28 1.3.3 Nội dung của quản lý nhà nước về an toàn lao động đối với các công trình xây dựng có vốn đầu tư nước ngoài.. 3 Để trả lời câu hỏi trên, qua quá trình tìm hiểu hoạt động sản xu
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
PHAN MẠNH HÙNG
HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ AN TOÀN LAO ĐỘNG TẠI CÁC CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÙNG ĐÔNG BẮC BỘ
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH
Hà Nội – 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
PHAN MẠNH HÙNG
HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ AN TOÀN LAO ĐỘNG TẠI CÁC CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÙNG ĐÔNG BẮC BỘ
Chuyên ngành : Quản lý kinh tế
Trang 3MỤC LỤC
Danh mục từ viết tắt i
Danh mục các bảng ii
Danh mục các biểu iv
Danh mục hình vẽ v
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ AN TOÀN LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI CÁC CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI 9 1.1 Các khái niệm 9
1.1.1 Lao động 9
1.1.2 Điều kiện lao động 9
1.1.3 Sức khỏe 10
1.1.4 Tai nạn lao động 12
1.1.5 Bệnh nghề nghiệp 13
1.1.6 An toàn lao động 13
1.1.7 Bảo hộ lao động 14
1.2 Vai trò và nội dung của an toàn lao động 16
1.2.1 Vai trò của an toàn lao động 16
1.2.2 Nội dung của an toàn lao động 17
1.3 Quản lý nhà nước về an toàn lao động và nội dung của quản lý nhà nước về an toàn lao động đối với công trình xây dựng có vốn đầu tư nước ngoài 26
1.3.1 Quản lý nhà nước về an toàn lao động 26
1.3.2 Nguyên tắc của quản lý nhà nước về an toàn lao động đối với các công trinh xây dựng có vốn đầu tư nước ngoài 28
1.3.3 Nội dung của quản lý nhà nước về an toàn lao động đối với các công trình xây dựng có vốn đầu tư nước ngoài 29
1.4 Công cụ quản lý nhà nước về an toàn lao động đối với công trình xây dựng có vốn đầu tư nước ngoài 31
Trang 41.4.1 Pháp luật 31
1.4.2 Cơ chế chính sách 32
1.4.3 Bộ máy 33
1.4.4 Hạ tầng kỹ thuật 33
1.5 Nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về an toàn lao động 33
1.5.1 Nhân tố chủ quan 33
1.5.2 Nhân tố khách quan 34
1.6 Tiêu chí đánh giá chất lượng quản lý nhà nước về an toàn lao động 34
1.6.1 Tiêu chí định lượng 34
1.6.2 Tiêu chí định tính 35
CHƯƠNG 2: QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ AN TOÀN LAO ĐỘNG TẠI 2 CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÙNG ĐỘNG BẮC BỘ GIAI ĐOẠN 2009-2012 37
2.1 Tổng quan về 2 công trình xây dựng Nhà máy nhiệt điện Mông dương II và nhà máy Samsung giai đoạn II 37
2.1.1 Dự án Nhà máy Nhiệt điện Mông dương II 37
2.1.2 Dự án xây dựng tổ hợp nhà máy số 4, nhà máy điện thoại di động Samsung giai đoạn II, khu công nghiệp Yên phong, Bắc ninh 39
2.2 Thực trạng an toàn lao động tại 2 công trình 40
2.2.1 An toàn xây dựng 40
2.2.2 An toàn cơ khí 44
2.2.3 An toàn điện 44
2.2.4 An toàn cháy nổ 45
2.2.5 An toàn hoá chất 46
2.3 Thực trạng quản lý nhà nước về an toàn lao động tại 2 công trình 46
2.3.1 Các nội dung quản lý nhà nước về an toàn lao động tại 2 công trình 46
2.3.2 Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về an toàn lao động tại hai công trình 52
Trang 52.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về an toàn lao động tại 2 công
trình 76
2.4.1 Nhân tố chủ quan 76
2.4.2 Nhân tố khách quan 78
2.5 Đánh giá tình hình quản lý nhà nước về an toàn lao động tại 2 công trình 79
2.5.1 Tích cực 79
2.5.2 Hạn chế bất cập 82
2.5.3 Nguyên nhân của hạn chế bất cập 85
CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ AN TOÀN LAO ĐỘNG TẠI 2 CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI ĐẾN NĂM 2020 87
3.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện quản lý nhà nước trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh lao động 87
3.2 Bối cảnh tác động đến quản lý nhà nước về an toàn lao động 91
3.2.1 Bối cảnh quốc tế 91
3.2.2 Bối cảnh trong nước 92
3.3 Quan điểm định hướng quản lý nhà nước về an toàn lao động đến năm 2020 95
3.3.1 An toàn lao động gắn với mục tiêu xác định tính mạng, sức khỏe của người lao động là trên hết 95
3.3.2 An toàn lao động gắn liền với sự phát triển của doanh nghiệp và sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước 96
3.3.3 An toàn, vệ sinh lao động phải được thực hiện một cách đồng bộ, toàn diện từ trung ương đến địa phương 97
3.3.4 Đảm bảo sự tham gia của tổ chức công đoàn trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh lao động Đảm bảo và nâng cao cao năng lực đội ngũ thanh tra an toàn vệ sinh lao động 97
3.3.5 Nhà nước thống nhất quản lý an toàn - vệ sinh lao động 98
3.4 Giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý an toàn lao động tại hai công trình trên giai đoạn 2013-2020 98
Trang 63.4.1 Giải pháp 1 98
3.4.2 Giải pháp 2 99
3.4.3 Giải pháp 3 100
3.4.4 Giải pháp 4 101
3.4.5 Giải pháp 5 102
3.4.6 Giải pháp 6 103
3.4.7 Giải pháp 7 105
TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
Trang 7i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 845
Số lượng các vụ tai nạn lao động năm trong 3 năm
2010 -2012 tại công trình xây dựng nhà máy Samsung xét theo loại hình TNLĐ
52
Số lượng các vụ tai nạn lao động năm trong 3 năm
2010 -2012 tại công trình xây dựng nhà máy Samsung xét theo mức độ TNLĐ
53
Số lượng các vụ tai nạn lao động trong 3 năm 2011
-2013 tại công trình xây dựng nhà máy Nhiệt điện Mông dương xét theo loại hình TNLĐ
53
Số lượng các vụ tai nạn lao động trong 3 năm
2010-2012 tại công trình xây dựng nhà máy Nhiệt điện Mông dương xét theo mức độ TNLĐ
54
6 Bảng 2.6 Số lượng các sự cố trong 3 năm 2010 -2012 tại công
trình xây dựng nhà máy Samsung xét theo loại sự cố 55
Số lượng các sự cố được giải quyết trong 3 năm 2010
-2012 tại công trình xây dựng nhà máy Samsung xét theo mức độ sự cố
55
Số lượng các sự cố trong 3 năm 2011 -2013 tại công trình xây dựng nhà máy Nhiệt điện Mông dương xét theo loại hình sự cố
56
Trang 9iii
Số lượng các sự cố trong 3 năm 2011-2013 tại công trình xấy dựng nhà máy nhiệt điện Mông dương xét theo mức độ sự cố được giải quyết
57
Số lượng trang thiết bị, vật tư có ở công trình xây dựng nhà máy Samsung có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động được kiểm định trong 3 năm 2010-2012
58
Số lượng trang thiết bị, vật tư có ở công trình xây dựng nhà máy nhiệt điện Mông dương có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động được kiểm định trong
60
Số lượng cán bộ công nhân viên được đào tạo an toàn lao động tại công trình xây dựng nhà máy Nhiệt điện Mông dương năm 2011 – 2013
