Vì thế việc nghiên cứu môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Vĩnh Phúc là cần thiết, cấp bách nhằm tìm các giải pháp cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh tron
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực xuất phát từ tình hình thực tế
Tác giả luận văn
Bùi Mạnh Hà
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 6DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do cấp thiết của đề tài
Mỗi quốc gia, khi nghiên cứu về nguồn lực phát triển thì không thể không nhắc tới đầu tư và các nguồn vốn, trong đó nguồn vốn trong nước là chủ yếu và nguồn vốn đầu tư nước ngoài có vai trò quan trọng
Các quốc gia đang phát triển ngày càng nhận thấy rõ vai trò to lớn của vốn đầu tư cho phát triển kinh tế, xã hội Có ba yếu tố tác động đến tăng trưởng kinh tế: đầu tư vốn, năng suất lao động và các chỉ tiêu tổng hợp; trong đó vốn đầu tư đóng vai trò căn bản Nhưng do điều kiện xuất phát của các quốc gia đang phát triển còn lạc hậu và chưa đồng bộ, việc tích luỹ vốn từ nội bộ nền kinh tế thường thấp, do vậy thu hút vốn nước ngoài là cách tạo tích luỹ vốn nhanh mà các nước đi sau có thể làm được Trong xu thế liên kết, hội nhập, phân công lao động quốc tế, đầu tư nước ngoài nói chung và đầu tư trực tiếp nước ngoài nói riêng ngày càng có ý nghĩa quan trọng, nó trở thành xu hướng của thời đại, được nhiều quốc gia sử dụng như một chính sách lâu dài
Sự nghiệp công nghiệp hoá (CNH), hiện đại hoá (HĐH) gắn với mục tiêu phấn đấu đưa Vĩnh Phúc cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp vào năm 2015, trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 và trở thành Thành phố Vĩnh Phúc vào những năm 20 của thế kỷ XXI đã được khởi xướng tại Đại hội Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lần thứ XIV, nhiệm kỳ 2005-2010 Nhìn lại chặng đường đã qua, có thể thấy rằng tỉnh Vĩnh Phúc đã đạt được những thành tựu đáng tự hào: tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm đạt trên 16,7% (quý I năm 2013), đời sống của nhân dân ngày càng được nâng cao và không những đạt được những thành tựu về mặt kinh tế mà tất cả các mặt của đời sống văn hoá-xã hội, giáo dục, y tế, cũng được nâng cao rõ rệt, tình hình chính trị ổn định, an ninh - quốc phòng được giữ vững, các mối quan hệ hợp tác quốc tế ngày càng được mở rộng Đạt được những thành công đó bên cạnh sự khai thác hiệu quả các nguồn lực trong nước thì sự hỗ trợ từ bên ngoài cũng đóng một vai trò quan trọng và đặc biệt trong đó vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).Trong những năm qua, thu hút đầu tư trực tiếp nước
Trang 8ngoài trên địa bàn tỉnh đã đạt được kết quả tích cực Theo luỹ kế đến hết tháng 5 năm 2013, trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc thu hút được 124 dự án FDI với tổng vốn đăng ký 2.790,44 triệu USD; Vốn thực hiện của các dự án FDI trong tháng 5 ước đạt khoảng 8,5 triệu USD, vốn thực hiện đến hết tháng 5/2013 ước đạt 1.195,29 triệu USD, bằng 42,83% vốn đăng ký Đến nay, đã có 13 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư trên địa bàn FDI đã đóng góp quan trọng cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Vì thế việc nghiên cứu môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Vĩnh Phúc là cần thiết, cấp bách nhằm tìm các giải pháp cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh trong việc thu hút FDI, thúc đẩy, nâng cao tốc độ phát triển kinh tế, chuyển dịch nhanh và bền vững cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa, cải thiện đời sống nhân dân, đồng thời nâng cao vị thế của Vĩnh Phúc trong khu vực kinh tế trọng điểm phía Bắc Vì vậy
“Môi trường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở tỉnh Vĩnh Phúc” được tôi
lựa chọn làm đề tài luận văn thạc sĩ kinh tế, chuyên ngành Kinh tế chính trị
2 Tình hình nghiên cứu luận văn
Qua thực tiễn hơn 20 năm thực hiện luật đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam, đề tài đầu tư trực tiếp nước ngoài đã được nhiều tác giả nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh khác nhau:
Nguyễn Văn Tuấn (2005): Đầu tư trực tiếp nước ngoài với phát triển kinh tế
Việt Nam, NXB Tư pháp, Hà Nội
Nguyễn Bích Đạt (2006): Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong nền
kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, HàNội
Tống Quốc Đạt (2005) với đề tài luận án tiến sĩ “Cơ cấu FDI theo ngành kinh tế ở Việt Nam” đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về FDI, nghiên cứu và phân tích một số mô hình về động thái cơ cấu ngành kinh tế Tác giả đánh giá thực trạng FDI theo ngành kinh tế ở Việt Nam và xác định một số quan điểm, giải pháp chủ yếu thu hút FDI theo ngành kinh tế
Đỗ Hoàng Long (2008) với đề tài luận án tiến sĩ “Tác động của toàn cầu hóa kinh tế đối với dòng FDI vào Việt Nam” Đề tài đã nghiên cứu tác động của quá trình toàn cầu hóa kinh tế đối với dòng FDI trên Thế giới vào Việt Nam Nghiên
Trang 9cứu xu hướng vận động của dòng FDI toàn cầu và một số giải pháp đối với việc thu hút FDI vào Việt Nam
Hoàng Thị Bích Loan (2008) với đề tài “Thu hút FDI của các công ty xuyên quốc
kinh tế Việt Nam từ những năm 1990 đến nay, triển vọng, phương hướng và giải pháp chủ yếu để phát triển thu hút FDI của các công ty TNC vào Việt Nam
Phan Hữu Thắng (2008) với sách chuyên khảo “20 năm đầu tư trực tiếp nước ngoài – nhìn lại và hướng tới” Những nghiên cứu, đánh giá tổng quan
về tình hình chung cũng như đi sâu phân tích từng nội dung cụ thể qua 20 năm FDI tại Việt Nam: Nhìn lại quá trình hình thành và hoàn thiện pháp luật về đầu tư nước ngoài FDI và sự phát triển của Việt Nam, dòng vốn FDI vào các tỉnh thành, sự lựa chọn cần thiết cho thị trường tài chính Việt Nam, dòng vốn FDI thời kỳ hậu gia nhập WTO
Phạm Ngọc Anh (2009) với đề tài “Sử dụng công cụ tài chính trong thu hút FDI tại Việt Nam” Tác giả đã đi sâu vào phân tích những công cụ tài chính linh hoạt nhằm tạo môi trường đầu tư thuận lợi kích thích tăng cường dòng FDI vào Việt Nam trong những bối cảnh mới của nền kinh tế thế giới
Phùng Xuân Nhạ (2007) với sách chuyên khảo “Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam” đã trình bày về cơ sở lý luận và thực tiễn của việc lựa chọn các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam, các hình thức FDI theo Luật đầu tư ở nước ta và thực trạng các hình thức FDI ở Việt Nam cùng với các đề xuất, kiến nghị chính sách về FDI
Phùng Xuân Nhạ (2010) với sách chuyên khảo về đề tài “Điều chỉnh chính sách đầu tư FDI ở Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế” Tác giả
đã đưa ra một số vấn đề lý thuyết và thực tiễn cũng như chính sách FDI ở Việt Nam Đánh giá về sự thay đổi, điều chỉnh chính sách FDI ở Việt Nam trong quá trình hội nhập nền kinh tế thế giới Tác giả cũng đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả điều chỉnh chính sách FDI của Việt Nam trong giai đoạn hậu WTO…
Trang 10Những nghiên cứu trên và các nghiên cứu của một số tác giả khác đã
đề cập tới những vấn đề như: Cơ sở của FDI, các chính sách và biện pháp thu hút FDI, thực tiễn về tác động của FDI đối với quá trình đổi mới kinh tế
Ngoài ra còn nhiều bài viết đăng trên các sách, báo, tạp chí về vấn đề này Các công trình trên đã tiếp cận và giải quyết những khía cạnh khác nhau của vấn đề đầu tư trực tiếp nước ngoài
Tuy vậy, những nghiên cứu về môi trường kinh doanh và ảnh hưởng của nó đến thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Vĩnh Phúc những năm gần đây dưới
độ khoa học kinh tế chính trị chưa có nhiều Vì vậy, luận văn này là cần thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, đồng thời không trùng lặp với các công trình khoa học đã công bố
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
* Mục đích nghiên cứu
Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về môi trường thu hút vốn đầu tư và tác động đến đầu tư trực tiếp nước ngoài, trên cơ sở đó xem xét thực trạng môi trường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Vĩnh Phúc; đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện môi trường đầu nhằm nâng cao khả năng thu hút vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Vĩnh Phúc từ 2005 đến 2015
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Trình bày lý luận về môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI
Các câu hỏi nghiên cứu của Luận Văn này là:
- Những yếu tố nào tác động tới môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài của tỉnh Vĩnh Phúc ?
- Môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài của tỉnh Vĩnh Phúc mang lại thuận lợi và hạn chế gì cho nhà đầu tư ?
