2 điều kiện và những lợi thế sẵn có, tình hình phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Hà Tĩnh trong thời gian qua còn một số hạn chế: số lượng các doanh nghiệp còn ít, và chủ yếu có quy mô
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn này tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của quý thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp, Ủy ban nhân dân thành phố, Ban Tổ chức Thành ủy Hà Tĩnh và một số ngành, cơ quan chức năng thành phố Hà Tĩnh và của tỉnh Hà Tĩnh
Trước hết, xin trân trọng cảm ơn Thầy giáo hướng dẫn TS Nguyễn Quốc Việt, Giảng viên Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội đã hướng dẫn tận tình, chu đáo và có những ý kiến đóng góp quý báu để luận văn được hoàn thành tốt hơn
Xin trân trọng cảm ơn quý thầy cô trong Hội đồng chấm Luận văn đã
có những góp ý, bổ sung những thiếu sót của luận văn này để luận văn ngày càng hoàn thiện hơn
Trân trọng cảm ơn các bạn bè và đồng nghiệp, Ủy ban nhân dân thành phố và một số ngành, cơ quan chức năng, cung cấp thông tin, tài liệu và hợp tác trong quá trình tôi thực hiện luận văn
Cuối cùng, xin chân thành cảm ơn tới gia đình, người thân đã động viên tôi, giúp đỡ và chia sẻ với tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC HÌNH i DANH MỤC BẢNG ii
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ 8 1.1 Cơ sở lý luận về Doanh nghiệp vừa và nhỏ và chính sách hỗ trợ Doanh nghiệp vừa và nhỏ 8
1.1.1 Một vài nét khái quát về Doanh nghiệp vừa và nhỏ 8 1.1.2 Cơ sở lý luận về chính sách hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ 15
1.2 Kinh nghiệm quốc tế về các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ 20
1.2.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc 21 1.2.2 Kinh nghiệm của Nhật 23
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TRÊN ĐỊA BÀN HÀ TĨNH 27 2.1 Một vài nét về quá trình phát triển và sự đóng góp của doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn Hà Tĩnh 27
2.1.1 Tình hình phát triển DNVVN trên địa bàn Hà Tĩnh 27 2.1.2 Vai trò của các DNVVN đối với phát triển kinh tế, xã hội tỉnh Hà Tĩnh 30
2.2 Thực trạng chính sách hỗ trợ DNNVN trên địa bàn Hà Tĩnh 32
Trang 52.2.1 Quan điểm, chủ trương phát triển DNVVN của tỉnh Hà Tĩnh 32 2.2.2 Thực trạng chính sách hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn Hà Tĩnh trong giai đoạn 2007-2013 33
2.3 Đánh giá những ưu điểm và hạn chế của chính sách hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn Hà Tĩnh 46
2.3.1 Một số ưu điểm trong ban hành và thực thi các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp 46 2.3.2 Một số hạn chế trong ban hành và thực thi các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp 49
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HIỆU QUẢ CỦA CÁC CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ Ở HÀ TĨNH 53 3.1 Xu hướng phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn 53 3.2 Một số khuyến nghị chính sách 55 KẾT LUẬN 59 TÀI LIỆU THAM KHẢO 61
Trang 628
2 Hình 2.2
Số lƣợng và tỷ trọng các doanh nghiệp có quy mô vừa, nhỏ, siêu nhỏ trong tổng số DNVVN trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh
29
Trang 7ii
DANH MỤC BẢNG
1 Bảng 1.1 Tiêu chí phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ của một
2 Bảng 2.1 Tình hình đóng góp vào GDP qua các năm của
Trang 81
MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài
Sau gần 30 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) đã từng bước phát triển và ngày càng đóng một vai trò quan trọng vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước Nghị quyết đại hội lần thứ IX của Đảng đã chỉ rõ “khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển sản xuất công nghiệp với nhiều quy mô, nhiều trình
độ, chú trọng các Doanh nghiệp vừa và nhỏ, phù hợp với định hướng chung
và lợi thế của từng địa phương” Với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, số lượng các Doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta tăng lên nhanh chóng và ghi nhận được nhiều thành tựu Theo kết quả điều tra của Tổng cục thống kê, hiện nay cả nước có khoảng trên 500 nghìn doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME), chiếm 97,5% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động Hàng năm, các doanh nghiệp SME đóng góp khoảng 40% GDP, thu hút 51% lực lượng lao động của cả nước và đóng góp khoảng gần 30% tổng thu ngân sách nhà nước Điều này cho thấy các Doanh nghiệp vừa và nhỏ có vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế của nước ta Do đó, ưu tiên phát triển Doanh nghiệp vừa và nhỏ là một yêu cầu cần thiết và khách quan đối với nền kinh tế đất nước
Hà Tĩnh là địa phương duyên hải Miền trung, khu vực kinh tế Bắc Trung Bộ Hà Tĩnh có vị trí địa lý thuận lợi, tài nguyên phong phú và nguồn nhân lực dồi dào với dân số gần 1,3 triệu người trong đó có 66% dân số trong
độ tuổi lao động Từ lợi thế đó, Hà Tĩnh có tiềm năng để phát triển các Doanh nghiệp vừa và nhỏ Thời gian qua, các doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn tỉnh đã phát triển không ngừng, thu hút được nhiều lao động trong và ngoài tỉnh, thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển và góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng hiện đại và hợp lý Tuy nhiên, so với những
Trang 92
điều kiện và những lợi thế sẵn có, tình hình phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Hà Tĩnh trong thời gian qua còn một số hạn chế: số lượng các doanh nghiệp còn ít, và chủ yếu có quy mô nhỉ, trình độ công nghệ còn lạc hậu, sức cạnh tranh yếu, ít vốn; yếu kém trong việc tiếp cận thông tin và các dịch vụ
