể cho biểu tình bằnghình thức diễu hành trên đường vì như vậy có thể gây cản trở cho hoạt động đi lại,nguy cơ mất an toàn cho cảnh sát dẫn đường và vị nguyên thủ

3 Cấm và thời gian cấm biểu tình

Biểu tình là một hoạt động có sức ảnh hưởng lớn đến vấn đề an ninh trật tựcũng như sự ổn định về kinh tế, chính trị - xã hội Do đó, trong những trường hợpcần thiết việc ban hành một lệnh cấm biểu tình là một quy định cần thiết để đảmbảo cho những lợi ích cần ưu tiên bảo vệ

Dù hội họp để bàn luận hay biểu tình thì điều đầu tiên phải ưu tiên đảm bảo anninh Đó là điều kiện để bảo vệ lợi ích chung của người dân và Nhà nước Điều 8

của (Luật số 101) đã quy định “trong tình thế khẩn cấp, xét cần phải tạm thời cấm hội họp, Chính phủ sẽ quyết định” Đây là một ngoại lệ cần thiết trong một số

trường hợp đặc biệt Nếu tiếp tục cho hội họp thì sẽ dẫn đến tình trạng mất an toàncho người hội họp hoặc ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, tổ chức, cá nhânkhác Ví dụ: trong khi có chiến tranh hoặc thiên tai, dịch bệnh xảy ra thì sự hội họp

sẽ đem đến những hệ quả tiêu cực Sự tập trung đông người có thể dẫn đến chếtchóc do bom đạn, lây truyền bệnh tật Một cuộc biểu tình thường có rất nhiềungười tham gia Trong thời gian gần đây, những hoạt động khủng bố diễn ra bấtngờ, dịch bệnh có sức ảnh hưởng mạnh mẽ đến nền kinh tế và sức khỏe người dân.Trong những điều kiện đó, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tạm thời cấm biểutình là hợp lý và cần thiết

Trang 33

Pháp luật của Anh có những quy định về việc cấm các cuộc công diễu hay

tụ họp tại các Mục 13, 14A của (POA 1986) Mục 13 của Đạo luật này quy định vềmột lệnh cấm công diễu (Prohibiting public processions.) Nội dung chính như sau.Một cảnh sát trưởng của một quận, huyện có thể yêu cầu Hội đồng địa phươngxem xét về một lệnh cấm công diễu, nếu như ông ta cho rằng các quy định tại Mục

12 không đủ để ngăn chặn các cuộc công diễu hoặc đó là do kết quả của một sựgây mất trật tự công cộng nghiêm trọng (do hành vi công diễu gây ra)

Một lệnh cấm như vậy kéo dài tới 3 tháng, áp dụng cho bất kỳ một đám diễuhành nào [59] Lệnh cấm này phải được Hội đồng địa phương đó thực hiện trên cơ

sở có ý kiến chỉ đạo của các Thư ký Chính phủ (Secretary of state)[60]

Một lệnh cấm công diễu của công chúng như vậy trong một số trường hợp là cầnthiết Bởi vì, hoạt động công diễu là một trong những hoạt động gây nên nhữnghậu quả hết sức đáng ngại cho chính quyền cũng như đất nước Chúng ta có thểthấy rằng đối với những cuộc biểu tình của phe Áo đỏ diễn ra ở Thủ đô Bangkok(Thái Lan) đã gây ra những thiệt hại vô cùng to lớn cho Thái Lan[61]

Tuy nhiên, theo các tác giả, thời gian cấm công diễu lên tới 3 tháng quá lâuvới một hoạt động có tính chất đặc thù như công diễu Khi một vấn đề gây bức xúcmới phát sinh thường thu hút được sự quan tâm của dư luận Người dân mongmuốn bày tỏ thái độ quan điểm của mình ngay lập tức khi nó vẫn còn mang tínhthời sự

Thời gian cấm công diễu tới ba tháng là quá dài nên vấn đề mà người dânquan tâm dường như cũng nguội lạnh Nhiều khi, Nhà nước cần những thông tinphản hồi từ dân chúng thì lại không được cập nhập kịp thời để giải quyết vấn đềmột cách tốt nhất, phù hợp với nguyện vọng của đại bộ phận người dân Như vậy,chính sách của Nhà nước không đáp ứng được yêu cầu thực tế, uy tín Nhà nước bịgiảm sút còn quyền lợi của người dân thì không được đảm bảo

