1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bài soạn ôn thi môn triết học cao học kinh tế

24 320 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 408,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ý thức của con người tồn tại trước hết trong bộ óc của con người và sau đó, thông qua thực tiễn lao động, nó tồn tại trong các vật phẩm do con người sáng tạo ra vật chất xã hội – vật chấ

Trang 1

BÀI SOẠN ÔN THI MÔN TRIẾT HỌC

CÂU 1: ANH ( CHị ) HÃY PHÂN TÍCH CƠ SỞ LÝ LUẬN, CÁC YÊU CẦU PHƯƠNG PHÁP LUẬN CủA NGUYÊN TẮC KHÁCH QUAN CỦA CNDVBC ĐẢNG CSVN ĐÃ VÀ ĐANG VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC NÀY NHƯ THẾ NÀO VÀO SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG HIỆN NAY Ở NƯỚC TA?

Phương pháp luận: Phương pháp chỉ dẫn con người nhận thức đúng đắng và hoạt động có hiệu quả

1.1 Nguyên tắc khách quan

Cơ sở khoa học: xuất phát từ quan điểm thế giới quan duy vật biện chứng trong việc giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức và cho rằng vật chất có trước và quyết định ý thức Như vậy, thực

chất của nguyên tắc khách quan là coi trọng vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức

Nguyên tắc khách quan có những yêu cầu sau đây trong nhận thức và trong hoạt động thực tiễn con người không được xuất phát từ ý muốn chủ quan, không được lấy ý muốn chủ quan của mình làm chính sách, không được lấy ý chí áp đặt cho thực tế, không được lấy ảo tưởng thay cho thực tế Mà phải xuất phát từ bản thân sự vật, từ thực tế khách quan, từ cuộc sống để giải quyết những vấn đề

do cuộc sống đặt ra và phải phản ảnh một cách trung thành như cái vốn có của sự vật

Mặt khác, phải tôn trọng và hành động theo các quy luật khách quan

2/ Vận dụng vào sự nghiệp CM hiện nay

a / Phải tôn trọng hiện thực khách quan, tôn trọng vai trò quyết định của vật chất Cụ thể

- Tôn trọng các quy luật khách quan và những điều kiện cụ thể của đất nước để hoạch định các đường lối, chiến lược, chính sách xây dựng phát triển đất nước

VD: đất nước Việt Nam dài từ Tam Quan đến mũi Cà Mau chia làm 3 phần: Bắc, Trung, Nam Miền Trung: điều kiện sinh hoạt vật chất ở miền Trung rất khổ nên nó quyết định ý chí của cư dân miền trung Từ đó cho thấy người MT có ý chí nhất trong các miền

Miền Nam: khóang đạt rộng rải hết mình

MT và MB:Tự nhiên: đất hẹp, người đông.Thời tiết: khô cằn, khó sản xuất

MB: thấy rõ 4 mùa nhưng khắc nghiệt cho sản xuất nông nghiệp

- Phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của nhà nước và tính chủ động sáng tạo của quần chúng Coi cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, coi đại đoàn kết dân tộc là động lực chủ yếu phát triển đất nước Biết kết hợp hài hòa các dạng lợi ích khác nhau (lợi ích kinh tế, lợi ích chính trị; lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần; lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể, lợi ích xã hội ) thành động lực mạnh mẽ thúc đẩy công cuộc Đổi mới

VD: muốn qui hoạch cho đúng đắng chí của những người có chức có quyền cũng ko nên quy hoạch theo nhiệm kỳ, quy hoạch ấy phải xuất phát từ quy mô của dân số, xuất phát từ công ăn việc làm của cán bộ nhân dân Đa dạng các hình thức sở hữu phải tôn trọng quan hệ sản xuất, phải phù hợp với trình độ

Ví dụ: xây dựng đường lối phát triển kinh tế phải xuất phát từ trình độ lực lượng sản xuất Đô thị nham nhở vì qui hoạch theo nhiệm kỳ, và phụ thuộc vào người có quyền; phân luồng giao thông

Trang 2

VN vì bỏ qua giai đoạn chủ nghĩa Tư bản nên mất vật chất – kỷ thuật, pháp luật, quản lý xã hội=> phải tuân theo chứ không nên bỏ qua nhữngquy luật trên

- Khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí, phải coi trọng vai trò lãnh đạo của Đảng, không ngừng phát huy vai trò của nhà nước trong qúa trình xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN Rút

ra những bài học kinh nghiệm từ những sai lầm, thất bại trước Đổi mới, Đảng đã kết luận “ Mọi đường lối chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan”

VD: - Lê Nin giáo huấn không được lấy ý muốn chủ quan của mình làm chính sách, không được lấy tình cảm làm đường lối chiến lược của CM

- Đảng CSVN “mọi đường lối chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế”

- Phát huy tính năng động chủ quan, chống CN duy ý chí (phát huy tính tích cực, năng động, sáng tạo của ý thức và phát huy vai trò nhân tố con người)

VD: ông nông dân ở ĐBSCL mà ra miền Trung sẽ thất bại ngay vì điều kiện đã thay đổi Nhưng kỹ

sư sẽ không thất bại nếu trồng một giống lúa không được đem vào phòng thí nghiệm sau vài tiếng

sẽ biết ngay lý do trong khi người nông dân không có lý luận thì không biết

b / Phát huy tính năng động , sáng tạo của ý thức, phát huy vai trò của các yếu tố chủ quan (tri thức, tình cảm, ý chí, lý trí ) tức phát huy vai trò nhân tố con người trong hoạt động nhận thức

và thực tiễn cải tạo đất nước Cụ thể:

- Coi sự thống nhất giữa tình cảm (nhiệt tình cách mạng, lòng yêu nước, ý chí quật cường ) và tri

thức (kinh nghiệm dựng nước và giữ nước, hiểu biết khoa học – kỹ thuật/ công nghệ hiện đại ) là động lực tinh thần thúc đẩu công cuộc đổi mới Chống lại thái độ thụ động, ỷ lại, bảo thủ trì trệ chỉ biết làm theo kiểu cũ , mà không biết tìm kiếm cái mới và dũng cảm làm theo cái mới Cần bồi

dưỡng nhiệt tình, phẩm chất cách mạng ; cần khởi dậy lòng yêu nước , ý chí quật cường, tài trí người

