• Lý do chọn đề tài Lượng chất thải phát sinh từ những hoạt động trên ngày càng tăng, đa dạng về thành phần và nguy cơ gây ô nhiễm lớn hơn.Một trong những nguồn gây ô nhiễm chủ yếu là ch
Trang 1 BÀI TIỂU LUẬN
MÔN: QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN VÀ CHẤT
THẢI NGUY HẠI
ĐỀ TÀI:
“QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI CÓ TRONG CHẤT
THẢI SINH HOẠT”
GVHD: PGS.TS Lê Thanh Hải
SVTH: Ngô Thị Tố Ly
Nguyễn Lê Uyển Như
Nguyễn Thị Hoài Trang
Phạm Phương Đông
Lớp: Quản lý môi trường Khóa: 2012
Trang 2MỤC LỤC
Trang 3MỞ ĐẦU
Đất nước ta hiện nay đang trên đà phát triển theo hướng công nghiệp hoá và hiện đại hoá Cùng với sự phát triển trên, quá trình đô thị hoá ở Việt Nam cũng đang phát triển không ngừng cả về tốc độ lẫn qui mô, về số lượng lẫn chất lượng Bên cạnh những mặt tích cực, những tiến bộ vượt bậc nói trên vẫn còn tồn tại những mặt tiêu cực, những hạn chế mà không một nước đang phát triển nào không phải đối mặt, đó là tình trạng môi trường ngày càng bị ô nhiễm cụ thể đó là ô nhiễm về đất, nước, không khí và tình trạng tài nguyên thiên nhiên ngày càng trở nên cạn kiệt, cũng như hàng loạt các vấn đề môi trường khác cần được giải quyết Hiện nay, đối với các thành phố trọng điểm thì vấn đề này càng trở nên trầm trọng hơn, đòi hỏi cần được quan tâm sâu sắc và kịp thời giải quyết một cách nghiêm túc, triệt để
• Lý do chọn đề tài
Lượng chất thải phát sinh từ những hoạt động trên ngày càng tăng, đa dạng về thành phần
và nguy cơ gây ô nhiễm lớn hơn.Một trong những nguồn gây ô nhiễm chủ yếu là chất thải rắn phát sinh từ hoạt động sản xuất, kinh tế và sinh hoạt hằng ngày
Chúng ta đều nhận thấy rác là một phần của cuộc sống, bất kỳ hoạt động nào của con người cũng đều phát sinh ra rác Xã hội ngày càng phát triển, lượng rác thải phát sinh ngày càng lớn và dần trở thành mối đe doạ của cuộc sống Trong khối lượng rác thải phát sinh trong sinh hoạt của của chúng ta có không ít các thành phần độc hại, gây tác hại đến không chỉ môi trường xung quanh, môi trường sống của chúng ta mà còn chính sức khoẻ của con người
Chọn đề tài “Quảng lý chất thải nguy hại có trong chất thải sinh hoạt” nhằm có cái nhìn
tổng quan về rác sinh hoạt và các chất thải nguy hại trong sinh hoạt hướng đến mục tiêu xây dựng ý thức cộng đồng trong thu gom các loại rác thải độc hại để bảo vệ không chỉ môi trường mà còn chính sức khoẻ của cộng đồng
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp thu thập số liệu
• Mục tiêu nghiên cứu:
- Nhận dạng các thành phần của chất thải sinh hoạt
- Nhận biết các chất thải nguy hại trong rác thải sinh hoạt
Đề xuất các giải pháp về quản lý chất thải sinh hoạt, chất thải nguy hại trong sinh hoạt
Trang 4CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI SINH HOẠT
1.1 Khái niệm
1.1.1 Chất thải sinh hoạt
Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn, được thải ra từ quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác
Chất thải rắn phát thải trong sinh hoạt các nhân, hộ gia đình, nơi công cộng như văn phòng, khách sạn, siêu thị, trường học… được gọi chung là chất thải rắn sinh hoạt
1.1.2 Chất thải nguy hại
Khái niệm về thuật ngữ “chất thải nguy hại” (Hazardous Waste) lần đầu tiên xuất
hiện vào thập niên 70 của thế kỷ trước tại các nước Âu – Mỹ, sau đó mở rộng ra nhiều quốc gia khác.Sau một thời gian nghiên cứu phát triển, tùy thuộc vào sự phát triển khoa học kỹ thuật và xã hội cũng như quan điểm của mỗi nước mà hiện nay trên thế giới có nhiều cách định nghĩa khác nhau về chất thải nguy hại trong luật và các văn bản dưới luật
về môi trường Chẳng hạn như:
- Chất thải nguy hại là những chất có độc tính, ăn mòn, gây kích thích, họat tính, có thể
cháy, nổ mà gây nguy hiểm cho con người, và động vật (định nghĩa của Philipine)
- Chất thải nguy hại là những chất mà do bản chất và tính chất của chúng có khả năng gây
nguy hại đến sức khỏe con người và/hoặc môi trường, và những chất này yêu cầu các kỹ thuật xử lý đặc biệt để lọai bỏ hoặc giảm đặc tính nguy hại của nó (định nghĩa của Canada)
- Ngòai chất thải phóng xạ và chất thải y tế, chất thải nguy hại là chất thải (dạng rắn, lỏng,
bán rắn, và các bình chứa khí) do họat tính hóa học, độc tính, nổ, ăn mòn hoặc các đặc tính khác, gây nguy hại hay có khả năng gây nguy hại đến sức khỏe con người hoặc môi trường bởi chính bản thân chúng hay khi được cho tiếp xúc với chất thải khác (theo UNEP, 1985)
- Trong Đạo luật RCRA (Resource Conservation and Recovery Act – 1976: Đạo luật về
thu hồi và bảo tồn tài nguyên) của Mỹ: chất thải (ở các dạng rắn, lỏng, bán rắn, và các
bình khí) có thể được coi là chất thải nguy hại khi:
+ Nằm trong danh mục chất thải chất thải nguy hại do Cục Bảo Vệ Môi Trường Hoa Kỳ (EPA) đưa ra (gồm 4 danh sách)
+ Có một trong 4 đặc tính (khi phân tích) do EPA đưa ra gồm cháy-nổ, ăn mòn, phản ứng
và độc tính Các phân tích để thử nghiệm này cũng do EPA qui định
Ở Việt Nam, Luật Bảo vệ môi trường số 52/2005/QH11 thì chất thải nguy hại (CTNH) là chất chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây ngộ độc hoặc đặc tính khác:
Trang 5“Chất thải nguy hại sinh hoạt” (domestic hazardous waste) là nói đến những việc thải bỏ những thứ đã qua sử dụng bởi các hoạt động sinh hoạt như cọ rửa, tẩy trùng, làm vườn, , sơn quét, diệt côn trùng, bảo dưỡng, xe cộ, sàn nhà…, nó có thể bao gồm một số dược phẩm và một số sản phẩm phục vụ cá nhân Thuật ngữ nguy hại trong trường hợp này là nói đến sự có mặt của những thành phần có thể có các đăc tính như ăn mòn, dễ cháy, dễ tác dụng với các chất khác hoặc độc hại đối với sức khỏe con người và môi trường.
