1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hà Nội

68 677 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải pháp tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hà Nội
Tác giả Lê Thị Hồng Ngọc
Người hướng dẫn PGS. TS Nguyễn Ngọc Sơn
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kế hoạch
Thể loại Chuyên đề tốt nghiệp
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 583,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đè tài : Giải pháp tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hà Nội

Trang 1

MỤC LỤC

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: SỰ CẦN THIẾT PHẢI GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG BỊ THU HỒI ĐẤT 2

1.1 Cơ sở lý luận về lao động 2

1.2 Cơ sở lý luận về việc làm 6

1.3 Sự cần thiết phải giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất 13

1.3.1 Đặc điểm của lao động bị thu hồi đất do quá trình CNH – HĐH 13

1.3.2 Sự cần thiết phải giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất 14

1.4 Kinh nghiệm tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất ở một số địa phương 16

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG BỊ THU HỒI ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI 21

2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến tạo việc làm cho người lao động trên địa bàn hà Nội 21

2.1.1 Vị trí địa lí kinh tế 21

2.1.2 Khí hậu 22

2.1.3 Địa hình 22

2.1.4 Tài nguyên đất 22

2.1.5 Tài nguyên du lịch 24

2.2 Thực trạng lực lượng lao động trên địa bàn Hà Nội 25

2.2.1 Lực lượng lao động 25

2.2.2 Cơ cấu lao động 26

2.3 Thực trạng lao động bị thu hồi đất trên địa bàn Hà Nội 28

2.3.1 Số lượng lao động bị thu hồi đất 28

2.3.2 Cơ cấu lao động 29

2.3.3 Chất lượng lao động bị thu hồi đất 34

2.4 Thực trạng giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất trên địa bàn Hà Nội 36

2.4.1 Thực trạng việc làm của lao động bị thu hồi đất 36

Trang 2

2.4.2 Chính sách tạo việc làm cho lao động bị thu hồi đất 38

2.5 Đánh giá chung về việc giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất trên địa bàn Hà Nội 42

2.5.1 Kết quả đạt được 42

2.5.2 Những hạn chế, bất cập còn tồn tại 44

CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG BỊ THU HỒI ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI 47

3.1 Cơ sở để đưa ra các giải pháp tạo việc làm cho lao động bị thu hồi đất 47

3.1.1 Định hướng phát triển kinh tế xã hội Hà Nội đến năm 2020 47

3.1.2 Dự báo nhu cầu việc làm của người lao động bị thu hồi đất trên địa bàn Hà Nội 47

3.2 Các quan điểm, mục tiêu giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất 49

3.2.1 Quan điểm giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất 49

3.2.2 Mục tiêu giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất 49

3.3 Các giải pháp tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất trên địa bàn Hà Nội 51

3.3.1 Nghiên cứu và hoàn thiện các chính sách hỗ trợ người lao động bị thu hồi đất 51

3.3.2 Tạo sự phát triển toàn diện các mặt kinh tế, xã hội 55

3.3.3 Chú trọng đến đào tạo nghề cho người lao động 59

3.3.4 Tăng cường hoạt động hệ thống thông tin thị trường lao động 62

3.3.5 Hỗ trợ nguồn vốn cho người lao động bị thu hồi đất 62

KẾT LUẬN 64 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 3

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Thực trạng sử đụng dất thành phố Hà Nội 23

Bảng 2.2 Một số chỉ tiêu về lao động 26

Bảng 2.3 Kết quả giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất theo tuổi 30

Bảng 2.4 Kết quả giải quyết việc làm 5 năm 2006 -2010 36

Biểu đồ 2.1.Cơ cấu việc làm mới theo ngành kinh tế 32

Biểu đồ 2.2.Cơ cấu việc làm mới theo trình độ chuyên môn kỹ thuật 33

Biểu 3.1 Dự báo cơ cấu sử dụng lao động bị thu hồi đất 48

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

Việc làm cho người lao động là một vấn đề xã hội có tính chất toàn cầu, làmối quan tâm lớn của nhiều quốc gia Trong quá trình chuyển dịch cơ cấu ngànhkinh tế, hướng tới tăng tỷ trọng ngành công nghiệp – xây dựng, dịch vụ, giảm tỷtrọng ngành nông nghiệp như hiện nay, Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng đãđạt được những kết quả khả quan trong việc phát triển kinh tế Tuy nhiên, bên cạnh

đó, nguy cơ tỷ lệ thất nghiệp cao, nhu cầu về việc làm cho người lao động ngàycàng trở thành một sức ép không nhỏ trong nền kinh tế

Đặc biệt, tiến hành cơ cấu lại nền kinh tế, không thể thiếu việc quy hoạch lạithành phố cho phù hợp, nhằm tăng nhanh sự phát triển Do đó, sau khi thu hồi đất

để thực hiện các dự án, nhiều người lao động bị rơi vào tình trạng mất việc làm, tạo

sự trì hoãn cho việc phát triển cũng như chuyển dịch nền kinh tế Chính vì vậy, tạoviệc làm cho người lao động, nhất là lao động bị thu hồi đất trở thành chủ trươnglớn của thành phố Hà Nội nói riêng và là một vấn đề kinh tế - xã hội của đất nướcnói chung, nhằm đáp ứng được nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước

mà còn góp phần nâng cao được vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế

Chính vì vậy, tôi xin chọn đề tài: “Giải pháp tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hà Nội.” mong muốn góp một phần

nhỏ bé cho việc giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất tại Hà Nội nóiriêng và Việt Nam nói chung

Kết cấu bài viết bao gồm 3 chương:

Chương 1: Sự cần thiết phải giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất.

Chương 2: Thực trạng việc làm và giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất trên địa bàn Hà Nội.

Chương 3: Các giải pháp tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất trên địa bàn Hà Nội.

Qua đây, tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của thầy PGS.TSNguyễn Ngọc Sơn và tập thể các bác, các cô chú tại sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội

đã đóng góp ý kiến và giúp đỡ trong quá trình thực tập để tôi có thể hoàn thành tốtđược bản báo cáo chuyên đề này

Trang 5

CHƯƠNG 1

SỰ CẦN THIẾT PHẢI GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG

BỊ THU HỒI ĐẤT

1.1 Cơ sở lý luận về lao động.

a Khái niệm chung về lao động.

Lao động là một trong những hình thức hoạt động của con người vào thực tiễnnhằm biến đổi và tạo ra các của cải vật chất nhằm phục vụ cho lợi ích đời sống củacon người Hoạt động lao động giúp con người tồn tại, hình thành và phát triển nhâncách thông qua quá trình xã hội hóa cá nhân, từ đó, thể hiện được giá trị của mìnhtrong xã hội Lao động là điều kiện chủ yếu cho sự tồn tại của loài người, là cơ sởtiền đề tạo động lực cho sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội Chính vì vai trò củacon người vô cùng quan trọng, nên chúng ta cần tìm cách khai thác được tối đa sứclao động của con người, nâng cao tri thức và khả năng sáng tạo của con người,nhằm tạo sự phát triển cho nền kinh tế của đất

Sức lao động là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong một

cơ thể, trong một con người đang sống và được người đó đem ra vận dụng mỗi khisản xuất ra một giá trị thặng dư nào đó Sức lao động là khả năng lao động của conngười, là điều kiện tiên quyết của mọi quá trình sản xuất và là lực lượng sản xuấtsáng tạo chủ yếu của xã hội Nhưng sức lao động mới chỉ là khả năng lao động, cònlao động là sự tiêu dùng sức lao động trong hiện thực

Nguồn lao động là bao gồm những người trong độ tuổi lao động có khả nănglao động, theo quy định của Bộ luật lao động Việt Nam (nam đủ 15 đến hết 60 tuổi,

b Các yếu tố ảnh hưởng tới lực lượng lao động.

 Dân số

Dân số của một quốc gia bao gồm dân số trong độ tuổi lao động và dân sốngoài độ tuổi lao động Dân số trong độ tuổi lao động được chia ra làm hai bộ phậngồm dân số hoạt động kinh tế và dân số không hoạt động kinh tế Dân số hoạt động

Trang 6

kinh tế là những người trong độ tuổi lao động, đang làm việc hoặc không có việclàm nhưng có nhu cầu làm việc Đây chính là lực lượng lao động Chính vì vậy màdân số là yếu tố cơ bản quyết định đến lực lượng lao động Qui mô và cơ cấu dân

số cũng ảnh hưởng đến qui mô và cơ cấu của lực lượng lao động

Có nhiều yếu tố tác động đến sự biến động của dân số như các phong tục, tậpquán, trình độ phát triển kinh tế,xã hội của từng nước, các cơ chế chính sách củatừng nước về việc khuyến khích hoặc hạn chế việc sinh đẻ đối với từng hộ gia đình Thông thường, ở các nước phát triển, người dân có đời sống cao, trình độ giáodục cao,họ có ý thức về những ràng buộc khi có con như ảnh hưởng đến việc làm,kinh tế, phải chăm sóc con cái, nên họ thường không muốn có con Hơn nữa họcũng không phải chú trọng đến việc nối dõi tông đường như một số nước đang pháttriển Chính vì vậy những nước này thường có mức độ tăng dân số thấp

Ngược lại, đối với các nước đang phát triển, mức độ tăng dân số thường ởmức độ cao Các nước này thường được thừa hưởng các thành tựu của nên khoa học

kỹ thuật nên cuộc sống của người dân được chăm lo đến sức khỏe, khả năng phòngchống và kháng bệnh cao, sức khỏe sinh sản được đảm bảo Do vậy, trẻ em đượcsinh ra có khả năng sống sót cao, tỉ lệ tử vong giảm nên sự gia tăng tự nhiêncao.Mặt khác, các nước đang phát triển còn có nền sản xuất lạc hậu, hệ thống máymóc lạc hậu, còn dùng nhiều đến sức người nên đòi hỏi cần có nhu cầu lao động rấtlớn trong việc phát triển kinh tế Ở các nước nghèo, tỉ lệ sinh đẻ cao, do việc kếhoạch hóa gia đình chưa được tuyên truyền rộng rãi, đồng thời người dân còn chịunhiều quan niệm, hủ tục lạc hậu dẫn đến tỉ lệ sinh đẻ ở các quốc gia này cao

Hiện nay, tỷ lệ tăng dân số của thế giới là 1,8%, ở các nước châu Á là 2 – 3%

và các nước châu Phi là 3 – 4% Còn ở Việt nam là 1,44% Hiện có 3/4 dân số trênthế giới sống ở các nước đang phát triển, ở đó dân số tăng nhanh trong khi nền kinh

tế tăng chậm, làm mức sống của người dân thấp, tạo áp lực lớn trong việc giải quyếtviệc làm Do đó vấn đề kế hoạch hóa dân số đi đôi với việc phát triển kinh tế là mộttrong những vấn đề quan trọng cần được quan tâm đối với các nước phát triển nóichung và Việt Nam nói riêng

 Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động

Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động là tỷ lệ phần trăm của lực lượng lao động vàdân số trong độ tuổi làm việc (những người đủ 15 tuổi trở lên) Tỷ lệ tham gia lựclượng lao động xác định quy mô lao động của một đất nước tham gia hoạt độngkinh tế Tỷ lệ này là một chỉ tiêu đánh giá quy mô của nguồn cung lao động sẵn có