60
Tỷ lệ số lượng cán bộ công nhân viên được đào tạo an toàn lao động định kỳ tại công trình xây dựng nhà máy Nhiệt điện Mông dương năm 2011 – 2013
Trang 1057
Biểu đồ tỷ lệ số lượng cán bộ công nhân viên được đào tạo an toàn lao động định kỳ tại công trình xây dựng nhà máy Nhiệt điện Mông dương năm 2011 – 2013
61
Trang 11v
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
1 Hình 1.1 Sơ đồ hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về an toàn lao
Trang 121
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt nam đang trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế với mục tiêu „đến năm 2020 đưa Việt nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp.‟ Doanh nghiệp Việt nam đang đối mặt với nhiều thách thức có tính sống còn Việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp phải được đặt ra song hành với việc đảm bảo an toàn lao động trong sản xuất kinh doanh Thời gian gần đây, vấn đề tai nạn trong sản xuất kinh doanh có chiều hướng gia tăng
Theo thông báo số 543 của Bộ Lao động thương binh xã hội ngày 25 tháng 2 năm 2013 về tình hình tai nạn lao động : Năm 2011 có 5896 vụ tai nạn lao động, năm 2012 con số này tăng thêm 14,9% tới 6777 vụ Quy mô tăng thêm còn thể hiện
ở chỉ tiêu số nạn nhân (số người chết và số người bị thương nặng) Số nạn nhân năm
2011 là 6154, năm 2012 con số này tăng thêm 13,2% (lên tới 6967 nạn nhân) Số vụ
có người chết tăng thêm 9,5% từ 504 năm 2011 vụ lên 552 vụ năm 2012 Số người chết tăng thêm 5,6% từ 574 người năm 2011 lên 606 người năm 2012 Số người bị thương nặng cũng tăng 11,9% từ 1314 người năm 2011 lên 1470 người năm 2012
[1, tr.1-3]
Ngoài thành phố Hồ Chí Minh và Đồng Nai, miền Bắc, cụ thể là khu vực đông bắc bộ (Hà nội, Quảng Ninh…) là khu vực có số vụ tai nạn lao động chiếm nhiều nhất (Hà nội có 123 vụ tai nạn lao động năm 2011 và 152 vụ năm 2012 còn Quảng Ninh để xảy ra 484 vụ năm 2011 và 454 vụ năm 2012) Trong khi các tỉnh còn lại như Đà Nẵng, Long An, Bình thuận, Hà Tĩnh… hầu hêt đều có số vụ TNLĐ
ở con số hàng chục [1, tr.1-3]
Mặt khác trong các ngành nghề thì nghề xây dựng và ngành khai thác mỏ có
tỷ lệ tai nạn lao động cao nhất Năm 2012 Có 330 vụ tai nạn lao động trong nghề khai thác mỏ và xây dựng trong đó 24 vụ có người chết, số người chết là 50 và số người bị thương nặng là 173 Trong khi đó có những nghề có tỷ lệ TNLĐ rất thấp như là nghề thợ cơ khí lắp ráp máy móc với 43 vụ, 15 người chết và 46 người bị
Trang 132
thương trong cả năm 2012 [1, tr.1-3] Như vậy nghề xây dựng là một trong những lĩnh vực đáng được lưu tâm nhất trong công tác quản lý an toàn lao động
Tai nạn lao động gây ra thiệt hại về kinh tế tài chính đối với nền kinh tế, đơn
vị sử dụng lao động nói riêng và thiệt thòi lớn nhất cho bản thân và đình người lao động Thiệt hại này có thể đánh giá được cả về mặt định tính và định lượng Xét về định lượng, cũng theo báo cáo trên chi phí do tai nạn lao động xảy ra trong năm 2012 (chi phí tiền thuốc, mai táng, tiền bồi thường cho gia đình người chết và những người
bị thương, ) là 82,6 tỷ đồng, thiệt hại về tài sản là 11 tỷ đồng, tổng số ngày nghỉ (kể
cả nghỉ chế độ) do TNLĐ là 85.683 ngày [1, tr.1-3] Xét về định tính, thiệt hại do tai
nạn lao động gây ra nhưng chưa báo cáo nào có thể thống kê được Một lao động chết
là mất đi một trụ cột trong gia đình, doanh nghiệp hay một công trình phải tạm dừng
công việc và kéo theo thiệt hại cho nhiều đối tượng liên quan
Đông bắc bộ Việt nam là khu vực có nhiều công trình xây dựng có vốn đầu tư nước ngoài Nhìn chung, tại các công trình này thời gian gần đây công tác quản lý nhà nước về an toàn lao động đã đạt được những kết quả đáng kể song cũng bộc lộ một số hạn chế bất cập cần phải có sự tập trung nghiên cứu, phân tích một cách có bài bản để tìm ra biện pháp khắc phục Từ đó, một số vấn đề sau được đặt ra: An toàn lao động là gì và vai trò của nó ? Quản lý nhà nước về an toàn lao động là gì ? nội dung của nó ? Công cụ của quản lý nhà nước về an toàn lao động là gì Tình hình
an toàn lao động và hoạt động quản lý nhà nước về an toàn lao động tại các công trình xây dựng này như thế nào ? Có những điểm tích cực và hạn chế bất cập gì ? Nguyên nhân của hạn chế bất cập ? Vấn đề quản lý nhà nước về an toàn lao động tại các công trình xây dựng có vốn đầu tư nước ngoài khu vực đông bắc bộ như thế nào (mặt tích cực ? hạn chế, bất cập ?) Có thật cần thiết phải hoàn thiện quản lý nhà nước về an toàn lao động đối với các công trình xây dựng có vốn đầu tư nước ngoài không ? Nếu cần thì quan điểm định hướng quản lý nhà nước về an toàn lao động đối với các công trình xây dựng có vốn đầu tư nước ngoài đến năm 2020 như thế nào? Cuối cùng là biện pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về an toàn lao động đối với các công trình này như thế nào?
Trang 143
Để trả lời câu hỏi trên, qua quá trình tìm hiểu hoạt động sản xuất kinh doanh tại 2 công trình xây dựng khu vực Đông bắc bộ là công trình Nhà máy nhiệt điện Mông dương II, công trình mở rộng nhà máy Samsung giai đoạn II và quá trình học tập nghiên cứu về an toàn lao động, tác giả lựa chọn „Hoàn thiện quản lý nhà nước
về an toàn lao động tại các công trình xây dựng có vốn đầu tư nước ngoài vùng Đông bắc bộ‟ làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sỹ
2 Tình hình nghiên cứu
Tình hình nghiên cứu trong nước:
An toàn lao động và quản lý nhà nước về an toàn lao động tuy là vấn đề đã được đặt ra từ lâu song việc quan tâm còn chưa được đúng mức Số lượng công trình nghiên cứu còn rất hạn chế và chỉ dừng ở mức các bài tiểu luận, khoá luận tốt nghiệp đại học Ví dụ:
+ Tiểu luận vấn đề an toàn lao động trong thực tế, Sinh viên Nguyễn Thế Hảo, người hướng dẫn Thạc sỹ Nguyễn Thanh Việt đại học Bách khoa Đà Nẵng, 2011 + Tiểu luận đánh giá hành vi thực hiện an toàn lao động, sinh viên Phan Thị Huệ, người hướng dẫn thạc sỹ Trần thị Thúy Ngọc khoa Kinh tế đại học kinh tế Đà Nẵng, 2008
+ Tiểu luận, thực trạng công tác bảo hộ lao động tại tổng công ty Gang thép Thái nguyên, Nhóm sinh viện khóa B10, đại học công đoàn, 2005
Trong những năm gần đây chỉ có một số bài báo khoa học, công trình nghiên cứu đề cập tới một số khía cạnh của vấn đề an toàn, vệ sinh lao động đối với người lao động nói chung chứ chưa có đề tài nghiên cứu hay tài liệu nào cụ thể về công tác quản