VN Phải phổ biến tri thức khoa học – công nghệ hiện đại cho đông đảo cán bộ, Đảng viên và nhân dân; phải biết nâng cao dân trí, bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài

- Coi trọng công tác tư tưởng, đẩy mạnh giáo dục tư tưởng, đặc biệt là giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh cho đông đảo người VN chúng ta Phải nâng cao và đổi mới tư duy

lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở VN

- Bản chất của ý thức có sự năng động sáng tạo Ý thức là ý thức con người , bản thân ý thức không thể thay đổi hiện thực mà nó chỉ tác động lại thông qua tác động của con người; ý thức không phải

ở chỗ nó trực tiếp tạo ra hiện thực mà ở chỗ nó trang bị cho con người tri thức về bản chất các quy luật khách quan => con người cần xác định mục tiêu, đề ra phương pháp hành động cho phù hợp

Do ý thức có vai trò như vậy cho nên phải kiên quyết khắc phục và ngăn ngừa tái diễn bệnh chủ quan, duy ý chí, lối suy nghĩ, hành động giản đơn, nóng vội chạy theo chủ nghĩa nguyện vọng chủ quan ảo tưởng (cho dù là rất tốt đẹp) mà bất chấp quy luật khách quan, coi thường tình hình thực tế của đất nước, điều kiện của thời đại

CÂU 2: BẰNG LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN, A/C HÃY CHỨNG MINH RẰNG: “Ý THỨC CON NGƯỜI KHÔNG CHỈ PHẢN ÁNH THẾ GIỚI MÀ CÕN GÓP PHẦN SÁNG TẠO RA THẾ GIỚI”

Trang 3

Ý thức là một trong hai phạm trù thuộc vấn đề cơ bản của triết học Nó là hình thức cao của sự phản ánh của thực tại khách quan, hình thức mà riêng con người mới có Ý thức của con người là cơ năng của cái “ khối vật chất đặc biệt phức tạp mà người ta gọi là bộ óc con người” (theo LêNin)

Ý thức của con người tồn tại trước hết trong bộ óc của con người và sau đó, thông qua thực tiễn lao động, nó tồn tại trong các vật phẩm do con người sáng tạo ra (vật chất xã hội – vật chất mang/chứa ý thức) Ý thức bao gồm nhiều yếu tố như tri thức, tình cảm, niềm tin, lý trí, ý chí… Trong đó, tri thức (yếu tố cốt lõi) và tình cảm có vai trò rất quan trọng Tri thức và tình cảm thống nhất, chuyển hoá lẫn nhau; sự thống nhất của chúng tạo ra động lực tinh thần mạnh mẽ thúc đẩy hoạt động của con người, góp phần làm cho con người trở thành chủ thể sáng tạo ra lịch sử

Thông qua hoạt động thực tiễn, mà trước hết là thực tiễn lao động, ý thức con người xâm nhập vào hiện thực vật chất, nhờ đó, nó có được sức mạnh của cái tinh thần Dựa trên sức mạnh này, ý thức tác động đến thế giới, góp phần làm cho thế giới biến đổi Ý thức con người không chỉ phản ánh thế giới mà còn góp phần sáng tạo nên thế giới theo nhu cầu thực tiễn xã hội

Tính sáng tạo của ý thức thể hiện ra rất phong phú Trên cơ sở những cái đã có trước, ý thức

có khả năng tạo ra tri thức mới về sự vật, có thể tưởng tượng ra cái không có trong thực tế, có thể tiên đoán, dự báo tương lai, có thể tạo ra những ảo tưởng, những huyền thoại, những giả thuyết khoa học hết sức trừu tượng và khái quát cao Những khả năng ấy càng nói lên tính chất phức tạp và phong phú của đời sống tâm lý – ý thức ở con người mà khoa học còn phải tiếp tục đi sâu nghiên cứu để làm sáng tỏ bản chất của những hiện tượng ấy

Ý thức ra đời trong quá trình con người hoạt động cải tạo thế giới, cho nên quá trình phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc người là quá trình năng động sáng tạo, thống nhất 3 mặt sau:

khi phản ánh thế giới khách quan thì con người lựa chọn thông tin để tiếp nhận; con người có thể nghĩ ra, tưởng tượng ra những biểu tượng, những giả thuyết mới trên cơ sở những cái đã có

hình hoá đối tượng trong tư duy dưới dạng hình ảnh tinh thần Thực chất, đây là quá trình “ sáng tạo lại” hiện thực của ý thức theo nghĩa: mã hoá các đối tượng vật chất tạo thành các ý tưởng tinh thần phi vật chất

chuyển mô hình từ tư duy ra hiện thực khách quan, tức quá trình hiện thực hoá tư tưởng, thông qua hoạt động thực tiễn biến cái quan niệm thành cái thực tại, biến các ý tưởng phi vật chất trong tư duy thành các dạng vật chất ngoài hiện thực Trong giai đoạn này, con người lựa chọn những phương pháp, phương tiện, công cụ để tác động vào hiện thực khách quan nhằm thực hiện mục đích của mình

Tính sáng tạo của ý thức là sáng tạo của sự phản ánh, theo quy luật của sự phản ánh mà kết quả bao giờ cũng là những khách thể tinh thần Sáng tạo và phản ánh là hai mặt thuộc bản chất ý thức Vai trò to lớn của ý thức trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người

- Tác động của ý thức xã hội đối với con người là vô cùng to lớn Nó không những là kim chỉ nam cho hoạt động thực tiễn mà còn là động lực thực tiễn Trên cơ sở đó, con người mới xác định mục tiêu, đề ra phương hướng hoạt động cho phù hợp và cuối cùng bằng nỗ lực và ý chí của con người mà con người thực hiện thành công mục tiêu xác định

VD: xác định mục tiêu quá cao: phiêu lưu; quá thấp: không huy động hết lực lượng sản xuất