Trang 7

phục vụ cho việc sản xuất hàng hóa và dịch vụ của nền kinh tế Chỉ tiêu tỷ lệ thamgia lực lượng lao động là trung tâm trong việc nghiên cứu các nhân tố xác định quy

mô, kết cấu các nguồn nhân lực trong nền kinh tế và dự đoán được nguồn cung laođộng trong tương lai, giúp đánh giá mức độ hoạt động của thị trường lao động trongnền kinh tế Bên cạnh đó, chỉ tiêu cũng giúp cho việc hoạch định các chính sáchviệc làm, đánh giá nhu cầu đào tạo và xác định thời gian lao động và tính toán được

số lượng lao động tham gia trên thị trường lao động Hiện nay tỷ lệ tham gia lựclượng lao động của Việt Nam có xu hướng giảm, nhưng vẫn đang còn ở mức cao(trên dưới 71%) so với các nước trên thế giới

 Thất nghiệp và tỷ lệ thất nghiệp

Thất nghiệp là hiện tượng những người trong độ tuổi lao động tại thời điểmđiều tra ở trong tình trạng không có việc làm nhưng có nhu cầu làm việc Nhu cầunày thể hiện thông qua các hoạt động tích cực tìm việc Thất nghiệp là vấn đề đặctrưng mà quốc gia nào cũng gặp phải Nó không chỉ tác động về mặt kinh tế mà cònảnh hưởng đến các vấn đề mang tính xã hội

Tỷ lệ thất nghiệp là tỷ lệ % số người lao động không có việc làm trên tổng sốlực lượng lao động của xã hội.Thông thường, nếu tỷ lệ thất nghiệp của một quốc giacao, đồng nghĩa với việc các nguồn lực con người không được sử dụng, bỏ phí đicác cơ hội sản xuất tham sản phẩm, dịch vụ, làm giảm hiệu quả sản xuất theo quy

mô Một tỷ lệ thất nghiệp vừa phải sẽ giúp cho cả người lao động và chủ sử dụnglao động Khi đó, người lao động có thể tìm được những công việc khác phù hợpvới khả năng, mong muốn và điều kiện cư trú Còn với những người chủ, tình trạngthất nghiệp giúp cho họ tìm được những người lao động phù hợp, nâng cao sự trungthành đối với người lao động Ở một khía cạnh nào đó, thất nghiệp giúp các doanhnghiệp tăng năng suất lao động và tăng lợi nhuận

Tuy nhiên, đối với các nước đang phát triển, tỷ lệ thất nghiệp không hoàn toànphản ánh được đúng sự thực về nguồn lao động chưa được sử dụng hết Nguyênnhân là do số người nghèo chiếm tỷ lệ nhỏ, khi gặp thất nghiệp họ thường cố gắngkhông để tình trạng này kéo dài, vì họ không có nguồn lực dự trữ nên họ buộc phảichấp nhận mọi việc nếu có Tình trạng này xảy ra phổ biến ở các nước đang pháttriển nói chung và Việt Nam nói riêng

 Thời gian lao động

Khi người lao động tham gia vào quá trình lao động, ngoài việc hao phí nguồnlực, còn hao phí về mặt thời gian lao động Qua việc xem xét thời gian lao động,

Trang 8

làm việc của mỗi người lao động, ta có thể đánh giá được hiệu quả sử dụng và chấtlượng của lực lượng lao động Nếu hiệu quả sử dụng cao, doanh nghiệp sẽ tiếp tụcthuê lao động và đề ra các phương án phù hợp để giữ chân người lao động Ngượclại, nếu hiệu quả sử dụng lao động thấp, doanh nghiệp có thể sẽ sa thải người laođộng, dẫn đến tình trạng thất nghiệp cho người lao động.

c Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng lực lượng lao động.

Số lượng lao động mới phản ảnh được một mặt sự đóng góp của lao động vàophát triển kinh tế Mặt khác, cần được xem xét đến chất lượng nguồn lao động, đó làyếu tố làm cho lao động có năng suất cao hơn Chất lượng lao động có thể đượcnâng cao nhờ giáo dục, đào tạo, sức khỏe của người lao động, nhờ bố trí điều kiệnlao động tốt hơn

Giáo dục được coi là một trong những yếu tố quan trọng giúp cho sự phát triểntiềm năng của con người Yêu cầu chung đối với giáo dục là rất lớn, nhất là đối vớigiáo dục phổ thông, con người ở mọi nơi đều tin rằng giáo dục rất có ích cho bảnthân mình và con cháu họ Bằng trực giác, mọi người có thể thấy mối quan hệ giữagiáo dục và mức thu nhập Mặc dù không phải là tất cả, nhưng thông thường nhữngngười có học thức cao thường có mức thu nhập cao hơn rất nhiều so với nhữngngười có học thức thấp Nhưng để đạt được trình độ giáo dục nhất định cần phải chiphí khá nhiều, kể cả chi phí của gia đình và của quốc gia Đó chính là khoản đầu tưcho con người Ở các nước đang phát triển giáo dục được thực hiện dưới nhiều hìnhthức nhằm không ngừng nâng cao trình độ văn hóa và chuyên môn kỹ thuật cho mọingười Kết quả giáo dục làm tăng lực lượng lao động có trình độ tạo khả năng thúcđẩy đổi mới công nghệ Công nghệ càng thay đổi nhanh càng thúc đẩy tăng trưởngkinh tế Vai trò của giáo dục còn được đánh giá qua tác động của nó đối với việctăng năng suất lao động của mỗi cá nhân nhờ có nâng cao trình độ và tích lũy kiếnthức

Giống như giáo dục, sức khỏe làm tăng chất lượng cả nguồn nhân lực cả hiệntại và tương lai Người lao động có sức khỏe tốt có thể mang lại những lợi nhuậntrực tiếp từ việc nâng cao sức lao động, khả năng tập trung cao khi làm việc Việcnuôi dưỡng và chăm sóc sức khỏe tốt cho trẻ em sẽ là yếu tốt làm tăng năng suất laođộng trong tương lai, giúp trẻ em phát triển thành những người khỏe về thể chất,lành mạnh về tinh thần Hơn nữa, điều đó còn giúp trẻ em nhanh chóng đạt đượcnhững kỹ năng, kỹ xảo cần thiết cho sản xuất thông qua giáo dục ở nhà trường.Những khoản chi cho sức khỏe còn làm tăng nguồn nhân lực về mặt số lượng bằng

Trang 9

việc kéo dài tuổi lao động Ngoài yếu tố giáo dục và sức khỏe, động lực lao độngcũng là 1 yếu tố ảnh hưởng đến năng suất lao động Đây là yếu tố quan trọng trongviệc nâng cao năng suất lao động.

1.2 Cơ sở lý luận về việc làm.

a Khái niệm về việc làm.

Việc làm là một phạm trù tồn tại khách quan trong nền sản xuất xã hội, phụthuộc vào các điều kiện hiện có của nền sản xuất Một người lao động có việc làmkhi có một vị trí nhất định trong hệ thống sản xuất của xã hội Thông qua việc làm,người lao động thực hiện được quá trình lao động tạo ra sản phẩm và thu nhập Ởmỗi một giai đoạn phát triển kinh tế xã hội, khái niệm việc làm lại được hiểu theonhiều khía cạnh khác nhau

Trước đây, trong nền cơ chế kế hoạch hóa tập trung, những người lao độnglàm việc trong khu vực thể chế kinh tế, khu vực nhà nước, khu vực tập thể là nhữngngười được coi là có việc làm

Hiện nay, sau khi nền kinh tế nước ta chuyển sang nên nền kinh tế hàng hóanhiều thành phần, quan niệm việc làm đã được thay đổi Theo điều 13 chương 3 Bộluật lao động nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam năm 1994 đã ban hành:

“Mọi hoạt động lao động tạo ra thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm”

Tuy nhiên, quan niệm của người lao động về việc làm trong giai đoạn nàycũng có thay đổi Trước đây, nhiều người quan niệm rằng chỉ làm việc trong các xínghiệp quốc doanh và nằm trong biên chế nhà nước thì mới được coi là có côngviệc ổn định, còn việc làm trong các thành phần kinh tế khác thì bị coi là không cócông việc ổn định Vì vậy, nhiều người cố gắng xin vào làm việc trong nhà nước.Hiện nay, đối với nhiều người quan niệm này không còn mang nặng Với họ, chỉcần tìm được công việc phù hợp, có thu nhập cao và được nhà nước khuyến khíchthì họ sẵn sàng làm

Có thể nói yếu tố việc làm và yếu tố lao động có liên quan đến nhau, cùngphản ánh đến lợi ích của một con người Tuy nhiên, hai phạm trù này không giốngnhau, bởi có việc làm thì chắc chắn có lao động, nhưng ngược lại có lao động chưachắc đã có việc làm, bởi nó còn phụ thuộc vào mức độ ổn định của công việc màngười lao động đang làm

b Phân loại việc làm.

Trang 10

 Phân theo mức độ sử dụng thời gian lao động.

- Việc làm đầy đủ: là sự thỏa mãn nhu cầu việc làm của bất cứ ai có khả năng

lao động trong nền kinh tế quốc dân Hay nói cách khác việc làm đầy đủ là trạngthái mà mỗi người có khả năng lao động, muốn làm việc thì đều có thể tìm đượcviệc làm trong thời gian ngắn Tuy nhiên, việc xác định số người có việc làm theokhái niệm này vẫn chưa phản ánh được chính xác trình độ sử dụng lao động xã hội

vì không đề cập đến chất lượng của công việc làm Thực tế, nhiều người lao độngđang có việc làm nhưng chỉ làm nửa ngày hoặc việc có năng suất, thu nhập thấp.Việc làm đầy đủ căn cứ trên hai khía cạnh : mức độ sử dụng thời gian lao động,năng suất lao động và thu nhập Mọi việc làm đầy đủ đòi hỏi người lao động phải sửdụng đủ thời gian lao động theo luật định (8 tiếng/ngày), đồng thời, việc này phảimang lại thu nhập không thấp hơn mức lương tối thiểu của người lao động (hiệnnay nước ta quy định mức lương tối thiểu chung là 650.000 đồng một người mộttháng)

Vậy những người làm việc đủ thời gian quy định và có thu nhập lớn hơn mứcthu nhập tối thiểu hiện hành là những người có việc làm đầy đủ

- Thiếu việc làm: là những việc làm không tạo điều kiện cho người lao động sử

dụng hết thời gian lao động của mình, tạo thu nhập cho người lao động thấp hơnmức lương tối thiểu

Theo quan niệm của tổ chức lao động thế giới ( viết tắt : ILO), thiếu việc làmđược chia ra làm 2 dạng :

Thiếu việc làm vô hình: là những người có đầy đủ việc làm, làm đủ thời gian,thậm chí còn quá thời gian qui định nhưng lại có thu nhập thấp do tay nghề kém,điều kiện lao động xấu, tổ chức lao động kém khiến năng suất thấp, thường có nhucầu tìm công việc khác có mức thu nhập cao hơn

Thiếu việc làm hữu hình: là những người lao động làm việc với thời gian íthơn quỹ thời gian qui định, không đủ việc làm và đang có mong muốn kiếm thêmviệc và luôn sẵn sàng để làm việc

- Thất nghiệp: là hiện tượng những người trong độ tuổi lao động tại thời điểm

điều tra ở trong tình trạng không có việc làm nhưng có nhu cầu làm việc Nhu cầunày thể hiện thông qua các hoạt động tích cực tìm việc

Thất nghiệp được chia thành nhiều loại :

Trang 11

Thất nghiệp tự nhiên: tỷ lệ thất nghiệp đương nhiên bởi luôn có một số ngườitrong giải đoạn chuyển từ chỗ làm này qua chỗ làm khác.