hỗ trợ kinh doanh, năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý còn nhiều hạn chế… Mặc dù, đã có những chính sách hỗ trợ cho DNVVN ở cả cấp trung ương và địa phương nhưng sự bất cập trong hệ thống chính sách cũng như quá trình tổ chức triển khai thực hiện chính sách ở Hà Tĩnh còn phần nào hạn chế Trước thực trạng này, vấn đề cấp thiết đặt ra là làm thế nào để tạo ra được những chính sách hiệu quả cũng như hoàn thiện những chính sách hiện có để vừa phát huy được những điểm mạnh của DNVVN vừa khắc phục được điểm yếu của DNVVN ở địa phương Hà Tĩnh, đưa doanh nghiệp ở Hà Tĩnh ngày một nâng cao vị thế không những ở tầm quốc gia mà còn hội nhập tầm quốc tế
Để góp phần hình thành luận cứ khoa học cho việc tạo môi trường chính sách vĩ mô thuận lợi nhằm thúc đẩy phát triển Doanh nghiệp vừa và nhỏ, được sự giúp đỡ của thầy giáo TS Nguyễn Quốc Việt Khoa Kinh tế phát triển, Trường đại học kinh tế Đại học Quốc Gia Hà Nội, tôi đã thực hiện
nghiên cứu đề tài "Chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Hà Tĩnh" Nghiên cứu này nhằm trả lời một số câu hỏi sau: Những lý luận về
DNVVN và tại sao cần thiết hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ? Thực trạng về chính sách hỗ trợ DNVVN ở Hà Tĩnh hiện nay như thế nào? Những điểm thành công và những hạn chế trong nội dung chính sách ban hành và quá trình thực thi chính sách là gì? Cần làm gì để tăng cường hiệu quả của công tác hỗ trợ DNVVN trên địa bàn tỉnh? Các giải đáp cho những câu hỏi trên sẽ là kết quả hữu ích, có giá trị tham khảo trong quá trình nghiên cứu và hoạch định chính sách hỗ trợ phát triển DNVV trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh nói riêng và DNVVN cả nước nói chung
Trang 103
2 Tình hình nghiên cứu
Liên quan đến vấn đề hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ, đã có nhiều nghiên cứu của các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước Các nghiên cứu về chính sách hỗ trợ DNVVN ở tầm quốc gia tương đối đa dạng, có thể kể đến “Định hướng chiến lược và chính sách phát triển Doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam đến năm 2010” của Bộ Kế hoạch và Đầu tư Dự án US/VIE/95/007 "Hỗ trợ các doanh nghiệp công nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam" (UNIDO, 2007) đã xây dựng các nội dung, chương trình hỗ trợ cho các DNVVN
Một số công trình được xuất bản thành sách về phạm trù này như: Chính sách phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam (Nguyễn Cúc,
1997, NXB Chính trị quốc gia) đã nghiên cứu thực trạng một số chính sách hỗ trợ DNVVN ở Việt Nam (hỗ trợ tài chính, thuế,…) từ đó chỉ ra một số hạn chế trong việc áp dụng và thực thi các chính sách này, đưa ra giải pháp để phát triển DNVVN trong thời gian tới Nghiên cứu của Trịnh Thị Mai Hoa,
2008, “Vấn đề huy động vốn của các Doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam” theo hướng tiếp cận một chính sách cụ thể Tác giả đề cập đến những vấn đề huy động vốn của Việt Nam và những con đường huy động vốn mang tính thị trường Trên cơ sở đó khẳng định vai trò của nhà nước trong việc rà soát các thủ tục hành chính, cơ chế, chính sách để tạo điều kiện cho doanh nghiệp hoạt động tốt hơn
Bên cạnh các công trình trên, có một số nghiên cứu độc lập, tập tìm hiểu đặc điểm, vai trò, thực trạng phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam, từ đó đưa ra các giải pháp, chính sách hỗ trợ khối doanh nghiệp này như: Phát triển Doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế (Phạm Văn Hồng, 2006); Doanh nghiệp vừa và nhỏ trong quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam hiện nay (Lê Việt Đông, 2007); Giải pháp phát triển
Trang 114
doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam (Vũ Thị Thanh Phương, 2008); Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ: Kinh nghiệm nước ngoài và phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam (Vương Nhỏ, Hoàng Thu Hà, 2001, Nxb Thống kê); Giải pháp phát triển Doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam (Nguyễn Đình Hương, 2002, NXB Chính trị Quốc gia)
Xét ở quy mô nghiên cứu trong phạm vi tại tỉnh Hà Tĩnh, một số nghiên cứu thực hiện đã tiến hành xem xét, đánh giá một số chính sách hỗ trợ DNVVN ở địa bàn Hà Tĩnh: Tiếp cận vốn kinh tế của các DNVVN ở Hà Tĩnh (Trần Xuân Giáp, (2010)) Nghiên cứu này nghiên cứu các hình thức, hành vi huy động, nguồn gốc của vốn kinh tế có trong DNVVN Hà Tĩnh, và phân tích
để thấy rõ vai trò, rủi ro vốn kinh tế trong doanh nghiệp Việt Nam, nhất là DNVVN Qua việc tìm hiểu và phân tích tình hình để đưa ra những dự báo về
xu hướng tiếp cận và phát triển của doanh nghiệp, tác giả đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường vốn kinh tế làm nền tảng cũng như cơ sở để các doanh nghiệp đưa ra định hướng phát triển Một nghiên cứu gần đây của Đặng Thị Cẩm Hà (2014): “Phát triển nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ
ở tỉnh Hà Tĩnh” đã đánh giá thực trạng phát triển nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng phát triển nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở tỉnh Hà Tĩnh đến năm 2020
Mặc dù các nghiên cứu về hỗ trợ DNVVN tương đối đa dạng, tuy nhiên các nghiên cứu chính sách về hỗ trợ DNVVN trên địa bàn Hà Tĩnh lại tương đối ít và còn nhiều giới hạn Các nghiên cứu cho tới nay mới chỉ khai thác những khía cạnh chính sách cụ thể mà chưa có cái nhìn toàn diện và đánh giá tổng thể về hệ thống chính sách hỗ trợ DNVVN ở địa bàn tỉnh, cũng như cung cấp các khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của quá trình hoạch định cũng như thực thi chính sách phát triển DNVVN ở địa phương Chính vì vậy đề tài
Trang 12về tài chính, công nghệ, nguồn nhân lực, thị trường và các chính sách tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp về hành lang pháp lý Trên cơ sở xem xét các chính sách này, nghiên cứu chỉ ra những vấn đề hạn chế trong ban hành