Trang 4

Sự thành công hay thất bại của thực tiễn, tác động tích cực hay tiêu cực của ý thức đối với

sự phát triển của tự nhiên, xã hội chủ yếu phụ thuộc vào vai trò chỉ đạo của ý thức mà biểu hiện ra

là vai trò của khoa học, văn hoá và tư tưỏng

Nền kinh tế của nước ta từ một điểm xuất phát thấp, tiềm lực kinh tế- kỹ thuật yếu, trong điều kiện sự biến đổi khoa học- công nghệ trên thế giới lại diễn ra rất nhanh, liệu nước ta có thể đạt được những thành công mong muốn trong việc tạo ra nền khoa học- công nghệ đạt tiêu chuẩn quốc

tế trong một thời gian ngắn hay không? Chúng ta phải làm gì để tránh được nguy cơ tụt hậu so với các nước trong khu vực và trên thế giới? Câu hỏi này đặt ra cho chúng ta một vấn đề đó là sự lựa chọn bước đi và trật tự ưu tiên phát triển khoa học- công nghệ trong quan hệ với phát triển kinh tế trong các giai đoạn tới Như vậy có nghĩa là ta cần phải có tri thức vì tri thức là khoa học Chúng ta phải không ngừng nâng cao khả năng nhận thức cho mỗi người Tuy nhiên nếu tri thức không biến thành niềm tin và ý chí thì tự nó cũng không có vai trò gì đối với đời sống hiện thực cả Chỉ chú trọng đến tri thức mà bỏ qua công tác văn hoá- tư tưởng thì sẽ không phát huy được thế mạnh truyền thống của dân tộc Chức năng của các giá trị văn hoá đã đem lại chủ nghĩa nhân đạo, tính đạo đức Không có tính đạo đức thì tất cả các dạng giá trị ( giá trị vật chất và tinh thần) sẽ mất đi mọi ý nghĩa Còn cách mạng tư tưởng góp phần làm biến đổi đời sống tinh thần- xã hội, xây dựng mối quan hệ tư tưởng, tình cảm của con người với tư cách là chủ thể xây dựng đời sống tinh thần và tạo ra được những điều kiện đảm bảo sự phát triển tự do của con người.Mà có tự do thì con người mới có thể tham gia xây dựng đất nước

Như vậy, ý thức mà biểu hiện trong đời sống xã hội là các vấn đề khoa học- văn hoá- tư tưởng có vai trò vô cùng quan trọng Tìm hiểu về ý thức và tri thức để có những biện pháp đúng đắn tạo điều kiện cho sự phát triển toàn diện xã hội

CÂU 3: BẰNG LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN, A/C HÃY CHỨNG MINH RẰNG: TRONG MỌI THỜI ĐẠI, NHỮNG TU TƯỞNG CỦA GIAI CẤP THỐNG TRỊ LÀ NHỮNG TƯ TƯỞNG THỐNG TRỊ ĐIỀU ĐÓ CÓ NGHĨA LÀ GIAI CẤP NÀO LÀ LỰC LƯỢNG VẬT CHẤT THỐNG TRỊ TRONG XÃ HỘI THÌ CŨNG LÀ LỰC LƯỢNG TINH THẦN THỐNG TRỊ TRONG XÃ HỘI”

Về mặt lý luận: những giai đoạn sản xuất xã hội khác nhau thì sản sinh ra những kiểu đời

sống xã hội khác nhau Yếu tố cốt lõi của nền sản xuất vật chất của xã hội là phương thức sản xuất phương thức sx quyết định mọi quá trình sinh hoạt của đời sống xã hội tồn tại xh quyết định ý thức

xh

Nền sx vật chất là quá trình con người sử dụng công cụ lao động do mình làm ra, tác động, cải biến các dạng vật chất của giới tự nhiên, nhằm tạo ra những vật phẩm thỏa mãn nhu cầu tồn tại

& phát triển của con người Nền sx vật chất được thông qua quá trình lao động của con người, diễn

ra trong từng giai đoạn lịch sử khác nhau, gắn liền với phương thức sx vật chất (cách thức con người ở một giai đoạn lịch sử nhất định thực hiện quá trình sx tạo ra của cải vật chất nhằm thỏa mãn nhu cầu tồn tại & phát triển của XH) khác nhau Phương thức sx là sự thống nhất của lực lượng sx (quan hệ giữa con người với tự nhiên trong sx) & quan hệ sx (quan hệ giữa con người với con

Trang 5

người trong sx) Sự thay đổi của lực lượng sx đến 1 lúc nào đó sẽ làm thay đổi quan hệ sx, tức thay đổi phương thức sx

Sự thay đổi của quan hệ sx sẽ làm thay đổi mọi quan hệ, mọi mặt của đời sống XH từ

kinh tế - cơ sở hạ tầng (toàn bộ các quan hệ sx hợp lại thành kết cấu kinh tế của xã hội ở một giai đoạn nhất định) đến chính trị - kiến trúc thượng tầng (toàn bộ các quan điểm về chính trị, tôn giáo, pháp quyền…; các thiết chế xã hội tương ứng như nhà nước, đảng phái, giáo hội… được hình thành trên cơ sở hạ tầng nhất định), từ lĩnh vực vật chất – tồn tại xh (toàn bộ đời sống vật chất của xh ở 1 giai đoạn lịch sử nhất định) đến lĩnh vực tinh thần – ý thức xã hội (toàn bộ đời sống tinh thần của xh phản ánh tồn tại xh ở 1 giai đoạn phát triển nhất định (quan điểm, tư tưởng, tâm trạng, truyền thống…)

Do đó, Trong mọi thời đại, những tư tưởng của giai cấp thống trị là tư tưởng thống trị Điều đó có nghĩa là giai cấp nào là lực lượng vật chất thống trị trong xã hội thì cũng là lực lượng tinh thần thống trị trong xã hội

Về mặt thực tiễn:

Trong lịch sử, từ xa xưa cho đến nay, vẫn thường xuyên xảy ra những cuộc chiến tranh tàn khốc mà thoạt nhìn, chúng ta dễ lầm tưởng đó là những cuộc chiến tranh thuần túy vì những tư tưởng nào đó (thuần túy vì tôn giáo, vì độc lập dân tộc, vì tự do, vì nhân nghĩa ) Thực ra thì không phải như vậy Nguyên nhân xâu sa của mọi cuộc chiến tranh giữa người và người là sự tranh giành các tư liệu sinh hoạt (thức ăn, thức uống, nhà ở, quần áo ) Tranh giành về tư tưởng nào đó nếu có thì chỉ là nguyên nhân phái sinh chứ không phải là nguyên nhân sâu xa của các cuộc chiến tranh

Do đó chúng ta thấy rằng mọi cuộc đấu tranh trong nội bộ nhà nước, đấu tranh giữa phái dân chủ, phái quý tộc và phái quân chủ, đấu tranh cho quyền bầu cử chẳng qua chỉ là những hình thức hư

