1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ứng dụng arcgis để đánh giá thực trạng xói lở bờ biển, suy thoái rừng phòng hộ và xu thế diễn biến đường bờ khu vực ven biển đà nẵng

77 1,5K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 2,71 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Trong quá trình thực hiện đề tài: “Ứng dụng ArcGIS để đánh giá thực trạng xói lở bờ biển, suy thoái rừng phòng hộ và xu thế diễn biến đường bờ khu vực ven biển Đà Nẵng”, tôi

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA SINH – MÔI TRƯỜNG

BÙI ĐOÀN TIẾN

ỨNG DỤNG ARCGIS ĐỂ ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG XÓI LỞ BỜ BIỂN, SUY THOÁI RỪNG PHÒNG HỘ VÀ XU THẾ DIỄN BIẾN ĐƯỜNG BỜ KHU VỰC VEN BIỂN ĐÀ NẴNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Trang 2

Ngành: Quản lý tài nguyên và môi trường

Niên khóa: 2011- 2015

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS VÕ VĂN MINH

Đà Nẵng - Năm 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong khóa luận là trung thực và chưa từng được

ai công bố trong bất kì công trình nào

Đà Nẵng, ngày 5 tháng 5 năm 2015

Tác giả

Bùi Đoàn Tiến

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện đề tài: “Ứng dụng ArcGIS để đánh giá thực

trạng xói lở bờ biển, suy thoái rừng phòng hộ và xu thế diễn biến đường bờ

khu vực ven biển Đà Nẵng”, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, tạo điều

kiện của khoa Sinh – Môi trường, trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng; Phòng

tư vấn kỹ thuật và môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường Đà Nẵng; Sở

Thông tin và truyền thông Đà Nẵng; Ban quản lý rừng đặc dụng Bà Nà – Núi

Chúa Đà Nẵng

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Võ Văn Minh – thầy

giáo trực tiếp hướng dẫn và chỉ bảo cho tôi hoàn thành khóa luận này

Tôi xin chân thành cảm ơn bạn bè, gia đình đã động viên, khích lệ, tạo

điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành khóa

Trang 5

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

CÁC KÍ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

MỞ ĐẦU 1

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1

2 MỤC TIÊU 2

3 BỐ CỤC KHÓA LUẬN 2

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

1.1 HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐỊA LÝ (GIS) VÀ NHỮNG ỨNG DỤNG 4 1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG GIS ĐỂ ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG XÓI LỞ BỜ BIỂN, SUY THOÁI RỪNG PHÒNG HỘ, XU THẾ DIỄN BIẾN ĐƯỜNG BỜ KHU VỰC VEN BIỂN TRÊN THẾ GIỚI & VIỆT NAM 7