và thực thi các chính sách áp dụng cho cTinhxDNVV của Hà Tĩnh, từ đó đưa
ra một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hỗ trợ các DNVVN trên địa bàn tỉnh trong bối cảnh hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm sáng tỏ một số vấn đề về lý luận về DNVVN và sự cần thiết hỗ trợ cho khối DNVVN
- Đánh giá thực trạng phát triển của DNVVN trên địa bàn Hà Tĩnh cũng như vai trò và tầm quan trọng của các DNVVN đối với sự phát triển của
Hà Tĩnh đồng thời nhận thức được những khó khăn, thách thức mà các DNVVN trên địa bàn
- Xem xét các chính sách hỗ trợ DNVVN trên địa bàn tỉnh theo hai nhóm
Chính sách do cấp trung ương ban hành (xem xét việc thực thi tại địa phương)
Chính sách do địa phương ban hành gồm: các chính sách trợ giúp doanh nghiệp tiếp cận các nguồn lực phát triển như hỗ trợ về tài chính,
Trang 134 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng
Đề tài thực hiện nghiên cứu chính sách hỗ trợ các DNVVN trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh trong giai đoạn 2007-2013 (giai đoạn kể từ khi Việt Nam hội nhập sâu vào kinh tế quốc tế (tham gia tổ chức WTO)) Tập trung vào xem xét đánh giá việc triển khai thực hiện các chính sách hỗ trợ của cấp trung ương, việc ban hành và thực thi các chính sách của cấp địa phương như: các chính sách hỗ trợ tiếp cận các nguồn lực phát triển: tài chính, công nghệ, lao động, thị trường… và chính sách tạo dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp về hành lang pháp lý
4.2 Phạm vi
Nghiên cứu các chính sách hỗ trợ áp dụng đối với các DNVVN trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh trong giai đoạn 2007-2013, cũng là giai đoạn Việt Nam thực hiện hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới, tạo điều kiện thúc đẩy sự hình thành và phát triển nhanh của các DNVVN
5 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu các tài liệu thứ cấp bao gồm: các lý luận về phát triển DNVVN Tổng hợp, phân tích các báo cáo, thống kê về tình hình phát triển của
Trang 147
DNVVN trên địa Bàn Hà Tĩnh, các chính sách hỗ trợ cho sự phát triển của nhóm doanh nghiệp này Ngoài ra, phân tích, đối chiếu giữa các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp trong từng giai đoạn để cho thấy sự điều chỉnh của chính sách
6 Ý nghĩa và giá trị đóng góp của đề tài
Nghiên cứu cung cấp kết quả đánh giá việc thực thi và ban hành các chính sách hỗ trợ DNVVN trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh, tập trung vào các điểm hạn chế trong ban hành và thực thi từng nhóm chính sách (hỗ trợ tiếp cận tài chính, nguồn nhân lực, đổi mới công nghệ, hỗ trợ pháp lý…) Từ đó, trên cơ
sở đánh giá những khó khăn và thách thức trong phát triển doanh nghiệp vừa
và nhỏ trên địa bàn Hà Tĩnh trong bối cảnh hiện tại, nghiên cứu đưa ra những khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện các chính sách
Bằng việc nghiên cứu chính sách hỗ trợ DNVVN tại một địa bàn cụ thể, kết quả nghiên cứu sẽ có ý nghĩa thực tiễn đối với sự phát triển của những doanh nghiệp đang và sẽ sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh này Đề tài kỳ vọng sẽ là một tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách trong lĩnh vực hỗ trợ phát triển DNVVN
7 Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu luận văn gồm có 3 chương
Chương 1 : Cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách hỗ trợ Doanh nghiệp vừa
và nhỏ
Chương 2: Thực trạng về chính sách hỗ trợ Doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Hà Tĩnh Chương 3: Giải pháp tăng cường hiệu quả của các chính sách hỗ trợ Doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Hà Tĩnh
Trang 158
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH
HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ 1.1 Cơ sở lý luận về Doanh nghiệp vừa và nhỏ và chính sách hỗ trợ Doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.1.1 Một vài nét khái quát về Doanh nghiệp vừa và nhỏ
Trên thế giới có nhiều quan niệm rất khác nhau về Doanh nghiệp vừa
và nhỏ, nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự khác nhau này là do tiêu thức dùng để phân loại quy mô doanh nghiệp khác nhau cũng như các đặc điểm khác nhau
về kinh tế, chính trị, xã hội giữa các quốc gia Mặc dù có những khác biệt nhất định giữa các nước về quy định, tiêu thức phân loại nhưng nhìn chung có hai tiêu thức được sử dụng ở phần lớn các nước là quy mô vốn và số lượng lao động
Bảng 1.1: Tiêu chí phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ của một số quốc
gia và khu vực Quốc gia/
Khu vực
Phân loại DN vừa và nhỏ
Số lao động bình quân
Trang 169
- Đối với ngành thương mại
- Đối với ngành dịch vụ
1-100
1-100
¥ 0-100 triệu
¥ 0-50 triệu
3 EU Siêu nhỏ
Nhỏ Vừa
< 10
< 50
< 250
Không quy định
< CDN$ 5 triệu CDN$ 5 -20 triệu
B NHÓM CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN
1 Thailand Nhỏ và vừa Không
Trang 17Không quy định
Không quy định
2 China Nhỏ
Vừa
50-100 101-500
Không quy định
Không quy định
3 Poland Nhỏ
Vừa
< 50 51-200
Không quy định
Không quy định
4 Hungary Siêu nhỏ
Nhỏ Vừa
1-10 11-50 51-250
Không quy định
Không quy định
Nguồn: 1) Doanh nghiệp vừa và nhỏ, APEC, 1998; 2) Định nghĩa Doanh nghiệp vừa và nhỏ, UN/ECE, 1999; 3) Tổng quan về Doanh nghiệp vừa và
nhỏ, OECD, 2000
Ở Việt Nam, việc định nghĩa DNVVN trước kia được căn cứ vào tổng
số vốn đăng ký và số lao động1 Theo đó, “DNVVN là doanh nghiệp có số
1 Theo công văn số 681/CP-KTN do chính phủ ban hành ngày 20/06/1998 về việc định hướng chiến lược và phát triển DNVVN Việt Nam
Trang 1811
công nhận dưới 200 người và số vốn kinh doanh dưới 5 tỷ đồng” Sau đó, khi