lý nhà nước về an toàn lao động Ví dụ: "Quản lý nước về lao động ở Việt Nam hiện nay" của Vũ Minh Tiến, (2010) Luận văn thạc sĩ với đề tài "Pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động", của Trần Trọng Đào, (2001) Số chuyên đề tháng 3/2011, sức khỏe người lao động của Bộ Y tế phối hợp báo Sức khỏe và Đời sống
Cục Quản lý môi trường: "Tình hình và xu hướng bệnh nghề nghiệp trong giai đoạn 2006-2010, định hướng giai đoạn 2011- 2015"
Nguyên nhân của vấn đề này là :
Trang 154
+ Hầu hết doanh nghiệp Việt nam giao nhiệm vụ an toàn lao động cho một bộ phận, 2,3 cán bộ thuộc phòng tổ chức lao động tiền lương hoặc phòng tổ chức theo dõi thực hiện dẫn đến tính chuyên nghiệp chưa cao
+ Công tác đào tạo an toàn lao động và quản lý nhà nước về an toàn lao động tại các trường đại học, viện nghiên cứu chưa nhiều Đây là một lĩnh vực mới phát triển từ bộ phận của ngành quản trị nhân lực – kinh tế lao động Cụ thể là đến nay mới chỉ có 2 trường đại học đào tạo an toàn lao động với tư cách là một ngành học cấp bậc đại học đó là đại học Công đoàn Hà nội và đại học Bán công Tôn Đức Thắng Chỉ có một trường đào tạo lĩnh vực này với tư cách là ngành đào tạo trình độ thạc sỹ từ năm 2011 đó là đại học công đoàn Chưa có trường nào đào tạo ngành này ở cấp bậc tiến sỹ Chỉ dừng ở mức các bài tiểu luận môn học và luận văn tốt nghiệp đại học [16, tr 47], [39, khoa sau đại học]
+ Trong các trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp khác, An toàn lao động chỉ xuất hiện với tư cách như là một môn học trong khối các trường đại học kĩ thuật, môn tổ chức lao động khoa học là một bộ phận trong hệ thống môn học quản trị nguồn nhân lực trong khối các trường đại học kinh tế Chính vì vậy chưa có luận án tiến sỹ an toàn lao động và quản lý nhà nước về an toàn lao động + Trong các tạp chí chuyên ngành kinh tế, quản lý, quản trị kinh doanh… rất
ít tác giả viết về an toàn lao động và quản lý nhà nước về an toàn lao động Mà hầu hết chỉ giới hạn là các bài báo đưa tin tới người đọc về các vụ tai nạn lao động tại nơi này, nơi khác.Từ năm 1991 nước ta mới đề cập nội dung an toàn lao động trong pháp lệnh về bảo hộ lao động trong khi trên thế giới vấn đề này đã có lịch sử hàng trăm năm (Tiêu chuẩn OSHA đã có từ 1926)
Hiện nay số đầu sách về an toàn lao động còn rất khiêm tốn và hầu như không có sách tham khảo mà chỉ có một số giáo trình của một số trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp Ví dụ :
+ Giáo trình an toàn lao động, vụ Trung học chuyên nghiệp và dạy nghề, nhà xuất bản giáo dục, Phó Giáo sư tiến sĩ Nguyễn Thế Đạt
Trang 165
+ Giáo trình an toàn lao động, Khoa công nghệ động lực, Đại học công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh Xuất bản 2009
+ Giáo trình an toàn lao động và môi trường công nghiệp – trường đại học
sư phạm kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh, 2006, thạc sỹ Hoàng Trí….vv
Tình hình nghiên cứu ngoài nước:
Chúng ta có thể dễ dàng tìm thấy các luận văn, luận án về an toàn lao động của các tác giả nước ngoài trên website :
http://www.dissertations.se/about/occupational+health+and+safety+dissertation/
Ví dụ :
+ Mieram Kosteric, „review, assessment and prioritization for an occupational health and safety managment system in a Veterinary teaching hospital using the ansi/ aiha Z10 standard‟ Colorado University, spring 2011
Đây là luận văn nghiên cứu đánh giá về hệ thống quản lý an toàn sức khỏe nghề nghiệp ở Bệnh viện huấn luyên thú y Veterinary sử dụng tiêu chuẩn Mĩ Z10 Nghiên cứu này được thực hiện bởi nhóm tác giả và cộng sự thuộc đại học Colorado State University (CSU) tập trung nghiên cứu giai đoạn đầu của hệ thống quản lý an toàn sức khỏe nghề nghiệp (OHSMS) đó là đánh giá rủi ro Thông qua bản điều tra
và câu hỏi phòng vấn nhân viên tác giả liệt kê các rủi ro, đánh giá và đưa ra các biện pháp kiểm soát chúng
+ Julie Sorensen (2009), changing risk perceptions and safety related behaviors among NewYork farmers, University of Umea
Đây là luận văn nghiên cứu về sự thay đổi trong nhận thức rủi ro và ý thức về an toàn lao động của những người nông dân NewYork
+ Linda Shenk (2011), Practices and outcomes of toxicological risk
assessment.……
Đây là luận văn nghiên cứu về thực hành và kết quả của đánh giá rủi ro các chất độc hóa học Trong đó tác giả nghiên cứu về giới hạn tác động nghề nghiệp ( quy định OEL ) được sử dụng như một công cụ pháp lý quan trọng để bảo vệ sức khỏe của người lao động từ tác dụng phụ của phơi nhiễm hóa học
Trang 176
Bên cạnh đó số lượng các trường đại học trên thế giới đào tạo ngành này cũng rất phong phú
Ví dụ được tìm thấy trên website : http://www.ohs.com.au/education/university
The university of QueenSland (australia)
Duke University (USA and Singapore)
University of British Columbia (Canada)
Middlesex University (India)
Có thể nói rằng đến nay tại Việt nam chưa có công trình nào công bố về an toàn lao động và quản lý nhà nước về an toàn lao động trường hợp nghiên cứu tại các công trình xây dựng có vốn đầu tư nước ngoài Vì vậy đề tài „hoàn thiện quản lý nhà nước về an toàn lao động tại các công trình xây dựng có vốn đầu tư nước ngoài vùng đông bắc bộ‟ là mới và có ý nghĩa thiết thực cả về lý luận và thực tiễn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu :
Mục đích nghiên cứu là đề xuất quan điểm định hướng và khuyến nghị nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước về an toàn lao động đối với các công trình xây dựng có vốn đầu tư nước ngoài đến năm 2020
Nhiệm vụ nghiên cứu :
+ Hệ thống hóa lý luận về an toàn lao động và quản lý nhà nước về toàn lao động + Nghiên cứu tình hình an toàn lao động tại 2 công trình : Nhà máy Nhiệt điện Mông dương II, Mở rộng nhà máy Samsung giai đoạn II và quản lý nhà nước
về an toàn lao động đối với các công trình xây dựng có vốn đầu tư nước ngoài (trường hợp nghiên cứu điểm tại 2 công trình)
+ Chỉ ra các mặt tích cực, hạn chế trong quản lý nhà nước về an toàn lao động tại ba công trình xây dựng có vốn đầu tư nước ngoài
+ Nghiên cứu quan điểm định hướng hoàn thiện quản lý nhà nước về an toàn lao động đối với các công trình xây dựng có vốn đầu tư nước ngoài
+ Đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước về an toàn lao động đối với các công trình xây dựng có vốn đầu tư nước ngoài
Trang 187
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu :
Quản lý nhà nước về an toàn lao động tại một số công trình xây dựng có vốn đầu tư nước ngoài vùng Đông Bắc Bộ
và nhà máy BOT nhiệt điện Mông dương II Quảng Ninh.)