Tại mục 14A của Đạo luật này còn cho phép một lệnh cấm đối với các cụm

tụ họp (Prohibiting trespassory assemblies.) Theo đó các viên chức cảnh sát có thể

đề nghị Hội đồng địa phương ban hành một lệnh cấm các cụm tụ họp công cộng

của người dân vì các lí do sau: “được tổ chức tại một nơi mà công chúng không được phép tiến hành hoặc bị hạn chế tiến hành việc tụ họp Tụ họp có khả năng được tổ chức mà không được phép của người cho thuê đất hoặc việc thực hiện tụ họp đã vượt quá giới hạn sự cho phép của của người cho thuê đất Việc làm gián đoạn nghiêm trọng đến cuộc sống của cộng đồng hoặc được tiến hành tại địa điểm

có tầm quan trọng về kiến trúc khảo cổ, khoa học[62]”

Việc quy định về các lệnh cấm tụ họp của người dân trong một thời hạnnhất định đặc biệt là cấm tại các cụm quan trọng là một trong những biện pháp bảođảm an ninh khi có căn cứ cho rằng nếu thực hiện những hạn chế về tụ họp thì sẽ

Trang 34

ngăn chặn được các thiệt hại có thể xãy ra trên thực tế Đồng thời, đó sẽ là công cụgiúp chính quyền quản lý, kiểm soát hoạt động biểu tình một cách dễ dàng

Từ những nhận định và phân tích trên các tác giả có kiến nghị về vấn đề này nhưsau

Việc cấm một số hình thức biểu tình gây cản trở hoạt động bình thường của cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân trong một khoảng thời gian ở một số trường hợp

cụ thể là cần thiết Trong một số trường hợp đặc biệt, Nhà nước có quyền ban hành những lệnh cấm biểu tình nhưng việc ban hành lệnh cấm này phải tuân thủ một trình tự đặc biệt đã được quy định trong luật, không được tùy tiện và chỉ áp dụng trong những trường hợp thật cần thiết Lệnh cấm này chỉ kéo dài trong một khoảng thời gian hợp lý.

Tuy nhiên, luật nên có quy định linh hoạt về khoảng thời gian hạn chế trong nhữngtrường hợp cụ thể nhưng tối đa không quá một tháng Khi xem xét áp dụng nhữngbiện pháp hạn chế việc biểu tình tại Việt Nam trong các trường hợp cần thiết, nhất

là tránh tình trạng hiện nay biểu tình diễn ra tại nhiều địa điểm của một địaphương, gây khó khăn trong việc kiểm soát của chính quyền Chúng ta nên học tậptheo mô hình này nhưng theo hướng kiểm soát các cuộc biểu tình tại các địa điểm

cụ thể, tức là giới hạn những khu vực được phép và các khu vực không được phép

Tuy nhiên, việc nhà làm luật quy định việc cấm các cụm tụ họp trong mộtphạm vi 5 dặm Anh tính từ một trung tâm theo quy định có phần không hợp lý

1 dặm Anh tương đương với 1.609 m như vậy, 5 dặm Anh khoảng trên 8 km Theocác tác giả khoảng cách này tương đối lớn điều này sẽ làm giảm khả năng thể hiệnquan điểm và bày tỏ ý chí của người tham gia Ví dụ: một nhóm người đang ở tạimột khu vực áp dụng lệnh này thì họ phải đi xa tận 8 km tính từ nơi họ xuất phátthì mới thực hiện được việc tụ họp là điều bất hợp lý

Tại Mục 138 của (SOCPA 2005) thì các Thư ký Nhà nước (Secratery of State)

sẽ theo lệnh chỉ định một khu vực theo quy định mà có mục đích biểu tình như cácmục từ 132 - 137 của Đạo luật này Khu vực bị áp dụng các hạn chế có bán kính

Trang 35

không nhỏ hơn 1 km tính từ tòa nhà Quốc hội đến điểm gần nhất của cuộc biểutình[64].