kinh tế ngày càng phát triển, quy định về xác định DNVVN cũng có sự thay đổi và điều chỉnh Hiện nay, DNVVN được định nghĩa trong nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 6 năm 2009 của Chính phủ, theo đó DNVVN
được định nghĩa tại điều 3 của NĐ này như sau: Doanh nghiệp nhỏ và vừa là
cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí
20 tỷ đồng trở xuống
từ trên 10 người đến
200 người
từ trên 20
tỷ đồng đến 100 tỷ đồng
từ trên 200 người đến
20 tỷ đồng trở xuống
từ trên 10 người đến
200 người
từ trên 20
tỷ đồng đến 100 tỷ đồng
từ trên 200 người đến
10 tỷ đồng trở xuống
từ trên 10 người đến
50 người
từ trên 10
tỷ đồng đến 50 tỷ đồng
từ trên 50 người đến
100 người
Trang 1912
Tùy theo tính chất, mục tiêu của từng chính sách, chương trình trợ giúp
mà cơ quan chủ trì có thể cụ thể hóa các tiêu chí nêu trên cho phù hợp Như vậy, nghị định 56/2009/NĐ-CP đã đưa ra một định nghĩa và cách xác định DNVVN tương đối cụ thể theo 3 loại hình: DN siêu nhỏ, DN nhỏ và DN vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của DN) và theo số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên) Các tiêu chí này được đánh giá khác nhau giữa các lĩnh vực hoạt động (nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản; công nghiệp và xây dựng; thương nghiệp và dịch vụ) Điểm nhấn quan trọng nhất trong NĐ này là quy định: “DNVVN là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật” Theo đó khu vực DNVVN đến nay không chỉ có DN, mà còn bao gồm có cả loại hình hợp tác xã và hộ kinh doanh cá thể
So với cách xác định DNVVN của nhiều nước trên thế giới, cách xác định củaViệt Nam khá tương đồng Tuy nhiên, điểm khác biệt là nhiều nước thường chỉ chọn chỉ tiêu số lao động bình quân năm là tiêu chí ưu tiên để phân loại quy mô doanh nghiệp bởi việc phân loại DNVVN theo tiêu chí “quy
mô tổng nguồn vốn” sẽ có khó khăn trong xác định loại hình DN do quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán) của DN hay thay đổi Tổng nguồn vốn của DN bao gồm: vốn chủ sở hữu, vốn vay ngân hàng, phải trả người bán,…Trong khi vốn chủ sở hữu tương đối ổn định thì vốn vay ngân hàng và phải trả người bán lại thường xuyên biến động Vì vậy tổng nguồn vốn của DN cũng thường xuyên biến động Một DN được xếp vào loại DN nhỏ nhưng ngày mai có thể
đã trở thành DN vừa và ngược lại Trong khi đó, tiêu chí số lao động bình quân thường có tính ổn định lâu dài về mặt thời gian, lại thể hiện được phần nào tính chất, đặc thù của ngành, lĩnh vực kinh doanh mà doanh nghiệp đang
Trang 2013
tham gia Chính điều này nhiều khi gây khó khăn cho việc xác định DNVVN tại Việt Nam
Về mặt lý luận và thực tế đều cho thấy DNVVN có vai trò quan trọng ở nhiều nước, kể cả các nước công nghiệp phát triển Vai trò này được thể hiện qua những điểm chủ yếu sau:
DNVVN tạo ra nhiều việc làm với chi phí thấp Các cơ sở Doanh
nghiệp vừa và nhỏ rất thích hợp với các phương pháp tiết kiệm vốn và do đó
chúng được công nhận là phương tiện giải quyết thất nghiệp hiệu quả nhất do
đặc tính phân bố rải rác của chúng và do tính linh hoạt, uyển chuyển dễ thích
ứng với các thay đổi của thị trường của các Doanh nghiệp vừa và nhỏ
DNVVN cung cấp một khối lượng hàng hoá đáng kể về cả chất lượng,
số lượng và chủng loại Các công ty, Doanh nghiệp vừa và nhỏ thu hút một
lượng lớn lao động và tài nguyên của xã hội để sản xuất ra hàng hoá Để có thêm sức cạnh tranh trực tiếp với các công ty và tập đoàn lớn, hàng hoá của
họ nói chung thiên về sự đa dạng về chất lượng và chủng loại, tạo cho người tiêu dùng có nhiều cơ hội được lựa chọn Bên cạnh đó họ cũng tiến vào nhiều
thị trường nhỏ mà các công ty lớn bỏ qua vì doanh thu từ đó quá nhỏ
Tạo điều kiện hình thành các tài năng quản trị kinh doanh Các doanh
nghiệp có quy mô vừa và nhỏ rất thích hợp đối với những nhân tài trong lĩnh vực kinh doanh Bên cạnh đó các công ty tư nhân lớn nói chung đều xuất phát
từ các công ty nhỏ đi lên Các công ty nhỏ là còn là nơi huấn luyện nguồn
nhân lực cho các công ty lớn
Tăng nguồn tiết kiệm và đầu tư cho dân địa phương Nhìn chung các
Doanh nghiệp vừa và nhỏ được mở ra ở địa phương nào đều có công nhân và chủ doanh nghiệp là người ở địa phương đó Khi các doanh nghiệp loại đó
Trang 2114
được mở ra thì người dân lao động ở địa phương có công ăn việc làm, có nguồn thu nhập Kết cục là quỹ tiền tiết kiệm-đầu tư của địa phương đó được
bổ sung
Làm cho nền kinh tế năng động và hiệu quả hơn Các công ty lớn và
các tập đoàn không có được tính năng động của các đơn vị kinh tế nhỏ hơn chúng vì một nguyên nhân đơn giản là quy mô của chúng quá lớn Các đơn vị kinh tế càng to lớn thì càng thiếu tính linh hoạt, thiếu khả năng phản ứng
tư vào các khu vực này là chấp nhận được, họ sẵn sàng hoạt động ở đây nếu có
các chính sách ưu đãi thích hợp của chính quyền địa phương
Giữ gìn và phát huy các ngành nghề truyền thống, thể hiện bản sắc dân tộc Loại hình Doanh nghiệp vừa và nhỏ thường thích hợp cho sản xuất thủ
công, quy mô vừa và nhỏ Do vậy, các ngành nghề truyền thống có thể dựa vào đó để sản xuất, kinh doanh, quảng cáo Bên cạnh đó công nghệ tiên tiến cũng sẽ dần tiếp cận vào các ngành nghề này
1.1.1.3 Các nhân tố tác động đến hoạt động của các Doanh nghiệp vừa
và nhỏ
Trình độ phát triển kinh tế - xã hội Trình độ phát triển kinh tế càng cao
thì giới hạn tiêu thức phân loại càng được nâng lên Trình độ phát triển kinh
tế xã hội càng cao sẽ tạo điều kiện cho sự phát triển Doanh nghiệp vừa và nhỏ
ổn định hơn, có phương hướng rõ ràng hơn, vững bền hơn
Trang 2215
Cơ chế chính sách của nhà nước Chính sách và cơ chế quản lý là yếu
tố rất quang trọng ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động của các Doanh nghiệp vừa và nhỏ Một chính sách và cơ chế đúng đắn hợp lý sẽ tạo ra môi trường thuận lợi cho sự phát triển các Doanh nghiệp vừa và nhỏ