ảo của những cuộc đấu tranh thực sự giữa các giai cấp khác nhau (đã được chỉ ra cho họ một cách khá rõ trong "Deutsch - Französische Jahrbücher" và trong "Gia đình thần thánh") Thông thường,

để gây ra một cuộc chiến tranh thì người gây chiến phải tìm một lý do tư tưởng nào đó, tức là phải coi cuộc chiến chiến tranh ấy là “hợp lý”, “có giá trị phổ biến” Điều này cũng đúng đối với các hành vi bạo lực của nhà nước dùng để trấn áp sự phản kháng của những người không chấp hành pháp luật của nhà nước “Thật ra, mỗi giai cấp mới thay thế cho giai cấp thống trị trước mình, muốn thực hiện được mục đích của mình, đều nhất thiết phải biểu hiện lợi ích của bản thân mình thành lợi ích chung của mọi thành viên trong xã hội hay nói một cách trừu tượng: phải gắn cho những tư tưởng của bản thân mình một hình thức phổ biến, phải biểu hiện những tư tưởng đó thành những tư tưởng duy nhất hợp lý, duy nhất có giá trị phổ biến Nhà nước tư sản “chẳng phải là cái gì khác mà chỉ là hình thức tổ chức mà những người tư sản buộc phải dùng đến để bảo đảm lẫn nhau

sở hữu và lợi ích của họ, ở ngoài nước cũng như ở trong nước”, “nhà nước là hình thức mà các cá nhân thuộc một giai cấp thống trị dùng để thực hiện lợi ích chung của họ và là hình thức dưới đó toàn bộ xã hội công dân của một thời đại được biểu hiện một cách tập trung”

Ví dụ:

-Đồng minh chống những đạo luật về ngũ cốc do các chủ xưởng ở Man-se-xtơ là Cốp-đen

và Brai-tơ lập ra Cái gọi là những đạo luật về ngũ cốc nhằm hạn chế hoặc cấm chỉ nhập khẩu ngũ

Trang 6

cốc, được thi hành ở Anh vì lợi ích của bọn đại địa chủ - bọn địa chủ quý tộc Đề ra yêu sách đòi hoàn toàn tự do mậu dịch, Đồng minh đòi huỷ bỏ những đạo luật về ngũ cốc nhằm mục đích hạ thấp tiền công của công nhân và làm suy yếu địa vị kinh tế và chính trị của bọn quý tộc ruộng đất Trong cuộc đấu tranh chống bọnđịa chủ, Đồng minh đã tìm cách lợi dụng quần chúng công nhân Nhưng chính thời gian đó, những công nhân tiên tiến của nước Anh đã bước lên con đường của một phong trào công nhân độc lập đã định hình về phương diện chính trị (phong trào Hiến chương).Cuộc đấu tranh giữa giai cấp tư sản công nghiệp và tầng lớp quý tộc ruộng đất về vấn đề những đạo luật về ngũ cốc đã kết thúc bằng việc thông qua vào năm 1846 dự luật huỷ bỏ những đạo

luật về ngũ cốc.(chú thích của Nxb Chính trị Quốc gia)

-Với sự xuất hiện của công trường thủ công không còn bị sự ràng buộc của phường hội thì những quan hệ sở hữu cũng lập tức biến đổi Cùng một lúc với sự ra đời của công trường thủ công,

là thời kỳ có nhiều người đi lang thang vì các đội hộ vệ võ trang của phong kiến đã bị bãi bỏ, và những đội quân mà người ta đã tập hợp lại và được bọn vua chúa dùng để chống lại những chư hầu của chúng, đã bị giải tán, vì nghề làm ruộng được cải tiến và những vùng đất cày cấy rộng lớn bị biến thành bãi chăn nuôi Do đó chúng ta cũng đã thấy rõ rằng tình trạng lang thang ấy gắn liền với

sự tan rã của chế độ phong kiến Sau khi họ bị đẩy đến tình trạng thiếu thốn cùng cực thì người ta mới buộc được họ lao động và làm được như vậy thì cũng gặp phải những khó khăn rất lớn và còn phải khắc phục sự chống đối lâu dài Sự phát đạt nhanh chóng của những công trường thủ công, đặc biệt là ở Anh, đã dần dần thu hút họ

Với sự ra đời của công trường thủ công, các dân tộc khác nhau bắt đầu cạnh tranh với nhau, tiến hành cuộc đấu tranh thương nghiệp bằng chiến tranh, chế độ thuế quan bảo hộ và những chế độ cấm đoán, không như trước kia khi quan hệ với nhau họ tiến hành những cuộc trao đổi vô hại với nhau Từ nay, thương nghiệp đã mang ý nghĩa chính trị

Sự phát triển của thương nghiệp và của công trường thủ công đẩy nhanh việc tích luỹ tư bản hoạt động, Quan hệ giao tiếp giữa các dân tộc mang hai hình thức khác nhau Ban đầu số lượng vàng và bạc lưu thông ít ỏi dẫn đến việc cấm xuất khẩu những kim loại đó; mặt khác, công nghiệp,

mà đại bộ phận được du nhập từ ngoài vào, trở nên cần thiết để có việc làm cho dân số ngày một tăng của thành thị, thì không thể không cần đến những đặc quyền, dĩ nhiên là để có thể không những chống lại sự cạnh tranh bên trong mà chủ yếu là chống lại sự cạnh tranh bên ngoài Nhờ những sự cấm đoán ban đầu đó, những đặc quyền phường hội có tính địa phương được mở rộng ra cho cả nước Thuế quan bắt nguồn từ những khoản cống nạp mà bọn chúa phong kiến bắt các thương nhân đi qua lãnh thổ mình phải nộp để khỏi bị cướp bóc, khoản thuế đó sau này cũng được thành thị đặt ra, và khi các nhà nước hiện đại xuất hiện thì khoản đó trở thành thủ đoạn thuận tiện nhất để thu tiền cho kho bạc

Sự xuất hiện của vàng bạc Mỹ trên thị trường châu Âu, sự phát triển dần dần của công nghiệp, bước tiến nhanh chóng của thương nghiệp và những hậu quả của nó, tức là sự phát đạt của giai cấp tư sản ngoài phường hội và tiền được lưu thông ngày càng rộng rãi, - tất cả những cái đó làm cho những biện pháp nói trên có một ý nghĩa khác Nhà nước ngày càng khó mà không cần đến tiền, bây giờ nó phải duy trì việc cấm xuất khẩu vàng bạc vì những lý do tài chính; bọn tư sản -