Về thời gian nghiên cứu từ 2009 đến 2013 và đề xuất giải pháp đến năm 2020
5 Phương pháp nghiên cứu :
+ Phương pháp tổng quát : duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Xuyên suốt luận văn, xuất phát từ cơ sở lý luận về an toàn lao động, tác giả đã đối chiếu thực trạng an toàn lao động, thực trạng quản lý nhà nước về an toàn lao động tại 2 công trình xây dựng kể trên để thấy được mặt tích cực, hạn chế bất cập, từ đó phân tích quan điểm định hướng quản lý nhà nước về an toàn lao động đến năm 2020, đề xuất khuyến nghị nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước về an toàn lao động tại các công trình xây dựng có vốn đầu tư nước ngoài
+ Phương pháp cụ thể :
Thống kê, phân tích, tổng hợp, đối chiếu, so sánh, hệ thống hóa Số liệu, tư liệu chủ yếu là số liệu thứ cấp, kết hợp phân tích các số liệu thống kê, đối chiếu so sánh, sử dụng bảng biểu, đồ thị xử lý kết quả số liệu, tư liệu sơ cấp qua phỏng vấn điều tra
Khảo sát, phỏng vấn và lấy phiếu điều tra Tác giả phỏng vấn và lấy phiếu khảo sát của 10 người Trong số 10 người này có đầy đủ các đối tượng về độ tuổi, thâm niên công tác, giới tính, chức vụ, trình độ học vấn, công tác cả trong lĩnh vực
Trang 198
quản lý nhà nước về an toàn lao động và quản lý an toàn lao động tại doanh nghiệp cũng như lãnh đạo doanh nghiệp Cụ thể là một cán bộ lãnh đạo doanh nghiệp, ba cán bộ quản lý an toàn lao động tại doanh nghiệp, một cán bộ quản lý thi công xây dựng, một công nhân thi công xây dựng, hai cán bộ sở lao động thương binh xã hội, một cán bộ chuyên viên liên đoàn lao động thành phố, một cán bộ chuyên viên phòng lao động thương binh xã hội huyện
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn đã tổng hợp và hệ thống đầy đủ, khoa học về cơ sở lý luận của quản lý nhà nước về an toàn lao động đối với các công trình xây dựng có vốn đầu tư nước ngoài
Phân tích thực trạng quản lý nhà nước về an toàn lao động tại các công trình xây dựng có vốn đầu tư nước ngoài vùng Đông Bắc bộ
Luận văn đã đưa ra được một số giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước
về an toàn lao động tại các công trình xây dựng có vốn đầu tư nước ngoài vùng Đông bắc bộ giai đoạn 2013 gợi mở cho hoàn thiện hơn công tác quản lý nhà nước
về an toàn lao động tại Việt Nam
7 Kết cấu luận văn :
Ngoài lời cam đoan, lời nói đầu, kết luận, mục lục, danh mục viết tăt, phụ lục
và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận quản lý nhà nước về an toàn lao động đối với các công trình xây dựng có vốn đầu tư nước ngoài
Chương 2: Phân tích thực trạng quản lý nhà nước về an toàn lao động tại các công trình xây dựng có vốn đầu tư nước ngoài vùng Đông Bắc bộ
Chương 3: Quan điểm định hướng và khuyến nghị nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước về an toàn lao động tại các công trình xây dựng có vốn đầu tư nước ngoài vùng Đông bắc bộ giai đoạn 2013 - 2020
Trang 209
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ AN TOÀN LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI CÁC CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI 1.1 Các khái niệm
1.1.1 Lao động
Lao động của con người là sự cố gắng cả bên trong và bên ngoài thông qua một giá trị nào đó tạo nên những sản phẩm tinh thần, động lực và những giá trị vật
chất của cuộc sống con người [8, tr.5]
1.1.2 Điều kiện lao động
Điều kiện lao động là một tập hợp tổng thể các yếu tố tự nhiên và kĩ thuật, kinh tế và xã hội, được biểu hiện thông qua các công cụ và phương tiện lao động, quá trình công nghệ, môi trường lao động và sự sắp xếp bố trí tác động qua lại của chúng trong mối quan hệ với con người, tạo nên một điều kiện nhất định cho con người trong quá trình lao động [14, tr.5]
“Điều kiện lao động là tổng thể các yếu tố tự nhiên, kinh tế- xã hội, kỹ thuật được thể hiện bằng các công cụ, phương tiện lao động, đối tượng lao động, môi trường lao động, quy trình công nghệ ở trong một không gian nhất định và việc bố trí sắp xếp, tác động qua lại giữa các yếu tố đó với con người, tạo nên một điều kiện nhất định cho con người trong quá trình lao động Điều kiện lao động cùng với sự xuất hiện lao động của con người và được phát triển cùng với sự phát triển của kinh
tế - xã hội và khoa học kỹ thuật Điều kiện lao động còn phụ thuộc vào điều kiện địa
lý tự nhiên của từng nơi và mối quan hệ của con người trong xã hội”[21, tr 807]
Khái niệm điều kiện lao động tại nơi làm việc đã được nói đến nhiều trong các công trình khoa học Với nhiều cách diễn giải khác nhau, song tác giả đồng tình với cách định nghĩa của phó giáo sư tiến sý Đỗ Minh Cương như sau: “ Điều kiện lao động tại nơi làm việc là tập hợp các yếu tố của môi trường lao động (các yếu tố vệ sinh, tâm sinh lý, tâm lý xã hội và thẩm mỹ) có tác động lên trạng thái chức năng của cơ thể con người, khả năng làm việc, thái độ lao động, sức khỏe, quá trình tái
Trang 21lao động, các nhân tố tâm lý – xã hội, kinh tế - chính trị, các quy phạm pháp luật Khi làm việc trong những điều kiện lao động không thuận lợi của doanh
nghiệp, người lao động thường phải gánh chịu một số hậu quả do ảnh hưởng của
các yếu tố điều kiện lao động gây ra
Việc đánh giá, phân tích điều kiện lao động cần phải tiến hành đồng thời trong mối quan hệ tác động qua lại của các yếu tố nói trên và sự ảnh hưởng, tác động của chúng đến người lao động như thế nào? Từ đó mới có thể có được những kết luận chính xác về điều kiện lao động ở cơ sở đó và có các biện pháp phù hợp nhằm cải thiện điều kiện lao động, bảo vệ sức khoẻ người lao động
1.1.3 Sức khỏe
Sức khỏe là trạng thái thoải mái đầy đủ về thể chất, tâm hồn và xã hội chứ không chỉ bó hẹp vào nghĩa là có bệnh hay thương tật, đây là một quyền cơ bản của con người Khả năng vươn lên đến một sức khỏe cao nhất có thể đạt được là mục tiêu xã hội quan trọng liên quan đến toàn thế giới và đòi hỏi sự tham gia của nhiều
tổ chức xã hội khác nhau chứ không đơn thuần là lực của ngành kinh tế [5, tr.23]
Theo tổ chức Y tế thế giới “Sức khoẻ là một trạng thái thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội, chứ không chỉ không có bệnh hay thương tật” Như vậy, chúng
ta có thể hiểu sức khoẻ gồm 3 mặt: Sức khoẻ thể chất, sức khoẻ tinh thần và sức khoẻ xã hội
Sức khoẻ thể chất
Sức khoẻ thể chất được thể hiện một cách tổng quát sự sảng khoái và thoải mái về thể chất Càng sảng khoái, thoải mái, càng chứng tỏ con người khoẻ mạnh Cơ sở của sự sảng khoái, thoải mái thể chất là:
Trang 2211
Sức lực: Khả năng hoạt động của cơ bắp mạnh, có sức đẩy, sức kéo, sức nâng cao…do đó làm công việc chân tay một cách thoải mái như mang vác, điều khiển máy móc, sử dụng công cụ…
Sự nhanh nhẹn: Khả năng phản ứng của chân tay nhanh nhạy, đi lại, chạy nhảy, làm các thao tác kỹ thuật một cách nhẹ nhàng, thoải mái
Sự dẻo dai: Làm việc hoặc hoạt động chân tay tương đối lâu và liên tục mà không cảm thấy mệt mỏi
Khả năng chống đỡ được các yếu tố gây bệnh: ít ốm đau hoặc nếu có bệnh cũng nhanh khỏi và chóng hồi phục
Khả năng chịu đựng được những điều kiện khắc nghiệt của môi trường: Chịu nóng, lạnh, hay sự thay đổi đột ngột của thời tiết
Cơ sở của các điểm vừa nêu chính là trạng thái thăng bằng của mỗi hệ thống và