- Cần có những biện pháp nào để hoàn thiện môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài của tỉnh Vĩnh Phúc
- Phân tích thực trạng môi trường thu hút vốn đầu tư và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ở Vĩnh Phúc trong thời gian từ 2005 đến tháng 6 năm 3013
Trang 11- Đề xuất một số phương hướng và biện pháp cải thiện môi trường đầu tư nhằm nâng cao khả năng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Vĩnh Phúc thời gian đến năm 2015
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn môi trường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài dưới góc độ của khoa học kinh tế chính trị
* Giới hạn nghiên cứu
- Địa bàn nghiên cứu: Tỉnh Vĩnh Phúc cụ thể là các doanh nghiệp FDI, các nhà đầu
tư, các cơ quan, đơn vị có liên quan đến FDI
- Thời gian: Từ năm 2005 đến tháng 10 năm 3013
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác- Lênin, luận văn đã sử dụng các phương pháp cụ thể: phương pháp kết hợp lôgic với lịch sử, các phương pháp: phân tích - tổng hợp, thống kê và so sánh, phương pháp tổng kết thực tiễn địa phương và phương pháp thu thập thông tin (sơ cấp, thứ cấp) Luận văn sử dụng có chọn lọc các kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học
đã công bố
6 Đóng góp mới của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ thêm lý luận về môi trường thu hút vốn đầu tư, vai trò của nó đối với đầu tư nói chung, đầu tư trực tiếp nước ngoài nói riêng Nêu ra các giải pháp nhằm cải thiện môi trường đầu tư, năng lực cạnh tranh cấp tỉnh để tăng cường thu hút và nâng cao hiệu quả của đầu tư trực tiếp nước ngoài nhằm thúc đầy kinh tế - xã hội ở Vĩnh Phúc nhanh và bền vững
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan nghiên cứu, hoạch định chính sách đầu tư trực tiếp nước ngoài Có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập các chuyên đề kinh tế liên quan đến luận văn
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận và danh mục tài liệu tham
Trang 12khảo, nội dung luận văn gồm 3 chương:
trường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
ở tỉnh Vĩnh Phúc
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2013-2020
Trang 13CHƯƠNG 1: MỘT SỐ CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀ MÔI TRƯỜNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
NƯỚC NGOÀI
1.1 TỔNG QUAN VỀ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
1.1.1 Khái niệm vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một hoạt động kinh tế đối ngoại ra đời muộn hơn các hoạt động kinh tế đối ngoại khác vài ba thập kỷ Nhưng từ khi mới xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ XIX, FDI đã có vị trí đáng kể trong quan hệ kinh
tế quốc tế Cùng với quá trình phát triển mạnh mẽ của quan hệ kinh tế quốc tế, hoạt động FDI không ngừng mở rộng và chiếm một vị trí ngày càng quan trọng trong các quan hệ kinh tế này Cho đến nay FDI đã trở thành xu thế tất yếu của thời đại và một nhân tố quy định bản chất của các quan hệ kinh tế quốc tế
Có nhiều tổ chức kinh tế đã đưa ra khái niệm về FDI Theo Quỹ tiền tệ Quốc
tế IMF thì: FDI là một hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm đạt được những lợi
ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp [IMF,1993]
Theo tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế OECD: Đầu tư trực tiếp nước
ngoài phản ánh mục tiêu có được lợi ích lâu dài của nhà đầu tư (chủ đầu tư trực tiếp) tại nền kinh tế của một quốc gia khác (nước nhận đầu tư) ngoài quốc gia mình (nước chủ đầu tư) Lợi ích lâu dài ngụ ý sự tồn tại của một mối quan hệ lâu dài giữa chủ đầu tư với các doanh nghiệp và mức độ ảnh hưởng của việc quản lý doanh nghiệp Đầu tư trực tiếp bao gồm cả những giao dịch ban đầu của các chủ thể và các giao dịch vốn tiếp theo giữa họ và giữa các doanh nghiệp trực thuộc dưới hình thức hợp nhất hoặc chưa hợp nhất [OECD,1996]
Ở Việt Nam, năm 2005, Quốc hội Việt Nam khoá XI đã thông qua Luật đầu
tư 2005 Trong luật này có các khái niệm về “đầu tư”, “đầu tư trực tiếp”, “đầu tư nước ngoài”, “đầu tư ra nước ngoài” nhưng không có khái niệm về “đầu tư trực tiếp
nước ngoài” Tuy nhiên, chúng ta có thể tổng hợp và hiểu một cách khái quát: FDI
Trang 14là hình thức đầu tư do nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư ở Việt Nam hoặc nhà đầu tư Việt Nam bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư ở nước ngoài theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan
Như vậy, theo các tổ chức kinh tế thế giới cũng như các nguồn luật trong nước, khái niệm về FDI về cơ bản là giống nhau và không có sự mâu thuẫn Nói một cách khác, FDI là một loại hình di chuyển vốn quốc tế dài hạn trong đó, chủ sở hữu vốn đầu tư cũng đồng thời là người tham gia trực tiếp quản lý điều hành hoạt động sử dụng đồng vốn của mình, nhằm mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận và những mục tiêu kinh tế - xã hội nhất định Việc hình thành vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chủ yếu là do các tổ chức kinh tế, cá nhân và công ty quốc tế đưa vốn vào nước sở tại để đầu tư theo các hình thức khác nhau, phù hợp với quy định trong Luật đầu tư của nước sở tại FDI thường được thực hiện thông qua việc xây dựng doanh nghiệp mới, mua lại toàn bộ hoặc từng phần doanh nghiệp đang hoạt động hoặc sáp nhập doanh nghiệp ở nước sở tại Về bản chất, đây là hình thức xuất khẩu tư bản, một hình thức cao hơn của xuất khẩu hàng hoá
1.1.2 Vai trò cơ bản đối với các nước đang phát triển
1.1.2.1 Bổ sung nguồn vốn
Trong thời kỳ đầu mới phát triển, trình độ kinh tế của các nước đang phát triển thấp, GDP và GDP tính theo đầu người thấp vì vậy khả năng tích lũy vốn trong nội bộ nền kinh tế rất hạn chế Trong khi đó, nhu cầu vốn đầu tư để phát triển nhằm rút ngắn
khoảng cách với các nước công nghiệp phát triển lại rất lớn FDI với vai trò là một
nguồn vốn bổ sung từ bên ngoài, giúp các nước đang phát triển giải quyết được bài toán thiếu vốn Trong các nguồn vốn từ nước ngoài thì nguồn vốn FDI được đánh giá
là rất quan trọng với nhiều nước FDI chiếm một tỷ trọng đáng kể (trung bình trên 30%) trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội của các nước đang và kém phát triển
Ngoài ý nghĩa bổ sung một lượng vốn đáng kể cho đầu tư phát triển kinh tế, cần nói đến chất lượng của vốn FDI Sự có mặt của nguồn vốn này đã góp phần tạo điều kiện cho nguồn vốn Nhà nước tập trung vào các vấn đề kinh tế xã hội ưu tiên
Trang 15(cơ sở hạ tầng, các công trình phúc lợi…) Nguồn vốn này cũng góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả các nguồn vốn trong nước Các doanh nghiệp nhà nước phải đầu tư và chú ý đến hiệu quả đầu tư trong điều kiện phải cạnh tranh với các doanh nghiệp có vốn FDI Các doanh nghiệp có vốn FDI tạo ra sự liên kết với các công ty trong nước nhận đầu tư thông qua các mối quan hệ cung cấp dịch vụ, nguyên vật liệu Qua đó, FDI thúc đẩy đầu tư trong nước đang phát triển Nhờ vậy, các tiềm năng trong nước được khai thác hiệu quả hơn
1.1.2.2 Chuyển giao công nghệ
Thông qua FDI, các công ty nước ngoài sẽ đem lại công nghệ tiên tiến hơn từ công ty mẹ vào sản xuất ở nước sở tại thông qua thành lập các công ty con hay chi nhánh Sự xuất hiện của các công ty nước ngoài xuất phát từ mục tiêu lợi nhuận trên
cơ sở tận dụng những lợi thế có được từ công ty mẹ để sẵn sàng cạnh tranh đối với các doanh nghiệp trong nước Vì vậy, hoạt động của các doanh nghiệp FDI sẽ khuyến khích nhưng cũng gây áp lực về đổi mới công nghệ nhằm tăng năng lực cạnh tranh đối với các doanh nghiệp trong nước
FDI không chỉ mang lại công nghệ cho các nước đang phát triển thông qua con đường chuyển giao từ nước ngoài vào mà còn bằng cách xây dựng các cơ sở nghiên cứu và phát triển, đào tạo cho đội ngũ lao động ở các nước đang phát triển
để phục vụ cho các dự án đầu tư Ngoài ra, chuyển giao công nghệ còn được thông qua việc chuyển lao động Thông qua FDI, kỹ năng quản lý, kỹ năng tay nghề lao động được truyền bá vào các nước đang phát triển