Trang 7

những kẻ mà đối với chúng số lượng tiền bạc vừa được tung ra thị trường ấy đã trở thành đối tượng chủ yếu để đầu cơ, - đều hoàn toàn thoả mãn; những đặc quyền trước kia trở thành một nguồn thu nhập của chính phủ và được đem bán lấy tiền; trong luật lệ thuế quan, xuất hiện thuế xuất khẩu, loại thuế chỉ gây trở ngại cho sự phát triển của công nghiệp và nhằm những mục đích tài chính đơn thuần

Thời kỳ thứ hai bắt đầu từ giữa thế kỷ XVII và kéo dài đến gần cuối thế kỷ XVIII Thương nghiệp và hàng hải phát triển nhanh hơn công trường thủ công; công trường thủ công chỉ còn đóng vai trò thứ yếu; thuộc địa bắt đầu trở thành những khách hàng tiêu thụ lớn; qua những cuộc chiến đấu lâu dài, các nước chia nhau thị trường thế giới đã được mở ra Thời kỳ này mở đầu bằng những luật hàng hải và những độc quyền ở thuộc địa Cạnh tranh giữa các dân tộc được người ta ra sức ngăn chặn bằng những thuế suất, những điều cấm đoán, những hiệp nghị; và rút cục lại cuộc cạnh tranh được tiến hành và giải quyết bằng chiến tranh, (nhất là bằng chiến tranh trên mặt biển) Cường quốc mạnh nhất trên mặt biển, nước Anh, chiếm ưu thế về thương nghiệp và công trường thủ công Như vậy là đã có sự tích tụ những thứ đó vào độc một nước

Công trường thủ công được luôn luôn bảo vệ trên thị trường trong nước bằng thuế quan bảo

hộ, trên thị trường thuộc địa bằng độc quyền, và trên thị trường ngoài nước bằng thuế quan chênh lệch Người ta bảo hộ việc chế biến những nguyên liệu sản xuất trong nước (len và lanh ở Anh, tơ ở Pháp), cấm xuất khẩu nguyên liệu sản xuất trong nước (len ở Anh), coi nhẹ hoặc hoàn toàn cấm việc chế biến nguyên liệu nhập khẩu (bông ở Anh) Như vậy, dĩ nhiên là nước chiếm ưu thế về thương nghiệp hàng hải và về thế lực thuộc địa bảo đảm được cho mình sự phát triển cao nhất, cả

về lượng lẫn về chất, của công trường thủ công Công trường thủ công hoàn toàn không thể thiếu sự bảo hộ, vì một sự thay đổi nhỏ nhất trong các nước khác cũng đủ làm cho nó mất thị trường tiêu thụ

và có thể suy sụp; vì nếu người ta dễ dàng du nhập công trường thủ công vào trong một nước trong những điều kiện ít nhiều thuận lợi, thì cũng chính vì thế mà người ta dễ phá hủynó Đồng thời, do phương thức kinh doanh của nó, nhất là phương thức kinh doanh của nó ở nông thôn trong thế kỷ XVIII, công trường thủ công gắn chặt với những điều kiện sinh hoạt của đông đảo quần chúng đến mức không một nước nào dám liều đụng đến sự tồn tại của nó bằng cách cho phép cạnh tranh tự do

Do đó chừng nào nó xuất khẩu được sản phẩm thì công trường thủ công hoàn toàn lệ thuộc vào sự

mở rộng hay sự hạn chế của thương nghiệp, và nó tác động trở lại thương nghiệp một cách tương đối yếu Điều đó nói lên ý nghĩa thứ yếu của công trường thủ công và cũng nói lên ảnh hưởng của thương nhân hồi thế kỷ XVIII Chính thương nhân, và đặc biệt những chủ tàu biển, là những người tha thiết đòi hỏi, hơn ai hết, sự bảo hộ của nhà nước và những độc quyền; đành rằng những chủ công trường thủ công cũng đòi và đã đạt được sự bảo hộ đó, nhưng về mặt ý nghĩa chính trị thì bao giờ họ cũng đứng sau thương nhân Những thành phố thương nghiệp, đặc biệt những thành phố ven biển, đã đạt tới trình độ tương đối văn minh và trở thành những thành phố của giai cấp tư sản lớn, trong khi đó thì trong các thành phố công xưởng, thế lực tự phát tiểu tư sản vẫn tiếp tục ngự trị Xem Ây-kin, chẳng hạn16 Thế kỷ XVIII là thế kỷ thương nghiệp Về điểm này, Pin-tô nói rõ ra rằng17: "Thương nghiệp là con cưng của thế kỷ" và "ít lâu nay, người ta chỉ nói đến thương nghiệp, đến hàng hải và đến đội tàu biển"

Trang 8

Thời kỳ này còn có đặc điểm là sự bãi bỏ việc cấm xuất khẩu vàng bạc, là sự ra đời của việc buôn bán tiền tệ, của ngân hàng, của quốc trái, của tiền giấy, của đầu cơ cổ phiếu và chứng khoán,

là việc đầu cơ mọi thứ hàng, là sự phát triển hệ thống tiền tệ nói chung Tư bản lại mất thêm một phần lớn tính chất tự nhiên ban đầu mà nó hãy còn mang theo.Sự tập trung của thương nghiệp và của công trường thủ công vào một nước, nước Anh, tăng lên không ngừng từ thế kỷ XVII, đã dần dần tạo ra cho nước đó một thị trường thế giới tương xứng, và do đó cũng tạo ra một nhu cầu về sản phẩm công trường thủ công của Anh mà những lực lượng sản xuất công nghiệp trước kia không thoả mãn được nữa Nhu cầu vượt quá những lực lượng sản xuất ấy chính là động lực đưa đến thời

kỳ phát triển thứ ba, kể từ thời trung cổ, của sở hữu tư nhân, bằng cách tạo ra công nghiệp lớn - việc