Từ việc phân tích hai mục trên cho thấy các nhà làm luật đã xác định các phạm

vi của việc hạn chế của việc thực hiện các hoạt động liên quan tới biểu tình

Các tác giả cho rằng việc hạn chế này là cần thiết Bởi vì, không chỉ hoạt động của

cơ quan lập pháp mà hoạt động của các cơ quan hành pháp và tư pháp là cực kỳquan trọng Với chức năng nhiệm vụ vô cùng to lớn, phải giải quyết các công việccủa cả một quốc gia thì việc đảm bảo an ninh cho các cơ quan này là ưu tiên hàngđầu Chúng ta khuyến khích và cổ vũ cho việc phát triển tự do dân chủ trong cộngđồng trong xã hội nhưng tự do phải trong khuôn khổ và sự cho phép của pháp luật,đồng thời cân bằng được lợi ích giữa các bên trong xã hội

Từ những phân tích đánh giá như trên, các tác giả có kiến nghị về vấn đề

này như sau Luật biểu tình mà chúng ta hướng đến xây dựng cũng cần phải có quy định hạn chế biểu tình tại một số cơ quan đầu não, một số nơi trọng yếu của quốc gia như: khu quân sự, tòa nhà Chính phủ, trụ sở Tòa án, nơi làm việc của Quốc hội hoặc những địa điểm mà nhiều người có thể lợi dụng quyền biểu tình

để gây phương hại cho an ninh quốc gia, an toàn xã hội.

5 Vấn đề quy trách nhiệm

5.1 Trách nhiệm của cá nhân, tổ chức

Hội họp thường rất phức tạp, người tham gia rất đông và thuộc mọi thành phầntrong xã hội Khi tụ họp đông người hoặc biểu tình không đúng luật, lấy ai ra đểquy trách nhiệm không phải đơn giản Tuy vấn đề quy trách nhiệm khó khănnhưng để đảm bảo trật tự của xã hội và tính nghiêm minh của pháp luật thì khôngthể không xác định chủ thể phải chịu trách nhiệm Điều 4 (Luật số 101) đã xác

định “người tổ chức cuộc hội họp phải chịu trách nhiệm về cuộc hội họp” Thật ra,

hội họp trái pháp luật nhiều khi không phải hoàn toàn do lỗi của người tổ chức,cũng có thể do những người hội họp khác Việc xác định những người không phải

là người tổ chức để quy trách nhiệm rất khó Bởi vì, lượng người trong một cuộc tụhọp hay biểu tình rất lớn Luật số 101 đã chỉ đích danh người tổ chức phải chịutrách nhiệm về cuộc hội họp Quy định theo cách như vậy có điểm hay đó là, việcxác định người phải chịu trách nhiệm trước pháp luật dễ dàng Nhược điểm củaquy định này là bỏ sót những người tụ họp trái luật mà không phải là người tổchức Nếu chúng ta xác định được chính xác những người không phải là người tổchức tụ họp trái luật mà không bị xử lý là một nghịch lý

Bên cạnh các quy định về quy trách nhiệm cho những người tổ chức, ngườitham gia biểu tình mà có những hành vi không đúng thì pháp luật cần phải cónhững quy định về trách nhiệm đối với những trường hợp cản trở việc thực hiện

Trang 36

quyền biểu tình của công dân Chúng ta nên kế thừa những quy định tại Điều 6

(Luật số 101) “Người nào ngăn cản hoặc phá hoại các cuộc hội họp hợp pháp của người khác, ép buộc người khác tham dự vào các cuộc hội họp bất hợp pháp, bất

cứ bằng cách nào, có thể bị cảnh cáo hoặc bị truy tố trước toà án và bị xử phạt tù

từ một tháng đến một năm” Đặc biệt đối với những trường hợp lợi dụng các quyền

tự do biểu tình để mưu đồ bất chính thì phải nghiêm trị Đây là quan điểm đã được

thể hiện trong Điều 7 (Luật số 101) “Người nào lợi dụng quyền tự do hội họp để hoạt động trái pháp luật, chống lại chế độ, chống lại chính quyền dân chủ nhân dân, chia rẽ dân tộc, phá tình hữu nghị giữa nhân dân ta với nhân dân các nước, tuyên truyền chiến tranh, âm mưu phá hoại sự nghiệp đấu tranh cho hoà bình thống nhất, độc lập, dân chủ, hành động có phương hại đến trật tự an ninh chung, hoặc đến thuần phong mỹ tục, sẽ bị truy tố trước toà án và xử phạt theo luật lệ hiện hành, và cuộc hội họp sẽ bị cấm hoặc bị giải tán”.