1.2 Nguồn phát sinh và thành phần CTRSH
1.2.1 Nguồn phát sinh CTR SH
Các nguồn chủ yếu phát sinh CTRSH bao gồm:
- Rác sinh hoạt từ khu dân cư đô thị và nông thôn
- Rác sinh hoạt từ các trung tâm thương mại
- Rác từ các viện nghiên cứu, cơ quan, trường học, các công trình công cộng
- Rác từ các dịch vụ đô thị
- Rác từ các trạm xử lý nước thải và từ các ống thoát nước của thành phố
- Rác từ các khu công nghiệp, nhà máy, xí nghiệp, cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp ngoài khu công nghiệp, các làng nghề
1.2.2 Thành phần chất thải rắn sinh hoạt
Thành phần lý, hóa học của chất thải rắn đô thị rất khác nhau tùy thuộc vào từng địa phương, vào các mùa khí hậu, vào điều kiện kinh tế và nhiều yếu tố khác.Có rất nhiều thành phần chất thải rắn trong các rác thải có khả năng tái chế, tái sinh.Vì vây, mà việc nghiên cứu thành phần chất thải rắn sinh hoạt là điều hết sức cần thiết.Từ đó, ta có cơ sở
để tận dụng những thành phần có thể tái chế, tái sinh để phát triển kinh tế
Bảng 1: Định nghĩa thành phần của CTRSH
1. Các chất cháy được
Giấy Các vật liệu làm từ giấy bột và
giấy Các túi giấy, mảnh bìa, giấy vệ sinh…
Hàng dệt Có nguồn gốc từ các sợi Vải, len, nilon…
Thực phẩm Các chất thải từ đồ ăn thực
phẩm
Cọng rau, vỏ quả, thân cây, lõi ngô…
Cỏ, gỗ củi, rơm rạ Các vật liệu và sản phẩm được
chế tạo từ gỗ, tre, rơm… Đồ dùng bằng gỗ như bàn, ghế, đồ chơi, vỏ dừa…
Chất dẻo Các vật liệu và sản phẩm được
chế tạo từ chất dẻo
Phim cuộn, túi chất dẻo, chai, lọ Chất dẻo, các đầu vòi, dây điện…
Da và cao su Các vật liệu và sản phẩm được
chế tạo từ da và cao su Bóng, giày, ví, băng cao su…
Trang 62. Các chất không
cháy
Các kim loại sắt Các vật liệu và sản phẩm được
chế tạo từ sắt mà dễ bị nam châm hút
Vỏ hộp, dây điện, hàng rào, dao, nắp lọ…
Các kim loại phi sắt Các vật liệu không bị nam
châm hút Vỏ nhôm, giấy bao gói, đồ đựng…
Thủy tinh Các vật liệu và sản phẩm được
chế tạo từ thủy tinh
Chai lọ, đồ đựng bằng thủy tinh, bóng đèn…
Đá và sành sứ Bất kỳ các loại vật liệu không
cháy khác ngoài kim loại và thủy tinh
Mỗi nguồn thải khác nhau có các loại chất thải đặc trưng khác nhau cho từng
nguồn thải.Bảng 2: Thành phần CTRSH phát sinh từ các nguồn thải
1 Khu dân cư và thương mại Chất thải thực phẩm, giấy, carton, nhựa, vải, cao
su, rác vườn, gỗ, nhôm, kim loại chứa sắt và các loại khác (tã lót, khăn vệ sinh…)
2 Chất thải đặc biệt Chất thải có thể tích lớn (bàn, tủ, tivi hư hỏng…),
đồ điện gia dụng, hàng hóa, rác vườn thu gom riêng, pin, dầu, lốp xe, chất thải nguy hại
3 Chất thải từ viện nghiên
cứu, công sở
Giống như trình bày trong mục chất thải khu dân
cư và thương mại, ngoài ra còn có thể chứa dầu
mỡ, phóng xạ, vi sinh, hóa chất có độc tính cao
4 Chất thải từ dịch vụ Vệ sinh đường và hẻm phố: rác, đất, cát, sỏi, xác
động vật, thiết bị nặng Cỏ, mẫu cây thừa, gốc cây, các ống kim loại và nhựa cũ Chất thải thực phẩm, giấy báo, carton, giấy loại hỗn hợp, vải, giẻ rách,
…
1.3 Phân loại chất thải nguy hại
Có nhiều cách phân loại chất thải nguy hại, nhưng nhìn chung đều theo 2 cách như sau:
- Theo đặc tính (dựa vào định nghĩa trên cơ sở 4 đặc tính cơ bản)
- Theo danh sách liệt kê được ban hành kèm theo luật
Trang 7- Là chất thải (lỏng hoặc không phải chất lỏng) có thể cháy qua việc ma sát, hấp phụ độ
ẩm, hay tự biến đổi hóa học, khi bắt lửa, cháy rất mãnh liệt và liên tục (dai dẳng) tạo ra hay có thể tạo ra chất nguy hại, trong các điều kiện nhiệt độ và áp suất tiêu chuẩn
- Là chất lỏng có pH nhỏ hơn hoặc bằng 2 hay lớn hơn hoặc bằng 12.5
- Là chất lỏng có tốc độ ăn mòn thép lớn hơn 6,35 mm (0.25 inch) một năm ở nhiệt độ thí nghiệm là 55oC (130oF)
Tính phản ứng (Reactivity)
Chất thải được coi là nguy hại và có tính phản ứng khi mẫu đại diện chất thải này thể hiện một tính chất bất kỳ trong các tính chất sau:
- Thường không ổn định và dễ thay đổi một cách mãnh liệt mà không gây nổ
- Phản ứng mãnh liệt với nước
- Ở dạng khi trộn với nước có khả năng nổ
- Khi trộn với nước, chất thải sinh ra khí độc, bay hơi, hoặc khói với lượng có thể gây nguy hại cho sức khỏe con người hoặc môi trường