sử dụng những lực lượng tự nhiên vào mục đích công nghiệp, việc sản xuất bằng máy móc và phân công lao động rộng rãi nhất Những điều kiện khác của giai đoạn mới đó - như tự do cạnh tranh ở trong nước, việc hoàn thiện cơ học lý thuyết (môn cơ học mà Niu-tơn hoàn thành, là khoa học phổ cập nhất ở Pháp và Anh hồi thế kỷ thứ XVIII nói chung), v.v - đã có ở Anh rồi (Còn tự do cạnh tranh trong nước thì ở đâu cũng phải thông qua cách mạng mới giành được - năm 1640 và 1688 ở Anh, năm 1789 ở Pháp) Chẳng bao lâu, cạnh tranh buộc những nước muốn giữ vai trò lịch sử của mình phải dùng đến những biện pháp thuế quan mới để bảo vệ công trường thủ công của mình (vì những thuế quan cũ không còn đủ để chống lại công nghiệp lớn nữa) và sau đó buộc phải thực hiện công nghiệp lớn dưới sự bảo hộ của thuế quan bảo hộ Mặc dù đã có những biện pháp bảo hộ đó, công nghiệp lớn vẫn làm cho cạnh tranh trở thành phổ biến (cạnh tranh chính là tự do mậu dịch thực tế, trong đó những thuế quan bảo hộ chỉ là thủ đoạn nhất thời, là vũ khí phòng ngự trong phạm

vi của tự do mậu dịch), công nghiệp lớn tạo ra những phương tiện giao thông và thị trường thế giới hiện đại, đặt thương nghiệp dướisự thống trị của mình, biến mọi tư bản thành tư bản công nghiệp và

do đó sản sinh ra sự lưu thông nhanh chóng (hệ thống tiền tệ phát triển) và sự tập trung của tư bản Bằng biện pháp cạnh tranh phổ biến, công nghiệp lớn buộc tất cả các cá nhân phải sử dụng toàn bộ tinh lực của mình một cách cực kỳ khẩn trương Hễ có thể làm được thì nó ra sức thủ tiêu hệ tư tưởng,tôn giáo, đạo đức, v.v., còn khi không thể làm được việc đó thì nó biến những thứ đó thành những điều dối trá trắng trợn Chính nó đã lần đầu tiên tạo ra lịch sử thế giới, khi nó làm cho mỗi nước văn minh và mỗi cá nhân trong nước đó muốn thoả mãn nhu cầu của mình thì phải phụ thuộc vào toàn thế giới và khi nó thủ tiêu tính biệt lập trước kia hình thành một cách tự nhiên của các nước riêng lẻ Nó bắt khoa học tự nhiên phải phục tùng tư bản và làm cho phân công lao động mất hết những vết tích cuối cùng của tính chất tự nhiên của nó Nói chung, nó xoá bỏ tính chất tự nhiên trong chừng mực nó có thể làm được điều đó trong phạm vi lao động và đã biến tất cả những quan

hệ tự nhiên thành những quan hệ tiền bạc Thay cho những thành thị hình thành một cách tự nhiên trước kia, nó tạo ra những thành thị công nghiệp lớn, hiện đại phát triển nhanh như chớp Xâm nhập tới đâu là ở đó, nó tiêu diệt thủ công nghiệp và nói chung tất cả các giai đoạn trước kia của công nghiệp Nó hoàn thành chiến thắng của thành thị thương nghiệp đối với nông thôn Tiền đề đầu tiên của nó là hệ thống tự động Sự phát triển của nó đã tạo ra một khối lớn những lực lượng sản xuất

mà sở hữu tư nhân đã cản trở, cũng như trước kia chế độ phường hội đã cản trở công trường thủ công và kinh doanh tiểu nông đã cản trở thủ công nghiệp đang phát triển Dưới sự thống trị của sở

Trang 9

hữu tư nhân, những lực lượng sản xuất ấy chỉ phát triển phiến diện; đối với đa số, chúng đã trở thành những lực lượng phá hoại, và số lớn những lực lượng sản xuất ấy đã hoàn toàn không được

sử dụng trong chế độ tư hữu Nói chung, công nghiệp lớn tạo ra ở khắp nơi những quan hệ như nhau giữa các giai cấp xã hội và do đó xoá bỏ tính chất riêng biệt của những dân tộc khác nhau

CÂU 4 : BẰNG LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN, A/C HÃY CHỨNG MINH RẰNG: CUỘC ĐẤU TRANH GIỮA CÁI MỚI VÀ CÁI CŨ LÀ 1 QUÁ TRÌNH KHÓ KHĂN, LÂU DÀI, PHỨC TẠP; CÁI MỚI CÓ THỂ THẤT BẠI TẠM THỜI NHƢNG CUỐI CÙNG NÓ SẼ CHIẾN THẮNG CÁI CŨ

- Phủ định biện chứng là phạm trù triết học dùng để chỉ một mắt khâu của quá trình tự phát triển của sự vật đưa đến sự ra đời của cái mới tiến bộ hơn so với cái cũ bị phủ định Phủ định biện chứng cũng là sự khẳng định, phủ định biện chứng gắn liền với giải quyết mâu thuẩn và bước nhảy

về chất xảy ra bên trong sự vật; nó mang tính khách quan – nội tại, tính kế thừa – tiến lên

- Phủ định biện chứng là một hình thức cụ thể hóa nguyên lý về sự phát triển, có khuynh hướng tiến lên theo hình thức xoáy ốc, thể hiện tính chu kỳ trong quá trình phát triển Do đó, phủ định biện chứng là cơ sở, phương pháp luận để:

+ Giúp chúng ta hiểu được xu hướng phát triển của thế giới, đó là quá trình diễn ra không thẳng tắp, mà quanh co, phức tạp, đuợc diễn tả bằng đường xoáy ốc, song phát triển là khuynh hướng chung, khuynh hướng chủ đạo, tất yếu của sự vận động

VD: CMVN: tính từ thời điểm ĐCSVN ra đời đến nay, cho ta thấy lịch sử phát triển của dân tộc ngày càng phát triển đi lên và không đi theo con đường thẳng mà quanh co, khúc khuỷu như bất kỳ lịch sử phát triển nào khác Đó là sự chống đối của CN đế quốc Mỹ, sự phá phách của các thế lực tư bản, đó là sự sai lầm của chính chúng ta trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước Nó đã tạo cho lịch sử nước ta phát triển có những lúc cực kỳ khó khăn, gian khổ…

+ Giúp ta hiểu đầy đủ hơn về cái mới, cái mới ra đời là phù hợp với quy luật là cái tất thắng Thế nhưng, trong lúc cái mới vừa nảy sinh thì cái cũ vẫn còn có sức mạnh Bởi vậy, cái quan điểm chân chính về sự phát triển thì phải phát hiện cái mới, ủng hộ, nuôi dưỡng , bảo vệ và phát triển cái mới Có như vậy, “ cái mới” mới chiến thắng được cái cũ và khẳng định được mình trong hiện thực