Thất nghiệp cơ cấu: là sự mất việc kéo dài trong các ngành hoặc vùng có sửgiảm sút kéo dài về nhu cầu lao động do thay đổi cơ cấu nền kinh tế

Thất nghiệp chu kỳ: khi tổng cầu lao động thấp hơn tổng cung lao động ở giaiđoạn suy thoái của chu kỳ kinh tế

Thất nghiệp kỹ thuật: Do việc thay thế công nhân bằng máy móc hoặc côngnghệ tiên tiến hơn

Thất nghiệp thông thường: khi thu nhập thực tế xuống dưới mức chấp nhậnđược

Thất nghiệp theo học thuyết Mark: là mức cần thiết để thúc đẩy công nhân làmviệc và giữ mức lương thấp

Thất nghiệp theo mùa: khi công việc phụ thuộc vào nhu cầu theo thời tiết

 Phân theo vị trí lao động của người lao động

- Việc làm chính: là công việc mà người lao động thực hiện dành nhiều thờigian nhất và đòi hỏi yêu cầu của công việc cần trình độ chuyên môn kỹ thuật

- Việc làm phụ: là công việc mà người lao động thực hiện dành nhiều thời giansau công việc chính

c Một số mô hình lý thuyết tạo việc làm.

 Mô hình Lewis

Lewis đưa ra mô hình giải thích mối quan hệ giữa nông nghiệp và công nghiệptrong quá trình tăng trưởng, còn gọi là “Mô hình hai khu vực cổ điển” Mô hìnhnghiên cứu sự di chuyển lao động từ khu vực nông nghiệp sang khu vực côngnghiệp Sự phát triển của ngành công nghiệp quyết định tăng trưởng kinh tế phụthuộc vào khả năng thu hút lao động dư thừa của ngành nông nghiệp Lượng laođộng ngày càng tăng khiến số lượng lao động dư thừa trong xã hội ngày càng lớn.Khi lao động dư thừa, tiền lương lao động trong nông nghiệp luôn ở mức tối thiểu,không đảm bảo được đời sống của người lao động Chính vì khu vực nông nghiệpmang tính trì trệ nên cần giảm dần quy mô và tỷ trọng đầu tư, thay vào đó, cần xâydựng và đầu tư vào các khu công nghiệp để thu hút người lao động Mô hình được

đề ra dựa trên các giả định:

- Tỷ lệ lao động thu hút sang khu vực công nghiệp tương ứng với tỷ lệ vốntích lũy ở khu vực này ( thâm dụng vốn, hoặc đầu tư nơi khác)

- Khu vực thành thị không có thất nghiệp

Trang 12

- Nông thôn có thể giải quyết việc làm mà không cần phải chuyển ra thànhphố.

- Tiền lương công nghiệp không tăng(thực tế vẫn tăng do nhu cầu về lao độngtay nghề và công đoàn)

 Mô hình tân cổ điển

Mô hình tân cổ điển coi công nghệ (T) là yếu tố trực tiếp quyết định tăngtrưởng Việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ giúp tối đa hóa lợinhuận.Đối với khu vực nông nghiệp, nếu áp dụng các tiến bộ công nghệ, lao động

có thể cải thiện, nâng cao chất lượng ruộng đất, giúp tăng về cả chất lượng và sốlượng sản phẩm.Đối với khu vực công nghiệp, các sản phẩm do lao động làm rangày càng tăng Vì vậy, các chủ lao động phải trả tiền công cho người lao động caohơn Điều này buộc các nhà sản xuất phải lựa chọn sản xuất công nghệ phù hợp(công nghệ sử dụng nhiều vốn hay công nghệ sử dụng nhiều lao động)

Trong đó, quan điểm đầu tư:

- Tránh bất lợi công nghiệp nên đầu tư cả nông nghiệp ngay từ đầu

- Đầu tư là tăng năng suất nông nghiệp khiên viện lao động dịch chuyển khỏinông nghiệp không làm tăng giá nông sản

 Mô hình Harry T Oshima

Oshima đã đưa ra các biện pháp hỗ trợ vạo việc làm cho người lao động, từ đógiúp kinh tế ngày càng tăng trưởng Theo mô hình, cần tạo việc làm cho lao độngnhàn rỗi theo hướng tăng cường đầu tư phát triển nông nghiệp Đa dạng hóa sảnxuất nông nghiệp, xen canh, tăng vụ trông thêm rau quả, cây lấy củ, mở rộng chănnuôi, trồng cây lâm nghiệp Bên cạnh đó, nhà nước cũng cần hỗ trợ để nâng caonăng suất: hệ thống tưới, vận tải nông thôn, giáo dục và điện khí hóa nông thôn; cảitiến các tổ chức: tổ chức dịch vụ, tổ chức tín dụng; tăng xuất khẩu nông sản thungoại tệ (nhập khẩu máy móc cho công nghiệp nhiều lao động) Sau đó, cần hướngtới tạo việc làm đầy đủ cho lao động bằng cách đầu tư phát triển đồng thời nôngnghiệp và công nghiệp (theo chiều rộng): đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp; Pháttriển ngành công nghiệp chế biến nông sản hàng hóa; Phát triển ngành tiểu thủ côngnghiệp ( nông cụ cải tiến); Phát triển ngành sản xuất phân bốn, gióng, các yếu tốđầu vào; Hoạt động đồng bộ từ sản xuất vận chuyển bán hàng, tín dụng; Phát triểnnông nghiệp tạo nhu cầu tăng quy mô công nghiệp và dịch vụ Các biện pháp nàyhướng tới tăng trưởng việc làm nhanh hơn tăng trưởng lao động, khiến thu nhậpthực tế của người lao động tăng lên

Trang 13

d Các yếu tố ảnh hưởng đến việc làm.

Điều kiện tự nhiên.

Mỗi quốc gia có một ưu thế riêng về điều kiện tự nhiên như các yếu tố về đấtđai, khí hậu, địa hình,… Đất đai màu mỡ hay khô cằn, khí hậu ôn đới hay nhiệt đới,địa hình đồng bằng, vùng núi hay vùng biển, các nguồn tài nguyên khoáng sảnnhiều hay ít, … Từ các yếu tố trên, mỗi quốc gia có thể lựa chọn được các phươngthức sản xuất, các ngành nghề kinh doanh khác nhau, sao cho có thể tạo ra năngsuất cao nhất trong quá trình sản xuất Từ đó, người lao động trên mỗi quốc gia cóthể lựa chọn được việc làm phù hợp với trình độ và trạng thái sức khỏe của bảnthân

 Dân số

Dân số vừa là yếu tố sản xuất, vừa là yếu tố tiêu dùng Quy mô dân số tăng thìcầu hàng hóa và dịch vụ tăng Khi đó, nguồn cung sản xuất cũng tăng lên, đa dạnghóa các ngành nghề hoạt động do cung và cầu luôn có mối quan hệ tác động qua lạilẫn nhau Đồng thời, cơ cấu dân số cũng quyết định tiêu dùng Tùy thuộc vào sởthích, giới tính, tâm lý, dân tộc, nhu cầu tiêu dùng của mỗi người là khác nhau Đểlượng hàng hóa sản xuất bán ra có người mua, các doanh nghiệp buộc phải quantâm đến nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng Nếu lượng hàng hóa bán ra nhiều, cácnhà sản xuất phải tăng thêm coogn lao động, ngược lại, nếu không có người mua,các doanh nghiệp buộc phải sa thải một số lượng lao động để cân bằng chi phí sảnxuất nhằm tránh tình trạng lỗ vốn.Quá trình di dân cũng làm cho dân số ở từng nơithay đổi Khi cơ cấu dân số thay đổi sẽ dẫn đến nhu cầu tiêu dùng sản xuất hàng hóa

ở từng nơi thay đổi Những vùng người dân di cư đến buộc phải tăng thêm lượngsản xuất để đáp ứng đủ nhu cầu của người dân, từ đó tăng thêm nhiều ngành nghềmới, góp phần tạo ra nhiều chỗ làm mới Trong khi những vùng dân di cư đi lại phảigiảm số lượng sản xuất xuống dẫn đến tình trạng lao động bị thất nghiệp

Ngoài ra, chất lượng lao động cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tạoviệc làm cho người lao động Trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cácdoanh nghiệp ngày càng phát triển, việc đòi hỏi lao động có sức khỏe, trình độchuyên môn tay nghề cao để đáp ứng được yêu cầu của công việc đề ra là điều vôcùng cần thiết Người lao động có trình độ mới có nhiều cơ hội tìm kiếm được việclàm theo đúng nguyện vọng, mới có thể có được thu nhập cao đáp ứng được nhucầu cuộc sống Người lao động cần tùy thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của

Trang 14

mình, tranh thủ tham gia các hoạt động giáo dục, đào tạo, nâng cao tay nghề để cóthêm kinh nghiệm, kiến thức và nhận thức Điều đó mới có thể nâng cao vị thế bảnthân mỗi người lao động.

 Cơ chế chính sách

Cơ chế chính sách là một yếu tố quan trọng góp phần tạo việc làm cho ngườilao động Nhà nước dùng các công cụ chính sách pháp luật để đảm bảo được quyềnlợi của người dân, đồng thời buộc người dân phải tuân theo những chủ trương đúngđắn của đảng và nhà nước đề ra, nhằm hướng tới một xã hội ngày càng phát triển,cuộc sống của người dân được ấm no Chính vì vậy, trong mỗi thời kỳ khác nhau,Nhà nước lại đề ra các chính sách cụ thể, các hành lang pháp lý phù hợp hướng tớiphát triển sản xuất, nâng cao đời sống, tạo thêm nhiều cơ hội việc làm cho người laođộng Trong Bộ luật lao động của nước ta quy định: “Người lao động có quyền làmviệc cho bất kỳ người sử dụng lao động nào và bất kỳ chỗ nào mà pháp luật khôngcấm” (khoảng 1, điều 16) và điều 13 cũng ghi rõ: “Giải quyết việc làm, bảo đảmcho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm là trách nhiệm củanhà nước, của các doanh nghiệp và toàn xã hội.”

e Ảnh hưởng của tạo việc làm đến việc sử dụng nguồn nhân lực.

 Ảnh hưởng của tạo việc làm đến việc sử dụng nguồn nhân lực

Sự phát triển của nền kinh tế phụ thuộc rất lớn vào vấn đề sử dụng có hiệuquả nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn nhân lực và vốn Trong đó, việc sử dụngnguồn nhân lực có vai trò quan trọng và quyết định đến sự phát triển đó, tạo việclàm nhằm nâng cao hiệu quả nguồn nhân lực thông qua các hướng:

Tạo việc làm và giải quyết việc làm nhằm phân bổ lao động một cách hợp lý,góp phần hoàn thiện hệ thống quản lý đưa đến một hệ thống lao động phù hợp với

cơ cấu hệ thống ngành nghề có sự phối hợp hài hòa giữa các bộ phận tổ chức, bố trílao động phù hợp với đặc điểm tính chất của công việc sẽ nâng cao năng suất laođộng cá nhân, giúp họ phát triển khả năng và sự sáng tạo của mình cho quá trình sảnxuất phát triển

Tạo ra nhiều chỗ làm việc mới sẽ thu hút được nhiều lao động tham gia vàoquá trình sản xuất xã hội và sẽ giải quyết các vấn đề mang tính xã hội như : nângcao, cải thiện đời sống, hạn chế các hiện tượng tiêu cực trong xã hội

Tạo việc làm là một trong những động lực thúc đẩy nâng cao chất lượng

Trang 15

nguồn nhân lực vì khi các công việc được tạo mới bao giờ cũng đòi hỏi một chuyênmôn kỹ thuật cao ở người lao động mà theo quy luật của quá trình tuyển dụng thìngười ứng cử viên cũng phải có một trình độ tương đương bởi thế cho nên conngười luôn có xu hướng tích lũy kiến thức trình độ lành nghề cho mình để có thêmnhiều cơ hội tham gia vào các hoạt động kinh tế.