- Là chất thải chứa cyanide hay sulfide ở điều kiện pH giữa 2 và 11.5 có thể tạo ra khí độc, hơi, hoặc khói với lượng có thể gây nguy hại cho sức khỏe con người hoặc môi trường
- Chất thải có thể nổ hoặc phản ứng gây nổ nếu tiếp xúc với nguồn kích nổ mạnh hoặc nếu được gia nhiệt trong thùng kín
- Chất thải có thể dễ dàng nổ hoặc phân hủy (phân ly) nổ, hay phản ứng ở nhiệt độ và áp suất chuẩn
- Là chất nổ bị cấm theo Luật định
Đặc tính độc (Toxicity)
Để xác định đặc tính độc hại của chất thải ngoài biện pháp sử dụng bảng liệt kê danh sách các chất độc hại được ban hành kèm theo luật của mỗi nước, hiện nay còn phổ
Trang 8biến việc sử dụng phương pháp xác định đặc tính độc hại bằng phương thức rò rỉ (Toxicity Charateristic Leaching Procedure-TCLP) để xác định Kết quả của các thành phần trong thí nghiệm được so sánh với giá trị được cho trong Bảng 1.2 (gồm 25 chất hữu
cơ, 8 kim loại và 6 thuốc trừ sâu), nếu nồng độ lớn hơn giá trị trong bảng thì có thể kết luận chất thải đó là chất thải nguy hại
Bảng 3: Nồng độ tối đa chất ô nhiễm đối với độc tính
Nhóm CTNH theo EPA
Chất ô nhiễm Nồng
độ tối đa (mg/l)
Trang 9a : Thành phần ô nhiễm độc tính theo EP trước đây
Nguồn: RCRA (Mỹ), điều 40, phần 261.24
Ngoài ra, việc phân loại theo đặc tính của chất thải nguy hại cũng được thể hiện trên quan điểm những mối nguy hại tiềm tàng và các tính chất chung của chúng được chia
- Nhóm 5: những tác nhân oxy hóa và các peoxit hữu cơ
- Nhóm 6: chất gây độc và chất gây nhiễm bệnh
1. Chất thải từ ngành thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản, dầu khí và than
2. Chất thải từ ngành sản xuất hóa chất vô cơ
3. Chất thải từ ngành sản xuất hóa chất hữu cơ
4. Chất thải từ ngành nhiệt điện và các quá trình nhiệt khác
Trang 105. Chất thải từ ngành luyện kim.
6. Chất thải từ ngành sản xuất vật liệu xây dựng và thủy tinh
7. Chất thải từ quá trình xử lý, che phủ bề mặt, tạo hình kim loại và các vật liệu khác
8. Chất thải từ quá trình sản xuất, điều chế, cung ứng, sử dụng các sản phẩm che phủ (sơn, véc ni, men thủy tinh), chất kết dính, chất bịt kín và mực in
9. Chất thải từ ngành chế biến gỗ, sản xuất các sản phẩm gỗ, giấy và bột giấy
10. Chất thải từ ngành chế biến da, lông và dệt nhuộm
11. Chất thải xây dựng và phá dỡ (kể cả đất đào từ các khu vực bị ô nhiễm)
12. Chất thải từ các cơ sở tái chế, xử lý, tiêu hủy chất thải, xử lý nước cấp sinh hoạt và công nghiệp
13. Chất thải từ ngành y tế và thú y (trừ chất thải sinh hoạt từ ngành này)
14. Chất thải từ ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản
15. Thiết bị, phương tiện giao thông vận tải đã hết hạn sử dụng và chất thải từ hoạt động phá dỡ, bảo dưỡng thiết bị, phương tiện giao thông vận tải
16. Chất thải hộ gia đình và chất thải sinh hoạt từ các nguồn khác
17. Dầu thải, chất thải từ nhiên liệu lỏng, chất thải dung môi hữu cơ, môi chất lạnh và chất đẩy (propellant)
18. Các loại chất thải bao bì, chất hấp thụ, giẻ lau, vật liệu lọc và vải bảo vệ
19. Các loại chất khác
CHƯƠNG 2: HIỆN TRẠNG CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT
2.1 Thực trạng chất thải rắn sinh hoạt
Tổng lượng CTR sinh hoạt ở các đô thị phát sinh trên toàn quốc tăng trung bình 10
÷ 16 % mỗi năm.Tại hầu hết các đô thị, khối lượng CTR sinh hoạt chiếm khoảng 60 - 70% tổng lượng CTR đô thị (một số đô thị tỷ lệ này lên đến 90%)
Kết quả điều tra tổng thể năm 2006 – 2007 đã cho thấy, lượng CTR đô thị phát sinh chủyếu tập trung ởhai đô thị đặc biệt là HàNội và Tp Hồ Chí Minh, chiếm tới 45,24% tổng lượng CTR sinh hoạt phát sinh từ tất cảcác đô thị tương ứng khoảng 8.000 tấn/ngày (2,92 triệu tấn/năm) Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện tại, tổng lượng và chỉsố
Trang 11phát sinh CTR đô thị của đô thị đặc biệt vàđô thị loại 1 hiện nay đã tăng lên rất nhiều Nguyên nhân của sự gia tăng này là do Thủđô Hà Nội sau khi điều chỉnh địa giới hành chính thì lượng CTR đô thị phát sinh đã lên đến 6.500 tấn/ngày (con số của năm 2007 là 2.600 tấn/ngày), bên cạnh đó, số đô thị loại 1 đã tăng lên 10 đô thị (trong khi năm 2007 là
Nguồn: Kết quả khảo sát năm 2006, 2007 và báo cáo của các Sở TN&MT