sự thăng bằng của 4 hệ thống: Tiếp xúc, vận động, nội tạng và điều khiển của cơ thể
Sức khoẻ tinh thần
Sức khoẻ tinh thần là hiện thân của sự thoả mãn về mặt giao tiếp xã hội, tình cảm và tinh thần Nó được thể hiện ở sự sảng khoái, ở cảm giác dễ chịu, cảm xúc vui tươi, thanh thản; ở những ý nghĩ lạc quan, yêu đời; ở những quan niệm sống tích cực, dũng cảm, chủ động; ở khả năng chống lại những quan niệm bi quan và lối sống không lành mạnh
Có thể nói, sức khoẻ tinh thần là nguồn lực để sống khoẻ mạnh, là nền tảng cho chất lượng cuộc sống, giúp cá nhân có thể ứng phó một cách tự tin và hiệu quả với mọi thử thách, nguy cơ trong cuộc sống Sức khoẻ tinh thần cho ta khí thế để sống năng động, để đạt được các mục tiêu đặt ra trong cuộc sống và tương tác với người khác với sự tôn trọng và công bằng
Sức khoẻ tinh thần chính là sự biểu hiện nếp sống lành mạnh, văn minh và có đạo đức Cơ sở của sức khoẻ tinh thần là sự thăng bằng và hài hoà trong hoạt động tinh thần giữa lý trí và tình cảm
Trang 2312
Sức khoẻ xã hội
Sự hoà nhập của cá nhân với cộng đồng được gọi là sức khoẻ xã hội như câu nói của Mác : “ Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu, cá nhân, riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội” Sức khoẻ xã hội thể hiện ở sự thoải mái trong các mối quan
hệ chằng chịt, phức tạp giữa thành viên: gia đình, nhà trường, bạn bè, xóm làng, nơi công cộng, cơ quan Nó thể hiện ở sự được chấp nhận và tán thành của xã hội Càng hoà nhập với mọi người, được mọi người đồng cảm, yêu mến càng có sức khoẻ xã hội tốt và ngược lại Cơ sở của sức khoẻ xã hội là sự thăng bằng giữa hoạt động và quyền lợi cá nhân với hoạt động và quyền lợi của xã hội, của những người khác; là
sự hoà nhập giữa cá nhân, gia đình và xã hội
1.1.4 Tai nạn lao động
Theo bộ luật lao động của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam:
“ Tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể người lao động hoặc gây tử vong trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động [4, tr 49]
Người bị tai nạn lao động phải được cấp cứu kịp thời và điều trị chu đáo Người sử dụng lao động phải chịu trách nhiệm về việc để xảy ra tai nạn lao động theo quy định của pháp luật [4, tr.49]
Những trường hợp sau được coi là tai nạn lao động: Tai nạn xảy ra đối với người lao động khi đi từ nơi ở đến nơi làm việc từ nơi làm việc về nơi ở vào thời gian
và tại địa điểm hợp lý (trên tuyến đường đi và về thường xuyên hàng ngày) hoặc tai nạn do những nguyên nhân khách quan như thiên tai, hỏa hoạn và các trường hợp rủi
ro khác gắn liền với việc thực hiện các công việc, nhiệm vụ lao động
Tai nạn lao động được chia làm 3 loại: tai nạn lao động chết người, tai nạn lao động nặng, tai nạn lao động nhẹ
Tai nạn lao động chết người là tai nạn mà người bị nạn chết ngay tại nơi xảy ra tai nạn hoặc chết trên đường đi cấp cứu , chết trong thời gian cấp cứu, chết trong
Trang 24Bệnh nghề nghiệp là một hiện trạng bệnh lý mang tính chất đặc trưng nghề
nghiệp hoặc liên quan đến nghề nghiệp mà nguyên nhân sinh bệnh do tác hại thường xuyên và kéo dài của điều kiện lao động xấu.Tổng cộng đến nay đã có 25 bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm ở nước ta
1.1.6 An toàn lao động
Là hoạt động nghiên cứu những vấn đề lý thuyết và thực nghiệm nhằm cải thiện điều kiện lao động và đảm bảo an toàn lao động mang tính khoa học kỹ thuật cũng như khoa học về xã hội [7, tr.5] Ở Việt nam, khái niệm an toàn lao động thường đi liền với Vệ sinh lao động
Vệ sinh lao động là môn khoa học nghiên cứu ảnh hưởng của những yếu tố có hại trong lao động sản xuất đối với sức khỏe của người lao động, các biểu hiện nhằm cải thiện điều kiện lao động, nâng cao khả năng lao động và phòng ngừa các bệnh nghề nghiệp cho người lao động trong điều kiện sản xuất nhằm tạo ra môi trường hợp lý, không ảnh hưởng xấu tới người lao động, không bệnh tật và tinh thần lành mạnh [30, tr.16]
Ở Việt nam khái niệm an toàn lao động được đặt trong khái niệm bảo hộ lao động Công tác bảo hộ lao động là công tác thông qua các biện pháp vê khoa học kỹ thuật, tô chức, kinh tế, xã hội để loại trừ các yếu tố nguy hiểm có hại phát sinh trong sản xuất, tạo nên điều kiện lao động thuận lợi và ngày càng được cải thiện tốt hơn, ngăn ngừa tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, hạn chế đau ốm và giảm sức khoẻ cũng như những thiệt hại khác đối với người lao động, nhằm đảm bảo an toàn, bảo
Trang 25Bảo vệ sức khoẻ, tính mạng con người trong lao động
Nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm
Bảo vệ môi trường lao động nói riêng và môi trường sinh thái nói chung Góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người lao động Nói một cách ngắn gọn hơn: Bảo hộ lao động là hệ thống các văn bản luật pháp và các biện pháp tương ứng về tổ chức, kinh tế xã hội, kỹ thuật và vệ sinh học, nhằm đảm bảo an toàn, bảo vệ sức khỏe và khả năng lao động của con người trong quá trình lao động
Công tác bảo hộ lao động là tập hợp các công việc nhằm đảm bảo an toàn vệ sinh trong lao động; bao gồm các nội dung: kỹ thuật an toàn; vệ sinh an toàn; các chính sách, chế độ bảo hộ lao động
Trang 2615
Kỹ thuật an toàn là hệ thống các biện pháp và phương tiện về tổ chức và kỹ thuật nhằm phòng ngừa sự tác động của các yếu tố nguy hiểm trong sản xuất đối với người lao động
Vệ sinh lao động là hệ thống các biện pháp và phương tiện về tổ chức và kỹ thuật nhằm phòng ngừa sự tác động của các yếu tố có hại trong sản xuất đối với người lao động
Vệ sinh lao động là cải thiện điều kiện lao động cho người lao động làm việc trong môi trường lao động an toàn có ý nghĩa cực kỳ to lớn Đó là bảo vệ sức khỏe cho người lao động, không bị mắc bệnh nghề nghiệp hoặc các bệnh tật khác do điều kiện lao động gây ra Là bồi dưỡng hồi phục kịp thời và duy trì sức khỏe cho người lao động sau khi sản xuất
Chính sách, chế độ bảo hộ lao động chủ yếu bao gồm: Các biện pháp kinh tế
xã hội, tổ chức quản lý và cơ chế quản lý công tác bảo hộ lao động Các chính sách, chế độ bảo hộ lao động nhằm bảo đảm thúc đẩy việc thực hiện các biện pháp kỹ thuật an toàn, biện pháp về vệ sinh lao động như chế độ trách nhiệm của cán bộ quản lý, của tổ chức bộ máy làm công tác bảo hộ lao động, các chế độvề tuyên truyền huấn luyện, chế độ thanh tra, kiểm tra, chế độ về khai báo, điều tra, thống kê, báo cáo về tai nạn lao đông
BHLĐ
Trang 2716
Những nội dung của công tác bảo hộ lao động nêu trên là rất lớn, bao gồm nhiều công việc thuộc nhiều lĩnh vực công tác khác nhau, hiểu được nội dung của công tác bảo hộ lao động sẽ giúp cho người quản lý đề cao trách nhiệm và có biện pháp tổ chức thực hiện công tác bảo hộ lao động đạt kết quả tốt nhất
Trong tài liệu nước ngoài không có khái niệm bảo hộ lao động (Labor protection) và cũng không có khái niệm an toàn lao động (working safety, labor safety) mà khái niệm đó được thay bằng An toàn nghề nghiệp (Occupational safety) [35] Bên cạnh đó khái niệm an toàn lao động cũng không được gắn với khái niệm