Đội ngũ các nhà sáng lập và quản lý Doanh nghiệp vừa và nhỏ Sự
xuất hiện và khả năng phát triển của mỗi doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào những người sáng lập ra chúng Sự có mặt của đội ngũ doanh nhân này cùng với khả năng và trình độ nhận thức của họ về tình hình thị trường và khả năng nắm bắt cơ hội kinh doanh sẽ tác động to lớn đến hoạt động của từng Doanh nghiệp vừa và nhỏ Họ luôn là những người đi đầu trong đổi mới
Khả năng tiếp cận các nguồn lực Bao gồm vốn, lao động, thị
trường,… Khả năng tiếp cận các nguồn lực của Doanh nghiệp vừa và nhỏ còn hạn chế Nhất là khả năng tiếp cận về vốn, khoa học công nghệ
1.1.2 Cơ sở lý luận về chính sách hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.1.2.1 Định nghĩa và lý do của sự can thiệp hỗ trợ DNVVN
Chính sách hỗ trợ DNVVN thường được hiểu là các trợ giúp của Nhà nước nhằm thúc đẩy sự phát triển của các DNVVN Các chính sách này thường chú trọng vào khoảng cách giữa các DN lớn và các DNVVN về năng suất, tiền lương, nguồn nhân lực, nguồn quản lý… Thông thường sự hỗ trợ hướng tới tạo nguồn lực cho tăng trưởng (thông qua hỗ trợ tiếp cận vốn, lao động, thị trường,…) và hỗ trợ tạo điều kiện thuận lợi về pháp lý Các mức độ
hỗ trợ DNVVN sẽ dựa trên căn cứ xem xét các nhóm yếu tố: năng lực công nghệ (technological capabilities), năng lực tài chính (financial capabilities), năng lực nguồn nhân lực (human resourecs capabilities)… (Hoàng Đình Phi,
Trang 2316
2008) Các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp không can thiệp quá sâu vào quá trình vận động phát triển của doanh nghiệp mà chủ yếu tác động tích cực gián tiếp thông qua việc cải cách môi trường kinh doanh, trợ giúp doanh nghiệp tiếp cận các nguồn lực như tài chính, công nghệ và nguồn nhân lực Mỗi quốc gia khác nhau có những chính sách và biện pháp hỗ trợ riêng biệt về phạm vi, nội dung và thời gian thực hiện
Cơ sở cho sự can thiệp của chính phủ:
Hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội Chúng là nguồn tạo việc làm, cạnh tranh, động lực phát triển kinh tế và đổi mới; chúng khuyến khích tinh thần kinh doanh và phổ biến các kỹ năng Do DNVVN hiện diện ở nhiều vùng địa lý hơn so với các doanh nghiệp (DN) lớn, chúng cũng góp phần vào việc phân bố thu nhập tốt hơn Tuy nhiên, hệ thống doanh nghiệp này vẫn còn nhiều khó khăn trong quá trình phát triển như:
- Thiếu nguồn lực cho tăng trưởng: vốn kỹ thuật, tri thức lao động hầu như khó gia nhập vào các DNVVN, môt phần do qui mô quá nhỏ, những đầu tư công nghệ hiện đại, kể cả công nghệ sản xuất lẫn công nghệ quản trị, không thể thích nghi, mặc khác chủ sở hữu thiếu tầm nhìn và thiếu cả nguồn lực tài chánh để đầu tư
- Khả năng tiếp cận với những định chế tài chính trung gian khó khăn3(ưu đãi, hỗ trợ lãi suất,…)
- Không thích ứng nhanh với sự thay đổi của môi trường kinh tế vĩ mô Những biến động của lãi suất ngân hàng, lạm phát, tỷ giá hối đoái đã
2
Hoàng Đình Phi (2011), Quản trị công nghệ, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
3 Theo điều tra của VCCI, tại Việt Nam có đến 66% doanh nghiệp bị khó khăn về tài chính
Trang 24- Bên cạnh những khó khăn nêu trên, DNVVN còn gặp khó khăn về trình
độ công nghệ còn lạc hậu, khả năng quản trị doanh nghiệp yếu, thiếu nguồn nhân lực có trình độ cao, thiếu mặt bằng để phát triển sản xuất kinh doanh, đại bộ phận chưa quan tâm đến xây dựng thương hiệu, khó liên kết để tạo thế mạnh chung
Vấn đề này không thể để các DNVVN tự thân vận động mà cần có một
sự hỗ trợ thiết thực từ môi trường bên ngoài (chính phủ và các hiệp hội ngành hàng) Hơn nữa có nhiều vấn đề mà các doanh nghiệp không thể tự giải quyết được như tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, xây dựng cơ sở hạ tầng, mở rộng thị trường, đào tạo nhân lực Cũng vì lẽ đó, hệ thống DNVVN đang là mục tiêu trọng tâm của các chính sách hỗ trợ kinh tế của các quốc gia
Hỗ trợ phát triển các DNVVN hiện nay cũng là xu hướng chung của các nước trên thế giới Nhiều chương trình và chính sách đã được chính phủ các nước triển khai thực hiện để thúc đẩy sự phát triển của các DNVVN Các chính sách và chương trình này được thực hiện thông qua các hoạt động của nhà nước nhằm giúp hệ thống DNVVN khắc phục những hạn chế tồn tại của mình trong quá trình phát triển
Sự hỗ trợ DNVVN không chỉ có lợi đối với các doanh nghiệp mà còn
có lợi cho cả Nhà nước và xã hội Lợi ích đó thể hiện trên các mặt: Trước hết,
Trang 2518
sự hỗ trợ các doanh nghiệp là cách thức để nuôi dưỡng các nguồn thu cho ngân sách nhà nước Hỗ trợ doanh nghiệp là một cách thức đầu tư gián tiếp của nhà nước Thay vì Nhà nước phải đầu tư trực tiếp để thành lập mới các doanh nghiệp nhà nước (như mô hình kinh tế hiện vật trước đây) bằng việc hỗ trợ cho các doanh nghiệp đã thành lập từ trước, đặc biệt là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh) Thông qua chính sách hỗ trợ của Nhà nước, việc đầu tư phát triển sản xuất sẽ hiệu quả hơn vì nó vừa huy động được tiềm năng sáng tạo trong dân, vừa thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước Bằng việc hỗ trợ các Doanh nghiệp vừa và nhỏ, Nhà nước cũng có thể giải quyết được những vấn đề xã hội như thất nghiệp (bất kỳ đất nước nào cũng phải đương đầu), tạo việc làm rất hiệu quả với nguồn vốn hạn hẹp của Nhà nước (thay vì thành lập mới các DNNN, thì với số vốn đó có thể hỗ trợ cho rất nhiều doanh nghiệp đã
có sẵn) Ngoài ra, Nhà nước có thể thông qua chính sách hỗ trợ để định hướng phát triển các Doanh nghiệp vừa và nhỏ
Tóm lại, việc Nhà nước có những chính sách hỗ trợ cho các Doanh nghiệp vừa và nhỏ là rất cần thiết đối với khối doanh nghiệp này cũng như chính Nhà nước