 Sự cần thiết phải tạo việc làm cho người lao động

Tạo việc làm là quá trình tạo ra những điều kiện cần thiết cho sự kết hợp giữa

tư liệu sản xuất, công cụ và sức lao động Tạo việc làm cho người lao động giúpphát huy tiềm lực sẵn có của từng đơn vị, địa phương, từng người lao động nhằmtạo ra những công việc hợp lý và đầy đủ, đồng thời đem lại được thu nhập đảm bảothỏa mãn nhu cầu đời sống hàng ngày cho người lao động Có thể nói tạo việc làmluôn là vấn đề quan trọng, mang tính xã hội, có ý nghĩa lớn lao đối với từng ngườilao động và toàn xã hội

Tạo việc làm giúp khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, tiềm năngkinh tế, nhằm tránh lãng phí nguồn lực xã hội Về mặt xã hội, tạo việc làm giúp conngười nâng cao vai trò của mình trong quá trình phát triển kinh tế, giảm thiểu đượctình trạng thất nghiệp trong xã hội Đồng thời, người lao động có việc làm sẽ giúpgiảm các tệ nạn xã hội như : trộm cắp, lừa đảo, nghiện hút, … và hạn chế đượcnhững phát sinh tiêu cực do thiếu việc làm gây ra Về mặt kinh tế, việc làm giúp conngười thỏa mãn được các nhu cầu về vật chất và tinh thần, giúp ổn định và nâng caođời sống của người lao động

Tạo việc làm đáp ứng nhu cầu tìm việc, nhu cầu lao động của con người vì laođộng là phương tiện dể tồn tại chính của con người Có thể nói, giải quyết và tạoviệc làm cho người lao động giúp cho họ tham gia được vào quá trình sản xuất của

xã hội, cũng là tiền đề giúp cho sự tồn tại và phát triển của đất nước

Do đó, mọi chủ trương chính sách đúng đắn là phải phát huy cao độ khả năngnguồn lực con người, nếu có sai p hạm thì nguồn lao động sẽ trở thành gánh nặng,thậm chí gây trở ngại, tổn thất lớn cho nền kinh tế cũng như xã hội Vì vậy mộtquốc gia giải quyết tốt vấn đề việc làm cho người lao động là thành công lớn trong

sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội chính trị của mình

1.3 Sự cần thiết phải giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất 1.3.1 Đặc điểm của lao động bị thu hồi đất do quá trình CNH – HĐH.

Đặc điểm của người lao động bị thu hồi đất là một yếu tố khiến cho việc giảiquyết việc làm trở nên cần thiết Với những người lao động bị thu hồi đất, đất đai

Trang 16

chính là tư liệu sản xuất, đã nơi giúp họ tạo ra được thu nhập, là điều kiện cần để họ

có thể sinh tồn Người lao động khi bị thu hồi đất, không còn đất để tham gia vàohoạt động sản xuất cũng tựa như họ mất đi quyền lợi của chính mình

Ngoài ra, những lao động sau khi bị thu hồi đất họ rất khó chuyển đổi nghềnghiệp Một phần vì với phần lớn người lao động bị thu hồi đất quen với nghề nông.Mất đất canh tác đồng nghĩa với việc họ mất nơi lao động hoạt động sản xuất.Những lao động này thường quen với việc thuần nông, không có tay nghề, không cótrình độ Để kiếm được việc làm, họ cần phải cạnh tranh với số lượng lao độngđược đào tạo bởi các trường đại học, cao đẳng, dạy nghề khá nhiều Biết được sựbất lợi của mình thế nhưng nhiều lao động lại không cố gắng khắc phục những yếukém, mà trở nên buông xuôi, không muốn nỗ lực trong việc nâng cao trình độ kiếnthức với mong muốn tìm được công việc mới tốt hơn Ngoài ra, một phần lao động

bị thu hồi đất đã quá tuổi để có thể dễ dàng làm quen với công việc mới (khoảng 35tuổi) Cùng với tâm lý lo sợ rủi ro, thất bại, lối tư duy “ăn chắc, mặc bền”, sản xuấtnhỏ lẻ manh mún càng làm cho cơ hội tìm việc của họ trở nên khó khăn hơn

Phần lớn người lao động bị thu hồi đất là những người làm nghề nông Một sốngười sau khi bị thu hồi đất tuy diện tích đất bị thu hẹp, nhưng đa số vẫn cố gắngtìm cách bám trụ với nghề nông như trồng lúa, chăm sóc hoa màu, chăn nuôi trâu,

bò, lợn, gà để kiếm sống Tuy nhiên, họ chỉ biết lao động theo những phương thứcđơn giản, chưa biết áp dụng những tiến bộ công nghệ mới, họ vẫn dựa nhiều vàonhững kinh nghiệm lâu năm của mình đã sản xuất Vì vậy, thu nhập của nhữngngười lao động này sau khi bị thu hồi đất trở nên rất thấp, không đủ sống

Bên cạnh đó, vẫn còn nhiều người lao động sống ỷ lại vào những khoản tiềntrợ cấp đền bù đất Phần lớn số tiền đền bù được người dân sử dụng vào việc sửasang, xây dựng nhà ở, mua sắm phương tiện đi lại, việc học tập của con cháu Tuynhiên, rất ít gia đình dành tiền đền bù đầu tư cho việc học nghề của con cháu, cũngnhư số gia đình đầu tư vào việc mở rộng sản xuất kinh doanh không nhiều.Nhiềungười biết ăn tiêu chứ không biết cách tạo việc làm như thế nào Một số người chỉthích tìm những công việc nhàn hạ, ít bận rộn, không phải chịu nhiều áp lực.Vì vậy,cần có những chính sách tạo việc làm và hỗ trợ cho người lao động

Ngoài ra, việc thu hồi đất có một số ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống củangười dân như ô nhiễm môi trường gây bất bình, lo lắng về sức khỏe của bản thân,gia đình và cộng đồng Đồng thời, nó tác phần không nhỏ đến sự du nhập của các tệnạn xã hội như ma túy, mại dâm, cờ bạc Bởi với những người lao động bị thu hồi

Trang 17

đất sau khi bị mất việc làm trở nên vô công rỗi nghề Hàng ngày, họ chỉ biết tìmcách để hưởng thụ khoản tiền lớn đền bù đất mà Nhà nước đã giao cho Chính vìvậy, họ là những người dễ bị lôi kéo vào các vấn đề của xã hội, là một trong các tácnhân gây nên những bất ổn của xã hội.

Ngoài ra, phần lớn nông dân bị thu hồi đất cảm thấy chưa thật hài lòng vớichính sách đền bù giải tỏa mặt bằng và hỗ trợ chuyển đổi việc làm, nguyên nhân là

do việc thu hồi đất kéo dài nhiều đợt dẫn đến việc tiền đền bù nhận được lẻ tẻ gâykhó khăn cho việc đầu tư, ổn định, phát triển sản xuất Nhưng lý do cơ bản nhất làtồn tại tình trạng thiếu công bằng trong công tác đền bù Hiện nay, đứng giữa cácquy định chính sách cũ và mới, mức giá đền bù đã chênh nhau đáng kể Nhiềungười dân bị thu hồi đất trước trở nên thiệt thòi

1.3.2 Sự cần thiết phải giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất.

Tạo việc làm cho người dân bị thu hồi đất là một nhân tố quan trọng cho sựphát triển kinh tế của đất nước Sự phát triển này phụ thuộc vào nhiều nhân tố nhưtài nguyên, vốn, lao động, công nghệ, trong đó việc sử dụng lao động là một nhân tốquan trọng, nhất là đối với một nước nông nghiệp đang phát triển như Việt Nam.Hiện nay, chúng ta đang có nhiều dự án phát triển, dẫn đến việc tồn tại một lượnglớn người lao động sau khi bị thu hồi đất không có việc làm Việc để không một lựclượng lớn lao động không sử dụng đến gây lãng phí tổn thất lớn cho xã hội, nhất làđối với một đất nước đang trên đà phát triển như Việt Nam Chính vì vậy, tạo việclàm cho người lao động bị thu hồi đất là hoạt động đóng vai trò quan trọng đối với

xã hội, doanh nghiệp và bản thân chính người lao động

a Đối với xã hội.

Trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay, quốc gia nào cũngmuốn thoát ra khỏi tình trạng kinh tế nông nghiệp lạc hậu để chuyển sang nền kinh

tế công nghiệp, nhằm có được năng suất sản xuất tăng, đời sống của con người nângcao, từ đó mới có thể đưa được nền kinh tế của xã hội phát triển Sự chuyển dịch cơcấu nền kinh tế tác động không nhỏ đến sự chuyển dịch cơ cấu lao động Khi đấtnước càng ngày càng áp dụng nhiều công nghệ khoa học kỹ thuật mới nhằm tạo racác hoạt động sản xuất mới, máy móc thay thế cho lao động, khi đó tình trạng thấtnghiệp sẽ xảy ra Việc tạo việc làm là một yếu tố cần thiết nhằm giảm tình trạng thấtnghiệp, giúp giảm gánh nặng cho xã hội trong việc ổn định cuộc sống cho người laođộng Đồng thời, tạo việc làm còn giúp cho chất lượng cuộc sống của người dân

Trang 18

được nâng cao, hạn chế được những vấn đề tiêu cực do những người lao động dưthừa trong xã hội gây nên, đồng thời góp phần xóa đói giảm nghèo và giúp giảiquyết được các vấn đề về kinh tế, chính trị, xã hội.

b Tác động đối với các doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất còn giúp duy trì

sự tồn tại và phát triển cho các doanh nghiệp Lao động là một yếu tố quan trọnggóp phần thúc đẩy sản xuất , càng nhiều lao động thì lượng sản phẩm được tạo racàng tăng, từ đó giúp các doanh nghiệp có thể phát triển và lớn mạnh Nhất là đốivới các doanh nghiệp vừa và nhỏ, vốn ít, quá trình sản xuất chủ yếu sử dụng nhiềulao động hơn máy móc Đồng thời, dù công nghệ có ngày càng tiến bộ, nhưng máymóc cũng không thể tự hoạt động, mà phải dựa trên sự điều khiển của con người Vìvậy, trên thực tế, đối với các nước đang phát triển, các doanh nghiệp luôn luôn cầntuyển các lao động có tay nghề, trình độ cao Tuy nhiên, hiện nay, số lượng laođộng tuy đông, nhưng không đáp ứng được đủ yêu cầu do các nhà tuyển dụng đề ra

Do đó, vẫn còn tồn tại việc các doanh nghiệp luôn trong tình trạng thiếu người,nhưng lượng lao động dư thừa vẫn tiếp tục tăng

c Đối với người lao động bị thu hồi đất.