1.1.2.3 Tạo điều kiện việc làm và tăng nguồn nhân lực
FDI giúp các nước đang phát triển tận dụng được lợi thế về nguồn lao động dồi dào Ở nhiều nước, khu vực có vốn FDI tạo ra số lượng lớn việc làm cho người lao động, đặc biệt trong lĩnh vực chế tạo Nhìn chung, số lượng việc làm trong khu vực có vốn FDI và tỷ trọng trong tổng lao động ở các nước phát triển có xu hướng tăng lên
Bên cạnh đó, FDI còn góp phần vào việc đào tạo, nâng cao trình độ cho người lao động Năng suất lao động trong các doanh nghiệp có vốn FDI thường
Trang 16cao hơn trong các doanh nghiệp nhà nước Với tiêu chí coi hiệu quả làm việc là ưu tiên hàng đầu trong tuyển dụng và sử dụng lao động, các doanh nghiệp có vốn FDI thường xây dựng đội ngũ công nhân, nhân viên lành nghề, có tác phong công nghiệp và kỷ luật cao
1.1.2.4 Mở rộng thị trường xuất khẩu và nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường thế giới
Vai trò này của FDI thể hiện rõ nhất ở các nước áp dụng chính sách thu hút FDI hướng vào xuất khẩu Sự xuất hiện của các dự án FDI đi kèm với công nghệ, máy móc, thiết bị hiện đại đã giúp các nước nâng cao chất lượng và đa dạng hóa các mặt hàng xuất khẩu Bên cạnh đó, thông qua các mối quan hệ sẵn có của các nhà đầu tư nước ngoài, hàng hóa của các doanh nghiệp có vốn FDI được tiếp cận với thi trường thế giới
1.1.2.5 Củng cố và mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, đẩy nhanh tiến trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới
Hoạt động FDI góp phần làm phong phú, đa dạng và sâu sắc các mối quan hệ kinh tế đối ngoại của các nước đang phát triển Nền kinh tế trong nước dần dần tham gia sâu rộng hơn vào nền kinh tế khu vực và thế giới Điều này tạo thuận lợi cho các nước tham gia vào các hiệp định hợp tác song phương, đa phương
Ngoài ra, FDI còn góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các nước đang phát triển theo hướng tích cực: tỷ trọng của ngành nông nghiệp giảm dần, thay vào
đó là tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ tăng dần Bên cạnh đó, FDI giúp tăng trưởng kinh tế, tăng ngân sách nhà nước…
1.1.3 Một số lý thuyết về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.3.1 Lý thuyết về vòng đời của sản phẩm (International Product Life Cycle)
Lý thuyết này được S.Hirsch đưa ra trước tiên và sau đó được R.Vernon phát
triển một cách có hệ thống vào năm 1996 trong tác phẩm “ International investment
and international trade in product cycle” Lý thuyết này lý giải cả đầu tư và thương
mại quốc tế, coi đầu tư quốc tế là một giai đoạn tự nhiên trong vòng đời sản phẩm
Lý thuyết này cho thấy vai trò của các phát minh, sáng chế trong thương mại và đầu
Trang 17tư quốc tế bằng cách phân tích quá trình quốc tế hóa sản xuất theo giai đoạn nối tiếp nhau Ưu điểm của lý thuyết này là đưa vào được nhiều yếu tố cho phép lý giải sự thay đổi theo ngành hoặc việc dịch chuyển dần các hoạt động công nghiệp của các nước tiên phong về công nghệ, trước tiên là các nước “bắt chước sớm”, sau đó là các nước “bắt chước muộn” Hai ý tưởng làm căn cứ xuất phát của lý thuyết này được xuất phát từ ý tưởng của Heckscher - Ohlin rất đơn giản đó là:
- Mỗi sản phẩm có một vòng đời, từ khi xuất hiện cho đến khi bị đào thải; vòng đời này dài hay ngắn tùy thuộc vào từng sản phẩm
- Các nước công nghiệp có quy mô thường nắm giữ các công nghệ độc quyền
do họ khống chế khâu nghiên cứu và triển khai và do có lợi thế về quy mô
Theo lý thuyết này, ban đầu phần lớn các sản phẩm mới được sản xuất tại nước phát minh ra nó và được xuất đi các nước khác Nhưng khi sản phẩm mới đã được chấp nhận rộng rãi trên thị trường thế giới thì sản xuất được tiến hành ở các nước khác Kết quả rất có thể sau đó sẽ lại được xuất khẩu trở lại nước phát minh ra
nó Cụ thể, vòng đời quốc tế của một sản phẩm gồm 3 giai đoạn:
- Giai đoạn sản phẩm mới xuất hiện cần thông tin phản hồi nhanh xem nó có thỏa mãn nhu cầu khách hàng không và được bán ở trong nước cũng là để tối thiểu hóa chi phí Xuất khẩu sản phẩm giai đoạn này không đáng kể Người tiêu dùng chú trọng đến chất lượng và độ tin cậy hơn là giá bán sản phẩm Qui trình sản xuất chủ yếu là sản xuất nhỏ
- Giai đoạn sản phẩm chín muồi, nhu cầu tăng, xuất khẩu tăng mạnh, các đối thủ cạnh tranh trong và ngoài nước xuất hiện vì thấy có thể kiếm được nhiều lợi nhuận Nhưng dần dần cầu trong nước giảm, chỉ có nhu cầu ở nước ngoài tiếp tục tăng Xuất khẩu nhiều (đạt đến đỉnh cao) và các nhà máy ở nước ngoài bắt đầu được xây dựng (sản xuất mở rộng thông qua FDI) Giá trở thành yếu tố quan trọng trong quyết định của người tiêu dùng
- Giai đoạn sản phẩm được tiêu chuẩn hóa, thị trường ổn định, hàng hóa trở
nên thông dụng, các doanh nghiệp chịu áp lực phải giảm chi phí càng nhiều càng tốt
để tăng lợi nhuận hoặc phải giảm giá để tăng năng lực cạnh tranh Cạnh tranh ngày càng khốc liệt, các thị trường trong nước trì tuệ, cần sử dụng lao động rẻ Sản xuất
Trang 18tiếp túc được chuyển sang các nước khác có lao động rẻ hơn thông qua FDI Nhiều nước xuất khẩu sản phẩm trong các giai đoạn trước (trong đó có nước phát minh ra sản phẩm) nay trở thành nước chủ đầu tư và phải nhập khẩu chính sản phẩm đó vì sản phẩm sản xuất trong nước không còn cạnh tranh được về giá bán trên thị trường quốc tế Các nước này nên tập trung đầu tư cho phát minh mới
1.1.3.2 Mô hình “đàn nhạn” của Akamatsu
Mô hình “đàn nhạn” của sự phát triển công nghiệp được Akamatsu đưa ra vào những năm 1961 -1962 Akamatsu chia quá trình phát triển thành 3 giai đoạn: (1) sản phẩm được nhập khẩu từ nước ngoài để phục vụ cho nhu cầu trong nước; (2) sản phẩm trong nước tăng lên để thay thế cho nhập khẩu; sản xuất để xuất khẩu, FDI sẽ thực hiện ở giai đoạn cuối để đối mặt với sự thay đổi về lợi thế tương đối
Ozawa là người tiếp theo nghiên cứu mối quan hệ giữa FDI và mô hình “đàn nhạn” Theo ông, một ngành công nghiệp của nước đang phát triển có lợi thế tương đối về lao động, sẽ thu hút FDI vào để khai thác lợi thế này Tuy nhiên sau đó tiền lương lao động của ngành này dần dần tăng lên do lao động của địa phương đã khai thác hết và FDI vào sẽ giảm đi Khi đó các công ty trong nước đầu tư ra nước ngoài (nơi có lao động rẻ hơn) để khai thác lợi thế tương đối của nước này Đó là quá trình liên tục của FDI Mô hình đã chỉ ra quá trình đuổi kịp của các nước đang phát triển: khi một nước đuổi kịp ở nấc thang cuối cùng của một ngành công nghiệp từ kinh tế thấp sang kỹ thuật cao thì tỷ lệ FDI ra sẽ lớn hơn tỷ lệ FDI vào Một quốc gia đứng đầu trong đàn nhạn, đến một thời điểm nhất định sẽ trở nên lạc hậu và nước khác sẽ thay thế vị trí đó
Đóng góp đáng kể của mô hình này là sự tiếp cận “động” với FDI trong một thời gian dài, gắn với xu hướng và quá trình của sự phát triển, có thể áp dụng để trả lời câu hỏi: vì sao các công ty thực hiện FDI, đưa ra gợi ý đối với sự khác nhau về lợi thế so sánh tương đối giữa các nước dẫn đến sự khác nhau về luồng vào FDI
Tuy nhiên, mô hình “đàn nhạn” chưa thể trả lời các câu hỏi vì sao các công
ty lại thích thực hiện FDI hơn là xuất khẩu hoặc cung cấp kỹ thuật của mình, và không dùng nó để giải thích vì sao FDI lại diễn ra giữa các nước tương tự về các nhân tố và lợi thế tương đối, vì sao FDI lại diễn ra từ khu vực kinh tế này sang khu
Trang 19vực kinh tế khác Vấn đề quan trọng hơn là mô hình này lờ đi vai trò của nhân tố cơ cấu kinh tế và thể chế
Thứ hai, lợi thế về quyền sở hữu, mà theo đó sẽ có hai nhân tố, nhân tố về cạnh tranh độc quyền và nhân tố về vòng đời của sản phẩm
Cuối cùng, lợi thế về nội bộ hóa, tức việc cho phép tối đa hóa quyền sở hữu cũng là một động lực mạnh đối với thu hút đầu tư
1.1.3.4 Mô hình SWOT
Mô hình SWOT (Strength, Weak, Opportunity, Threat) là ma trận dùng để tổng hợp các kết quả phân tích tạo ra cái nhìn toàn cảnh, từ đó tìm ra chiến lược cụ thể, phù hợp Ở đây việc phân tích dựa trên việc đánh giá 04 tiêu thức là cơ hội, thách thức, điểm mạnh, điểm yếu của tỉnh Vĩnh Phúc trong việc thu hút FDI những năm qua (2005 – 2013)