Dù chưa có quy định về vấn đề quy trách nhiệm cho các tập thể trong việc tổchức biểu tình trong các văn bản đã phân tích nhưng theo quan điểm của các tácgiả thì việc quy trách nhiệm cho các tổ chức cũng nên được đặt ra

Để khắc phục nhược điểm trên khi xây dựng luật biểu tình, các tác giả có kiến nghịđối với vấn đề này như sau:

Đối với những người không tham gia biểu tình nhưng có hành vi cản trở hoặc lợi dụng biểu tình để thực hiện những hành vi trái pháp luật cũng phải bị xử lý theo quy định.

Trách nhiệm của tổ chức:

Một tổ chức đứng ra tổ chức biểu tình mà có sai phạm dẫn đến thiệt hại hoặc nguy

cơ đe dọa gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng phải chịu trách nhiệm dân sự, hành chính hoặc cả hai.

5.2 Trách nhiệm của cơ quan Nhà nước

Mở đầu của các quy định về quyền tự do hội họp của công dân, Luật số 101 đãdành hẳn một điều để nói về trách nhiệm của Nhà nước trong việc đảm bảo thực

Trang 37

hiện quyền này của công dân Điều 1 (Luật số 101) quy định “Quyền tự do hội họp của nhân dân được tôn trọng và bảo đảm Không ai được xâm phạm đến quyền tự

do hội họp” Qua sự ghi nhận này, Nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa một

lần nữa khẳng định quyền tự do hội họp là một quyền cơ bản của công dân Mọingười dân có quyền hưởng nó chứ không phải được Nhà nước ban phát Nhà nước

thể hiện sự “tôn trọng” bằng cách thừa nhận thông qua những quy định cụ thể của

Pháp luật Nếu chỉ dừng lại ở sự thừa nhận của Pháp luật thì không có ý nghĩa trênthực tế Bởi vì, cái mà người dân cần đó chính là sự thực thi quyền này như thế

nào Việc “bảo đảm” cho quyền tự do hội họp được thực hiện cũng là một điều

kiện cho quyền biểu tình được thực hiện trên thực tế

Với một quy định rất ngắn gọn, Điều này đã nêu lên được hai vấn đề quan

trọng thuộc về trách nhiệm của Nhà nước đối với người dân Thứ nhất: sự thừa nhận quyền tự do hội họp là một quyền cơ bản của công dân Thứ hai: sự bảo đảm

của Nhà nước để quyền này được thực hiện Tuy nhiên, Điều luật chỉ nêu đơnthuần sự bảo đảm mà chưa có quy định cụ thể bảo đảm như thế nào Vì vậy, khicông dân thực hiện quyền biểu tình nếu có không có sự bảo đảm từ phía Nhà nướcngười dân cũng không có cơ sở để phản ánh và đòi hỏi Khi ấy, trách nhiệm củaNhà nước chỉ mang tính hình thức và quyền lợi của người dân không được đảmbảo Tức là việc quy trách nhiệm của Nhà nước trong việc không đảm bảo ấy làchưa có đủ căn cứ

Biểu tình là một quyền cơ bản của công dân Hiến pháp đã thừa nhận Nhànước có trách nhiệm trong việc đảm bảo cho nhân dân thực hiện quyền này Vì thế,trong điều kiện có thể mà Nhà nước không làm tròn trách nhiệm của mình thì cũngphải chịu trách nhiệm trước nhân dân

Luật biểu tình phải có quy định rõ ràng về trách nhiệm của cơ quan Nhà nước, cán

bộ công chức trong những trường hợp sau.