Tạo việc làm cho người lao động bị thu đất chính là biện pháp cải thiện giúpngười lao động sớm ổn định được đời sống cũng như góp phần nâng cao thu nhậpcho bản thân cũng như gia đình của lao động Khi đó, ý thức của người lao độngtrong việc nâng cao trình độ, nhận thức tăng lên, biết đầu tư nhiều hơn vào đào tạocho tầng lớp con em Đồng thời, điều này cũng giúp giảm sự phân cách giàu nghèogiữa các tầng lớp trong xã hội

Hiện nay, đất nước đang ngày càng phát triển, rất cần đến sự đóng góp khôngnhỏ của lực lượng lao động Vì vậy, việc tạo việc làm cho người lao động bị thu hồiđất là rất cần thiết Người lao động bị thu hồi đất chủ yếu là nông dân bị thu hồi đấtcanh tác Đối với một nước vẫn thuần nông như nước ta, nếu người dân bị thu hồiđất canh tác, trở nên thất nghiệp, sự phát triển kinh tế có thể bị chững lại, mọi bước

đi đều trở nên chông chênh Nhà nước cần tạo ra các chính sách giáo dục đào tạo,đặc biệt hướng vào đối tượng thành niên, bởi đây chính là lực lượng nòng cốt,làxương sống để phát triển nền kinh tế hiện nay Nếu đẩy mạnh quá trình công nghiệphóa, hiện đại hóa mà không gắn liền với quyền lợi và việc làm của người lao động

bị thu hồi đất thì sẽ tạo ra sự mất ổn định trong xã hội, làm chậm tiến trình côngnghiệp hóa Việc dựa lao động dư thừa sau khi bị thu hồi đất, sử dụng đúng chỗ,

Trang 19

đúng sách giúp chúng ta có thể tăng năng suất sản xuất, tạo sự đi lên về kinh tế.

1.4 Kinh nghiệm tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất ở một số địa

phương.

a Thành phố Hồ Chí Minh.

Kể từ cuối năm 1993, thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành thực hiện triểnkhai nhiều dự án xây dựng các khu công nghiệp, chế xuất để nhằm mục đích thu hútcác nguồn đầu tư, di dời các cơ sở sản xuất ra khỏi khu dân cư đông đúc nhằmtránh tình trạng ô nhiễm, cải thiện lại hệ thống giao thông ,… Tính từ năm 1998,thành phố đã triển khai bồi thường và giải phóng mặt bằng 721 dự án, tổng diện tíchthu hồi hơn 201,8 triệu m2 Quá trình thu hồi đất đã ảnh hưởng lớn đến cuộc sốngcủa người dân bị thu hồi đất Thành phố đã có nhiều chính sách đền bù và hỗ trợcho người dân, tuy nhiên vẫn còn nhiều bất cập như giá đền bù thấp, không thỏađáng,, gây nhiều xáo trộn, bức xúc đến đại bộ phận người dân có đất bị thu hồi.Trước tình hình này, thành phố đã thực hiện một số giải pháp, trong đó tập trungvào công tác bồi thường, hỗ trợ đào tạo và giải quyết việc làm cho người dân bị thuhồi đất Bên cạnh công tác bồi thường đất đai, thành phố còn thực hiện nhiều chínhsách hỗ trợ cho người dân

Đối với các hộ nông dân sau khi bị thu hồi đất nhưng vẫn còn đất canh tác,thành phố hỗ trợ cho vay vốn để phát triển sản xuất với mức vay lãi theo chươngtrình 419 (hộ dân thường được hỗ trợ 4% lãi suất vay/năm; hộ diện xoá đói giảmnghèo được hỗ trợ 7% lãi suất/năm) Đối với hộ bị thu hồi dưới 30% diện tích,thành phố hỗ trợ kinh phí học nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn với mức300.000 đồng/người/tháng và không quá 1,5 triệu đồng trong một khoá đào tạo.Những hộ dân không còn đất sản xuất phải chuyển sang ngành nghề khác thì được

hỗ trợ cho vay tín dụng từ 1 triệu đến 20 triệu đồng/hộ, lãi vay 6%/năm Hỗ trợ,khoanh nợ lãi vay ngân hàng cho những hộ bị thu hồi hết đất, không thể tiếp tục sảnxuất để trả nợ ngân hàng Thành phố cũng đang xây dựng đề án thành lập công tyvới sự góp vốn bằng tiền bồi thường của nông dân bị thu hồi đất Xây dựng đề ánnhà ở xã hội trên địa bàn giai đoạn 2006 – 2010 Thành phố cũng lập ra quỹ hỗ trợđào tạo và giải quyết việc làm cho ngưòi dân có đất bị thu hồi (chương trình 156)với nguồn vốn ban đầu 50 tỉ đồng Nguồn vốn gồm: nguồn ngân sách thành phố,đóng góp của chủ đầu tư sử dựng đất của người dân, đóng góp tự nguyện của các cánhân, tổ chức, kể cả tổ chức phi chính phủ và các nguồn tín dụng khác được ngân

Trang 20

sách thành phố cấp bù lãi suất Người bị thu hồi đất sẽ được quỹ hỗ trợ để theo họcvăn hoá, học nghề, đầu tư sản xuất, kinh doanh, đi xuất khẩu lao động… Theo đó,học sinh học phổ thông và đại học sẽ được hỗ trợ học phí và tiền đóng góp xâydựng cơ sở vật chất trường học, thời gian hỗ trợ không quá 3 năm Học sinh họcnghề được hỗ trợ tối đa 3 triệu đồng/người đối với khoá đào tạo trung hạn và khôngquá 250 nghìn đồng/người/tháng đối với khoá ngắn hạn Đối với vay vốn để sảnxuất, kinh doanh, mỗi lao động được vay không quá 10 triệu đồng, mỗi hộ khôngquá 30 triệu đồng Riêng đối với trường hợp đi xuất khẩu lao động thì được vaykhông quá 50 triệu đồng/hộ Lãi suất cho vay ưu đãi là 2%/năm (0,17%/tháng) Tuy nhiên, trong thời đại hiện nay, tốc độ phát triển các khu công nghiệp, khudân cư tại nông thôn sẽ càng ngày càng tăng Vì vậy, để đảm bảo được quyền lợicủa những người lao động bị thu hồi đất, mất việc làm cũng như phương án sảnxuất, nhà nước cần đưa ra nhiều hình thức hỗ trợ phù hợp hơn cho người dân đượclựa chọn.

b Thành phố Đà Nẵng.

Trong thời đại công nghiệp hóa, Đà Nẵng đã tiến hành triển khai quy hoạch, giảiphóng mặt bằng đối với một số nơi trong thành phố Đây là thành phố có diện tíchđất nông nghiệp giảm rất nhanh do quá trình đô thị hóa Nhiều người dân mất đấtsản xuất nhưng chưa tìm được việc làm, hoặc không thể chuyển đổi ngành nghề đãkhiến lực lượng lao động trong thành phố trở nên dư thừa Nhiều người dân phảivào tận Quảng Nam để thuê đất trồng trọt Để giải quyết vấn đề này, UBND thànhphố đã triển khai đề án: “Hỗ trợ chuyển đổi ngành nghề, giải quyết việc làm, ổn

định đời sống đối với đối tượng bị thu hồi đất sản xuất, di dời giải toả trên địa bàn”

Về chính sách học nghề, thành phố hỗ trợ triền ăn trưa cho 124 học sinh thuộcdiện này với mức 5000đ/học sinh/ngày thực học, mức hỗ trợ mỗi học sinh khôngquá 120.000 đ/tháng (hỗ trợ tối đa không quá 6 tháng); hỗ trợ kinh phí đào tạo chodoanh nghiệp tiếp nhận lao động di dời giải toả là 1 tỷ 500 triệu đồng; trích từ ngânsách hơn 1 tỷ 480 triệu đồng để dạy nghề ngăn hạn không thu học phí đối với 1.250đối tượng chính sách xã hội, trong đó có đối tượng bị hộ thu hồi đất; Chương trìnhmục tiêu quốc gia về hỗ trợ dạy nghề cho nông dân của thành phố đã dành 700 triệuđồng chi dạy nghề cho hơn 800 nông dân bị thu hồi đất

Về chính sách hỗ trợ học phí, đến nay, thành phố đã thực hiện miễn giảm họcphí cho gần 2.000 em học sinh thuộc diện này Thành phố Đà Nẵng đã trình HĐNDthành phố đề án: “Quỹ giải quyết việc làm từ ngân sách thành phố”, dự kiến 6 tỷ

Trang 21

đồng/năm uỷ thác cho Ngân hàng Chính sách xã hội cho vay ưu đãi để giải quyết việc làm cho các đối tượng bị mất đất do di dời giải toả.Riêng quỹ quốc gia hỗ trợviệc làm , trong 5 tháng dầu năm 2006, đã cho 19 hộ trong diện di dời, giải toả vaygần 350 triệu, giải quyết việc làm mới cho 29 lao động bị mất đất Ngoài ra, thànhphố cũng tạo điều kiện và hỗ trợ cho nông dân bị mất đất, thật sự không có điềukiện chuyển đổi nghề để hình thành vùng chuyên canh rau an toàn, với quy mô mỗivùng từ 30 - 50 ha tại huyện Hỏa Vang và các quận: Ngũ Hành Sơn, Liên Chiểu

c Thành phố Hải Phòng.

Hải Phòng là thành phố lớn thứ 3 trong cả nước, áp lực về nhu cầu việc làmcủa người dân độ tuổi lao động cũng không ngừng tăng Tuy nhiên, mỗi năm, thànhphố vẫn thực hiện chuyển đổi hàng nghìn hécta đất nông nghiệp cho công nghiệp vàcác mục đích khác Đồng nghĩa với việc đó, hàng vạn người lao động bị mất việclàm Ước tính trong vòng 10 năm trở lại đây, đã có hàng vạn ha đất nông nghiệpkhông thể trồng cấy vì phải nhường chỗ cho các dự án mới được đầu tư chẳng liênquan gì đến trồng lúa Theo số liệu thống kê của Sở Nông nghiệp và Phát triển nôngthôn Hải Phòng, chỉ tính từ năm 2003 đến tháng 7/2008, địa phương đã thu hồi gần5.000 ha đất nông nghiệp cho 625 dự án công nghiệp, đô thị, thương mại, với tổng

số hộ dân phải di dời gần 49.000 hộ, bằng hơn 64.000 nhân khẩu Các huyện AnDương, Kiến Thụy (cũ), Thủy Nguyên có nhiều diện tích đất nông nghiệp bị thuhồi, chuyển đổi mục đích sử dụng nhất Được biết, đi cùng với thu hút đầu tư, HảiPhòng cũng đã có chiến lược về tạo việc làm cho người lao động Theo đó khuyếnkhích, tạo cơ chế "thoáng" về đất đai cũng như vay vốn cho những doanh nghiệpnào thu hút được nhiều lao động.Tuy nhiên, đấy mới chỉ là một trong nhiều giảipháp quan trọng Nghĩa là, ngoài đào tạo nghề, còn nhiều giải pháp khác cần phảiđược kết hợp thực hiện đồng bộ giữa chủ đầu tư với địa phương, thực hiện nghiêmtúc quá trình tái định cư và giải quyết việc làm cho người lao động

d Bài học rút ra cho Hà Nội.

Mặc dù hiện tại, Hà Nội có nhiều dự án cần thực hiện Tuy nhiên, đứng trướctình trạng người lao động sau khi bị thu hồi đất phần lớn không có việc làm, vàđứng trước khó khăn trong việc chuyển đổi nghề nghiệp, Hà Nội cần phải cân nhắc

kĩ trước khi tiến hành thu hồi đất của người lao động Thành phố cần tránh tìnhtrạng sau khi thu hồi đất, các dự án vẫn chưa được thực hiện do chờ vốn từ trênchuyển xuống, khiến tình trạng đất bỏ không lãng phí, trong khi người lao động saukhi bị thu hồi đất rơi vào tình trạng gặp khó khăn khi kiếm việc làm, hoặc di cư

Trang 22

sang các tỉnh thành khác thuê đất để tiến hành sản xuất.