Điểm mạnh là yếu tố nội tại của địa phương thể hiện là những khả năng nổi trội hơn các địa phương khác như về quản lý, việc thực hiện cơ chế tạo sự hấp dẫn thu hút FDI vào địa phương
Trang 20Điểm yếu là những yếu tố nội tại của đại phương thể hiện những khả năng kém hơn so với các địa phương khác trong việc thực hiện tạo sự hấp dẫn thu hút FDI vào địa phương
Để chỉ ra được điểm mạnh điểm yếu phải dựa vào phân tích nội bộ địa phương về các mặt như: việc quản lý của chính quyền địa phương, việc thực hiện các quy định pháp luật, các chính sách địa phương thực hiện đối với các vấn đề liên quan tới FDI; các chính sách về lao động, đào tạo lao động; thủ tục hành chính khi cấp giấy phép
Cơ hội là những yếu tố từ bên ngoài môi trường đem lại, nó có tác động tích cực đến mục tiêu thu hút FDI của địa phương như đem lại những điều kiện thuận lợi như xu thế, cơ chế chính sách, điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý
Thách thức là những yếu tố bên ngoài do môi trường đem lại, nó có tác động tiêu cực đến mục tiêu thu hút FDI của địa phưong, đem lại những điều kiện khó khăn, tác động làm giảm sự hấp dẫn trong việc thu hút FDI của địa phương
Tìm ra những cơ hội, thách thức dựa trên phân tích môi trường bên ngoài mà chủ yếu là phân tích môi trường vĩ mô như môi trường luật pháp về đầu tư tại Việt nam, xu thế đầu tư quốc tế vào Việt nam Bên cạnh đó phân tích những khó khăn thuận lợi do vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên
1.2 MÔI TRƯỜNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 1.2.1 Khái niệm và vai trò của môi trường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.2.1.1 Khái niệm môi trường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Đầu tư là hoạt động bỏ vốn ngày hôm nay để thu lại lợi ích trong tương
lai Trong quá trình đó, môi trường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (sau
đây gọi tắt là: Môi trường FDI) đóng vai trò như một chất xúc ban đầu cho việc
lựa chọn quyết định bỏ vốn của nhà đầu tư, vì vậy môi trường FDI có vị trí vô cùng quan trọng trong việc thu hút vốn Theo nghĩa chung nhất môi trường đầu
tư là tổng hoà các yếu tố bên ngoài liên quan đến hoạt động đầu tư Có nghĩa là,
Trang 21môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài là tổng thể các yếu tố, điều kiện thể chế và chính sách của nước tiếp nhận đầu tư chi phối đến hoạt động kinh doanh
Theo World Bank 2004, môi trường đầu tư là tập hợp những yếu tố đặc thù địa phương đang định hình cho các cơ hội và động lực để doanh nghiệp đầu
tư có hiệu quả tạo, tạo việc làm và mở rộng sản xuất Tập hợp những yếu tố đặc thù này bao gồm 2 thành phần chính sách của Chính phủ và các yếu tố khác liên quan đến quy mô thị trường và ưu thế địa lý Hai thành phần này tác động đến
ba khía cạnh liên quan đến nhà đầu tư :
- Chi phí cơ hội (Opportunity Costs) của vốn đầu tư
- Mức độ rủi ro (Investment Risks) trong đầu tư
- Những rào cản về cạnh tranh (Barriers to Competion) trong quá trình đầu tư
Dựa vào việc cân nhắc ba khía cạnh này nhà đầu tư sẽ xác định những cơ hội và những động lực đầu tư đến một quốc gia hay một địa phương nào đó
Việc thu hút FDI là vô cùng quan trọng đối với mỗi quốc gia, mỗi địa phương đặc biệt là đối với Việt Nam nói chung và tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng Trên hết xuyên suốt các thời kì dù là các quốc gia phát triển hay quốc gia đang phát triển,
dù là bên nhận đầu tư hay bên chủ đầu tư thì động lực mạnh mẽ bao quát nhất tạo ra
và chi phối những dòng vốn FDI chính là lợi nhuận Dòng vốn FDI chỉ thực sự mở rộng và tìm đến những nơi có môi trường FDI đảm bảo cho dòng vốn sinh sôi nảy
nở Thực tiễn cho thấy tiêu chuẩn của môi trường FDI hấp dẫn có sức cạnh tranh để thu hút FDI trước hết bao gồm 5 nhóm yếu tố tổng quát sau đây:
* Môi trường tự nhiên
Môi trường tự nhiên bao gồm vị trí địa lý, địa hình, khí hậu, các loại tài nguyên Các nhà đầu tư nước ngoài đều phải tiến hành chuyên chở, hàng hóa và dịch vụ giữa các điểm sản xuất và tiêu thụ Vì thế, nếu vị trí địa lí thuận lợi sẽ giảm được các chi phí vận chuyển, dễ dàng mở rộng ra các thị trường xung quanh ,thúc đẩy các doanh nghiệp tập trung hóa và đa dạng hoá các lĩnh vực đầu tư
Khí hậu ở nơi tiếp nhận đầu tư cũng là một nhân tố có ảnh hưởng rất lớn tới quyết định đầu tư của nhà đầu tư Chẳng hạn những nơi có khí hậu nhiệt đới gió
Trang 22mùa thường có độ ẩm cao nên tác động rất xấu tới độ bền công nghệ và điều kiện sống của các nhà đầu tư ở phương Tây, điều này sẽ có ảnh hưởng nhất định tới Điều kiện tự nhiên thuận lợi sẽ cung cấp được nguồn nguyên liệu đầu vào phong phú với giá rẻ cho các hoạt động đầu tư Một nơi sẽ hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài nếu nơi đó có nguồn khoáng sản dồi dào với trữ lượng lớn Những yếu tố này không những làm giảm được giá thành sản phẩm mà còn thu hút được các nhà đầu
tư tìm kiếm nguyên liệu tự nhiên và thị trường tiêu thụ
* Môi trường văn hóa – xã hội
Đặc điểm văn hóa xã hội cũng ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài Nó bao gồm những yếu tố chủ yếu về ngôn ngữ, tôn giáo, giá trị đạo đức, tinh thần dân tộc, phong tục tập quán và giáo dục Các yếu tố này có thể cản trở, kìm hãm, hoặc khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài
Một khó khăn lớn của các nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư ra nước ngoài là
sự bất đồng về ngôn ngữ, sự khác biệt về ngôn ngữ không chỉ làm phát sinh thêm chi phí (phải học ngoại ngữ, thuê phiên dịch ) mà còn gây những hiểu lầm nhau trong kinh doanh, khó khăn trong sinh hoạt bởi vậy sự tương đồng về ngôn ngữ cũng là nhân tố quyết định hoạt động đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài
Tôn giáo cũng là một thành tố quan trọng của nền văn hóa, nó phản ánh tín ngưỡng của con người vào một đấng siêu nhân Tín ngưỡng tác động mạnh mẽ tới các quan niệm sống của con người về các giá trị cá nhân và xã hội, qua đó ảnh hưởng đến thái độ đối với các nhà đầu tư nước ngoài, tập quán tiêu dùng và thuần phong mỹ tục
Phong tục tập quán ở nơi tiếp nhận đầu tư có ảnh hưởng lớn đến thu hút FDI Các nhà đầu tư nước ngoài không muốn đầu tư vào một nơi có quá nhiều tập quán
kì lạ như ăn kiêng, nhiều lễ hội, tôn giáo và cấm đoán trong giao tiếp với người nước ngoài Trái lại nếu nơi tiếp nhận đầu tư có nhiều phong tục tập quán gần với nhà đầu tư thì không chỉ thuận lợi cho nhà đầu tư trong việc kinh doanh mà còn giúp họ dễ hòa nhập với cuộc sống của nước sở tại
Trang 23Trình độ giáo dục- đào tạo đóng vai trò rất quan trọng trong việc thu hút FDI Trình độ giáo dục và cơ cấu đào tạo hợp lý sẽ là cơ sở quan trọng để cung cấp cho nhà đầu tư nước ngoài đội ngũ lao động có tay nghề cao, thích ứng với tác phong lao động có kỷ luật Nhờ đó giảm được chi phí đào tạo nhân lực và đáp ứng được yêu cầu sản xuất của họ
* Môi trường lao động
Khi quyết định đầu tư vào một địa phương nào, các nhà đầu tư nước ngoài cũng nhắm tới việc khai thác nguồn nhân lực trẻ và tương đối thừa thãi ở các địa phương này Thông thường nguồn lao động phổ thông có thể đáp ứng được yêu cầu của nhà đầu tư nước ngoài Tuy vậy chỉ có thể tìm được các nhà quản lý giỏi, cũng như cán bộ kỹ thuật có trình độ và kinh nghiệm ở những thành phố lớn Trách nhiệm ,thái độ làm việc của người lao động ,chính sách đào tạo nguồn lao động của địa phương cũng là những yếu tố quan trọng trong việc xem xét, lựa chọn địa điểm đầu tư Đội ngũ nhân lực có trình độ cao là điều kiện để địa phương vượt qua những hạn chế về tài nguyên thiên nhiên và trở nên hấp dẫn với những nhà đầu tư nước ngoài Việc thiếu những nhân lực kỹ thuật lành nghề, các nhà lãnh đạo, quản lý cao cấp sẽ khó tiếp thu khoa học kỹ thuật chuyển giao điều này sẽ khó lòng đáp ứng được yêu cầu của nhà đầu tư nước ngoài, làm chậm và thu hẹp lại nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào địa phương
* Môi trường Kinh tế