Thứ nhất: hạn chế hoặc cấm biểu tình không đúng luật.

Thứ hai: thiếu trách nhiệm trong việc đảm bảo thực hiện quyền biểu tình của người dân.

6 Chế tài xử phạt

Để đảm bảo hiệu lực thi hành, pháp luật phải có những chế tài cụ thể để xử lýngười vi phạm Luật số 101 đã dự liệu những trường hợp vi phạm điển hình, tùyvào mức độ nặng nhẹ và đưa ra các hình phạt đi kèm Trường hợp thứ nhất: được

sự cho phép của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nhưng cuộc hội họp đã không

tuân theo thể lệ về xin phép trước “Nếu không theo đúng thể lệ về việc xin phép trước thì người tổ chức, tuỳ trường hợp nặng nhẹ, sẽ bị cảnh cáo hoặc truy tố trước toà án và cuộc hội họp có thể bị cấm hoặc bị giải tán[65]” Cuộc hội họp

Trang 38

chưa được tổ chức có thể sẽ bị cấm hoặc cuộc hội họp đã được tổ chức có thể bịgiải tán tùy vào mức độ nghiêm trọng của sự vi phạm Người tổ chức bị xử lý dưới

hai hình thức: cảnh cáo hoặc truy tố Trường hợp sự vi phạm có mức độ nghiêm

trọng thì người tổ chức có thể bị phạt tiền và phạt tù hoặc cả hai Quy định này gópphần tạo sự lựa chọn cho cơ quan Nhà nước có thể linh động xem xét xử lý Mứccao nhất của phạt tiền có thể lên đến hai mươi lăm vạn đồng và sáu tháng tù Nhìnvào mức hình phạt ta có thể thấy, hình phạt tù tương đối nhẹ nhưng phạt tiền rấtnặng Năm vạn đồng đến hai mươi lăm vạn đồng thời điểm năm 1957 là cực kỳ lớnđối với mọi người Có thể dụng ý của những người ban hành Luật số 101 đó làđánh vào khả năng kinh tế của người vi phạm Thông qua đó, Nhà nước hạn chếđược sự vi phạm mà vẫn đảm bảo tính răn đe Trường hợp thứ hai: bị cấm hội họp

mà vẫn tiến hành “Trường hợp cuộc hội họp bị cấm mà vẫn cứ tổ chức hoặc đã bị giải tán mà vẫn cứ tổ chức lại, thì người chịu trách nhiệm sẽ bị truy tố trước toà

án và sẽ bị phạt tù từ một tháng đến một năm[66]” Đây là trường hợp có mức độ

nghiêm trọng hơn Hình phạt tiền không được áp dụng nữa mà người vi phạm sẽ bịtruy tố ra tòa và áp dụng hình phạt có tính cưỡng chế cao hơn đó là phạt tù Mứcphạt tù cao nhất cũng tăng hơn so với trường hợp cho phép hội họp nhưng khôngđúng thể lệ, từ sáu tháng lên một năm Việc xây dựng khung hình phạt cho Luậtbiểu tình chúng ta cần cân nhắc đến cả hai hình thức phạt tiền và phạt tù Người viphạm bị phạt tiền là cần thiết nhưng nếu quá chú trọng đến mức phạt tiền thì sẽkhông đảm bảo hiệu hiệu quả, nhiều người sẵn sàng nộp tiền để tiếp tục biểu tìnhtrái luật Vì vậy, hình phạt tù là một biện pháp cưỡng chế có sức răn đe mạnh nhất,cần đưa vào áp dụng một cách nghiêm khắc hơn