Tính theo vùng địa lý (hay vùng phát triển kinh tế - xã hội) thì các đô thị vùng Đông Nam Bộ có lượng CTRSH phát sinh lớn nhất tới 2.450.245 tấn/năm (chiếm 37,94% tổng lượng phát sinh CTRSH các đô thị loại III trở lên của cả nước), tiếp đến là các đô thị vùng Đồng Bằng sông Hồng có lượng phát sinh CTRSH đô thị là 1.622.060 tấn/năm (chiếm 25,12%) Các đô thị khu vực miền núi Tây Bắc Bộ có lượng phát sinh CTRSH đô thị thấp nhất chỉ có 69.350 tấn/năm (chiếm 1,07%), tiếp đến là các đô thị thuộc các vùng Trong đó, đô thị có lượng CTRSH phát sinh lớn nhất là TPHCM (7.081 tấn/ngày), Hà Nội (6.500 tấn/ngày)
STT Đơn vị hành chính Lượng CTRSH bình
quân đầu người (kg/người/ngày)
Lượng CTRSH đô thị phát sinh
Trang 12Nguồn: Kết quả khảo sát năm 2006, 2007 và báo cáo của các địa phương
Với kết quả điều tra thống kê chưa đầy đủ như trên cho thấy, tổng lượng phát sinh CTRSH tại các đô thị ở nước ta ngày càng gia tăng với tỷ lệ tương đối cao (10%/năm) so với các nước phát triển trên thế giới Dự báo tổng lượng CTRSH đô thị đến năm 2010 vào khoảng hơn 12 triệu tấn/năm và đến năm 2020 khoảng gần 22 triệu tấn/năm
Kết quả điều tra cho thấy lượng chất thải rắn đô thị phụ thuộc vào 2 yếu tố chính:
sự phát triển của nền kinh tế và dân số Theo thống kê mức chất thải rắn ở các nước đang phát triển trung bình là 0,3 kg/người/ ngày Tại các đô thị ở nước ta, trung bình mỗi ngày mỗi người thải ra khoảng 0,5 kg - 0,8 kg rác Khối lượng rác tăng theo sự gia tăng của dân
số Rác tồn đọng trong khu tập thể, trong phố xá phụ thuộc vào yếu tố như: địa hình, thời tiết, hoạt động của người thu gom… Rất khó xác định thành phần CTR đô thị, vì trước khi tập trung đến bãi rác đã được thu gom sơ bộ Tuy thành phần CTR ở các đô thị là khác nhau nhưng đều có chung 2 đặc điểm:
- Thành phần rác thải hữu cơ khó phân huỷ, thực phẩm hư hỏng, lá cây, cỏ trung bình chiếm khoảng 30 - 60 %, đây là điều kiện tốt để chôn, ủ hay chế biến CTR thành phân hữu cơ
- Thành phần đất, cát, vật liệu xây dựng và các chất vô cơ khác trung bình chiếm khoảng
20 - 40%
Bên cạnh đó, thành phần và khối lượng CTR thay đổi theo các yếu tố sau đây: điều kiện kinh tế - xã hội, thời tiết trong năm, thói quen và thái độ của xã hội, quản lý và chế biến trong sản xuất, chính sách của nhà nước về chất thải
Theo báo cáo môi trường quốc gia, tỷ lệ phát sinh chất thải rắn đã tăng tới 0,9 kg lên 1,2 kg/người/ngày ở các thành phố lớn, từ 0,5 kg lên 0,65 kg/người ngày tại các đô thị nhỏ Trong khi đó, tỷ lệ thu gom CTR ở các vùng đô thị trung bình đạt khoảng 70%, ở các vùng nông thôn nhỏ đạt dưới 20%
2.2 Đặc tính chất thải nguy hại hộ gia đình
Theo thống kê, CTNH còn bị thải lẫn vào chất thải sinh hoạt mang đến bãi chôn lấp là 0,02 ÷ 0,82% CTNH trong sinh hoạt thường là: pin, ắc-quy, đèn tuýp, nhiệt kế thủy ngân vỡ, bao bì chất tẩy rửa, vỏ hộp sơn, vec-ny, vỏ hộp thuốc nhuộm tóc, lọ sơn móng tay, vỏ bao thuốc trừ sâu, chất thải y tế lây nhiễm của các cơ sở khám chữa bệnh nhỏ lẻ, các bơm kim tiêm của các đối tượng nghiện chích ma túy,
Pin thải và ắc-quy thải: theo điều tra của đề tài rác thải pin-ắcquy ở Hà Nội năm
2004 cho thấy: Mức tiêu thu pin R6 Zn-C ở khu vực nội thành là 5÷8 cái/người/năm, khu vực ngoại thành là 3÷5 cái/người/năm Ước tính lượng pin thải R6 Zn-C ở Hà Nội năm
2004 là 200÷350 tấn/năm (con số tương ứng năm 2010 có thể đạt tới 750 tấn) Ắc-quy chạy xe gắn máy chủ yếu là loại ắc-quy chì-axit, tuổi thọ trung bình là 5 năm/cái với trọng
Trang 13lượng 2,5 kg/ắc-quy Ước tính lượng ắc-quy xe máy chì-axit vào năm 2004 ở Hà Nội là
580 tấn/ năm (con số tương ứng cho năm 2010 có thể đạt trên 1.200 tấn)
Bên cạnh đó, lượng chất thải điện tử và điện dân dụng thải ra từ các đô thị như tivi,
tủ lạnh, quạt điện, máy tính, đồ dân dụng, ngày càng tăng Các chất thải điện tử được thải
ra sẽ được những người thu mua tiến hành một trong các hoạt động sau: (1) Các thiết bị còn sửa chữa được sẽ được các cửa hàng sửa chữa và thời gian hoạt động của các thiết bị này sẽ được kéo dài Các chi tiết hỏng sẽ được thải cùng với chất thải sinh hoạt; (2) Các