1.2.1 Trên thế giới 7

1.2.2 Ở Việt Nam 10

1.3 THÔNG TIN VỀ XÓI LỞ BỜ BIỂN, SUY THOÁI RỪNG PHÒNG HỘ VEN BIỂN Ở ĐÀ NẴNG 11

1.3.1 Thực trạng xói lở bờ biển ở Đà Nẵng 11

1.3.2 Suy thoái rừng phòng hộ ven biển 12

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15

2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 15

2.1.2 Đối tượng nghiên cứu 15

2.1.3 Phạm vi nghiên cứu 15

2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 16

Trang 6

2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16

2.3.1 Phương pháp tiếp cận 16

2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu 19

2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu 20

2.2.4 Phương pháp GIS 22

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BIỆN LUẬN 25

3.1 THỰC TRẠNG DỮ LIỆU VỀ XÓI LỞ BỜ BIỂN, ĐƯỜNG BỜ VEN BIỂN VÀ RỪNG PHÒNG HỘ KHU VỰC VEN BIỂN ĐÀ NẴNG 25

3.1.1 Dữ liệu xói lở bờ biển và đường bờ khu vực ven biển Đà Nẵng25 3.1.2 Dữ liệu rừng phòng hộ ven biển Đà Nẵng 25

3.2 KẾT QUẢ KHẢO SÁT THỰC TẾ 30

3.3 KẾT QUẢ XÂY DỰNG BẢN ĐỒ CHUYÊN ĐỀ 34

3.3.1 Bản đồ về xói lở bờ biển 34

3.3.2 Bản đồ rừng phòng hộ ven biển Đà Nẵng 40

3.3.3 Bản đồ đường bờ khu vực ven biển Đà Nẵng 48

3.4 ĐÁNH GIÁ TƯƠNG QUAN GIỮA ĐẶC ĐIỂM VEN BỜ VÀ RỪNG PHÒNG HỘ 49

3.5 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIẢM THIỂU XÓI LỞ BỜ BIỂN, PHÁT TRIỂN VÀ BẢO VỆ RỪNG PHÒNG HỘ VEN BIỂN ĐÀ NẴNG54 KẾT LUẬN- KIẾN NGHỊ 59

KẾT LUẬN 59

KIẾN NGHỊ 60

TÀI LIỆU THAM KHẢO 61

PHỤ LỤC 644

Trang 7

CÁC KÍ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

CNH – HĐH Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa

GIS Geographical Information System

GIZ Gesellschaft für Internationale Zusammenarbeit HSTK Hồ sơ thiết kế

NN & PTNT Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn

TN & MT Tài nguyên và môi trường

UBND TP Ủy Ban Nhân dân thành phố

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu bảng Tên bảng Trang

3.1 Phân bố, quy mô rừng phi lao ven biển Đà Nẵng giai

đoạn 2004 – 2014

27

3.2 Tổng hợp tình hình phân bố, quy mô diện tích rừng

phòng hộ ven biển theo từng khu vực nghiên cứu đến tháng 10/2014

29

3.3 Tọa độ các điểm điểm xói lở bờ biển 31 3.4 Tọa độ các lô rừng phòng hộ ven biển 32 3.5 Bảng thể hiện số điểm xói lở, chiều dài bờ biển và

mật độ phân bố xói lở ở các quận ven biển của thành phố Đà Nẵng

35

3.6 Tổng hợp các nhóm giải pháp phục hồi, phát triển

bền vững rừng phòng hộ ven biển Đà Nẵng

55

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Số hiệu

2.2 Bản đồ thông tin địa lý thành phố Đà Nẵng hiển thị bằng

2.3 Bản đồ thông tin địa lý thành phố Đà Nẵng sau khi chuyển

2.4 Hướng dẫn cách chuyển WGS84 quan VN2000 22 3.1 Bản đồ thực trạng xói lở bờ biển Đà Nẵng 34 3.2 Bản đồ thực trạng xói lở bờ biển Q Liên Chiểu 36 3.3 Bản đồ thực trạng xói lở bờ biển Q Thanh Khê 37 3.4 Bản đồ thực trạng xói lở bờ biển Q Sơn Trà 38 3.5 Bản đồ thực trạng xói lở bờ biển Q Ngũ Hành Sơn 39 3.6 Bản đồ thể hiện thông tin chi tiết từng điểm xói lở 40 3.7 Bản đồ rừng phòng hộ ven biển Đà Nẵng năm 2013 41 3.8 Bản đồ rừng phòng hộ ven Đà Nẵng năm 2014 41

3.9 Bản đồ truy vấn thông tin lô rừng phòng hộ ven biển năm

3.10 Bản đồ truy vấn thông tin lô rừng phòng hộ ven biển năm

3.11 Bản đồ rừng phòng hộ ven biển Đà Nẵng năm 2013 và năm

2014 tại phường Hòa Hiệp Bắc, quận Liên Chiểu 43 3.12 Bản đồ rừng phòng hộ ven biển Đà Nẵng năm 2013 và năm