Trình độ phát triển của nền kinh tế, cơ sở hạ tầng sẽ cho biết chất lượng cung cấp dịch vụ cho các hoạt động kinh doanh của các nhà đầu tư nước ngoài và mức độ cạnh tranh của thị trường địa phương nhận đầu tư Trình độ phát triển kinh tế thấp thường dẫn đến tình trạng nghèo đói, các thủ tục hành chính rườm rà, nạn tham nhũng …
Cơ sở hạ tầng phát triển bao gồm một hệ thống giao thông vận tải đồng bộ, hiện đại với cầu, cảng, đường xá, kho bãi Một hệ thống bưu điện, phương tiện thông tin liên lạc viễn thông với các phương tiện nghe-nhìn hiện đại, có thể nối mạng thống nhất toàn quốc và liên thông với toàn cầu; hệ thống điện nước dồi dào
và phân bổ tiện lợi cho các hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như đời sống và
Trang 24một hệ thống mạng lưới cung cấp các loại dịch vụ khác (y tế, giáo dục, kỹ thuật….) phát triển rộng khắp, đa dạng và có chất lượng cao Địa phương có cơ sở hạ tầng kỹ thuật phát triển sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh Nếu như khi đầu tư vào một quốc gia nào đó mà các chủ đầu tư phải tự đầu tư để xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ cho hoạt động của dự án thì sẽ dẫn tới chi phí ban đầu lớn, giảm lợi nhuận của dự án và ngược lại, lợi nhuận của dự án sẽ lớn hơn
* Môi trường chính sách, pháp luật
Vì quá trình đầu tư có liên quan đến rất nhiều các hoạt động của các tổ chức,
cá nhân và được tiến hành trong khoảng thời gian dài và ở nơi xa nên các nhà đầu
tư nước ngoài rất cần một môi trường pháp lí hợp lí và ổn định của nước chủ nhà Môi trường này gồm những chính sách, quy định đối với đầu tư nước ngoài và tính hiệu lực của chúng trong thực hiện Các nhà đầu tư nước ngoài luôn tôn trọng những quy định về chính sách- pháp luật của nơi nhận đầu tư
Các hoạt động đầu tư nước ngoài chịu nhiều tác động bởi nhiều chính sách của nước chủ nhà, trong đó có các chính sách tác động trực tiếp như, quy định về lĩnh vực đầu tư, mức sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài, miễn giảm thuế đầu tư, quy định về tỷ lệ xuất khẩu, cạnh tranh, bảo hộ quyền sở hữu chí tuệ và các chính sách
có ảnh hưởng gián tiếp như chính sách tài chính, thương mại, văn hóa xã hội…Mức
độ đầy đủ và hợp lý của các chính sách này có ảnh hưởng đến dòng vốn FDI vào nơi tiếp nhận đầu tư
Các quy định của nước nhận đầu tư với các nhà đầu tư nước ngoài cũng là rào cản với dòng lưu chuyển FDI Các quy định thường là thủ tục hành chính đối với các nhà đầu tư nước ngoài đối với việc đi lại, xin giấy phép đầu tư, giải quyết các khiếu kiện và các vấn đề trong cuộc sống của họ Việc ban hành quá nhiều quy định với nhà đầu tư nứơc ngoài dẫn đến tình trạng “cửa quyền, sách nhiễu” của các
cơ quan quản lý đầu tư nước ngoài Tình trạng này làm nản lòng các nhà đầu tư, và góp phần làm tăng rủi ro trong công cuộc đầu tư của họ Trái lại nếu nơi tiếp nhận đầu tư chỉ cần có những quy định cần thiết, không phân biệt đối xử giữa các nhà đầu
tư thì sẽ góp phần tạo ra môi trường FDI minh bạch, hấp dẫn các nhà đầu tư
Trang 25Một vấn đề nữa gây nản lòng các nhà đầu tư nước ngoài và đẩy họ vào cảnh thua lỗ là các chính sách, quy định đối với đầu tư nước ngoài không thống nhất với nhau, dẫn đến nhà đầu tư nước ngoài không biết phải theo quy định nào là đúng Hiện tượng này dễ đẩy họ vào tình trạng vi phạm pháp luật của nước chủ nhà Mặt khác việc sửa đổi các chính sách đầu tư nước ngoài không nhất quán sẽ làm cho nhà đầu tư lúng túng trong việc thực hiện.Vì thế họ không yên tâm làm ăn dài hạn ở những nơi này
Tính hiệu lực trong thực hiện chính sách pháp luật của nơi tiếp nhận đầu tư
là mối quan tâm lớn của các nhà đầu tư nước ngoài Do làm ăn ở nơi xa lạ, với lượng tài sản lớn, nên các nhà đầu tư nước ngoài phải dựa vào pháp luật của nước chủ nhà để đảm bảo quyền lợi cho họ Vì thế nếu việc thực hiện pháp luật không nghiêm, kém hiệu lực thì quyền lợi của họ sẽ bị đe dọa Do đó các nhà đầu tư nước ngoài sẽ rất e ngại đầu tư vào những nơi có môi trường pháp lý nhiều rủi do này
Tựu chung lại, môi trường chính sách, luật pháp phù hợp, khuyến khích sẽ tạo điều kiện hướng dòng vốn FDI vào các lĩnh vực một cách có hiệu quả, kích thích các chủ đầu tư, đầu tư vào thị trường đó Ngoài ra các rào cản thâm nhập thị trường nước sở tại cũng sẽ là một nhân tố quyết định khi chủ đầu tư cân nhắc đầu
tư Một thị trường có tiềm năng lớn, khả năng phát triển cao và ổn định nhưng rào cản thâm nhập lớn sẽ dẫn đến lợi nhuận của dự án thấp không có sức lôi cuốn các nhà đầu tư so với thị trường có tiềm năng, khả năng phát triển kém hơn nhưng rào cản thấp thị trường nhỏ hơn
1.2.1.2 Vai trò của môi trường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trong một thế giới mở cửa và hội nhập, việc cải thiện môi trường FDI hoặc hướng tới một môi trường kinh doanh lành mạnh, đủ sức cạnh tranh là đích đến để phát triển kinh tế, xã hội của bất kỳ địa phương nào Môi trường FDI được coi là yêu cầu số một để khơi thông các dòng vốn từ mọi tầng lớp dân cư trong nước và nước ngoài Môi trường thuận lợi thì các doanh nghiệp, doanh nhân mới toàn tâm, toàn ý tập trung trí tuệ, vốn và kỹ thuật để phát triển sản xuất kinh doanh nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh trong thời kỳ hội nhập
Đầu tư là để tìm kiếm lợi nhuận, tuy nhiên một môi trường FDI tốt không
Trang 26phải chỉ nhằm mang lại lợi nhuận cao cho doanh nghiệp - nếu mục tiêu chỉ có vậy thì trọng tâm cũng sẽ chỉ giới hạn trong việc giảm thiểu chi phí và rủi ro
Một mặt, môi trường FDI tốt sẽ phải cải thiện các kết quả tạo ra cho toàn
xã hội Điều đó có nghĩa là doanh nghiệp sẽ phải gánh chịu hợp lý một số chi phí
và rủi ro Và sự cạnh tranh có vai trò then chốt trong việc kích thích sáng tạo và năng suất, đảm bảo cho lợi ích của việc nâng cao năng suất sẽ được chia sẻ cùng với người lao động và người tiêu dùng
Mặt khác, một môi trường FDI thuận lợi sẽ tạo cơ hội và động lực cho các doanh nghiệp - từ các doanh nghiệp nhỏ cho đến các công ty đa quốc gia - đầu tư có hiệu quả, tạo công ăn việc làm và mở rộng hoạt động Vì thế cải thiện môi trường đầu tư trong xã hội là một vấn đề thiết yếu của các địa phương, đặc biệt là ở các nước đang phát triển nhằm tạo ra một thế giới gắn bó, cân bằng và hòa bình hơn
Theo đánh giá của các công ty tư vấn đầu tư nước ngoài, các yếu tố ưu đãi
ít được nhà đầu tư sử dụng để tính toán hiệu quả dự án 80% dự án vẫn đầu tư không tính đến các yếu tố ưu đãi, họ chỉ xem trọng môi trường đầu tư, sự thân thiện của chính quyền qua thủ tục hành chính, sự ổn định nhất quán và tính minh
bạch trong chính sách nhà nước (Phương Ngọc Thạch, 2006)
1.2.1.3 Các nhân tố tác động tới môi trường thu hút FDI
Sơ đồ1.1: Các nhân tố tác động tới môi trường đầu tư FDI
Vị trí địa lý
Cơ sở hạ tầng kỹ thuật
Cơ sở hạ tầng xã hội Những ưu đãi vầ hỗ trợ
Trang 27a Nhóm động cơ về kinh tế
- Nhân tố thị trường
Qui mô và tiềm năng phát triển của thị trường là một trong những nhân tố quan trọng trong việc thu hút đầu tư nước ngoài Khi đề cập đến qui mô của thị trường, tổng giá trị GDP - chỉ số đo lường qui mô của nền kinh tế - thường được quan tâm Theo UNCTAD, qui mô thị trường là cơ sở quan trọng trong việc thu hút đầu
tư tại tất cả các quốc gia và các nền kinh tế Nhiều nghiên cứu cho thấy FDI là hàm số phụ thuộc vào qui mô thị trường của nước mời gọi đầu tư Nhằm duy trì và
mở rộng thị phần, các công ty đa quốc gia (MNEs) thường thiết lập các nhà máy sản xuất ở các nước dựa theo chiến lược thay thế nhập khẩu của các nước này Các nghiên cứu khác cũng chỉ ra rằng, mức tăng trưởng GDP cũng là tín hiệu tốt cho việc thu hút FDI Bên cạnh đó, nhiều nhà đầu tư với chiến lược “đi tắt đón đầu” cũng sẽ mạnh dạn đầu tư vào những nơi có nhiều kỳ vọng tăng trưởng nhanh trong tương lai và có các cơ hội mở rộng ra các thị trường lân cận Khi lựa chọn địa điểm để đầu tư trong một nước, các nhà đầu tư nước ngoài cũng nhắm đến những vùng tập trung đông dân cư – thị trường tiềm năng của họ