đồ dùng đã hỏng sẽ tháo rời thành các bộ phận bán cho cơ sở sửa chữa để tận dụng thiết
bị như tụ, bản mạch, Các chất thải điện tử được tháo rời và tái chế thu hồi kim loại (Cu,
Pb, Al, Au, Ag, ), nhựa, dây đồng, phần không bán được sẽ thải cùng với rác sinh hoạt Ngoài các đồ điện, điện tử dân dụng thải ra, Việt Nam còn có 52 doanh nghiệp sản xuất
đồ điện và điện tử, Các doanh nghiệp này khi sản xuất các mạch in, đèn hình, lắp ráp đồ điện tử như ti-vi, tủ lạnh, máy điều hòa, máy giặt, sẽ thải ra chất thải là các chi tiết hỏng, bao bì, Với cách thức thải và xử lý đồ điện tử như trên, đây sẽ là một vấn nạn cho nước ta khi lượng chất thải điện tử ngày càng tăng
Theo dự báo thì lượng CTR sinh hoạt đô thị năm 2015 tăng gấp 1,6 lần, năm 2020 tăng gấp 2,37 lần, năm 2025 gấp 3,2 lần so với năm 2010 Đây sẽ là áp lực lớn đối với công tác quản lý CTR đô thị trong thời gian tới Thành phần CTR cũng thay đổi đáng kể
do mức độ tiêu dùng tăng cao, hàng hóa ngày càng đa dạng Chất lượng cuộc sống tăng cao kéo theo CTNH cũng tăng, trở thành nguồn gây ô nhiễm môi trường đáng kể Ngoài
ra, thông tin về CTNH cũng như các sản phẩm chứa chất độc hại trong gia đình chưa được phổ biến đầy đủ đến người dân
Trên thực tế, CTNH trong sinh hoạt vẫn chưa được thu gom và xử lý riêng và bị thải lẫn với CTR sinh hoạt để đưa đến bãi chôn lấp Việc chôn lấp và xử lý chung sẽ gây
ra nhiều tác hại cho những người tiếp xúc trực tiếp với rác, ảnh hưởng tới quá trình phân hủy rác và hòa tan các chất nguy hại vào nước rỉ rác Hiện nay, trong báo cáo của các cơ quan quản lý chưa quan tâm đúng mức và chưa có biện pháp kiểm soát hiệu quả CTNH HGĐ
Một số CTNHSH trong gia đình thường được thu gom hiện nay ở Việt Nam
- Sản phẩm bảo dưỡng xe (dầu xe đã sử dụng, dầu phanh, bộ tải nhiệt, bộ tảm nhiệt, xi sáp…)
- Sản phẩm dùng trong công việc làm vườn (hộp đựng, thuốc phun diệt côn trùng, chất diệt nấm, cỏ, các loại thuốc trừ sâu)
- Sản phẩm dùng sơn (dung môi, chất pha loãng, nhựa thông, keo dính, chất đánh bóng, chất để làm bong sơn cũ) Đối với sơn nước nên dùng hết nếu có thể, hoặc trộn với sơn khác để tái sử dụng.Phần còn lại để khô cho rắn lại rồi bỏ vào chỗ để thải loại.Tái chế sơn
cũ nếu có thể
- Sản phẩm dùng để bảo dưỡng nhà sàn (chổi cạo sơn, máy hút bụi, đánh bóng…)
Trang 14- Sản phẩm bảo dưỡng bể bơi (clo nước, clo hạt, axit…)
- Sản phẩm dùng diệt côn trùng (thuốc diệt chuột, bình phun dán, mối)
- Pin dùng trong nhà (pin sạc và pin thường)
- Các hóa chất thải ra từ các công việc sở thích riêng (có thể có dung môi) ví dụ như làm ảnh (có thể chứa bạc)
- Các sản phẩm phục vụ cá nhân (việc chăm sóc tóc, dụng cụ cắt tóc, dụng cụ cạo sơn móng tay móng chân)
- Thuốc thú y và thuốc cho người
- Các thứ linh tinh khác (thủy ngân từ nhiệt kế, chất thải lây nhiễm và chất thải phóng xạ trong gia đình chứ không phải trong công nghiệp)
- Những thứ không xác định được (không có nhãn)
- Bình phun và bình có khí áp…
2.3 Thành phần và số lượng
Với dân số hơn 9 triệu người, tổng khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trên địa bàn TP.HCM khoảng 7.500 – 8.000 tấn/ngày Trong khi đó, tổng khối lượng chất thải rắn sinh hoạt thu gom và vận chuyển đến các khu xử lý khoảng 6.500 – 6.700 tấn/ngày Tỉ lệ thu gom có xu hướng tăng dần theo thời gian, từ 75% lên gần 85%
Bảng 5: Khối lượng chất thải rắn sinh hoạt thu gom từ năm 2008 – 2010
Trường học (%
trọng lượng ướt)
Nhà hàng và khách sạn (% trọng lượng ướt)
1 Thực phẩm 61,0 – 96,6 23,5 – 75,8 79,5 – 100
Trang 15-Nguồn: Báo cáo cơ sở dữ liệu quản lý chất thải rắn tại TP.HCM, 2010
Các thành phần có khả năng tái chế với giá trị kinh tế cao giảm đáng kể tại các bãi chôn lấp như: ni lông, nhựa, giấy, kim loại
Bảng 7: Thành phần chất thải rắn tại các bãi chôn lấp
Trang 1615 Kim loại màu 0,1 – 0,2 0,1 – 0,2
Trang 17CHƯƠNG 3: PHÂN LOẠI CHẤT THẢI NGUY HẠI CÓ TRONG CHẤT
THẢI SINH HOẠT 3.1 Phân loại chất thải nguy hại có trong chất thải sinh hoạt
Các khu đô thị chỉ chiếm 24% dân số cả nước nhưng lại phát sinh hơn 6 triệu tấn chất thải mỗi năm gần bằng 50% tổng lượng chất thải của cả nước Nguyên nhân chính là