1.1.2.2 Các mục tiêu và cơ chế hỗ trợ phát triển DNVVN
Hỗ trợ các DNVVN chủ yếu là nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp này phát huy được vai trò, tiềm năng vốn có của chúng, sản xuất kinh doanh có hiệu quả, giải quyết các vấn đề kinh tế xã hội mà nếu chỉ riêng các Doanh nghiệp vừa và nhỏ thì không thể giải quyết nổi
Các nhóm chính sách hỗ trợ có thể được phân loại theo 2 loại chính: các chính sách hỗ trợ nguồn lực cho tăng trưởng (lao động, vốn, công nghệ, thị trường…), và các chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp về môi trường pháp lý Tùy thuộc vào các mục đích hỗ trợ khác nhau mà nhà
Trang 2619
nước sử dụng các phương pháp hỗ trợ khác nhau Nhà nước có thể bằng phương pháp hỗ trợ trực tiếp hoặc gián tiếp
- Phương pháp hỗ trợ trực tiếp: Đơn giản hoá các thủ tục cấp giấy
phép, cấp vốn trực tiếp, cung cấp mặt bằng sản xuất kinh doanh, cung cấp thông tin, cơ sở hạ tầng
- Phương pháp gián tiếp: Chủ yếu là hỗ trợ gián tiếp thông qua cơ chế
chính sách tác động vào môi trường kinh doanh để điều chỉnh hoạt động doanh nghiệp: ổn định chính trị xã hội, tạo lập thị trường, khuyến khích thành lập các hội nghề nghiệp, các trung tâm hỗ trợ, đào tạo nguồn nhân lực, miễn giảm thuế, hỗ trợ cho các doanh nghiệp mới thành lập được vay vốn, tạo điều kiện cho các Doanh nghiệp vừa và nhỏ hợp tác liên doanh với nước ngoài, bảo hộ sản xuất trong nước
- Hỗ trợ dẫn đường: Nhà nước có vai trò đi tiên phong trong những
lĩnh vực hỗ trợ các công ty tư vấn, các viên nghiên cứu
Hiện nay, cơ chế và mô hình hỗ trợ các Doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nhiều nước theo các hướng chính sau:
- Hỗ trợ theo cơ chế kinh doanh (có vay có trả) hơn là cho không, vì việc bao cấp cho không thường gây ra tâm lý trông chờ, ỷ lại và đặc biệt là dùng các nguồn vốn đó kém hiệu quả Chẳng hạn, áp dụng cho vay vốn lãi suất thấp hoặc trợ cấp lãi suất thay cho việc cấp vốn không lãi suất, hoặc cấp vốn không hoàn lại
- Hỗ trợ gián tiếp nhiều hơn trực tiếp: Nhằm tạo lập cho các Doanh nghiệp vừa và nhỏ ứng xử theo cơ chế thị trường
- Hỗ trợ công khai và rõ ràng, tránh độc đoán, sách nhiễu, hối lộ
Trang 2720
- Phân quyền công khai cho địa phương nhiều hơn là tập trung vào nhà nước trung ương, tăng cường các tổ chức phi chính phủ (hội nghề nghiệp, các công ty tư vấn tư nhân) v.v
- Bao quát tất cả nền kinh tế hơn là chính sách theo thành phần, nhóm doanh nghiệp Chỉ nên có một số chính sách riêng cho Doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhưng đặt trong tổng thể nền kinh tế quốc dân
- Đề cao vai trò của cộng đồng và chính sách đào tạo nguồn nhân lực
1.1.2.3 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả chính sách hỗ trợ DNVVN
Hiện nay tại tại nhiều quốc gia trên thế giới chưa xây dựng cá tiêu chí
để đánh giá hiệu quả cũng như các tác động của chính sách hỗ trợ DNVVN Tại Việt Nam, theo đánh giá của Cục phát triển doanh nghiệp Việt Nam (Bộ KH&ĐT) có đến 80% các chính sách, chương trình trợ giúp doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) không có đánh giá kết quả4. Cũng theo đề xuất của Cục Phát triển DN, cần xây dựng các chỉ tiêu để đánh giá tác động của các chính sách hỗ trợ các DNVVN4 tiêu chí đánh giá chính sách hỗ trợ DNVVN, bao
gồm: sự bình đẳng, tính hiệu quả, tính tối ưu của chính sách, chính sách đó
hướng đến lợi ích công cộng hay đặc thù cho một nhóm đối tượng thiểu số
Việc đánh giá này cần được thực hiện trong cả quá trình từ nội dung ban hành của chính sách đến công tác triển khai trên thực tế
1.2 Kinh nghiệm quốc tế về các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ
Kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy, để các DNVVN phát triển, Nhà nước cần có chính sách và các giải pháp hỗ trợ đắc lực cho các doanh nghiệp này Một số quốc gia đã có nhiều thành công trong việc thực hiện các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp:
4
http://baodientu.chinhphu.vn/Kinh-te/Can-ho-tro-DNVVN-hieu-qua-hon/208164.vgp
Trang 2821
1.2.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc
DNVVN ở Trung Quốc có vai trò chiến lược đối với sự phát triển của nền kinh tế Số lượng DNVVN chiếm trên 99% tổng số doanh nghiệp (tại Trung Quốc có khoảng 30 triệu DNVVN) Hệ thống doanh nghiệp này đóng góp trên 60% tổng sản phẩm quốc dân, trên 60% kim ngạch xuất khẩu và tạo việc làm cho hơn 80% lao động thành thị và trên 70% lao động khu vực nông thôn Các chính sách phát triển DNVVN ở Trung Quốc được dựa trên cơ sở tôn trọng các yêu cầu khách quan và các quy luật kinh tế như: phải căn cứ vào quy mô kinh tế hợp lý để tổ chức sản xuất; các DNVVN cần được đầu tư với
kỹ thuật và kỹ năng quản trị hiện đại, nâng cao chất lượng sản phẩm và chất lượng quản lý; các DNVVN cần linh hoạt để phù hợp với thị trường, tránh sự trùng lặp và tình trạng dư thừa và các doanh nghiệp lớn vẫn đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, sự phát triển của các doanh nghiệp này sẽ kéo theo sự tăng trưởng của các DNVVN
ăn uống rất tương ứng với sức tăng tiêu dùng Bên cạnh đó, quy mô và không gian phát triển dịch vụ của các DNVVN rất lớn, ngoài ra còn những ngành khác như dịch vụ gia đình, bảo vệ môimtrường, du lịch, in ấn, giải trí văn phòng Theo số liệu thống kê của cơ quan chức năng Trung Quốc, riêng lĩnh vực phục vụ gia đình và phục vụ công cộng nếu có chính sách điều tiết tốt sẽ
có thể tạo được 11 triệu công ăn việc làm
Trang 2922
+ Thành lập cơ cấu quản lý chuyên môn các DNVVN Trung Quốc đang xúc tiến thành lập Ủy ban kinh tế mậu dịch quốc gia trực tiếp thuộc Ủy ban DNVVN Đây chính là đầu mối để giải quyết tốt mối quan hệ giữa chính quyền và doanh nghiệp, có trách nhiệm tư vấn, giúp đỡ bồi dưỡng lao động cho các DNVVN, nhưng không được can thiệp vào các hoạt động kinh doanh như đầu tư, kinh doanh sản xuất, tiêu thụ của các DNVVN