vệ sinh lao động mà khái niệm an toàn nghề nghiệp được dùng gắn với sức khỏe nghề nghiệp (Occupational Safety and health) hoặc rộng hơn nữa là gắn thêm khái niệm môi trường (EHS hoặc HSE – Environment, Health & Safety) – [35]
Hiện nay thuật ngữ quốc tế này được du nhập rộng rãi vào Việt nam thường
là qua con đường học thuật (các giáo trình quốc tế) và thực tiễn (Các doanh nghiệp FDI đầu tư vào Việt nam tuyển các chức danh Safety Engineer, OSH Engineer hoặc EHS Engineer) – [40] Thậm chí ngành đào tạo an toàn lao động bậc thạc sỹ được tổ chức khóa đầu tiên tại Việt nam của trường đại học Công đoàn năm 2012 cũng sử dụng tên học vị là thạc sỹ an toàn sức khỏe nghề nghiệp chứ không còn dùng thuật ngữ thạc sỹ bảo hộ lao động nữa dù rằng học vị kỹ sư bảo hộ lao động đã được dùng từ khóa đào tạo đầu tiên của trường [39]
1.2 Vai trò và nội dung của an toàn lao động
1.2.1 Vai trò của an toàn lao động
1.2.1.1 Với người lao động
Công tác an toàn và sức khỏe cho người lao động có vai trò:
Bảo đảm cho người lao động được làm việc trong những điều kiện làm việc
an toàn, vệ sinh, thuận lợi hơn
Hạn chế sự tác động xấu của môi trường làm việc đến người lao động thông qua việc trang bị các trang thiết bị bảo hộ phù hợp với công việc của người lao động đang làm
Trang 28do ý thức chủ quan của người lao động
Bên cạnh việc đảm bảo, nâng cao sức khỏe cho người lao động về mặt thể chất, công tác an toàn và sức khỏe cho người lao động còn nâng cao sức khỏe về mặt tinh thần cho người lao động Tạo cho người lao động sự thoải mái, tâm lý yên tâm lao động
Người lao động được làm việc với các trang thiết bị công nghệ cao, có điều kiện nâng cao chất lượng, tay nghề
1.2.1.2 Với doanh nghiệp và cộng đồng xã hội
Nguồn nhân lực được xem là tài sản quý giá nhất, nên thực hiện công tác an toàn lao động và chăm sóc sức khỏe cho người lao động là một trong những việc làm tích cực bảo vệ và phát triển nguồn nhân lực đồng thời là nhân tố đảm bảo phát triển bền vững của doanh nghiệp
Thực hiện công tác an toàn lao động và chăm sóc sức khỏe cho người lao động
là một biện pháp giảm chi phí sản xuất
Khi thực hiện bảo hộ lao động, doanh nghiệp sẽ ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật tiên tiến nhằm phòng ngừa tai nạn lao động xảy ra Thông qua đó nâng cao năng lực sản xuất, giữ gìn thương hiệu doanh nghiệp
Thực hiện tốt công tác bảo hộ lao động sẽ hạn chế được tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, giảm bớt gánh nặng xã hội trong việc giải quyết tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
1.2.2 Nội dung của an toàn lao động
Sự phân định nội dung an toàn theo từng lĩnh vực dưới đây chỉ có ranh giới tương đối vì nội dung trong lĩnh vực có thể chứa nội dung của lĩnh vực kia Ví dụ trong công tác xây dựng, tự bản thân nó đã phải có các hoạt động trong lĩnh vực
Trang 2918
điện, cơ khí, hóa chất Xây một tòa nhà không thể không lắp đặt hệ thống điện chiếu sáng, không thể không lắp đặt hệ thống điều hòa không thể không dùng đến hóa chất và cũng không thể không có hệ thống phòng chống cháy nổ… Tuy nhiên để tiện cho việc nghiên cứu tác giả xin mạnh dạn tạm chia và đi vào nội dung từng lĩnh vực cụ thể
1.2.2.1 An toàn xây dựng
An toàn xây dựng bao gồm:
Tổ chức và quản lý an toàn công trường: Tổ chức, quản lý an toàn lao động hiệu quả gồm ba mục tiêu chính:
- Tạo ra môi trường an toàn
- Tạo ra công việc an toàn
- Tạo ra ý thức về an toàn lao động trong công nhân
Và để có được ba mục tiêu này cần thực hiện tốt các nội dung như các chính sách về an toàn lao động, tổ chức an toàn lao động (dựa trên quy mô công trường,
hệ thống các công việc và phương thức tổ chức dự án), và phân công đầy đủ nhiệm
vụ về an toàn và vệ sinh lao động cho những người cụ thể Tổ chức đó cụ thể là các cán bộ/ nhà quản lý an toàn, các đốc công, công nhân, ủy ban an toàn lao động, các
an toàn viên, các tổ chức liên quan, can thiệp của chính phủ, các hiệp ước quốc tế (ví dụ các luật lệ và quy định của mỗi quốc gia thường dựa trên những công ước, thỏa thuận, tuyên bố và các chương trình quốc tế được đưa ra bởi những tổ chức khác nhau của Liên hiệp quốc, trong đó có tổ chức lao động quốc tế (ILO) và Tổ chức Y tế thế giới (WHO) Năm 1988, ILO đã đề ra Công ước về an toàn và vệ sinh trong xây dựng (No.167) và kèm theo bản khuyến nghị (No.175) Các văn bản này
đã cung cấp những cơ sở cho các luật, trong đó có những điều kiện về an toàn và vệ sinh lao động)
Thiết kế và bố trí mặt bằng công trường
Một mặt bằng thiết kế ẩu và bố trí không ngăn nắp là những nguyên nhân sâu
xa gây ra những tai nạn như vật liệu rơi, va đụng giữa công nhân với máy móc, thiết
bị Khoảng lưu không bắt buộc, đặc biệt đối với những công trường trong thành
Trang 3019
phố, thường bị hạn chế tối đa do không có điều kiện Hơn nữa, một mặt bằng tối ưu phục vụ cho an toàn lao động và sức khỏe công nhân lại không đi đôi với năng xuất cao Việc thết kế tốt của nhà quản lý là yếu tố thiết yếu trong công tác chuẩn bị, đem lại hiệu quả và an toàn khi thi công xây dựng
Công tác đào xúc
Hầu hết các công việc xây dựng đều có liên quan đến việc đào xúc như đào móng, rãnh thoát nước, công trình ngầm Xúc đất hoặc đào rãnh là những công việc rất nguy hiểm mà ngay cả những công nhân có kinh nghiệm cũng có thể bị tai nạn
do một bờ rãnh nào đó không được gia cố sụt lở bất ngờ
Làm việc với giàn giáo
Ngã cao và thiết bị, vật liệu rơi từ trên cao xuống là mối nguy hiểm, mất an toàn nghiêm trọng nhất trong ngành xây dựng Chết do ngã cao chiếm một tỷ lệ rất lớn Đa số trường hợp ngã là từ nơi làm việc mất an toàn hoặc từ phương tiện lên xuống không an toàn Giàn giáo có thể hiểu là một loại cấu trúc để bổ trợ cho các sàn công tác Nó có thể dùng làm chổ thi công, nơi chứa vật liệu hoặc cho bất cứ loại công việc nào trong xây dựng, kể cả việc tu tạo hay phá dỡ Có các loại giàn giáo như:
+ Giàn giáo giằng độc lập:
+ Giàn giáo đơn trụ, gióng:
+ Giàn giáo tháp:
+ Giàn giáo gác:
+ Giàn giáo treo:
Làm việc với thang: Hàng năm có rất nhiều công nhân bị chết và bị chấn thương nặng khi sử dụng các loại thang Vì thang rất dễ kiếm và giá thành khá rẻ nên các hạn chế của nó rất dể bị bỏ qua
Những quy trình nguy hiểm: bao gồm:
+ Công việc trên mái:
+ Lắp đặt kết cấu thép:
+ Thi công dưới nước:
Trang 31Vận chuyển vật liệu
Có thể bằng cần trục (Xe cẩu, Cần trục tháp), bằng thang máy chở hàng, bằng Tời và puly, thậm chí là bằng tay
Tư thế làm việc: thiết bị và dụng cụ
Cần có sự phân công công việc phù hợp Chú ý với công cụ cầm tay, Máy
công tác, Thiết bị điện, công tác Hàn và cắt (Hàn hồ quang, hàn hơi)
Môi trường làm việc
Gồm có các hóa chất, Những chất nguy hiểm (Xi măng, Amiăng, Chì), Tiếng
ồn và rung, Chiếu sáng, Tiếp xúc với nóng và lạnh
Phương tiện bảo vệ cá nhân
Phương tiện bảo vệ cá nhân (Phương tiện bảo vệ đầu, phương tiện bảo vệ chân, Phương tiện bảo vệ tay và da, phương tiện bảo vệ mắt, phương tiện bảo vệ hô hấp, trang bị an toàn:
Các phương tiện chăm sóc sức khỏe Bao gồm:
+ Những tiện nghi vệ sinh:
+ Trang thiết bị tắm rửa:
+ Phương tiện phục vụ ăn uống:
+ Những tiện nghi để thay đổi, cất giữ và phơi khô quần áo:
+ Giải lao:
+ Tiện nghi trông giữ trẻ:
+ Cấp cứu:
+ Phòng cháy:
Trang 3221
1.2.2.2 An toàn cơ khí