do dân số tập trung cao, nhu cầu tiêu dùng lớn, hoạt động thương mại đa dạng và tốc độ
đô thị hóa cao Chất thải đô thị thường có những thành phần nguy hại lớn như các loại pin, dung môi sử dụng trong gia đình và chất thải không phân hủy như nhựa, kim loại và thủy tinh Bên cạnh đó, nguồn thải trên diện rộng và ý thức của người dân chưa cao trong việc phân loại rác tại nguồn cho nên các chất thải nguy hại lẩn trong rác thải sinh hoạt thông thường nên rất khó quản lý Đã có nhiều văn bản pháp lý về quản lý chất thải nguy hại được ban hành trong đó hai văn bản hết sức quan trọng đối với chất thải nguy hại hộ gia đình như thông tư 12/2011/TT-BTNMT quy định về quản lý chất thải nguy hại và QCVN07:2009/BTNMT quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ngưỡng chất thải nguy hại, một
số rác thải nguy hại trong chất thải sinh hoạt đã được áp mã
Trong thông tư 12/2011/TT-BTNMT đối với chất thải nguy hại có nguồn gốc từ hộ gia đình và chất thải sinh hoạt từ các nguồn khác chủ yếu nằm ở vị trí nhóm mã 16.Tuy nhiên trong thông tư chỉ đưa ra nhóm chất thải chứ vẫn chưa cụ thể là sản phẩm gì Do đó việc áp mã CTNH cho các chất thải cụ thể là rất cần thiết và thuận tiện trong quá trình quản lý và xử lý
Bảng 8: Danh mục chất thải hộ gia đình và chất thải sinh hoạt từ các nguồn khác
Mã
Mã Basell (A/B)
Mã Basel (Y)
Tính chất nguy hại
Trạng thái (thể) tồn tại
thông thường
Ngưỡng CTNH
16 CHẤT THẢI HỘ GIA ĐÌNH VÀ CHẤT THẢI SINH HOẠT TỪ CÁC
NGUỒN KHÁC
1601 Các thành phần chất thải đã 20 01
Trang 18được thu gom, phân loại (trừ
các loại nêu phân nhóm mã 18
Đ,
ĐS, C
Đ, ĐS
Đ, ĐSRắn/lỏng **
16 01 04 Chất quang hoá thải 20 01 17 Y16 Đ,
ĐSRắn/lỏng **
16 01 05 Thuốc diệt trừ các loài gây hại
thải
20 01 19 A4030 Y4 Đ,
ĐSRắn/lỏng **
Đ,
ĐS, CRắn/lỏng *
16 01 10 Chất tẩy rửa thải có các thành
phần nguy hại
Đ, ĐS
16 01 11 Các loại dược phẩm gây độc tế
bào (cytotoxic và cytostatic) thải
20 01 31 A4010 Y3 Đ Rắn/lỏng **
16 01 12 Pin, ắc quy thải 20 01 33 A1160
A1170
Y26Y29Y31
Đ,
ĐS, AM
16 01 13 Các thiết bị, linh kiện điện tử
thải hoặc các thiết bị điện (khác
với các loại nêu tại mã 16 01 06,
16 01 07, 16 01 12) có các linh
20 01 35 A1180
A2011
Y26Y29Y31
Đ, ĐS
Trang 19kiện điện tử (trừ bản mạch điện
tử không chứa các chi tiết có các
thành phần nguy hại vượt
THÀNH PHẦN NGUY HẠI CHÍNH
NGUỒN PHÁT SINH
TÍNH CHẤT NGUY HẠI
NGƯỠNG CHẤT THẢI NGUY HẠI
16 01 01
Dung dịch rửa móng tay
Acetone
Hộgia đình,tiệm trang điểm và các thẩm
mỹ viện
Đ, ĐS
**
Sơn móng tay
NitrocelluloseDibutyl phthalateEthylemethalcrylateMethylmethalcrylateTosylamidFormaldehit(nhự
a thông)Toluene
Đ, ĐS, C
Thuốc nhuộm
P-phenylenedamine (PPD), toluene-diaminesulphate (TDS), aminoazobenzene, xylidine và aminophenol
Đ, ĐS
Các loại mỹ phẩm (gel vuốt tóc, kem, phấn )
Kim loại nặng chủ yếu là chì
Chất hữu cơ bay hơi
Hộ gia đình, nhà hàng,
N, Đ, ĐS
**
Trang 20(muỗi, kiến, gián,
Các loại dụng đo nhiệt kế, khí áp
Thuỷ ngân
Bột huỳnh quang (Ca5(PO4)3X (X = F, Cl)
Hộ gia đình đặc biệt là tài các cửa hàng sửa
đồ nội thất
Kim loại nặng như Cd, Pb Các CHC bay hơi( VOCs) Naphthalene, Toluen, Xylen
Phụ gia: formaldehit,
Hộ gia đình và các cửa hàng làm mộc
C, Đ, ĐS *
16 01 10
Thuốc giặt tẩy
Bột giặt Nước rửa chén
16 01 11
Thuốc và các loại thuốc chữa bệnh quá hạn sử dụng
Tuỳ thuộc vào từng loại thuốc*
Hộ gia đình, cửa hàng bán tân dược
Đ, ĐS **
Trang 21accquy
Dung dịch acid sulfuaric
đình, tiệm sửa xe
16 01 13
Tụ điện, bản mạch điện tử
CadmiumThủy ngânChì
Crom
Hộ gia đình, tiệm sửa chữa điện tử
Đ, ĐS **
16 01 14
Bàn ghế gỗ
có chất bảo quản
Chlorpyrifos
CarbendazimFormaldehitPentachlorophenol
Hộ gia đình, cửa hàng làm mộc
+ aminoazobenzene: C 12 H 11 N 3
Amin (còn được viết là amine) là hợp chất hữu cơ có nguyên tử
gốc là nitơ (đạm khí) trong nhóm chức Những amin có cấu hình tương
tự amoniac (ammonia), nhưng trong đó một (hay một số) nguyên tử hyđrô được thay bằng nhóm alkyl hay loại nhóm chức khác chứa cacbon (nhóm R)
Bậc của amin chính là số nguyên tử hyđrô được thay thế.Thay thế 1, 2 hoặc 3 nguyên tử
hyđrô, lần lượt ta có amin bậc 1 (primary amine), amin bậc 2 (secondary amine) và amin bậc 3 (tertiary amine).