- Chính sách hỗ trợ nguồn vốn cho phát triển các DNVVN Đây là một
trong những trọng tâm trong chính sách và chiến lược phát triển các DNVVN của Trung Quốc, được thực hiện thông qua:
+ Thành lập các quỹ hỗ trợ doanh nghiệp Trước tình hình khó khăn
trong tiếp cận nguồn vốn của các DNVVN, từ năm 2010 Chính phủ Trung Quốc đã thành lập một quỹ 10,98 tỷ Nhân dân tệ (NDT) từ ngân sách trung ương Ngoài ra, Chính phủ còn thành lập một quỹ đặc biệt gọi là “quỹ xanh” trị giá 10,6 tỷ NDT dành riêng cho các DNVVN trong việc đổi mới công nghệ nhằm tiết kiệm năng lượng và cắt giảm khí thải các bon
+ Chính sách hỗ trợ tín dụng, chính sách này được thực hiện trong bối
cảnh doanh nghiệp khó tiếp cận nguồn vốn do lãi suất cao Hỗ trợ tín dụng được thực hiện dưới các hình thức như: cung cấp bảo lãnh tín dụng, cho vay trực tiếp và hỗ trợ lãi suất Trong giai đoạn 2008 – 2009, Trung Quốc đã bảo lãnh tín dụng cho các DNVVNkhoản tín dụng 1 tỷ NDT Từ năm 2010 đến nay, trong bối cảnh lạm phát tăng cao và tác động của chính sách thắt chặt tiền tệ, Chính phủ Trung Quốc đã ban hành Nghị định về việc bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp xuất khẩu, trong đó quy định các DNVVN thuộc lĩnh vực này sẽ được tiếp cận các khoản vay ngắn hạn tại các ngân hàng thương mại với lãi suất do ngân hàng trung ương quy định Mới đây vào năm
2011, Chính phủ Trung Quốc đã thông qua một chương trình hỗ trợ lãi suất
Trang 3023
cho DNVVN với mức hỗ trợ khoảng 2%, qua đó giảm áp lực về chi phí vay vốn cho các DNVVN trong hoạt động sản xuất kinh doanh Ngoài ra, Chính phủ còn thực hiện chính sách cho vay trực tiếp từ Chính phủ đối với các DNVVN gặp khó khăn trong bối cảnh thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt
+ Chính sách thuế, nhằm hỗ trợ doanh nghiệp trong lĩnh vực xuất khẩu,
từ tháng 11/2010 đến nay, Chính phủ Trung Quốc thực hiện hoàn thuế VAT cho các doanh nghiệp xuất khẩu.+ Phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp Nhằm tháo gỡ khó khăn về vốn cho doanh nghiệp, Trung Quốc đã tiến hành đẩy mạnh một loạt các cải cách liên quan đến hoàn thiện và phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp, cho phép các DNVVN tiếp cận vốn trên thị trường trái phiếu như cho phép DNVVN tiến hành liên kết với một ngân hàng hay một doanh nghiệp có hạng tín nhiệm cao đứng ra bảo lãnh phát hành trái phiếu hay còn gọi là trái phiếu liên kết (trái phiếu hợp nhất), chính sách này giúp các DNVVN thuận lợi trong tiếp cận được thị trường vốn
1.2.2 Kinh nghiệm của Nhật
Nhật là nền kinh tế lớn với hàng ngàn tập đoàn kinh tế, công ty đa quốc gia hoạt động trong và ngoài lãnh thổ quốc gia này Tuy nhiên, khu vực DNVVN vẫn có vai trò quan trọng được coi là lực lượng không thể thay thế ngay cả hiện tại và trong tương lai Theo số liệu thống kê đến cuối năm 2010, DNVVN ở Nhật chiếm đến 99% trong tổng số doanh nghiệp, thu hút 39 triệu lao động chiếm 80% lực lượng lao động làm việc cho các doanh nghiệp Thu nhập của khu vực kinh tế này chiếm 99,1% tổng thu nhập bán buôn và 99,8% tổng thu nhập bán lẻ Các đặc trưng của các DNVVN của Nhật đáng chú ý là các doanh nghiệp này hoạt động như là vệ tinh của các doanh nghiệp lớn, nhận thầu lại công việc của những doanh nghiệp lớn; Các doanh nghiệp được tổ chức theo các giai tầng doanh nghiệp mẹ (tập đoàn), doanh nghiệp con, trong
Trang 3124
đó các doanh nghiệp con có sự gắn bó mật thiết, lâu dài, có hợp đồng, dài hạn, liên tục với doanh nghiệp mẹ; Các DNVVN ở Nhật phần lớn thuộc các ngành nghề truyền thống, nhưng luôn luôn có sự kết hợp giữa những tính cách truyền thống dân tộc với kỹ thuật, công nghệ hiện đại Số lượng DNVVN thường biến động, nhưng xu hướng số lượng doanh nghiệp loại này ngày càng tăng Trong từng thời kỳ phát triển của nền kinh tế đất nước, Chính phủ Nhật đã ban hành nhiều chính sách phát triển khu vực DNVVN Những thay đổi về chính sách nhằm đặt khu vực DNVVN vào vị trí phù hợp nhất và khẳng định tầm quan trọng của nó trong nền kinh tế Những thay đổi về chính sách nhằm đặt khu vực DNVVN vào vị trí phù hợp nhất và khẳng định tầm quan trọng của nó trong nền kinh tế Xét một cách tổng quát, các chính sách phát triển DNVVN của Nhật tập trung vào các mục tiêu chủ yếu sau đây: Thúc đẩy sự tăng trưởng
và phát triển của DNVVN; tăng cường lợi ích kinh tế và xã hội của các doanh nghiệp và người lao động tại các DNVVN; khắc phục những bất lợi mà các DNVVN gặp phải; hỗ trợ tính tự lực của các DNVVN Các chính sách hỗ trợ các DNVVN của Nhật được phân thành hai nhóm chính
Một là, hỗ trợ tăng cường năng lực kinh doanh của các DNVVN
Hai là, hỗ trợ cho việc thay đổi cơ cấu doanh nghiệp Từ năm 1980,
Liên đoàn doanh nghiệp nhỏ được thành lập, với chức năng chính là thực hiện
là toàn bộ các chính sách giúp đỡ DNVVN thông qua thúc đẩy việc hiện đại hóa và nâng cấp cơ cấu DNVVN, nâng cao khả năng của DNVVN nhờ phát triển công nghệ kỹ thuật; giúp đỡ DNVVN trong các nỗ lực hoạt động kinh doanh quốc tế, giúp DNVVN đào tạo nguồn nhân lực Bên cạnh đó, Liên đoàn các doanh nghiệp nhỏ của Nhật còn thực hiện các chức năng sau: Hướng dẫn và tài trợ cho các dự án nâng cấp doanh nghiệp; đào tạo cán bộ công nhân tại Học viện quản lý và công nghệ DNVVN; cung cấp dịch vụ thông tin, nâng cấp kỹ thuật và hỗ trợ cho việc quốc tế hóa của DNVVN; điều hành hệ thống
Trang 3225
hỗ trợ lẫn nhau của các doanh nghiệp nhỏ; điều hành hệ thống hỗ trợ lẫn nhau nhằm ngăn chặn phá sản trong các DNVVN Nội dung của chính sách hỗ trợ DNVVN của Chính phủ Nhật được thể hiện ở một số mặt sau:
- Cải cách pháp lý: Luật cơ bản về DNVVN mới được ban hành năm