Không chỉ xử lý người tổ chức và người tụ họp trái luật Điều 6 của Luật số

101 cũng đưa ra những chế tài xử phạt đối với người ngăn cản và phá hoại các

cuộc hội họp “Người nào ngăn cản hoặc phá hoại các cuộc hội họp hợp pháp của người khác, ép buộc người khác tham dự vào các cuộc hội họp bất hợp pháp, bất

cứ bằng cách nào, có thể bị cảnh cáo hoặc bị truy tố trước toà án và bị xử phạt tù

từ một tháng đến một năm” Mức độ nghiêm khắc đối với người cản trở cuộc hội

họp của người khác cũng tương đương với người tổ chức hội họp trái luật Đối vớingười lợi dụng hội họp để thực hiện mưu đồ riêng thì luật không đưa ra biện pháp

xử lý rõ ràng “Người nào lợi dụng quyền tự do hội họp để hoạt động trái pháp luật, chống lại chế độ, chống lại chính quyền dân chủ nhân dân, chia rẽ dân tộc, phá tình hữu nghị giữa nhân dân ta với nhân dân các nước, tuyên truyền chiến tranh, âm mưu phá hoại sự nghiệp đấu tranh cho hoà bình thống nhất, độc lập, dân chủ, hành động có phương hại đến trật tự an ninh chung, hoặc đến thuần phong mỹ tục, sẽ bị truy tố trước toà án và xử phạt theo luật lệ hiện hành, và cuộc

hội họp sẽ bị cấm hoặc bị giải tán[67]” Xử lý vi phạm là rất cần thiết nhưng

không thể quy định chung chung theo cách “sẽ bị truy tố trước toà án và xử phạt

Trang 39

theo luật lệ hiện hành” Lợi dụng hội họp để chống chính quyền hay tuyên truyền

chiến tranh… là những hành vi rất nguy hiểm Đối với vấn đề biểu tình, những kẻxấu cũng có thể lợi dụng để thực hiện những hành vi nguy hiểm trên Vì vậy, chếtài của luật cũng phải theo hướng cụ thể và nặng hơn những trường hợp thôngthường

Xây dựng khung pháp lý để người dân thực hiện tốt quyền biểu tình là một yêu cầucấp thiết, nhưng để luật biểu tình thực sự là công cụ của Nhà nước quản lý xã hội

và dành được sự tôn trọng của nhân dân thì chế tài xử phạt phải phù hợp và đadạng tùy vào từng hành vi sai phạm

Những hành động phạm pháp có liên quan đến biểu tình cần phải được cụ thể hóa trong những chế tài xử phạt của Luật hành chính và Bộ Luật hình sự Nếu chúng ta xây dựng luật biểu tình mà không kịp thời bổ sung các biện pháp xử phạt thì Luật biểu tình không thể được thực nghiêm chỉnh Bởi vậy, việc xây dựng luật biểu tình cần tiến hành song song với việc quy định thêm hành vi nào bị xử phạt hành chính

và các hành vi nào sẽ cấu thành tội phạm để xử lý hình sự cho thỏa đáng

Trong lĩnh vực hành chính, chúng ta có thể kế thừa các quy định trong một số văn bản quy phạm pháp luật sau Pháp lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc hội số

04/2008/UBTVQH12 ngày 2 tháng 4 năm 2008 (sau đây gọi là Pháp lệnh

04/2008) Nghị định của Chính phủ số 128/2008/NĐ-CP ngày 16 tháng 12 năm

2008 quy định chi tiết thi hành một số điều cuả Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 và Pháp lệnh sửa đổi bổ sung một số điều của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2008

Tại Điểm a Khoản 2 Điều 14 Pháp lệnh 04/2008 có quy định “phạt tiền tối đa đến 30.000.000 đồng được áp dụng đối với hành vi vi phạm hành chính trong các lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội…” “Phạt tiền tối đa đến 40.000.000 đồng được

áp dụng đối với hành vi vi phạm hành chính trong các lĩnh vực giao thông đường

bộ, giao thông đường thủy nội địa, văn hóa thông tin, du lịch, phòng chống tệ nạn

xã hội”[68] Với những quy định này, các hành vi như lợi dụng biểu tình để gây mất an ninh trật tự, hay dùng bạo lực trái với quy định của Luật biểu tình có thể bị

xử lý Ngoài ra, Khoản 3 Pháp lệnh 04/2008 còn có một quy định mở đáng lưu ý

“đối với những hành vi vi phạm hành chính chưa được quy định tại Khoản 2 Điều này thì Chính phủ quy định mức phạt tiền nhưng tối đa không vượt quá