Nhà nước cần đề ra các chính sách hỗ trợ phù hợp cho người lao động bị thuhồi đất Bên cạnh đó, chính quyền địa phương cần phải quan tâm, giúp đỡ, hỗ trợ ổnđịnh cuộc sống và tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất Các cơ quan cóthẩm quyền cần tiến hành sát sao công tác hỗ trợ cho người lao động sau khi bị thuhồi đất trong việc đào tạo, nâng cao trình độ cũng như tay nghề của người lao động,giúp họ có thể đáp ứng được các yêu cầu của doanh nghiệp đề ra.Mức tăng thêm,phải tính toán đến sự cân đối của ngân sách đồng thời phát triển nguồn thu từ cácnguồn ngoài ngân sách tùy theo tình hình thực tế Hỗ trợ cho người dân thông quathẻ học nghề, để đảm bảo sử dụng đúng mục đích của các khoản tài chính hỗ trợdạy nghề ở các khu vực nói trên, chủ dự án sẽ lập danh sách nhu cầu học nghề củacác hộ bị thu hồi đất, sau đó gửi họ đến các cơ sở dạy nghề phù hợp Khi đó cảngười dạy và người học nghề đều được thụ hưởng đúng ưu đãi tài chính cho ngườilao động tại các vùng đô thị hoá nhanh ở ngoại thàn

Đồng thời, tiếp tục đổi mới phương thức cho vay vốn nhằm đơn giản hơn thủtục cho vay, song vẫn đảm bảo khả năng thu hồi vốn, đảm bảo đúng đối tượng vàcông bằng; nâng cao ý thức, trách nhiệm vay và hoàn trả nợ vay đối với người đượcvay; khuyến khích học viên hoàn trả các khoản vay đúng hạn; thủ tục thanh toánđơn giản, dễ thực hiện tiến hành tận dụng những mặt lợi thế ngay tại địa phương,tránh tình trạng phải ly hương để kiếm sống

Ngoài ra, cần khuyến khích mô hình đào tạo nghề và tạo việc làm trực tiếp dodoanh nghiệp : Doanh nghiệp tự tổ chức đào tạo nghề cho người lao động và sau đótuyển dụng họ vào làm việc cho doanh nghiệp, hoặc cũng có thể đào tạo để sau đóngười lao động tự đi tìm việc ở doanh nghiệp khác

Các cơ quan quản lý các cấp, doanh nghiệp giải quyết những vấn đề tâm lýnảy sinh từ phía người nông dân, tạo điều kiện cho họ thích ứng với điệu kiện sốngmới Đồng thời, trước khi triển khai kế hoạch thu hồi đất, chính quyền địa phươngnên có những buổi tập huấn nâng cao nhận thức cho người dân về ảnh hưởng củaviệc chuyển đổi mục đích sử dụng đất như tư vấn định hướng nghề nghiệp vàchuyển đổi cơ cấu ngành nghề, hướng dẫn người dân những vùng sẽ bị thu hồi đất

sử dụng tiền đền bù có hiệu quả… Đồng thời, người nông dân cần phải ý thức đượcviệc tự trang bị cho mình một nghề nhất định để có thể đáp ứng kịp thời với sự thayđổi việc làm khi đất nông nghiệp bị thu hồi

Rút kinh nghiệm từ các địa phương khác sẽ giúp cho Hà Nội, thành phố có

Trang 23

lượng lớn lao động bị thu hồi đất, sẽ tìm ra được những giải pháp tốt nhất, hiệu quảnhất giúp cho người lao động có được việc làm, tránh rơi vào tình trạng thất nghiệp,

từ đó không chỉ cải thiện được thu nhập cho người lao động mà còn giúp cho nềnkinh tế có thể ngày càng phát triển, đất nước ngày càng đi lên sánh ngang tầm vớicác quốc gia trong khu vực

Trang 24

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG

BỊ THU HỒI ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI 2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến tạo việc làm cho người lao động trên địa bàn

Hà Nội đi các thành phố, thị xã của Bắc Bộ cũng như của cả nước rất dễ dàng bằng

cả đường ô tô, sắt, thủy và hàng không Hà Nội có 2 sân bay dân dụng, là đầu mốigiao thông của 5 tuyến đường sắt, 7 tuyết đường quốc lộ đi qua trung tâm Đó lànhững yếu tố gắn bó chặt chẽ hà Nội với các trung tâm trong cả nước và tạo điềukiện thuận lợi để Hà Nội phát triển mạnh giao lưu buôn bán với nước ngoài, tiếpnhận kịp thời các thông tin, thành tựu khoa học và kỹ thuật của thế giới; tham giavào quá trình phân công lao động quốc tế, khu vực và cùng hội nhập vào quá trìnhphát triển năng động của khu vực Đông Á – Thái Bình Dương

Trong vùng Thủ đô, Hà Nội được khẳng định là thành phố trung tâm của vùngvới mô hình chùm đô thị có hệ thống đa trung tâm hiện đại, đầu mối giao thôngchính, trung tâm nghiên cứu, dịch vụ tài chính, thương mại, văn hóa, du lịch và dịch

vụ hạ tầng xã hội mang tầm khu vực Đông Nam Á

Hà Nội là nơi tập trung các cơ quan hành chính cao nhất của Nhà Nước, làtrung tâm hàng đầu về khoa học – công nghệ, đào tạo, y tế, văn hóa Tại Hà Nộicòn có các cơ quan ngoại giao, các văn phòng đại diện của các tổ chức quốc tế

Hà Nội đã và sẽ giữ vai trò trung tâm phát triển lớn nhất của Bắc Bộ, là thịtrường lớn của vùng và cả nước Đồng thời, Hà Nội nằm trong vùng nhiều quần thể

di tích lịch sử và cảnh quan du lịch hấp dẫn: Hạ Long, Đồ Sơn, Tam Đảo,… có thểlàm điểm đầu mối của nhiều tuyến du lịch hấp dẫn ở Miền Bắc

Có thể nói, Hà Nội là thành phố có khả năng tạo nhiều việc làm cho người laođộng, thuận lợi cho việc làm ăn, buôn bán của người dân Chính vì vậy, nhữngngười lao động không có việc làm ở nhiều nơi khác thường đổ về thành phố đểmong có thêm nhiều cơ hội tìm kiếm việc làm, tạo thu nhập giúp cải thiện đời sốngcho bản thân và gia đình, cũng như tăng sự phát triển kinh tế,xã hội

Trang 25

2.1.2 Khí hậu.

Thành phố Hà Nội nằm trong vùng khí hậu Đồng bằng Bắc Bộ mang đặc thùcủa miền khí hậu nhiệt đới gió mùa Mùa động lạnh, mùa hè nống ẩm mưa nhiều.Mùa động lạnh rõ rệt so với mùa hạ, chênh lệch giữa nhiệt độ trung bình tháng lạnhnhất và tháng nóng nhất lên tới 12oC, song nhiệt độ trung bình tháng lạnh nhất chỉxuống đến 16 – 17oC, rất thuận lợi để phát triển cây vụ Đông giá trị kinh tế cao.Mùa hè: nóng ẩm, mưa nhiều, lượng mưa trung bình từ 1700 – 1800 mm Lượngmưa tăng dần từ đầu mùa tới giữa mùa, đạt cực đại vào tháng 8, tháng 9 thuộc vềmùa ít mưa Riêng vùng núi Ba Vì: Khí hậu có sự khác biệt, ngoài sự chênh lệchnâng cao của nền nhiệt độ vùng từ Bắc xuống Nam, từ Đông sang Tây, ở Ba Vì còn

có sự chênh lệch rõ nét về độ cao địa hình

2.1.3 Địa hình

Thành phố Hà Nội có địa hình đa dạng, bao gồm vùng núi cao, vùng đồi thấp

và vùng đồng bằng thấp trũng Vùng núi cao có cao độ thay đổi từ 300m đến1000m, trong đó có đỉnh núi Bà Vì cao 1.281m và một số núi đá vôi ở phía Namtỉnh (Chương Mỹ, Mỹ Đức) với nhiều hang động đẹp, các núi rừng này thường có

độ dốc lớn, hay bị xói mòn, rửa trôi khi mùa mưa đến Phía Bắc Hà Nội có dãy SócSơn với đỉnh cao nhất là Chân Chim có độ cao 462m.Vùng đồi thấp tập trung chủyếu ở khu vực Hà Tây cũ với diện tích trên 53 nghìn ha, chủ yếu có cao độ từ 30mđến 300m Địa hình vùng đồi thấp dốc thoải với độ dốc trung bình từ 8 – 20%, đây

là vùng đất nâu vàng, đỏ

Địa hình đồng bằng chiếm phần lớn diện tích của thành phố, bao gồm khu vựcphía Đông của tỉnh Hà Tây cũ, hầu hết diện tích của Hà Nội cũ (trừ khu vực vùngnúi Sóc Sơn) và huyện Mê Linh

Hà Nội có địa hình tốt, có nhiều thuận lợi trong việc phát triển ngành nôngnghiệp Vì vậy, chính quyền địa phương có thể hướng người lao động sử dụng một

số vùng đất trống trên cao, tiến hành áp dụng một số công nghệ cao vào việc trồngtrọt, chăn nuôi, giúp tăng năng suất, tạo nguồn thu nhập cho người lao động

2.1.4 Tài nguyên đất.

Đến năm 2009, diện tích đất nông nghiệp chiếm tỷ trọng khá lớn trong cơ cấu

sử đụng dất cua thành phố, khoảng 56,5%, trong đó đất trồng lúa là 118,1 nghìn ha,chiếm 35,3% diện tích tự nhiên thành phố

Đất lâm nghiệp chỉ có khoảng 24,05 nghìn ha, trong đó chủ yếu là đất rừngphồng hộ và rừng đặc dụng (14,43 nghìn ha) Diện tích đất chưa sử dụng là 10,51nghìn ha, trong đó đất bằng chưa sử dụng còn khá nhiều (4,84 nghìn ha)

Trang 26

Bảng 2.1 Thực trạng sử đụng dất thành phố Hà Nội.

Diện tích(ha)

Cơ cấu(%)

Diện tích(ha)

Cơ cấu(%)

TỔNG DIỆN TÍCH ĐẤT TỰ NHIÊN 334.852,150 100,0 334.852,150 100,0

1 Đất nông nghiệp 189.092,480 56,470 172.837,470 51,616 1.1 Đất sản xuất nông nghiệp 153.513,010 45,845 133.680,250 39,922

1.1.1 Đất trồng cây hàng năm 138.907,380 41,483 116.139,560 34,6841.1.1

1

1.1.1

2

Đất trồng cây hàng năm còn lại 20.138,990 6,014 19.711,060 5,886

1.1.2 Đất trồng cây lâu năm 14.605,630 4,362 17.540,690 5,238

1.2 Đất lâm nghiệp 24.051,920 7,183 23.342,790 6,971

1.2.1 Đất rừng sản xuất 9.618,440 2,872 8.511,780 2,5421.2.2 Đất rừng phòng hộ 3.753,630 1,121 5.308,710 1,5851.2.3 Đất rừng đặc dụng 10.679,850 3,189 9.522,300 2,844

1.3 Đất nuôi trồng thủy sản 9.658,250 2,884 13.835,930 4,132 1.4 Đất nông nghiệp khác 1.869,300 0,558 1.978,500 0,591

2 Đất phi nông nghiệp 135.245,150 40,390 153.611,560 45,874

Trang 27

Nguồn: Sở Tài nguyên và Môi trường.Hiện nay, đất nông nghiệp trên địa bàn Hà Nội vẫn chiếm một diện tích khá lớn.Phần lớn đất bị thu hồi trên địa bàn Hà Nội là đất nông nghiệp, điều này sẽ đẩynhững người nông dân rơi vào tình trạng mất nơi sản xuất, lao động Vì vậy, chínhquyền, ủy ban nhân dân thành phố cần chú trọng thu hồi đất sử dụng hiệu quả,tránh tình trạng để người lao động bị thu hồi đất không có việc làm, còn đất thì đểkhông chờ dự án gây lãng phí.