1999 hỗ trợ cho việc cải cách cơ cấu để tăng tính thích nghi của DNVVN với những thay đổi của môi trường kinh tế - xã hội; tạo tính thuận lợi cho việc tái
cơ cấu doanh nghiệp Các luật tạo thuận lợi cho thành lập doanh nghiệp mới
và hỗ trợ DNVVN đổi mới trong kinh doanh, khuyến khích mạnh mẽ việc thành lập các doanh nghiệp mới, tăng nguồn cung ứng vốn rủi ro, trợ giúp về công nghệ và đổi mới Luật Xúc tiến các hệ thống phân phối có hiệu quả ở DNVVN hỗ trợ cho việc tăng cường sức cạnh tranh
Bài học kinh nghiệm để hỗ trợ phát triển DNVVN tại Việt Nam
Từ kinh nghiệm của một số nước trong chính sách hỗ trợ DNVVN cho thấy rằng cho dù đối với các nền kinh tế phát triển hay đang phát triển thì vai trò của DNVVN vẫn hết sức quan trọng Chính phủ cần có những chính sách và bước đi phù hợp nhằm trợ giúp những khó khăn, bất lợi của hệ thống doanh nghiệp này Trong đó, hỗ trợ và tạo điều kiện để các DNVVN tiếp cận với nguồn vốn được coi
là then chốt Đối với VN có thể học hỏi một số kinh nghiệm phù hợp với điều kiện
cụ thể của đất nước và đặc điểm của DNVVN tại VN, cụ thể:
- Đánh giá đúng mức vai trò quan trọng và vị trí của DNVVN trong phát triển kinh tế Thực tế chỉ ra rằng, trong quá trình phát triển kinh tế, không chỉ có doanh nghiệp lớn mà phải quan tâm phát triển DNVVN bởi hệ thống doanh nghiệp này có vai trò hết sức quan trọng trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giải quyết công ăn việc làm
- Thành lập nhiều tổ chức chuyên trách hỗ trợ các DNVVN trên nhiều lĩnh vực Các tổ chức chuyên trách này hỗ trợ các DNVVN vượt qua
Trang 3326
các khó khăn về tài chính, công nghệ, nguồn nhân lực, thị trường, chất lượng sản phẩm … theo hướng khuyến khích DNVVN phát triển Các chính sách khuyến khích, hỗ trợ được thực hiện nhất quán, linh hoạt, có hiệu quả và được thực hiện xuyên suốt quá trình phát triển của hệ thống doanh nghiệp này, từ khởi nghiệp, vượt qua khó khăn, tăng trưởng và toàn cầu hóa Trong những chính sách đó, trợ giúp về tài chính được các quốc gia đặc biệt quan tâm Các hỗ trợ tài chính giúp DNVVN thuận lợi hơn khi tiếp cận nguồn tài chính như: tín dụng ngân hàng, các nguồn vốn ưu đãi… Trong hỗ trợ tài chính, kinh nghiệm của các nước
là Nhà nước cần thành lập ngân hàng, các tổ chức tài chính, các định chế cho vay mà đối tượng phục vụ là các DNVVN để hỗ trợ nguồn vốn với hình thức hỗ trợ linh hoạt, thống nhất nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho loại hình doanh nghiệp này phát triển
- Các DNVVN dễ bị tổn thương trước các biến động kinh tế, do vậy để nâng cao khả năng thích ứng, các DNVVN cần liên kết với nhau và kết nối với hệ thống các doanh nghiệp khác trong nền kinh tế Về hoạt động này, kinh nghiệm cho thấy rằng Nhà nước cần quan tâm, tạo điều kiện nhằm phát triển các mối quan hệ này thông qua các hình thức hiệp hội, nghiệp đoàn, các hình thức như thầu phụ, nhà cung cấp Hoạt động này, một mặt tạo điều kiện cho các DNVVN tích lũy kinh nghiệm, nâng cao năng lực quản lý, quy trình công nghệ cũng như bảo lãnh giúp DNVVN tiếp cận với các nguồn lực phát triển
- Ngoài ra, để nâng cao hiệu quản thực thi các chính sách hỗ trợ, Nhà nước cần chỉ đạo và điều phối các cơ quan chức năng xây dựng các chính sách hỗ trợ cũng như luật hóa các chính sách này phù hợp với từng thời kỳ và đặc điểm của nền kinh tế
Trang 3427
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ DOANH
NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TRÊN ĐỊA BÀN HÀ TĨNH
2.1 Một vài nét về quá trình phát triển và sự đóng góp của doanh
nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn Hà Tĩnh
2.1.1 Tình hình phát triển DNVVN trên địa bàn Hà Tĩnh
Hà Tĩnh là địa phương phát triển năng động thuộc khu vực miền Trung Việt Nam Tĩnh cũng đã đạt được nhiều thành tựu trong phát triển kinh tế (tốc
độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2011-2013 đạt 14,8%, trong đó năm 2011 đạt 11,68%, năm 2012 đạt 13,44%, năm 2013 dự kiến đạt 19,2%; GDP bình quân đầu người năm 2013 đạt 24 triệu đồng) Trong kết quả đạt được phải kể tới sự đóng góp của lực lượng doanh nghiệp trên địa bàn, đặc biệt là các DNVVN trong việc đẩy mạnh SXKD, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực; giữ vai trò quan trọng trong phát triển nông nghiệp, nông thôn và xây dựng NTM; tham gia GQVL cho người lao động, XĐGN; tạo môi trường để thu hút đầu tư …
Theo báo cáo của tổng cục thống kê, tính đến thời điểm 31/12/2012, số doanh nghiệp trên địa Hà Tĩnh là 2281 doanh nghiệp trong đó số DNVVN là
2228 (chiếm 97,7% trong tổng số, tập trung ở một số lĩnh vực công nghiệp và xây dựng, thương mại và vận tải) Như vậy, kế từ năm 2006 đến nay, các DNVVN trên địa bàn đã liên tục có sự phát triển nhanh về số lượng, chỉ từ
825 doanh nghiệp năm 2006 (chiếm 2,6% tổng số doanh nghiệp trong tỉnh) đã tăng lên con số hơn 2000 doanh nghiệp năm 2012 (tăng gần gấp 3 lần)
Trang 35Hình 2.1: Số lượng và tỷ trọng doanh nghiệp lớn và DNVVN trong tổng
số DN trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2006-2012
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Quy mô của các DNVVN cũng có nhiều biến động Trong tổng số DNVVN trên địa bàn tỉnh, số lượng doanh nghiệp vừa chiếm tỷ lệ ít nhất (trên dưới 3%), và đang có xu hướng giảm trong 2 năm trở lại đây Tỷ trọng của doanh nghiệp siêu nhỏ trong tổng số DNVVN là cao nhất khoảng 50%-60% và liên tục tăng về số lượng Còn lại là doanh nghiệp nhỏ cũng chiếm gần 50% tổng số DNVVN trên địa bàn và luôn trong xu hướng tăng qua các năm (từ 331 doanh nghiệp năm 2006, trong vòng 6 năm đã tăng gấp 3 lần, lên tới 958 doanh nghiệp) Điều nay cho thấy, các doanh nghiệp DNVVN tại tỉnh
Hà Tĩnh chủ yếu tập trung ở loại có quy mô nhỏ và siêu nhỏ Đây cũng là xu hướng phát triển chung của cả nước