Vì cái mới là cái đơn nhất, còn non nớt, mỏng manh,yếu đuối; cái cũ mất đi nhưng chưa mất

đi hẳng mà vẫn còn đồ sộ, to lớn, mạnh mẽ

VD: một tư tưởng mới, 1 doanh nghiệp mới, 1 cách quản lý mới, 1 phát minh kỹ thuật mới…

Quan sát hiện tượng tự nhiên, trên mặt đất hàng trăm, hàng ngàn những cây tre, to lớn, khỏe mạnh chen chút nhau giành mọc đầy kín mặt đất Nhưng bằng sức sống tuyệt vời của cái mới thì cây măng vẫn trồi lên mặt đất , đây là điều tất yếu, không ai cản được, nó chỉ có thể mọc thẳng hay cong mà thôi

Trong xã hội, các thế lực khác thù địch và tìm mọi cách để tiêu diệt CNXH, nhưng CNXH vẫn tồn tại vì đó là tất yếu

Trang 10

+ Phủ định biện chứng đòi hỏi phải tôn trọng tính kế thừa, nhưng kế thừa phải có chọn lọc, có phê phán; cần phải chống lại khuynh hướng kế thừa nguyên si, máy móc; chống lại phủ định sạch trơn, hư vô quá khứ

Phải thấy sự kế thừa trong tự nhiên và xã hội là có sự khác nhau

VD: Dân tộc ta tiến lên con đường CNXH mà bỏ qua CNTB, chúng ta nhận thấy được những mặt hạn chế của CNTB đó là sự bóc lột con người một cách phi nhân tính, quan hệ sản xuất dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, đó là những mặt cần bát bỏ, phê phán, loại trừ

Tuy nhiên, chúng ta không phủ nhận những mặt tích cực đáng để chúng ta học hỏi, kế thừa, đó là:

+ Trình độ phát triển của llsx

+ Trình độ phát triển của KHKT

+ Trình độ quản lý XH, quản lý KTế

+ Yếu tố dân chủ của CNTB(vd: bầu cử…)

Kế thừa trong tự nhiên là quá trình chọn lọc, diễn ra hoàn toàn tự nhiên

Kế thừa trong xã hội diễn ra phức tạp vì có liên quan đến lợi ích, quyền lợi, địa vị của con người

CÂU 5 : A/C HÃY GIẢI THÍCH CÂU NÓI CỦA LÊNIN : « CÓ THỂ ĐỊNH NGHĨA VẮN TẮT PHÉP BIỆN CHỨNG LÀ HỌC THUYẾT VỀ SỰ THỐNG NHẤT CỦA CÁC MẶT ĐỐI LẬP NHƢ THẾ LÀ NẮM ĐƢỢC HẠT NHÂN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG, NHƢNG ĐIỀU ĐÓ ĐÕI HỎI PHẢI CÓ NHỮNG SỰ GIẢI THÍCH VÀ M ỘT SỰ PHÁT TRIỂN THÊM »

Phân tích nội dung quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập

Lênin đánh giá rất cao quy luật này, cho rằng đó là hạt nhân của phép biện chứng vì nó vạch

ra nguồn gốc, động lực phát triển của thế giới

Mâu thuẫn là khái niệm dùng để chỉ sự liên hệ, thống nhất, đấu tranh và chuyển hóa giữa

các mặt đối lập, cái tạo thành mâu thuẫn là các mặt đối lập Mặt đối lập là những mặt, thuộc tính, khuynh hướng vận động trái ngược nhau nhưng lại là tiền đề tồn tại của nhau Mâu thuẫn có tính chất:

- Khách quan: mthuẫn là cái vốn có của SVHT, nên nó tồn tại khách quan, độc lập với ý

thức của con người, bởi vậy muốn cho sự vật, hiện tượng phát triển thì phải phát hiện ra mâu thuẩn nhưng phải tìm ra mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau giữa các mặt đối lập đó Và khi phân tích mâu thuẩn phải xem xét quá trình phát sinh, phát triển của từng mâu thuẩn phải xem xét quá trình phát sinh, phát triển và sự tác động qua lại lẫn nhau + vị trí của từng mặt đối lập + những mối quan

hệ tác động qua lại giữa chúng, điều kiện chuyển hóa lẫn nhau giữa chúng

VD: mâu thuẩn bên trong, bên ngoài, mâu thuẩn thiết yếu, không thiết yếu

- Phổ biến: không SVHT nào không có mthuẫn, trong SVHT không lúc nào không có

mthuẫn, nó tồn tại trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của sự vật, mthuẫn này được giải quyết thì mthuẫn khác nảy sinh

Trang 11

- Đa dạng phong phú: SVHT khác nhau thì có mthuẫn khác nhau, nó giữ vai trò vị trí khác

nhau đối với sự tồn tại phát triển của SVHT 1 mthuẫn tồn tại qua nhiều thời kỳ, giai đoạn thì ở những chu kỳ, giai đoạn ấy nó có tính chất và vai trò khác nhau; trong sự vật có nhiều mthuẫn, mỗi mthuẫn có vị trí, vai trò khác nhau đối với tồn tại phát triển của SVHT Những mâu thuẩn khác nhau phải có phương pháp giải quyết khác nhau

VD: mthuẫn của VN đối với Mỹ qua những năm tháng thời gian là khác nhau

Quá trình vận động và phát triển của mthuẫn : Mthuẫn được tạo bởi các mặt đối lập, vừa thống nhất vừa đấu tranh với nhau:

+ Thống nhất củac các mặt đối lập: các mặt đối lập liên hệ, ràng buộc và qui định lẫn nhau + Đấu tranh: là các mặt đối lập phát triển theo khuynh hướng ngược chiều nhau, loại trừ và phủ định lẫn nhau, đấu tranh của các mặt đối lập là nguồn gốc của sự phát triển thế giới

Thống nhất là tương đối, còn đấu tranh giữa các mặt đối lập là tuyệt đối, nó diễn ra liên tục và đấu tranh là nguồn gốc của SVHT Đấu tranh của các mặt đối lập diễn ra rất phức tạp, nó chia thành nhiều thời kỳ, giai đoạn, mỗi thời kỳ giai đoạn nó có đặc điểm riêng Khi phát hiện mthuẫn: các mặt đối lập chỉ biểu hiện ở sự khác nhau nhưng không phải sự khác nhau nào cũng phát triển thành mthuẫn Chỉ sự khác nhau nằm trong 1 chỉnh thể nhưng lại phát triển theo khuynh hướng ngược chiều nhau sẽ thành mthuẫn