- Nhân tố lợi nhuận
Lợi nhuận thường được xem là động cơ và mục tiêu cuối cùng của nhà đầu tư Trong thời đại toàn cầu hóa, việc thiết lập các xí nghiệp ở nước ngoài được xem là phương tiện rất hữu hiệu của các MNEs trong việc tối đa hóa lợi nhuận Điều này được thực hiện thông qua việc thiết lập các mối liên kết chặt chẽ với khách hàng và thị trường, cung cấp các dịch vụ hỗ trợ, chia rủi ro trong kinh doanh và tránh được các rào cản thương mại Tuy vậy trong ngắn hạn, không phải lúc nào lợi nhuận cũng được đặt
lên hàng đầu để cân nhắc
- Nhân tố về chi phí
Nhiều nghiên cứu cho thấy, phần đông các MNEs đầu tư vào các nước là
để khai thác các tiềm năng, lợi thế về chi phí Trong đó, chi phí về lao động thường được xem là nhân tố quan trọng nhất khi ra quyết định đầu tư Nhiều
Trang 28nghiên cứu cho thấy, đối với các nước đang phát triển, lợi thế chi phí lao động thấp là cơ hội để thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài trong các thập kỷ qua Khi giá nhân công tăng lên, đầu tư nước ngoài có khuynh hướng giảm rõ rệch
b Nhóm động cơ về tài nguyên
- Nguồn nhân lực
Khi quyết định đầu tư một cơ sở sản xuất mới ở một nước đang phát triển, các MNEs cũng nhắm đến việc khai thác nguồn nhân lực trẻ và tương đối thừa thãi ở các nước này Thông thường nguồn lao động phổ thông luôn được đáp ứng đầy đủ và có thể thỏa mãn yêu cầu của các công ty Tuy vậy, chỉ có thể tìm được các nhà quản lý giỏi, cũng như cán bộ kỹ thuật có trình độ và kinh nghiệm
ở các thành phố lớn Động cơ, thái độ làm việc của người lao động cũng là yếu tố quan trọng trong việc xem xét, lựa chọn địa điểm để đầu tư
- Tài nguyên thiên nhiên
Sự dồi dào về nguyên vật liệu với giá rẻ cũng là nhân tố tích cực thúc đẩy thu hút đầu tư nước ngoài
c Nhóm động cơ về cơ sở hạ tầng
- Cơ sở hạ tầng kỹ thuật
Chất lượng của cơ sở hạ tầng kỹ thuật và trình độ công nghiệp hóa có ảnh hưởng rất quan trọng đến dòng vốn đầu tư nước ngoài vào một nước hoặc một địa phương Một hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật hoàn chỉnh (bao gồm cả hệ thống đường bộ, đường sắt, đường hàng không, mạng lưới cung cấp điện, nước, bưu chính viễn thông và các dịch vụ tiện ích khác), là điều mong muốn đối với mọi nhà đầu tư nước ngoài
Trang 29quán, tôn giáo, văn hóa cũng cấu thành trong bức tranh chung về cơ sở hạ tầng
xã hội của một nước hoặc một địa phương Nghiên cứu của UNDP/ World Bank cho thấy xu hướng đầu tư vào khu vực Đông Nam Á có nhiều chuyển biến tích cực
là nhờ vào “tính kỷ luật của lực lượng lao động” cũng như “sự ổn định về chính trị
và kinh tế” tại nhiều quốc gia trong khu vực này
d Nhóm động cơ về cơ chế chính sách
Dòng vốn đầu tư nước ngoài vào các nước đang phát triển không chỉ được quyết định bởi các yếu tố về kinh tế, mà còn chịu sự chi phối của các yếu tố chính trị Sự ổn định của nền kinh tế vĩ mô, kết hợp với các ổn định về chính trị được xem là rất quan trọng Một số nghiên cứu gần đây cho thấy mối quan hệ rất chặt chẽ giữa ổn định về chính trị với việc thu hút đầu tư nước ngoài Chính sách cởi mở và nhất quán của chính phủ cũng đóng một vai trò rất quan trọng
1.2.1.4 Lý thuyết về thể chế và môi trường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Thể chế (institutions) theo North là “các ràng buộc do con người tạo ra nhằm để cấu
trúc các tương tác giữa người với người” (Nguyễn Văn Phúc, 2005) Thể chế bao gồm
các thể chế chính thức (formal institutions) và phi chính thức (informal institutions)
Thể chế chính thức là những ràng buộc được chế tài bởi nhà nước như hiến pháp, luật, các qui định; thể chế phi chính thức là những ràng buộc không thuộc phạm vi chế tài của nhà nước như tập quán, qui tắc hành xử, văn hóa,…
Cũng theo North, các cá nhân tham gia giao dịch thường không có đủ thông tin, do đó sẽ có các chi phí phát sinh gọi là chi phí giao dịch Các chi phí bao gồm
như chi phí tìm kiếm xem có loại hàng hóa và dịch vụ gì đang có trên thị trường, giá cả của chúng, các đặc tính của hàng hóa, các quyền về tài sản được giao dịch, mức độ tin cậy của các đối tượng giao dịch, cơ chế thực thi và giám sát thực hiện hợp đồng… Tất cả các chi phí này có liên quan chặt chẽ đến thể chế Nếu thị trường là hoàn hảo thì không cần doanh nghiệp, các cá nhân có thể tự phân phối nguồn lực hiệu quả thông qua thị trường (Nguyễn Văn Phúc, 2005)
Một ảnh hưởng khác của thể chế lên tăng trưởng kinh tế là một cấu trúc thể chế sẽ tạo ra một cấu trúc khuyến khích nhất định, ảnh hưởng quyết định đến việc phân bổ tài nguyên vốn, con người theo hướng tốt hay xấu cho tăng trưởng kinh
Trang 30tế Nếu một cấu trúc thể chế khuyến khích cá nhân đầu tư vào một cái gì đó mà có lợi cho anh ta, trong khi tổng thể thì không có lợi cho xã hội thì thể chế đó là không tốt cho phát triển kinh tế
Đi vào các thể chế cụ thể, như định nghĩa về thể chế cho thấy đây là một phạm trù rất rộng Các nhà kinh tế luôn tìm cách lượng hóa để có thể so sánh, đánh giá Do đó, các nhà kinh tế dùng một số biến đại diện để đo lường chất lượng thể chế ở các nước Các tác giả Knack và Keefer (1995) dùng bốn biến đại diện sau để
đo lường chất lượng thể chế ở các nước: 1.Tham nhũng (corruption), 2 Chất lượng
bộ máy hành chính (bureaucratic quality), 3 Tuân thủ luật pháp (rule of law), 4 Bảo vệ quyền về tài sản (security of property rights) (Nguyễn Văn Phúc, 2005)
1.2.2 Một số phương pháp đánh giá môi trường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.2.2.1 Phương pháp dựa trên những chỉ số cơ bản của một số tổ chức toàn cầu
* Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu
Theo số liệu mà WEF đưa ra, năm 2011, GDP của Việt Nam là 122,7 tỷ USD, GDP bình quân đầu người là 1.374 USD GDP (tính theo sức mua tương đương (PPP)) của Việt Nam hiện chiếm 0,38% GDP toàn cầu
Biểu 1.1 : Khoảng cách thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam
với trung bình các nước đang phát triển ở châu Á
[Nguồn Cục thông tin khoa học và Công nghệ Quốc gia]
Trang 31Việt Nam được chấm tổng cộng 4,11 điểm, xếp ở hạng 75, tụt 10 bậc so với năm ngoái (vị trí 65) Trong bộ 3 chỉ tiêu được dùng để chấm điểm, bộ chỉ tiêu thúc đẩy hiệu suất nền kinh tế được đánh giá cao nhất với 4,02 điểm (đứng hạng 71), trong
đó bao gồm các yếu tố về giáo dục và đào tạo đại học (thứ 96), độ hiệu quả của thị trường hàng hóa (91), độ hiệu quả của thị trường lao động (51), mức độ phát triển thị trường tài chính (88), mức độ hấp thu công nghệ (98) và quy mô thị trường (32)
Trong khi đó ở bộ chỉ tiêu các yếu tố cơ bản (bao gồm các yếu tố về thể chế/tổ chức, cơ sở hạ tầng, môi trường kinh tế vĩ mô, và y tế và giáo dục cơ bản) Việt Nam xếp hạng thấp nhất về môi trường kinh tế vĩ mô, đứng ở vị trí thứ 106 Ở nhóm này, xếp hạng cao nhất dành cho Việt Nam thuộc về tiêu chí chăm sóc sức khỏe và giáo dục cơ bản, với hạng 64 Xếp hạng chung của Việt Nam ở cả nhóm các yếu tố cơ bản là hạng 91
Ở bộ tiêu chí còn lại là các yếu tố đổi mới sáng tạo và độ tinh sảo kinh doanh (xếp hạng 90), cụ thể, nhóm yếu tố về đổi mới sáng tạo (thứ 81) và độ tinh sảo kinh doanh (thứ 100)
Trong phần nhận xét chi tiết về Việt Nam, Báo của WEF lưu ý: "Trong 2 lần xếp hạng gần nhất Việt Nam đã tụt tổng cộng 16 bậc và hiện là nước có thứ hạng thấp thứ hai trong số 8 thành viên ASEAN được khảo sát Quốc gia này đã để mất điểm tại 9 trong tổng số 12 hạng mục trụ cột của Báo cáo Tất cả các hạng mục trụ cột của Việt Nam đều bị xếp dưới hạng 50 và rất nhiều tiêu chí gần sát hạng 100" Cụ thể hơn, các chuyên gia của WEF cho rằng nền kinh tế Việt Nam vẫn mong manh và rất dễ biến động Việt Nam đã tụt 41 bậc trong bộ tiêu chí về môi trường kinh tế vĩ
mô, xuống hạng 106 sau khi đã tăng 20 bậc trong lần xếp hạng trước Trong năm
2011, lạm phát ở Việt Nam đã ở mức rất cao, Báo cáo nhận định: “Nhằm kiềm chế lạm phát, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã thực hiện thắt chặt tiền tệ Tuy nhiên, điều này lại khiến khả năng tiếp cận tín dụng trở nên khó khăn hơn.”