2.1.5 Tài nguyên du lịch.

Với bề dày hàng nghìn năm lịch sử, Hà Nội có nhiều danh thắng, di tích lịch

sử, công trình văn hóa nghệ thuật, khảo cổ, kiến trúc cùng với các di tích di vật thểkhác, các lễ hội, làng nghề và văn hóa dân gian; nơi tập trung những bảo tàng lớn

và quan trọng của cả nước Những đặc trưng văn hóa Việt là nguồn lực và lợi thếcho phát triển những ngành đem lại giá trị gia tăng cao và tạo xuất khẩu tại chỗ như

du lịch và các dịch vụ văn hóa khác Trên địa bàn Hà Nội có trên 5.100 di tích lịch

sử - văn hóa, trong đó có trên 700 di tích được xếp hạng cấp quốc gia và trên 1.400

di tích được xếp hạng cấp tỉnh, mật độ di tích vào loại cao nhất nước.Hà Nội cónhiều danh làm thắng cảnh nổi tiếng như Cổ Loa, Văn Miếu, Hoàng thành ThăngLong, khu phố cổ, khu phố cũ, lăng chủ tịch Hồ Chí Mình, Bên cạnh đó, Hà Nộicòn có nhiều đền chùa nổi tiếng như chùa Hương, chùa Quán Sứ, chùa Kim Liên,đền Và, phủ Tây Hồ,…

Ngoài ra, Hà Nội là nơi tập trung nhiều làng nghề nổi tiếng, trong đó có cácnghề đặc sắc như : làm tranh dân gian (tranh Hàng Trống, tranh Đông Hồ); gốm sứBát Tràng; nghề làm giấy dó lụa, dệt tơ lụa ở Bưởi; nghề thêu ở Yên Thái; nghề đúcđồng Ngũ Xã; nghề chạm khảm trang trí đồ gỗ Vân Hà; nghề sản xuất đồ da ở KiêuKỵ; lụa Vạn Phúc; nón Chuông; quạt Vác; khảm trai Chuyên Mỹ; hàng mây tre PhúVinh; đồ mộc Tràng Sơn, tượng gỗ Sơn Đồng … Hiện nay, chính quyền thành phố

đã có nhiều chính sách phát triển các làng nghề truyền thống Việc phát triển cũngcần một số lượng lực lượng lao động có tay nghề Vì vậy có thể hướng những laođộng sau khi bị thu hồi đất học và tham gia vào các làng nghề , tạo thêm nhiều công

ăn việc làm cho người lao động

2.2 Thực trạng lực lượng lao động trên địa bàn Hà Nội.

2.2.1 Lực lượng lao động

Dân số của Việt Nam hiện nay là hơn 82 triệu người, trong đó có khoảng 19

Trang 28

triệu thanh, thiếu niên từ 10 đến 19 tuổi, và mỗi năm bình quân tăng thêm hơn mộttriệu người Với tốc độ tăng dân số như vậy, lao động (LĐ), việc làm luôn là vấn đềcấp bách, nhất là trong bối cảnh Việt Nam mở cửa hội nhập nền kinh tế hiệnnay.Hiện thị trường lao động Việt Nam có 45 triệu lao động, trong đó có 70% laođộng ở khu vực nông thôn Theo báo cáo gần đây nhất (tính đến ngày 23.1) của41/63 tỉnh thành, thì con số mất việc sẽ vào khoảng 80 nghìn người Các tỉnh thành

có lao động mất việc cao chính là những nơi có nhiều khu công nghiệp, khu chếxuất như TPHCM (19.000 người); Hà Nội (gần 10.000 người); Bình Dương, ĐồngNai (mỗi tỉnh khoảng từ 8.000 đến 10.000 người); Bắc Ninh, Vĩnh Phúc (mỗi nơi từ4.000 đến 5.000 người)…Dự báo, 6 tháng đầu năm 2009, dự báo sẽ có 300.000 laođộng mất việc làm 6 tháng cuối năm sẽ có thêm 100.000 người nữa rơi vào cảnhthất nghiệp

Hà Nội sau khi được mở rộng trên cơ sở hợp nhất Thủ đô Hà Nội cũ với tỉnh

Hà Tây, huyện Mê Linh (tỉnh Vĩnh Phúc) và 4 xã thuộc tỉnh Hòa Bình, quy mô dân

số lớn thứ hai toàn quốc (sau HCM), dân số Hà Nội tăng từ 3.556 nghìn người lên6.448 nghìn người Hiện nay, tỷ lệ tăng dân số tăng từ 11,69% năm 2000 lên11,75% năm 2005, đạt 12,46% năm 2008 và khoảng 12,67% năm 2009 Theo dựbáo dân số thành phố năm 2010 khoảng 6.591 nghìn người, trong đó dân số đô thịkhoảng 2.722 nghìn người, chiếm 41,3% tổng dân số Điều này khiến dân số trong

độ tuổi lao động tăng lên từ 3.571 nghìn người năm 2000 lên 4.079 nghìn ngườinăm 2009, trong đó số lao động tham gia hoạt động kinh tế là 3.114 nghìn người

Số người bước vào tuổi lao động hàng năm khoảng 80 nghìn người, số laođộng dôi dư mất việc làm do chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp 30nghìn người/năm; số người cần tìm việc hàng năm khoảng 120 nghìn người 8 thángđầu năm 2008 toàn thành phố giải quyết việc làm cho 86.483 người (đạt 70,8% kếhoạch năm), đào tạo nghề cho 57.500 người (đạt 49,1% kế hoạch) và đưa 7.118 hộthoát nghèo (đạt 54,7% kế hoạch năm) Thu nhập bình quân một lao động/thángtrong khu vực kinh tế Nhà nước do Thành phố qtăng 21,2% so cùng kỳ (do Nhànước thay đổi mức lương cơ bản từ 450 ngàn đồng lên 540 ngàn đồng) Dự kiến giaiđoạn 2006 – 2010, toàn thành phố có 612.433 người được giải quyết việc làm.Trung bình mỗi năm có 122.488 người được giải quyết việc làm Tỷ lệ thất nghiệpthành thị giảm từ 6,06% năm 2006 xuống còn 5,35% năm 2008, dự kiến năm 2010giảm còn 5,0%

Lao động Hà Nội tuy dồi dào song tỷ lệ lao động qua đào tạo mới đạt 45%,

Trang 29

trong đó lao động qua đào tao nghề đạt 23%, chất lượng lao động có trình độchuyên môn kỹ thuật phân bố không đều, chủ yếu tập trung ở các vùng đô thị, cácquận nội thành

2.2.2 Cơ cấu lao động.

- Cơ cấu lao động trên địa bàn thành phố Hà Nội đã có sự chuyển dịch theohướng tích cực, tỷ trọng lao động trong khu vực nông lâm thủy sản đã giảm mạnh

từ khoảng 46% năm 2000 xuống 36,5% năm 2005 và dự kiến còn khoảng 27,1%năm 2010 Tỷ trọng lao động khu vực công nghiệp – xây dựng tăng từ 23% năm

Năm2005

Năm2009

Năm2010

Tốc độ tăngtrưởng (%)2001-

2005

20101.Dân sô trong độ tuổi lao

2006-động

1000người

3.571 3.842 4.034 4.079 1,47 1,20

2.Dân số trong độ tuổi lao

động có khả năng lao động

1000người

3.464 3.731 3.920 3.964 1,50 1,22

3.Số người đang làm việc trong

các ngành kinh tế quốc dân

1000người

4.Số người trong độ tuổi có

khả năng lao động không có

việc làm

1000người

Nguồn: Cục thống kê thành phố.

Tuy tình trạng lao động tại Hà Nội đã có những bước chuyển biến tích cực,nhưng theo số liệu thống kê hàng năm, tình trạng thất nghiệp của Hà Nội tuy giảm

Trang 30

nhưng vẫn luôn ở mức cao nhất cả nước trong thời kỳ khủng hoảng, tình trạng thấtnghiệp có thể là một mối đe dọa đến sự ổn định trong nhiều năm về phát triển kinh

tế Hơn thế nữa, lao động bên ngoài cũng thương xuyên lao động theo mùa vụ tại

Hà Nội càng làm trầm trọng thêm sức ép về việc làm đối với Hà Nội

Theo tính toán với cả nước, để thất nghiệp dưới 5% thì tăng trưởng phải trên6,8%, dưới 4% thì tốc độ tăng trưởng phải tăng thêm 8% Do đó, Hà Nội cần phảiđảm bảo tăng trưởng trên 9% thì tỷ lệ thất nghiệp trong thời gian khoảng 10 năm sẽnằm trong khoảng 4,5% - 5,2% Nếu con số này là 7% thì tỷ lệ thất nghiệp sẽ là5,6% - 6,7% và nếu tốc độ khoảng 11% thì tỷ lệ thất nghiệp sẽ khoảng 4%

Bên cạnh việc tăng nhanh về số lượng, lực lượng lao động tại Hà Nội cũng cónhững bước tiến mới về mặt chất lượng.Công tác nâng cao chất lượng nguồn laođộng đang được các cấp, các ngành quan tâm chỉ đạo, triển khai với nhiều chươngtrình, giải pháp đồng bộ, có hiệu quả, tạo ra sự chuyển biến tích cực.Quy mô và chấtlượng đào tạo nghề từng bước đáp ứng được nhu cầu nguồn lao động cho sự pháttriển kinh tế xã hội của thủ đô

- Cơ cấu lao động và nghề đào tạo đã từng bước chuyển dịch theo nhu cầu thịtrường lao động, theo hướng dịch vụ - công nghiệp – nông nghiệp

Số lượng cơ sở dạy nghề tăng hàng năm, tính đến nay, hệ thống cơ sở dạynghề trên địa bàn thành phó có 275 cơ sở, (trong đó cơ sở doanh nghiệp công lập là

120 và ngoài công lập là 155), số cơ sở tăng thêm chủ yếu là các cơ sở doanhnghiệp ngoài công lập

Ngoài đào tạo chính quy, thành phố đã chỉ đạo tổ chức dạy nghề, truyền nghềcho 14.000 lao động nông thôn, lao động trong các làng nghề, trong đó có 3.500 laođộng chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp, 1.803 người nghèo, 1.123người tàn tật, 6.738 người cai nghiện ma tuý Nguồn lực đầu tư cho dạy nghề ngàymột tăng lên, từ năm 2006- 2008 đạt 550 tỷ đồng, trong đó thành phố tập trung đầu

tư cho tăng cường trang thiết bị dạy và học nghề, nâng cao chất lượng đội ngũ giáoviên, xây dựng, đổi mới giáo trình, chương trình giảng dạy nghề cho học sinh; tăngcường đầu tư kinh phí cho dạy nghề ngắn hạn nông thôn, người nghèo, người tàntật, người sau cai nghiện ma tuý Quỹ hỗ trợ ổn định đời sống đối với lao độngchuyển đổi mục đích sử dụng đất cũng đã được thành lập với nguồn vốn ban đầu là