VD: giai cấp tư sản và vô sản có sự khác nhau về kinh tế, chính trị sự khác nhau này cũng nằm trong 1 xã hội và phát triển về quyền lợi là khác nhau nên hình thành mthuẫn

Khi mthuẫn được giải quyết thì sự thống nhất giữa 2 mặt đối lập cũ mất đi& sự thống nhất giữa 2 mặt đối lập mới hình thành=> đấu tranh của các mặt đối lập là nguồn gốc của sự phát triển thế giới

Ý nghĩa phương pháp luận

- Mâu thuẫn tồn tại khách quan, phổ biến và là nguồn gốc, động lực cho sự phát triển của các SVHT trong thế giới Bởi vậy, muốn SVHT phát triển thì phải phát hiện ra mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn Nhưng, muốn phát hiện ra mâu thuẫn thì phải tìm trong sự thống nhất của các mặt đối lập những khuynh hướng trái ngược nhau Khi phân tích mâu thuẫn, phải xem xét quá trình phát sinh, phát triển của từng mâu thuẫn cũng như vai trò, vị trí và mối quan hệ lẫn nhau của các mâu thuẫn Muốn làm SVHT phát triển phải tôn trọng và giải quyết mthuẫn

VD : loài người phát triển được là do loài người không ngừng giải quyết các mthuẫn : llsx&qhsx,

+ Xã hổi phát triển do giải quyết mthuẫn của các giai cấp đối kháng& không đối kháng, trong XH có giai cấp đối kháng có 2 loại mâu thuẩn: Mthuẩn đối kháng: địa chủ - nông dân, Mthuẩn trong nội bộ nhân dân: mâu thuẩn không đối kháng: giữa công nhân và nông dân

+ nền kinh tế của nhân loại nói chung : mthuẫn cung & cầu, tích lũy & đầu tư

+ Trong tư duy : cái đã biết&cái chưa biết, khách quan bên ngoài& chủ quan trong con người

- Vì mthuẫn mang tính đa dạng & phong phú nên trong nhận thức & hoạt động thực tiễn chúng ta phải tôn trọng quan điểm lịch sử cụ thể trong quá trình giải quyết mthuẫn Tức phải phân

Trang 12

tích cụ thể từng loại mthuẫn & có pp giải quyết phù hợp với từng loại mthuẫn đó, c6àn phân biệt đánh giá đúng vai trò vị trí từng loại mthuẫn trong điều kiện hoàn cảnh cụ thể nhất định

- Muốn thúc đẩy sự vật phát triển, phải tôn trọng nguyên tắc đấu tranh giải quyết mthuẫn : đấu tranh của các mặt đối lập tạo nên mthuẫn đó, nên trong bất kỳ mthuẫn nào, bất kỳ giai đoạn tồn tại nào của mthuẫn : ko thể giải quyết mthuẫn bàng con đường dung hòa giữa các mặt đối lập Chỉ được giải quyết mâu thuẫn khi điều kiện đã chín mùi, do đó, phải chống lại thái độ chủ quan, nóng vội, đồng thời, phải tích cực thúc đẩy các điều kiện khách quan để làm cho các điều kiện giải quyết mâu thuẫn nhanh đi đến độ chín mùi

Phương pháp giải quyết khác nhau: mâu thuẩn đối kháng bằng nhiều phương pháp nhưng chủ yếu bằng bạo lực; mâu thuẩn không đối kháng không dùng bạo lực

VD: xảy ra bạo loạn ở Tây Nguyên ta xác định đây là mâu thuẩn vừa đối kháng vừa không đối kháng Lần đầu ta thất bại vì ta không xác định được kẻ nào là đối kháng thực sự Khi đã xác định được là CIA thì ta phải dùng bạo lực ngay

Sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam vào sự nghiệp cách mạng hiện nay ở nước ta Nước ta đang trong thời kỳ quá độ lên CNXH nên tồn tại khách quan nền kinh tế nhiều thành phần

và xã hội có nhiều giai cấp Mâu thuẫn giữa các thành phần kinh tế và giữa các giai cấp là tất yếu Đảng CSVN đã và đang vận dụng linh hoạt quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập trong việc đề ra chính sách phát triển các thành phần kinh tế Các TPKT đều được thừa nhận tồn tại khách quan và NN tạo điều kiện, môi trường để chúng tồn tại và phát triển trên thực tế Đồng thời các thành phần kinh tế được bình đẳng trước pháp luật

Đảng CS Việt Nam cũng nhận biết mâu thuẫn cơ bản của xã hội có giai cấp là mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân với tầng lớp tư sản Tuy nhiên, Đảng ta cũng nhận rõ đây là mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, là những mâu thuẫn cục bộ, tạm thời chứ không phải là mâu thuẫn đối kháng như trong các nước TBCN nên phương pháp giải quyết tuyệt đối không dùng bạo lực cách mạng

Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN tồn tại các mâu thuẫn cơ bản sau đây:

Mâu thuẫn giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường

Mâu thuẫn giữa lợi ích các nhân với lợi ích tập thể và lợi ích xã hội

Mâu thuẫn giữa tính ưu việt của nền kinh tế thị trường với những mặt trái của nó

Mâu thuẫn giữa sự phát triển tự giác theo con đường đi lên CNXH với khuynh hướng tự phát đi lên CNTB

Nhận biết các mâu thuẫn trên, vận dụng quy luật mâu thuẫn:

Đảng và NN ta đã đưa ra các qui định pháp luật ràng buộc các chủ thể trong xã hội mà đặc biệt là các chủ thể kinh tế thực hiện nghiêm túc các qui định về môi trường như qui định xây dựng

hệ thống xử lý nước thải, rác công nghiệp, rác y tế… Tích cực giáo dục tuyên truyền ý thức của các chủ thể kinh tế Đưa vấn đề môi trường vào quá trình lập kế hoạch phát triển quốc gia…

CÂU 6 : CƠ SỞ NÀO CHO PHÉP KHẲNG ĐỊNH NGUYÊN TẮC LỊCH SỬ CỤ THỂ LÀ

« LINH HỒN » PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN ? NÊU NHỮNG

Ngày đăng: 15/06/2015, 23:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w