WEF cho rằng cơ sở hạ tầng (xếp hạng 95/114) của Việt Nam hiện đã bị quá tải
do kinh tế tăng trưởng nhanh và sẽ tiếp tục là thách thức lớn trong thời gian tới bất chấp đã được cải thiện trong vài năm gần đây Trong đó chất lượng đường và cảng
Trang 32biển bị đánh giá là đáng lo ngại với vị trí lần lượt là 120 và 113 trong số 144 nền kinh tế được khảo sát Ngoài ra, mức độ tôn trọng đối với bản quyền và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cũng bị xem là chưa đầy đủ nên chỉ được ở các mức xếp hạng
113 và 123 Báo cáo cho rằng các doanh nghiệp tư nhân vẫn kém về đạo đức kinh doanh và trách nhiệm giải trình đặc biệt yếu
Những điểm mạnh đáng kể nhất của kinh tế Việt Nam đó là thị trường lao động khá hiệu quả (xếp hạng 51), quy mô thị trường lớn (hạng 32) và hoạt động chăm sóc sức khỏe cũng như giáo dục cơ bản được đánh giá ở mức thỏa đáng (hạng 64) Tóm lại, phần nhận xét về Việt Nam, WEF khuyến cáo: "Những thách thức ở phía trước do vậy còn rất nhiều và đòi hỏi những hành động quyết đoán về mặt chính sách để giúp sự tăng trưởng của nền kinh tế ổn định hơn"
* Báo cáo môi trường thực hiện kinh doanh “Doing Business”
Báo cáo thường niên về môi trường kinh doanh 2014 do Nhóm Ngân hàng
Thành lập doanh nghiệp; Cấp phép xây dựng; Tiếp cận điện năng; Đăng ký tài sản; Vay vốn tín dụng; Bảo vệ nhà đầu tư; Nộp thuế; Thương mại quốc tế; Thực thi hợp đồng; Xử lý doanh nghiệp mất khả năng
Bảng1.1 : Báo cáo môi trường thực hiện kinh doanh Việt Nam“DoingBusiness”
[Nguồn cục thống kê ]
Trang 33Theo đó, trong 10 tiêu chí đánh giá, có tới 7 chỉ tiêu Việt Nam bị rớt điểm so với năm 2013; 2 chỉ tiêu tăng là bảo vệ nhà đầu tư và thương mại quốc tế Riêng lĩnh vực nộp thuế, Việt Nam bị tụt 11 bậc, từ xếp hạng 138 trên tổng số 183 quốc gia trong bảng xếp hạng xuống vị trí 149 Những tiêu chí tối quan trọng với doanh nghiệp như: Tiếp cận điện năng, xử lý doanh nghiệp phá sản là điểm yếu cố hữu tiếp tục được chỉ ra trong báo cáo năm nay Việt Nam vẫn lần lượt ở các vị trí 156
và vị trí 149
Riêng lĩnh vực bảo vệ nhà đầu tư của Việt Nam bị xếp hạng thấp nhất trong
10 lĩnh vực khi đứng thứ 157 trong số 189 nước Ngay lĩnh vực thuế, doanh nghiệp cũng mất tới tổng cộng 872 giờ đồng hồ trong năm để đi đóng thuế, gấp 10 lần so với Singapore Việc thành lập doanh nghiệp dù đã được giảm xuống còn 10 thủ tục, nhưng vẫn cần tới 34 ngày để hoàn tất mọi thủ tục liên quan
Cũng theo báo cáo, dù đã thực hiện được 21 cải cách kể từ năm 2005 (nhiều nhất trong khu vực Đông Á - Thái Bình Dương), nhưng xếp hạng môi trường kinh doanh của Việt Nam vẫn không có nhiều cải thiện Bà Wendy Werner, Giám đốc Chương trình Tư vấn Môi trường Đầu tư khu vực Đông Á – Thái Bình Dương của IFC, thành viên Nhóm WB đánh giá, trên thực tế, xếp hạng của Việt Nam năm nay đã cho thấy nhiều cải thiện trong nhiều lĩnh vực Nhưng nếu so với các quốc gia lân cận - cũng chính là các đối thủ cạnh tranh trong thu hút đầu tư với Việt Nam, thì những nỗ lực vẫn đang diễn ra với tốc độ chậm chạp hơn, thậm chí có lĩnh vực Việt Nam tụt hậu rất xa
Cụ thể là, năm nay Việt Nam vẫn xếp hạng thấp, đứng thứ 99 trên tổng số 189 nền kinh
tế, cho thấy vẫn còn nhiều việc phải làm để cải thiện thứ bậc
1.2.2.2 Phương pháp thể chế theo đánh giá năng lực cạnh tranh cấp tỉnh - PCI
Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh hay còn được gọi tắt là PCI (Provincial Competitiveness Index) được đo lường và xếp hạng công tác điều hành kinh tế của các tỉnh dựa trên môi trường kinh doanh để thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh
tế tư nhân thông qua cảm nhận của các doanh nghiệp ngoài nhà nước PCI được Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) công bố chính thức từ năm
2005 Đến nay, việc đánh giá và xếp hạng về PCI cho tất cả 63 tỉnh, thành phố trong
Trang 34cả nước và được tính toán trên cơ sở tổng hợp của 9 chỉ số thành phần Tất cả các điểm PCI được chuẩn hóa: Điểm điều hành tốt nhất là 10, kém nhất là 1 Như vậy PCI có thể xem như một công cụ để tham khảo giúp cho việc xem xét, rà soát, đánh giá các hoạt động điều hành kinh tế - xã hội của tỉnh, các chỉ số thành phần bao gồm:
- Chi phí gia nhập thị trường
Chỉ số thành phần này đo lường thời gian và mức độ khó, dễ mà doanh nghiệp trải qua để đăng ký kinh doanh, xin cấp đất và hoàn tất các giấy phép cần thiết để bắt đầu tiến hành hoạt động kinh doanh
- Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất
Chỉ số thành phần này đo lường mức độ khó khăn mà doanh nghiệp gặp phải trong việc tiếp cận đất đai, mặt bằng cho kinh doanh và mức độ ổn định trong sử dụng đất Khía cạnh thứ nhất phản ánh tình trạng doanh nghiệp có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay không, có đủ mặt bằng thực hiện những yêu cầu mở rộng kinh doanh hay không, doanh nghiệp có đang thuê lại đất của doanh nghiệp nhà nước không và đánh giá việc thực hiện chuyển đổi mục đích sử dụng đất tại địa phương Khía cạnh thứ hai là đánh giá cảm nhận của doanh nghiệp về những rủi ro trong quá trình sử dụng đất (ví dụ như rủi ro từ việc bị thu hồi đất, định giá không đúng, thay đổi hợp đồng thuê đất) cũng như thời hạn sử dụng đất
- Tính minh bạch và tiếp cận thông tin
Chỉ số thành phần này đo lường khả năng doanh nghiệp có thể tiếp cận được các kế hoạch của tỉnh và văn bản pháp lý cần thiết cho công việc kinh doanh của mình, tính sẵn có của các văn bản này, tính có thể dự đoán được của các quy định
và chính sách mới, việc các quy định đó có được đưa ra tham khảo ý kiến doanh nghiệp trước khi ban hành hay không và mức độ phổ biến của trang web tỉnh
- Chi phí thời gian và việc thực hiện các quy định của nhà nước
Chỉ số thành phần này đo lường thời gian mà các doanh nghiệp phải bỏ ra khi chấp hành các thủ tục hành chính, cũng như mức độ thường xuyên và thời gian doanh nghiệp phải tạm dừng kinh doanh để các cơ quan pháp luật của tỉnh thực hiện việc thanh tra, kiểm tra Như vậy, chỉ số này đề cập đến hai khía cạnh của chi phí
Trang 35thời gian: thời gian giải quyết các vấn đề liên quan đến thủ tục hành chính và thời gian làm việc với các đoàn thanh tra, kiểm tra
- Chi phí không chính thức
Chỉ số thành phần này đo lường mức chi phí không chính thức doanh nghiệp phải trả và những trở ngại do những chi phí này gây nên cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
- Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh
Chỉ số thành phần này đo lường tính sáng tạo, sáng suốt của tỉnh trong quá trình thực thi chính sách Trung ương cũng như trong việc đưa ra những sáng kiến riêng nhằm phát triển khu vực kinh tế tư nhân Đồng thời, chỉ số này còn nhằm đánh giá khả năng hỗ trợ và áp dụng ở những chính sách đôi khi chưa rõ ràng của Trung ương theo hướng có lợi cho doanh nghiệp
- Chất lượng đào tạo lao động
Chỉ số thành phần này phản ánh mức độ và chất lượng những hoạt động đào tạo nghề và phát triển kỹ năng do tỉnh triển khai nhằm hỗ trợ cho các ngành công nghiệp địa phương cũng như tìm kiếm việc làm cho lao động địa phương
- Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp
Chỉ số thành phần này đo lường chất lượng và tính hữu ích của các chính sách của tỉnh dành cho việc thúc đẩy hoạt động kinh doanh của khu vực tư nhân, việc cung cấp thông tin pháp luật cho doanh nghiệp, tìm kiếm đối tác kinh doanh, v.v Chỉ số thành phần này nhằm đánh giá nỗ lực của chính quyền địa phương trong việc trợ giúp các doanh nghiệp
- Thiết chế pháp lý
Chỉ số thành phần này phản ánh lòng tin của doanh nghiệp tư nhân đối với các thiết chế pháp lý của địa phương, việc doanh nghiệp có xem các thiết chế tại địa phương này như là công cụ hiệu quả để giải quyết tranh chấp hoặc là nơi mà doanh nghiệp có thể khiếu nại những hành vi nhũng nhiễu của cán bộ công quyền tại địa phương hay không
- Chỉ số về cơ sở hạ tầng
Chỉ số cơ sở hạ tầng bao gồm bốn chỉ số thành phần: Khu công nghiệp và
Trang 36cụm doanh nghiệp vừa và nhỏ, đo lường chất lượng và khả năng đáp ứng của khu công nghiệp địa phương; Đường giao thông và đánh giá độ bao phủ đường tại các tỉnh thành ở Việt Nam; Các dịch vụ công ích, đo lường chi phí và độ tin cậy của dịch vụ năng lượng và viễn thông tại địa phương; tiếp cận thông tin và ứng dụng công nghệ thông tin truyền thông
Như vậy PCI có thể xem như một công cụ để tham khảo giúp cho việc xem xét, rà soát, đánh giá các hoạt động điều hành kinh tế - xã hội của tỉnh, 9 chỉ số thành phần tương ứng với trọng số 100% được chia như sau :
Bảng 1.2 : Trọng số của các chỉ số thành phần
và sự phát triển năng động của khu vực KTTN”
Trang 37Ý nghĩa của chỉ số PCI được thể hiện trên các khía cạnh sau:
Chỉ số PCI đo lường chất lượng điều hành chứ không phải mức độ phát triển kinh tế địa phương Chỉ số PCI cho phép so sánh các tỉnh, thành ở các mức độ khác nhau một cách tương đối bình đẳng
Chỉ số PCI đo lường chất lượng thực tế điều hành kinh tế của địa phương thông qua cảm nhận của các doanh nghiệp đang hoạt động tại tỉnh chứ không phải dựa vào các kế hoạch, chính sách hay dự định của tỉnh
Chỉ số PCI đo lường những chính sách thuộc thẩm quyền giải quyết của địa phương, qua đó thúc đẩy được các địa phương thực hiện tốt hơn; Giúp Chính phủ giám sát, đánh giá được việc thực hiện các chính sách trên thực tế
Hiện vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau về chỉ số PCI nhưng chỉ số này được công nhận rộng rãi là công cụ có vai trò giúp:
Đối với địa phương: chỉ số PCI giúp hệ thống chính trị, chính quyền nhận ra được điểm mạnh, điểm yếu của mình trong công tác điều hành kinh tế, tạo áp lực thúc đẩy cải cách; chỉ ra những sáng kiến, chính sách tốt của các tỉnh để tham khảo, học hỏi; tạo động lực cho thu hút đầu tư , phát triển doanh nghiệp ; xem xét đánh giá chất lươ ̣ng quản lý điều hành của các cơ quan nhà nước , công tác cải cách hành chính, chất lươ ̣ng đô ̣i ngũ cán bô ̣ nhằm xây dựng nền công vu ̣ và đô ̣i ngũ cán bô ̣ đáp ứng yêu cầu phát triển
Đối với các doanh nghiệp, nhà đầu tư có được môi trường kinh doanh, đầu tư thuận lợi thông qua cải cách của địa phương, đặc biệt là nhà đầu tư nước ngoài không có nhiều thông tin về các địa phương sẽ tham khảo PCI trước khi quyết định đầu tư
1.3 KINH NGHIỆM ĐỊA PHƯƠNG VỀ HOÀN THIỆN MÔI TRƯỜNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
1.3.1 Kinh nghiệm của tỉnh Bình Dương
Khác với nhiều tỉnh, Bình Dương không thành lập Trung tâm xúc tiến đầu tư, thay vào đó việc kêu gọi đầu tư được thực hiện thông qua hoạt động đối ngoại của tỉnh Việc tỉnh chủ động đặt văn phòng đại diện tại nước ngoài cũng như việc chủ
Trang 38động xây dựng mối quan hệ tốt với văn phòng đại diện tại Việt Nam của nhiều quốc gia như Singapore, Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ… nhằm tìm kiếm đối tác trong những lĩnh vực tỉnh cần thu hút đầu tư Ông Phạm Hoàng Hà, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương, chia sẻ: “Đã có nhiều trường hợp đại diện lãnh đạo tỉnh cùng doanh nghiệp đi xúc tiến đầu tư, làm việc trực tiếp với đối tác để tạo niềm tin cho doanh nghiệp, đồng thời nắm được tâm tư nguyện vọng của đối tác để kịp thời xử lý các vướng mắc, lo ngại khi đầu tư vào tỉnh”
Bình Dương là tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Liên tục trong nhiều năm qua Bình Dương là tỉnh có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao với sự phát triển mạnh mẽ của các KCN cả về số lượng và chất lượng Sự phát triển của các KCN và sức lan tỏa của nó đã tạo ra cho Bình Dương một sức sống mới với tốc độ
đô thị hóa nhanh, thu hút lao động lớn trong và ngoài tỉnh, chuyển dịch cơ cấu kinh
tế theo hướng hiện đại…
Trong những năm qua, Bình Dương liên tục tạo những điều kiện thuận lợi nhằm thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài vào các Khu Công Nghiệp
Cụ thể chỉ sau hơn 10 năm, Bình Dương đã thu hút 1.951 dự án đầu tư nước ngoài (FDI) với số vốn đăng ký đạt 13 tỷ 260 triệu USD, cùng với 9.605 doanh nghiệp trong nước được thành lập với tổng số vốn đăng ký 65.577 tỉ đồng Toàn tỉnh Bình Dương hiện có 28 khu công nghiệp với tổng diện tích 8.979 ha, trong đó
24 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động Mục tiêu đến năm 2020, Bình Dương sẽ thành lập mới 11 khu công nghiệp để nâng tổng số khu công nghiệp lên 39 với tổng diện tích khoảng gần 20 ngàn ha
Một nét mới trong thu hút đầu tư phát triển của tỉnh Bình Dương trong thời gian gần đây chính là số dự án FDI có chiều hướng thiên về công nghệ cao, sản phẩm có khả năng cạnh tranh và lĩnh vực dịch vụ xuất hiện ngày càng nhiều Trong đó, nổi bật
có dự án sản xuất lốp ô tô của tập đoàn Kumho Asiana với tổng vốn 380 triệu USD, dự
án khu đô thị sinh thái Mỹ Phước được ký kết hợp tác giữa SP Setia Berhad (Malaysia)
và Becamex corp với vốn đầu tư khoảng 600 triệu USD, dự án sản xuất bao bì cao cấp của tập đoàn SDG Sam cment với tổng vốn giai đoạn 1 là 140 triệu USD…
Trang 39 Thành tựu đạt được của KCN tỉnh Bình Dương
Trong những năm qua kinh tế Bình Dương tăng trưởng rất nhanh, trở thành một trong những tỉnh, thành có nền công nghiệp (CN) phát triển mạnh nhất nước Thành công đó có đóng góp quan trọng của các khu công nghiệp (KCN) là đòn bẩy đưa CN Bình Dương đi lên
Với tỷ trọng CN chiếm 63% trong cơ cấu kinh tế và giá trị sản xuất CN hàng năm trên 105.000 tỷ đồng, Bình Dương đang trở thành một trong những tỉnh, thành CN
có tốc độ tăng trưởng cao nhất nước Theo phân tích của các nhà quản lý, yếu tố để làm nên thành công này chính là tầm nhìn của lãnh đạo tỉnh trong xây dựng các KCN tập trung làm đòn bẩy, đưa CN của tỉnh phát triển nhanh chóng
Bình Dương đã tận dụng được lợi thế mà thiên nhiên ban tặng, cùng những kinh nghiệm rút ra từ những địa phương khác nên các KCN luôn thỏa mãn và tạo ấn tượng với các nhà đầu tư Các KCN đã tạo việc làm ổn định cho hơn 250.000 lao động trong và ngoài tỉnh
Đánh giá từ UBND tỉnh, hoạt động của các KCN Bình Dương đã góp phần quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng tăng dần tỷ trọng
CN - dịch vụ Bên cạnh đó, vai trò của các doanh nghiệp hoạt động trong các KCN rất quan trọng, góp phần nâng cao trình độ công nghệ cho kinh tế Bình Dương Từ KCN, nhiều công nghệ mới đã được nhập vào tỉnh như: sản xuất lốp ô tô, linh kiện ô tô, linh kiện máy tính Nhiều sản phẩm mới với chất lượng đạt tiêu chuẩn Việt Nam và quốc
tế đã ra đời và được xuất khẩu sang nhiều nước trên thế giới
- Việc đầu tư phát triển các khu công nghiệp không theo một quy hoạch thống nhất, hầu như địa phương nào cũng có các khu công nghiệp với chức năng tương tự nhau nên không tận dụng được những lợi thế so sánh, dẫn tới tình trạng cạnh tranh nhau gay gắt, thậm chí có tình trạng chèn lấn để thu hút đầu tư
- Thiếu sự phối hợp giữa các KCN, giữa các địa phương trong các vùng Các KCN thường phát triển riêng rẽ, đầu tư tất cả các hạng mục công trình, kể cả xây dựng các cụm dân cư, đầu tư tốn kém, giảm hiệu quả hoạt động của các KCN
Trang 40- Các KCN không có sẵn đất để đáp ứng nhu cầu của nhà đầu tư do thiếu quỹ đất, mặc dù khách hàng không nhiều, trong khi quỹ đất còn nhiều nhưng lại không khai thác được do giá đền bù giải tỏa tăng mạnh, giá san lấp mặt bằng lớn Mặt khác giá thuê đất trong KCN khá cao
- Chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu phát triển các KCN, KCX Các
dự án đầu tư thu hút vào các KCN ở các địa phương có nhu cầu lớn về cán bộ quản
lý người Việt Nam giỏi, công nhân tay nghề cao, kỷ luật lao động tết, song đa số các nơi không đáp ứng được
1.3.2 Kinh nghiệm của tỉnh Bắc Ninh
Bắc Ninh là một tỉnh nằm giáp Hà Nội, cách trung tâm Hà Nội 30 km, là cửa ngõ phía Đông Bắc của thủ đô, thuộc khu vực phía Bắc của vùng đồng bằng sông Hồng và tiếp giáp với vùng trung du Bắc Bộ Hiện nay, Bắc Ninh là một trong những tỉnh có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất miền Bắc cũng như cả nước Năm 2011, trong bối cảnh kinh tế trong nước rất khó khăn, Bắc Ninh vẫn đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế 16,2% cao nhất cả nước, Về chỉ số năng lực canh tranh cấp tỉnh (PCI), Bắc Ninh đứng vị trí thứ 2 (sau Lào Cai) năm 2011, là tỉnh dẫn đầu trong khu vực đồng bằng sông Hồng và vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ về môi trường đầu tư, và cũng là năm thứ 3 liên tiếp Bắc Ninh có mặt trong tốp 10 vị trí cao nhất về chỉ số PCI
cả nước Có được những thành công này là do những nỗ lực của chính quyền tỉnh Bắc Ninh mà trực tiếp là đồng chí Chủ tịch UBND luôn giành sự quan tâm đặc biệt để cải thiện môi trường kinh doanh nhằm mục tiêu duy trì và nâng cao chỉ số PCI
Bắc Ninh đã ban hành chính sách phù hợp nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tìm hiểu môi trường đầu tư cũng như hỗ trợ tối đa cho các doanh nghiệp quyết định đầu tư tại tỉnh Do đó, từ đầu năm đến nay, mặc dù trong điều kiện suy thoái toàn cầu, nhưng với nhiều giải pháp tích cực trong cải thiện môi trường đầu
tư, tỉnh đã cấp giấy chứng nhận đầu tư cho hơn 30 dự án, trong đó có 20 dự án có vốn đầu tư nước ngoài; điều chỉnh tăng vốn 16 dự án, tổng vốn thu hút đầu tư đạt
300 triệu USD Như vậy theo lũy kế đến nay, Bắc Ninh đã thu hút được 322 doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, với tổng vốn đầu tư 3,9 tỷ USD Các thương hiệu lớn