50 tỷ đồng Nhờ đó, chất lượng đào tạo nghề ngày một nâng cao, tỷ lệ học sinh tốtnghiệp đạt trên 95%, tỷ lệ học sinh có việc làm sau tốt nghiệp đạt trên 70%, cónhiều trường dạy nghề đạt 100% số học sinh ra trường có việc làm

Trang 31

Theo đánh giá của người sử dụng lao động, kỹ năng nghề của lao động thủ đô

đã qua đào tạo nghề trên 30% đạt khá giỏi, gần 59% đạt loại trung bình Tỷ lệ laođộng qua đào tạo của toàn thành phố đạt 45%, trong đó lao động qua đào tạo nghềđạt 23% (tốc độ tăng 3,5% năm)

Tuy nhiên, chất lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật phân bốkhông đều, tập trung ở vùng đô thị, các quận nội thành, lao động qua đào tạo nóichung, và đào tạo nghề ở nông thôn nói riêng vẫn còn thấp, chưa đáp ứng được yêucầu của các doanh nghiệp trong thời kỳ đổi mới

2.3 Thực trạng lao động bị thu hồi đất trên địa bàn Hà Nội.

Trong những năm gần đây, đô thị hóa kéo theo sự mở rộng nhanh chóng nhucầu đất cho phát triển các khu công nghiệp tập trung, xây dựng cơ sở hạ tầng và đất

ở đô thị đã làm cho số lượng lao động trên địa bàn Hà Nội tăng lên, do những laođộng bị thu hồi đất bị mất việc làm

2.3.1 Số lượng lao động bị thu hồi đất.

Từ năm 2001-2008, Hà Nội đã triển khai 2.818 dự án đầu tư liên quan đến thuhồi đất, bình quân 1 năm Thành phố giải phóng mặt bằng gần 1000 ha Việc thu hồiđất tập trung nhiều nhất ở các quận, huyện như Hoàng Mai, Tây Hồ, Thanh Xuân,Cầu Giấy, Long Biên Sắp tới đây, nhiều xã trên địa bàn Hà Tây cũng cũng sẽ bị thuhồi phần lớn diện tích đất để thực hiện các dự án Trong đó trên 80% là đất nôngnghiệp liên quan đến 178.205 hộ dân, trong 8 năm đã có khoảng 197.000 người bịmất việc do bị thu hồi đất, con số này vẫn đang tiếp tục tăng qua các năm Tuynhiên, từ sau khi Hà Nội mở rộng, nhiều dự án đã được đề ra và phê duyệt Tính đếngiữa năm 2009, có 744 dự án thu hồi đất trên địa bàn Hà Nội , với diện tích đất làhơn 75.189ha Trong đó, chiếm tới 52% các dự án, đồ án là khu đô thị, nhà ở hỗnhợp với 389 dự án, có diện tích đất là 39.148ha, dự kiến bố trí cho số dân lên tới 2,4triệu người Có khoảng 438 dự án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt đầu tư,trong đó 213 dự án đã có quyết định thu hồi đất để lập dự án Tuy nhiên, sau khi ràsoát lại quy hoạch của Hà Nội mới, bộ xây dựng đã buộc 107 dự án phải dừng lại

Hà Nội tiến hành thu hồi, chuyển đổi đất Điều này đồng nghĩa sẽ có khoảng

20 vạn lao động phải chuyển nghề do bị mất đất sản xuất nông nghiệp Đồng thời,mỗi năm, Hà Nội thu hồi khoảng 1000 ha đất, trong đó có tới 80% đất nông nghiệp

Trang 32

Nếu tính riêng từ 2005 đến 2008, thành phố đã thu hồi 1.720ha đất Đến tháng7/2008, Hà Nội được bổ sung thêm khoảng 8.118 ha đất quy hoạch, gồm 7.155 hađất nông nghiệp và 963 ha đất phi nông nghiệp Điều này tương đương 57.580 hộdân mất đất sản xuất; 5.927 hộ phải tái định cư Trong đó, có 3,5 vạn hộ bị thu hồidiện tích đất nông nghiệp, chiếm 60% số hộ bị thu hồi đất Tổng dân số nông thônnước ta năm 2007 có 61 triệu người (chiếm 73% dân số), trong đó, tỷ lệ lao độngnông nghiệp chiếm tới 76%, còn lại là lao động tiền công và lao động phi nôngnghiệp Trong tương lai gần, tỷ lệ này buộc phải giảm xuống còn 17 triệu người.Như vậy, trung bình mỗi năm có gần 2 triệu lao động cần được đào tạo để chuyểnnghề hoặc tập trung sản xuất tại các trang trại lớn theo mô hình nông - công nghiệp.Mặc dù nhiều chính sách đã được đưa ra như bồi thường, hỗ trợ, giải quyếtviệc làm, đào tạo chuyển đổi nghề, hỗ trợ tái định cư đối với người dân bị thu hồiđất Nhưng thực tế, 67% lao động vẫn giữ nguyên nghề cũ sau khi bị thu hồi đất,13% chuyển sang nghề mới và có tới 25 – 30% không có việc làm hoặc việc làmkhông ổn định Trung bình mỗi ha đất thu hồi tại Hà Nội có tới gần 20 lao động bịmất việc làm.

2.3.2 Cơ cấu lao động

Những năm gần đây, khi có chính sách thu hồi đất, phát triển kết cấu hạ tầng,

đô thị hóa ở các địa phương thì cơ cấu lao động đã bị tác động nhất định Cơ cấungành nghề nông thôn đang có sự chuyển dịch tích cực theo hướng giảm tỷ hộnông, lâm thủy sản, tăng số hộ ở khu vực công nghiệp, dịch vụ Do đó, chính quyềnthành phố trước khi thu hồi đất đã ban hành nhiều chính sách cụ thể đối với ngườidân có đất bị thu hồi như bồi thường, hỗ trợ giải quyết việc làm, đào tạo chuyển đổinghề, hỗ trợ nghề cũ theo luật và các văn bản chỉ đạo của Chính phủ như: Nghịđịnh số 69/2009/NĐ–CP quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thuhồi đất, bồi thường, hỗ trợ tái định cư Nghị định số 56/2009/NĐ-CP về trợ giúp

phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa,… Vì vậy, đã có một số lượng lao động bị thu

hồi đất chuyển sang làm việc ở các ngành phi nông nghiệp như công nghiệp, dịch

vụ, góp phần thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng tích cực

a Cơ cấu theo tuổi và giới tính.

Trang 33

Cơ cấu theo tuổi.

Phần lớn lao động bị thu hồi đất chủ yếu dao động từ 15 -30 tuổi và từ 30 -45tuổi Về thể lực của lao động bị thu hồi đất ở độ tuổi 20 – 29, thống kê năm 2007cho thấy, chỉ có 75% số lao động có thể lực bình thường, 23,6% gầy, 1,4% thừacân Đây là nhóm tuổi được tạo nhiều việc làm nhất do ở nhóm tuổi này, khả năngtiếp thu kiến thức khoa học kỹ thuật vẫn còn khá cao, cộng thêm họ đang ở thời kỳkhỏe mạnh, sung sức nhất.Tính từ năm 2006 – 2009, có 457.300 lượt người đượcđào tạo nghề, bình quân mỗi năm có 114.325 lượt người được đào tạo nghề (hệ caođẳng nghề và trung tâm nghề chiếm 37,5%, sơ cấp nghề chiếm 62,5%) Số lượtngười qua đào tạo nghề tăng từ 98.500 lượt người năm 2006 dự kiến lên đến145.000 lượt người năm 2010

Bảng 2.3 Kết quả giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất theo tuổi.

Theo Sở Lao động – Thương binh và xã hội Hà Nội.

Hiện những lao động bị thu hồi đất có trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuậtthấp so với mặt bằng chung Bên cạnh đó, vấn đề đào tạo lao động cho kịp với yêucầu của các doanh nghiệp trong tiến trình phát triển công nghiệp, dịch vụ hiện naycũng rất khó khăn Trên 83% số lao động bị thu hồi đất chưa từng qua trường lớpđào tạo chuyên môn kỹ thuật nào, khoảng 18,9% số lao động bị thu hồi đất trình độvăn hóa tiểu học Vì vậy, chính quyền thành phố đã đề ra một số biện pháp khuyếnkhích người lao động bằng cách hỗ trợ kinh phí trong quá trình đào tạo cũng nhưgiúp người lao động tìm được việc làm sau khi được đào tạo

Cơ cấu theo giới tính.

Hiện nay, số lượng nam giới và nữ giới sau khi bị thu hồi đất có nhu cầu giải quyếtviệc làm là xấp xỉ như nhau Tuy nhiên, số lượng lao động sau khi bị thu hồi đất là

Trang 34

nam giới thường dễ dàng giải quyết việc làm hơn nữ giới Trên thực tế, sau khi bịthu hồi đất,trong tổng số lao động tìm được việc làm mới, thì nam giới chiếm66,6%, gấp đôi nữ giới Điều này là do nam giới thường có sức khỏe hơn nữ giới,

có thể tham gia vào nhiều hoạt động nặng nhọc Đồng thời, xét về trình độ kiếnthức, lao động nam giới bị thu hồi đất thường có học thức cao hơn nữ giới Vì vậylao động là nữ giới thường gặp khá nhiều khó khăn trong tìm việc Vì vậy, nhà nước

đã đề ra các chính sách hỗ trợ, ưu đãi giúp cho lao động nữ dễ dàng tìm kiếm việchơn Ngoài ra, khuyến khích lao động nữ tham gia vào các lớp học, trung tâm dạynghề như dệt may hoặc tham gia học nghề thủ công,…

b Cơ cấu theo ngành kinh tế.

Với mục đích chuyển dịch thành phần cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng côngnghiệp – xây dựng, dịch vụ, giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp, chính quyền địaphương từ đó đã giải quyết việc làm cho những người lao động bị thu hồi đất theohướng này:

- Khu vực công nghiệp: 52,5%

- Khu vực dịch vụ: 41,4%

- Khu vực nông nghiệp 6,1%

Biểu đồ 2.1.Cơ cấu việc làm mới theo ngành kinh tế.

Ngày đăng: 10/04/2013, 11:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. PSG.TS. Ngô Thắng Lợi, Giáo trình Kế hoạch hóa phát triển KT- XH , NXB Đại học Kinh Tế Quốc Dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kế hoạch hóa phát triển KT- XH
Nhà XB: NXB Đại học Kinh Tế Quốc Dân
2. Quy hoạch tổng thể thành phố Hà Nội đến năm 2030 Khác
3. Số liệu tổng cục thống kê năm 2008 Khác
4. Kế hoạch phát triển kinh tế 5 năm 2006 – 2010 Khác
6. Tạp chí kinh tế và phát triển Khác
7. Các trang Web của Sở kế hoạch và đầu tư Hà Nội; Sở Lao động thương binh xã hội Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2 Một số chỉ tiêu về lao động. - Giải pháp tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hà Nội
Bảng 2.2 Một số chỉ tiêu về lao động (Trang 27)
Bảng 2.4. Kết quả giải quyết việc làm 5 năm 2006 -2010. - Giải pháp tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hà Nội
Bảng 2.4. Kết quả giải quyết việc làm 5 năm 2006 -2010 (Trang 36)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w