Amoniac: Amin bậc 1: Amin bậc 2: Amin bậc 3:
Trang 22Khi một hợp chất có nhiều nhóm amin, nó được gọi là diamin, triamin, tetraamin
Còn nếu nhóm amin liên kết với vòng benzen, chúng ta có hợp chất amin thơm Hợp chất đơn giản nhất của dãy amin thơm là anilin
+ Xylidine: C 8 H 11 N, hoặc (CH 3 ) 2 C 6 H 3 NH 2
- Xylidine là một trong sáu đồng phân của xylen amin, hoặc bất kỳ hỗn hợp của chúng Tất cả các đồng phân có mùi độc hại
- Tính chất vật lý: ổn định và dễ cháy và phản ứng với các tác nhân oxy hóa mạnh
mẽ, nhạy cảm ánh sáng Thường là chất lỏng màu vàng (trừ 3,4-xylidine đó là rắn) trở nên tối màu khi tiếp xúc với không khí và ánh sáng Có thể trộn với ethanol và diethyl ether và ít tan trong nước
- Xylidines được sử dụng chủ yếu trong sản xuất bột màu và thuốc nhuộm, và cũng
có nhiều chất chống oxy hóa, hóa chất nông nghiệp, dược phẩm, và nhiều hóa chất hữu cơ khác Ngoài ra, Xylidines cũng được sử dụng như một thành phần của nhiên liệu tên lửa Tonka
+ toluene-diaminesulphate (TDS)
3.2.2 Dung dịch rửa móng tay:
+ Aceton: (CH 3 ) 2 CO hoặc C 3 H 6 O
Trang 23Acetone là thành phần chính trong dung môi pha sơn, một hợp chất hữu cơ tồn tại chủ yếu ở dạng lỏng, không màu, dễ cháy (nhiệt độ tự bốc cháy: 4650C), tan vô hạn trong nước, có mùi thơm đặc trưng nên còn được gọi là “xăng thơm”
-Dung môi này có khả năng ăn mòn nhựa (plastic) và cao su nên rất nguy hiểm nếu sử dụng các dụng cụ chứa không đúng tiêu chuẩn Trong điều kiện nhiệt độ bình thường, Acetone có khả năng bay hơi rất mạnh Nếu dụng cụ chứa bị rò rỉ vì một nguyên nhân nào đó, Acetone sẽ nhanh chóng hóa hơi và bay là là dưới mặt đất do khối lượng riêng của nó nặng hơn không khí
-Với đặc điểm như vậy, hơi Acetone sẽ tập trung ở những chổ trũng, khuất gió và kết hợp với Oxy trong không khí để trở thành hỗn hợp nguy hiểm cháy nổ khi đạt đến một
tỷ lệ nhất định, tỷ lệ này còn được gọi là khoảng giới hạn nồng độ bắt cháy Hỗn hợp này có nhiệt độ bắt cháy rất thấp, nên một khi nó đã được sinh ra thì chỉ cần tiếp xúc với một tia lửa rất nhỏ cũng đủ để gây cháy, nổ
3.2.3 Sơn móng tay
+ Toluen: C7H8 hoặc C6H5CH3
-Còn gọi là mêtylbenzen hay phenylmêtan, là một chất lỏng trong suốt, không hòa tan trong nước Toluen là một hyđrocacbon thơm được sử dụng làm dung môi rộng rãi trong công nghiệp
-Là một hyđrocacbon thơm, toluene có khả năng tham gia phản ứng thế ái điện tử Nhờ có nhóm mêtyl mà độ hoạt động hóa học của toluene trong phản ứng này lớn gấp 25 lần so với benzen Vì vòng thơm khá bền nên cần áp suất cao khi tiến hành phản ứng hyđro hóa toluen thành mêtylcyclohexan
-Toluen chủ yếu được dùng làm dung môi hòa tan nhiều loại vật liệu như sơn, các loại nhựa tạo màng cho sơn, mực in, chất hóa học, cao su, mực in, chất kết dính, Nếu tiếp xúc với toluene trong thời gian đủ dài, có thể bị bệnh ung thư.Người ta thường điều chế bằng cách tách ra từ sản phẩm chưng cất một số nhựa cây thông, than đá
+ Nitrocellulose: C 20 H 16 N 4
Trang 24· Không dẻo nhiệt
b) Tính chất hoà tan của nitrocellulose
- Một trong những tính chất quan trọng nhất của nitrocellulose là khả năng hoà tan tốt trong nhiều loại dung môi (ester, ketone, glycoll ether,alcohol…)
- Nitrocellulose hoà tan tạo ra dạng gel nhớt.Dung dịch thu được trong mờ và ít có màu Độ nhớt của dung dịch khác nhau do độ dài của chuỗi phân tử
c) Dung môi của nitrocellulose
- Nitrocellulose hoà tan trong acetic esters(ethyl, isopropyl và butyl acetate : được dùng thường nhất), ketones( acetone,MEK, MIBK) và vài glycol ethers
- Cồn không là dung môi thật sự của nitrocellulose,nhưng chúng tạo ra tính tan khi dùng kết hợp với dung môi thực sự, chúng là dung môi sau cùng
- Thường sử dụng kết hợp dung môi thực sự, dung môi sau cùng và chất pha loãng Vd: ethyl acetate/isopropanol/toluene
c) Quá trình làm khô màng nitrocellulose
- Màng cellulose khô do sự bay hơi của dung môi thật sự Nitrocellulose tạo màng khô nhanh Tốc độ khô có thể được điều khiển bằng cách chọn lựa dung môi có tốc độ bay hơi khác nhau
- Một hỗn hợp dung môi có thành phần thích hợp sẽ bay hơi nhanh và tạo một màng đồng nhất
+ Dibutyl phthalate: C 16 H 22 O 4
Trang 25Dibutyl phthalate (DBP) là một chất làm dẻo thường được sử dụng.Nó cũng được sử dụng như một phụ gia cho chất kết dính hoặc mực in Nó hòa tan trong các dung môi hữu cơ khác nhau, ví dụ trong rượu, ether và benzene Chất DBP cũng được sử dụng như một ectoparasiticide.