100.000.000 đồng Trong trường hợp luật quy định mức phạt tiền tối đa khác với quy định tại Điều này thì áp dụng quy định của luật” Như vậy, Chính phủ có thể

bổ sung các hành vi phạm pháp liên quan đến biểu tình để xử lý Theo quan điểm của các tác giả thì việc liệt kê hành vi thuộc lĩnh vực xử phạt mà không cần nêu cụ thể tên hành vi trái luật là hợp lý Việc xử phạt bao nhiêu sẽ do cơ quan hoặc người

Trang 40

có thẩm quyền xử phạt quyết định một cách linh hoạt tùy từng hoàn cảnh và đối tượng khác nhau, có như vậy pháp luật mới bền vững tránh sửa đổi nhiều lần

Để xử lý triệt để những hành vi vi phạm pháp luật mà tính chất và mức độ nguy hiểm của nó đã vượt quá giới hạn xử lý hành chính Chúng ta cần bổ sung thêm một tội danh nữa vào Bộ Luật hình sự hiện hành Đó là tội “vi phạm các quy định

về biểu tình” Hoạt động biểu tình luôn luôn liên quan đến nhiều người và khả năng ảnh hưởng đến trật tự công cộng là rất lớn Vì vậy, các tác giả kiến nghị xếp tội này vào Chương XIX về các tội xâm phạm an toàn công cộng và trật tự công cộng

Kiến nghị của các tác giả đối với vấn đề này đó là luật biểu tình phải có quy định chế tài xử phạt cụ thể cho từng trường hợp, từng đối tượng Việc lựa chọn chế tài

xử phạt phải thật nghiêm minh Cùng với quá trình xây dựng luật biểu tình thì chúng ta cần kế thừa và bổ sung thêm những hành vi trái luật liên quan đến biểu tình Đồng thời, Bộ luật hình sự nên bổ sung thêm một tội “vi phạm các quy định

về biểu tình” Có như vậy, Luật biểu tình mới được thực hiện nghiêm minh, tính giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung mới triệt để

7 Cấm sử dụng loa ở một số địa điểm

Đạo luật (SOCPA 2005) còn dành hẳn một mục riêng cho việc quy định về loaphóng thanh tại các khu vực quy định Mục 137 chỉ rõ rằng trong một số khu vựcnhất định thì việc sử dụng loa phóng thanh bị cấm, bất kể mục đích của việc dùngloa đó là gì, kể cả hoạt động biểu tình[69] Nhà làm luật cũng đã nêu ra các trườnghợp ngoại lệ như: sử dụng loa của xe chữa cháy, xe cứu thương, xe cảnh sát, thựchiện chức năng của cơ quan Nhà nước, cảnh báo trong giao thông đường thủy…được quy định tại các Điểm a đến Điểm i của tiểu mục 2 của mục này[70]

Việc quy định về vấn đề cấm sử dụng loa phóng thanh tại một số nơi công cộng(theo quy định) đối với bất kỳ hoạt động nào và mục đích nào là phù hợp Cónhững nơi cần được ưu tiên cho việc đảm bảo yên tĩnh như: bệnh viện, trường học,

cơ quan Nhà nước…thì việc sử dụng loa phải được hạn chế Do tính đặc thù củamột số nơi, sử dụng loa sẽ ảnh hưởng đến hoạt động bình thường và sức khỏe củanhững người đang ở trong khu vực đó Việc thực hiện lệnh này chỉ áp dụng chomột số nơi theo quy định của pháp luật chứ không áp dụng cho tất cả mọi nơi côngcộng Như vậy, pháp luật vẫn đảm bảo được việc sử dụng loa phóng thanh tronghoạt động biểu tình ở những nơi khác

Về vấn đề này các tác giả kiến nghị luật biểu tình phải có quy định việc cấm sử dụng loa phóng thanh và đưa đưa ra những địa điểm cụ thể cấm sử dụng loa phóng thanh Việc làm này sẽ tạo sự rõ ràng, tránh việc luật không có quy định

cấm sử dụng loa phóng thanh hoặc có quy định nhưng khu vực cấm không rõ ràngdẫn đến chuyện người biểu tình sử dụng loa thì cơ quan Nhà nước lại xử lý

Ngày đăng: 16/06/2015, 22:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w