Trong lao động ngành cơ khí có nhiều nguyên nhân gây ra tai nạn lao động
Đó là những mối nguy hiểm trong cơ khí và luyện kim, trong gia công nguội, lắp ráp, sửa chữa, trong gia công cắt gọt, trong công việc đúc, trong hàn, cắt kim loại, trong gia công áp lực
Từ những nguyên nhân này cần có những biện pháp kỹ thuật an toàn cơ bản
để ngăn ngừa tai nạn lao động [17, tr.51]
Kĩ thuật an toàn trong khâu thiết kế máy và trang thiết bị:
Khi thiết kế máy và thiết bị phụ trợ phải đảm bảo ecgonomy Máy được thiết kế phải phù hợp với đặc điểm của người sử dụng, khả năng điều khiển của con người, các bộ phận máy phải dễ quan sát kiểm tra bảo dưỡng sửa chữa phải có cơ cấu bao che, cơ cấu tự ngắt, cơ cấu phanh hãm
Kĩ thuật an toàn khi lắp ráp, sửa chữa và thử máy:
Kĩ thuật an toàn khi gia công nguội:
Kĩ thuật an toàn khi gia công áp lực
Kĩ thuật an toàn trong đúc – luyện kim
Kĩ thuật an toàn trong hàn cắt kim loại
* Khi hàn điện:
Hàn điện hay hàn khí là những hoạt động thi công không thể thiếu tại công trình xây dựng Cho nên cần chú ý những công tác an toàn sau: Cần có mặt nạ che mặt, quần áo bảo hộ lao động chuyên dùng để tránh làm bỏn da đau mặt Không hàn gần những nơi có vật bắt lửa, tạo không gian thoáng đãng, thông gió Vật trước khi hàn phải được cạo sạch, không hàn các vật dụng đang chứa có áp lực Máy hàn phải
có bao che, cách điện và nối đất
*Khi hàn khí:
Kiểm tra các bình khí xem còn thời hạn sử dụng hay chưa, đã được kiểm định an toàn chưa Không để các bình chứa khí nén gần nguồn nhiệt Bảo quản các bình khí nơi khô ráo trong tình trạng buộc đứng, không di chuyển vác vai hoặc đá lăn mà phải dùng xe đẩy
Trang 3322
1.2.2.3 An toàn điện
Các khái niệm cơ bản trong an toàn điện [30, tr.59]
Điện trở người
Khi cơ thể người tiếp xúc với phần tử có điện áp, sẽ có dòng điện chạy qua
cơ thể, lúc này cơ thể người đóng vai trò như một điện trở gọi là điện trở người Giá trị điện trở của mọi người rất phức tạp và khác nhau, ngay đối với một người thì giá trị này cũng không cố định và phụ thuộc vào nhiều yếu tố như ngưỡng điện áp mà
cơ thể người có thể chịu đựng được, vị trí của cơ thể tiếp xúc với phần tử mang điện
áp, diện tích tiếp xúc, áp lực tiếp xúc, nhiệt độ và độ ẩm môi trường xung quanh, thời gian tiếp xúc với phần tử mang điện áp, tình trạng sức khỏe, tuổi tác của người tiếp xúc
bố theo hình chóp nón với đường sinh có dạng hypebol Nếu người đứng vào vùng điện áp này thì giữa hai chân người có một điện áp gọi là điện áp bước
Khoảng cách an toàn :
Khoảng cách an toàn cho đường dây dẫn điện, trạm biến áp, trạm phân phối, trạm đóng cắt… là đảm bảo khoảng cách giữa các bộ phận mang điện với bộ phận mang điện, giữa bộ phận mang điện với mặt đất, chỗ đi lại, khoảng cách tới các kết cấu không gian, cây cối để loại trừ khả năng con người có thể tiếp xúc với các bộ phận mang điện hoặc bị phóng điện Khoảng cách này phụ thuộc vào cấp điện áp, vị trí đặt thiết bị điện và được nhà nước quy đinh
Các biện pháp bảo vệ và phòng tránh tai nạn điện :
Sử dụng các phương tiện bảo vệ cá nhân Việc lựa chọn các phương tiện bảo
Trang 3423
Cá nhân phụ thuộc vào tính chất công việc, môi trường lao động, vị trí làm việc, cấp điện áp và để tăng tính hiệu quả cần sử dụng đồng thời hai hay nhiều phương tiện bảo hộ cá nhân trong thời gian làm việc Các phương tiện bảo vệ cá nhân cơ bản cho an toàn điện là găng tay cao su cách điện, ủng cách điện, thảm cách điện, sử dụng biển báo rào chắn, trang bị ngắn mạch và nối đất di động
Đảm bảo khoảng cách an toàn
Những nguyên nhân gây ra cháy nổ :
Cháy do nhiệt độ cao đủ sức đốt cháy một số chất như que diêm, dâm bào,
gỗ (750-800 độ C)
Nguyên nhân tự bốc cháy : gỗ thông ở 250 độ C, giấy ở 184 độ C, và sợi hóa học ở 180 độ C
Cháy do ma sát (mài, máy bay rơi)
Cháy do tác dụng của hóa chất
Cháy do sét đánh, chập điện, đóng cầu dao điện
Trong công nghiệp hay dùng các thiết bị có nhiệt độ cao như lò đốt, lò nung
và các đường ống dẫn khí cháy, các bể chứa nhiên liệu dễ cháy gặp lửa hay tia lửa điện có thể gây cháy nổ
Nổ là hiện tượng có tính cơ học và tạo ra môi trường xung quanh áp lực lớn làm phá hủy nhiều thiết bị, công trình…Có 2 dạng nổ:
Nổ lý học : là trường hợp nổ do áp suất trong một thể tích tăng cao mà vỏ bình chứa không chịu nổi áp suất đó nên bị nổ
Nổ hóa học : là hiện tượng nổ do cháy cực nhanh gây ra (thuốc súng, bom đạn, mìn….)
Trang 35Trang bị phương tiện phòng cháy chữa cháy, huấn luyện sử dụng các phương tiện này, lập các phương án phòng cháy chữa cháy, tạo vành đai phòng chống cháy
Cơ khí và tự động hóa quá trình sản xuất có tính nguy hiểm về cháy nổ
Thiết bị phải đảm bảo kín, để hạn chế thoát hơi, khí cháy ra khu vực sản xuất Dùng thêm các chất phụ gia phụ trợ, các chất ức chế, chống nổ để giảm tính cháy nổ của hỗn hợp cháy
Cách ly hoặc đặt các thiết bị hay công đoạn dễ cháy nổ ra xa các thiết bị khác
và những nơi thoáng gió hay đặt hẳn ngoài trời
Loại trừ mọi khả năng phát sinh ra mồi lửa tại những chỗ sản xuất có liên quan đến các chất dễ cháy nổ
Các phương tiện chữa cháy : Gồm các phương tiện chữa cháy như xe chữa cháy chuyên dụng, phương tiện báo và chữa cháy tự động, các trang bị chữa cháy tại chỗ (xô, chậu, cát, xẻng…) và các chất chữa cháy là chất đưa vào đám cháy nhằm dập tắt nó như :
Nước, bụi nước, hơi nước
Bọt chữa cháy Còn gọi là bọt hóa học, chúng tạo ra bởi phản ứng giữa hai chất suphat nhôm Al2(SO4)3 và bicacbonat natri (NaHC03)
Bột chữa cháy : là chất chữa cháy rắn dùng để chứa cháy kim loại
Các chất halogen : Tác dụng chính là kìm hãm tốc độ cháy Các chất này dễ thấm ướt vào vật cháy nên hay dùng chữa cháy các chất khó thấm ướt như bông, vải sợi…
Trang 3625
1.2.2.5 An toàn hoá chất
Các nguyên tắc an toàn hóa chất:
Các loại hoá chất cần có khu vực lưu trữ được quy định riêng, đảm bảo khô thoáng, thông gió tốt, tránh ánh nắng trực tiếp và nguồn nhiệt
Phải quy định khu vực riêng cho các loại hoá chất đặc biệt nguy hiểm như axit đặc, kiềm đặc, chất dễ cháy nổ…
Tuyệt đối không lưu trữ các chất oxi hoá mạnh (như H2SO4) gần các chất dễ cháy nổ (nhiên liệu, N2H4.H2O…)
Hoá chất lưu trữ phải có nhãn mác rõ ràng, đầy đủ các thông tin: tên hoá chất, nồng độ, ngày nhập (hay ngày pha) Các hoá chất độc phải có nhãn hiệu đặc biệt và đánh dấu nguy hiểm
Các loại hóa chất mất nhãn hiệu nhất thiết không được sử dụng, chỉ được dùng sau khi kiểm tra lại chính xác bằng phương pháp phân tích và có biên bản xác nhận Dụng cụ, hóa chất, các trang bị làm việc phải bố trí gọn gàng, ngăn nắp, theo thứ tự, lấy chỗ nào để vào chỗ đó Nơi làm việc luôn giữ sạch sẽ, khô ráo, nền nhà không được có nước hoặc dầu, khi bị vương vãi phải lập tức lau chùi cho thật sạch và khô ráo
Khi axít rơi xuống nền nhà, không được dùng nước dội rửa ngay mà phải dùng vôi bột phủ lên rồi quét sạch, sau đó mới dùng nước dội rửa và lau khô
Bình/dụng cụ chứa hoá chất nguy hiểm là rác thải nguy hại, không rửa và
Khi vận chuyển axít, kiềm có nồng độ đậm đặc và có khối lượng lớn hơn 5
kg: phải khiêng hoặc dùng xe đẩy Phải chứa axit và kiềm trong thùng kín chắc
chắn, nếu để trên xe cần chèn chắc
Trang 3726
Sử dụng hóa chất:
Khi sử dụng, tiếp xúc với các loại hoá chất phải sử dụng phương tiện bảo
hộ thích hợp, nơi làm việc cần có biện pháp thông gió phù hợp
Các chất độc hại, dễ bay hơi, các loại phản ứng tạo nên các chất đó có ảnh hưởng tới sức khỏe con người đều phải đưa vào tủ hút chất độc
Tuyệt đối không dùng miệng hút dung dịch hoá chất mà phải lấy bằng bóp cao su
Khi sửa chữa các thiết bị có kiềm, axit phải xả hết các dung dịch đó ra ngoài, dùng vòi nước rửa sạch hoặc mở nước cho chảy để rửa ống (nếu có trong ống) rồi mới sửa chữa
Khi rửa các dụng cụ đựng chất độc phải đổ đầy nước từ hai đến ba lần để cho hơi còn lại trong dụng cụthoát ra ngoài Khi đổ đầy nước phải quay mặt đi chỗ khác để tránh hít phải hơi độc
Tuyệt đối không ăn uống trong khi thao tác với hoá chất, đặc biệt là hoá chất độc hại; không để thức ăn trong khu vực làm việc Chỉ được ăn uống khi đã rửa tay
kỹ nhiều lần bằng xà bông và đã ra khỏi nơi làm việc
Nghiêm cấm hút thuốc hay sử dụng các nguồn nhiệt gây nên cháy tại nơi làm việc có chất dễ cháy Với công việc cần thiết dùng bếp đun thì phải dùng bếp có cách nhiệt và được cô lập
1.3 Quản lý nhà nước về an toàn lao động và nội dung của quản lý nhà nước về
an toàn lao động đối với công trình xây dựng có vốn đầu tư nước ngoài
1.3.1 Quản lý nhà nước về an toàn lao động
1.3.1.1 Nhà nước, quản lý nhà nước về kinh tế
Nhà nước thực chất là một thiết chế quyền lực chính trị, là cơ quan thống trị giai cấp của một hoặc một nhóm giai cấp này đối với một hoặc toàn bộ các giai cấp khác, đồng thời còn để duy trì và phát triển xã hội thông qua việc cung cấp các dịch
vụ công mà nhà nước đó quản lý trước lịch sử và trước các nhà nước khác [29, tr.14]
Trang 3827
Quản lý là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để đạt được các mục tiêu đặt ra trong sự vận động của sự vật [29, tr.26]
Quản lý nhà nước là một dạng quản lý do nhà nước làm chủ thể, định hướng điều hành, chi phối…vv để đạt được mục tiêu kinh tế xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định [29, tr.27]
Quản lý nhà nước về kinh tế là sự tác động có tổ chức, có mục đích của nhà nước lên các hoạt động kinh tế (đối tượng và khách thể hoạt động kinh tế) để sử dụng có hiệu quả tiềm năng, các nguồn lực, các cơ hội nhằm đạt được mục tiêu trước mắt và lâu dài của nền kinh tế - xã hội [29, tr 63],
1.3.1.2 Quản lý nhà nước về an toàn lao động
Ngày 23/6/1994 Bộ luật lao động đã được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ IX và có hiệu lực từ ngày 1/1/1995 đã đáp ứng kịp thời để điều chỉnh các quan
hệ lao động trong cơ chế thị trường, trong đó Chương IX từ điều 95 đến điều 108 để điều chỉnh các quan hệ lao động trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh lao động
Nhà nước quản lý bằng cách đặt ra các quy tắc hành vi, ứng xử của con người (ban hành văn bản quy phạm pháp luật) và ban hành các quyết định quản lý Tác động quản lý mang tính tổ chức, tính điều chỉnh; mang tính chất quyền lực; tính khoa học; tính liên tục Như vậy từ cách hiểu trên và các nội dung liên quan đến an toàn lao động
đã tìm hiểu ở mục 1.1 chương 1 dưới góc độ kinh tế có thể hiểu Quản lý nhà nước về
an toàn lao động là nhà nước thông qua hệ thống công cụ của mình tác động có tổ chức, có mục đích lên hoạt động an toàn lao động để sử dụng có hiệu quả tiềm năng, các nguồn lực, các cơ hội để đạt được mục tiêu định trước về an toàn lao động
Dưới góc độ luật học có thể hiểu quản lý nhà nước trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh lao động là sự tác động mang tính tổ chức và điều chỉnh của nhà nước (thông qua luật và hệ thống các cơ quan nhà nước) đến việc bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động nhằm bảo đảm điều kiện lao động không gây ra sự nguy hiểm cho người lao động trong sản xuất, chấn chỉnh trật tự, duy trì, hoạt động bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động dựa trên cơ sở quyền lực của nhà nước bằng pháp luật
Trang 39có kế hoạch, có mục đích vào hoạt động an toàn lao động thông qua khu vực kinh tế
có vốn đầu tư nước ngoài (trực tiếp là các công trình xây dựng) nhằm thực hiện mục tiêu định trước về an toàn lao động của nhà nước
1.3.2 Nguyên tắc của quản lý nhà nước về an toàn lao động đối với các công trinh xây dựng có vốn đầu tư nước ngoài
1.3.2.1 Nguyên tắc thống nhất lãnh đạo chính trị và an toàn lao động trong quản lý
Chính trị là tổng thể các quan điểm, các phương pháp hoạt động thực tế nhất định của một đảng, một nhóm giai cấp, một nhóm lợi ích xã hội mà mấu chốt là vấn
đề chính quyền nhà nước
Cụ thể là: Một là đảm bảo sự lãnh đạo của đảng trên mặt trận quản lý kinh tế trong đó có quản lý an toàn lao động
Hai là phát huy vai trò điều hành, quản lý của nhà nước đối với an toàn lao động
Ba là sự ràng buộc mà các doanh nghiệp phải tuân thủ về mặt pháp luật an toàn lao động
1.3.2.2 Nguyên tắc tập trung dân chủ (phân cấp)
Đảm bảo mối quan hệ biện chứng chặt chẽ giữa tập trung với dân chủ, tập trung dựa trên cơ sở dân chủ và dân chủ trong khuôn khổ tập trung Tập trung ở chỗ nhà nước quản lý an toàn lao động trên tầm vĩ mô, thông qua các kế hoạch hóa, các
hệ thống pháp luật về an toàn lao động
Cần xác định rõ phạm vi, trách nhiệm, quyền hạn của các cấp, phân biệt chức năng quản lý vĩ mô về an toàn lao động với chức năng quản lý an toàn lao động trong doanh nghiệp
Trang 4029
1.3.2.3 Nguyên tắc kết hợp hài hòa các loại lợi ích trong quản lý an toàn lao động
Đó là mối quan hệ giữa lợi ích của người lao động với lợi ích của doanh nghiệp và lợi ích của nhà nước Nó phải dựa trên cơ sở của các quy luật khách quan Muốn vậy phải kết hợp tốt các loại lợi ích đó bằng cách xây dựng và thực hiện các
kế hoạch, quy hoạch chuẩn xác về an toàn lao động, vận dụng đòn bẩy kinh tế, động
cơ tinh thần, tư tưởng thúc đẩy hoạt động lao động của con người
1.3.2.4 Nguyên tắc hiệu quả tiết kiệm
Tiết kiệm bắt nguồn từ tính kế hoạch, tính tổ chức cao Từ đó giảm chi phí cho an toàn lao động nhưng vẫn đảm bảo hiệu quả của công tác an toàn lao động
Tiết kiệm cũng bắt nguồn từ quy luật tận dụng các thành quả khoa học công nghệ Trước đây nước chúng ta còn nghèo nàn lạc hậu, các phương tiện, biện pháp dành cho an toàn lao động còn thấp kém dẫn đến lãng phí mà không hiệu quả
Từ nguyên tắc tiết kiệm này làm giảm chí phí sản xuất mang tính vĩ mô với
cả nền kinh tế quốc dân và mang tính vi mô đối với cụ thể từng doanh nghiệp
1.3.3 Nội dung của quản lý nhà nước về an toàn lao động đối với các công trình xây dựng có vốn đầu tư nước ngoài
1.3.3.1 Thiết lập cơ chế quản lý bao gồm : cơ chế phân cấp và cơ chế phối hợp
Trước hết là việc phân cấp và phối hợp giữa các cơ quan có chức năng quản lý nhà nước về an toàn lao động từ trung ương đến địa phương
Cơ chế quản lý nhà nước về an toàn lao động là : Hoạt động quản lý nhà nước (hệ thống) về an toàn lao động bao gồm nhiều tổ chức, bộ phận tham gia (phân hệ)
Các tổ chức, bộ phận (phân hệ) có mối quan hệ tác động qua lại (tương tác) mật thiết Tập hợp các mối quan hệ tương tác này hình thành cơ chế quản lý nhà nước về an toàn lao động Dưới đây là Sơ đồ hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về
an toàn lao động