+ Ethylemethalcrylate: C6H10O2
+ Methyl methacrylate: CH 2 =C(CH 3 )COOCH 3 hoặc C 5 H 8 O 2
- Chất lỏng không màu này, methyl este của axit metacrylic (MAA) là một monomer sản xuất trên quy mô lớn để sản xuất poly (methyl methacrylate) (PMMA)
- PMMA cũng được tìm thấy trong sơn PMMA không hòa tan trong nước, do đó phân tán PMMA trong nước đòi hỏi chúng ta sử dụng polymer khác để làm cho nước và PMMA tương thích với nhau
3.2.4 Các hợp chất dễ bay hơi VOCs (Volatile organic compounds):
+ Nguồn gốc: tự nhiên và nhân tạo
• Trong tự nhiên, đa số các VOCs có nguồn gốc từ thực vật có trong rễ, lá, hoa, quả; điển hình là tecpen và isoprene - trong đó isoprene có thành phần hydrocacbon được thực vật thải ra với số lượng lớn
• Trong nhân tạo, bao gồm nhóm độc chất: hydrocacbons (methan, ethane, propane, butane)- các chất tẩy quần áo, chất màu, chất thơm, dầu nhờn,…; hydrocacbon halogen hóa – chất làm lạnh, chất tẩy dầu mỡ,…;hydrocacbon thơm – sơn, vecni, chất tẩy rửa gia dụng, chất tẩy mùi tolet,…; ancol – chất lau kính, sơn cửa sổ, dung môi, chất kết dính,…; xeton andehit – chất sát trùng gia dụng, mỹ phẩm, các
đồ đạc bằng gỗ dán, chất tạo vị
+ Những đặc tính của VOCs: tính chất lý hóa, hoạt tính hóa học, sinh học Ví dụ:
Trang 26• Đặc tính hóa lý của formandehyle (HCHO) ở điều kiện bình thường là một chất khí có mùi hăng mạnh, không màu, tan nhiều trong nước Nó là anđêhít đơn giản nhất Trong tự nhiên, nó có sẵn trong gỗ, táo, cà chua, khói thuốc lá, dầu và khí hóa lỏng,…
• Các hợp chất carbonhydro có tính độc tăng theo tỷ lệ thuận với số nguyên tử carbon có trong phân tử: pental (5C) độc hơn butal (4C), butylic (4C) độc hơn etylic (2C)
• Khi nguyên tử halogen thay thế cho hydro nhiều bao nhiêu trong các hợp chất hữu
cơ thì độc tính tăng lên bấy nhiêu : tetracloruacarbon (CCl4) độc hơn Chlorofoc (CHCl3)
• Trong không khí: các chất hữu cơ dễ bay hơi khuếch tán dễ dàng và lan truyền nhanh nhất, các chất độc khuếch tán vào môi trường không khí xung quanh
+ Phương thức xâm nhập vào cơ thể
• Hấp thụ: Xâm nhập vào cơ thể chủ yếu qua con đường hô hấp (mũi miệng -> khí quản -> phế quản -> máu), một phần nhỏ được hấp thụ qua da
• Phân bố: chủ yếu tại phổi và hệ thống hô hấp -> hấp thụ vào phổi -> máu,
• Chuyển hóa: quá trình chuyển hóa và hấp thụ vào cơ thể Chuyển hóa trực tiếp vào phổi qua hô hấp -> hấp thu vào phổi -> máu; phân bố đến các cơ quan não, thận trước khi qua gan; kết hợp với các ezym trong cơ thể và đi đến các cơ quan trong
cơ thể
• Tích tụ : chủ yếu tại các mô mỡ, gan, thận, phổi
• Đào thải: qua hô hấp - một lượng chất độc được đào thải trực tiếp qua đường hô hấp phổi -> khí quản -> thở ra ngoài Qua đường bài tiết: chất độc được tích tụ lại gan, thận và các cơ quan (tuyến mồ hôi) -> bài tiết ra ngoài qua nước tiểu, mồ hôi,
…
+ Giải pháp xử lý:
• Công nghệ xử lý chất VOCs gây ô nhiễm hiện nay được chia thành 2 nhóm: công nghệ phân hủy (phương pháp oxy hóa nhiệt và oxy hóa xúc tác), công nghệ thu hồi (gồm phương pháp hấp phụ, hấp thụ, ngưng tụ và tách qua màng lọc)
• Ngoài ra giải pháp cho môi trường trong hộ gia đình, khuôn viên KCN các loài cây hoa có tác dụng giúp lọc không khí, giảm được nồng độ benzen, trichloroethylene, formandehyde như cây buồm trắng, cây hoa đồng tiền, hoa cúc trắng (bạch cúc),…