2014 tại phường Hòa Hiệp Nam, quận Liên Chiểu 44

Trang 10

3.13 Bản đồ rừng phòng hộ ven biển Đà Nẵng năm 2013 và năm

2014 tại phường Hòa Khánh Bắc, quận Liên Chiểu 45

3.14 Bản đồ rừng phòng hộ ven biển Đà Nẵng năm 2013 và năm

3.15 Bản đồ phòng hộ ven biển Đà Nẵng năm 2013 và năm

2014 tại phường Thọ Quang, quận Sơn Trà 47

3.16 Bản đồ phòng hộ ven biển Đà Nẵng năm 2013 và năm

2014 tại phường Mân Thái, quận Sơn Trà 47

3.17 Bản đồ rừng phòng hộ ven biển Đà Nẵng năm 2013 và năm

2014 tại phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn 48 3.18 Bản đồ đường bờ khu vực ven biển Đà Nẵng năm 2014 49

3.19 Bản đồ tổng hợp xói lở, rừng phòng hộ và đường bờ ven

biển Đà Nẵng vị trí quận Liên Chiểu 50

3.20 Bản đồ tổng hợp xói lở, rừng phòng hộ và đường bờ ven

biển Đà Nẵng vị trí quận Thanh Khê 51

3.21 Bản đồ tổng hợp xói lở, rừng phòng hộ và đường bờ ven

3.22 Bản đồ tổng hợp xói lở, rừng phòng hộ và đường bờ ven

biển Đà Nẵng vị trí quận Ngũ Hành Sơn 52

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Đà Nẵng là một trong những trung tâm kinh tế, văn hoá, khoa học, công nghệ của miền Trung – Tây Nguyên và các nước tiểu vùng sông Mê Kông Với vị trí nằm ở trung độ của cả nước, cùng với điều kiện tự nhiên thuận lợi, Đà Nẵng đã trở thành trung tâm công nghiệp, thương mại, dịch vụ,

du lịch năng động nhất miền Trung Đặc biệt, Đà Nẵng có chiều dài bờ biển hơn 30km, nổi tiếng với nhiều bãi biển đẹp nằm rải rác từ Bắc đến Nam thành phố như Nam Ô, Xuân Thiều, Thanh Bình, Tiên Sa, Mỹ Khê, Mỹ An, Non Nước… trong đó có những bãi tắm đã được du khánh thập phương biết đến như những địa điểm nghỉ ngơi, thư giãn, tắm biển lý tưởng nhất trong khu vực Hơn mười năm qua, thực hiện Nghị Quyết 33/NQ-TW của Bộ Chính Trị

về xây dựng thành phố Đà Nẵng trong thời kì CNH, HĐH đất nước, bộ mặt thành phố đã có nhiều thay đổi, phát triển toàn diện trên nhiều lĩnh vực, nhất

là chủ trương phát triển cơ sở hạ tầng, quy hoạch và chỉnh trang đô thị hướng

ra phía Đông của thành phố Hiện nay, dọc theo chiều dài bãi biển là các khu dân cư, làng chài, khu nghỉ mát, vui chơi giải trí - nơi diễn ra các hoạt động ngư nghiệp, dịch vụ thương mại, du lịch, nghỉ dưỡng… hàng năm đã góp một phần không nhỏ vào sự phát triển của thành phố Đà Nẵng

So với các vùng biển khác, biển Đà Nẵng không có những hòn đảo, thiếu những hàng cây để chắn sóng nên mỗi khi đến mùa bão, lụt, nhiều trận cuồng phong và sóng dữ từ ngoài khơi xa xô đập vào bờ với cường độ mạnh, tàn phá nặng nề các công trình giao thông, nhà cửa trên bờ và xói lở nghiêm trọng đường bờ biển như hậu quả nặng nề để lại do ảnh hưởng của các cơn bão số 6 năm 2006, bão số 9 năm 2009, bão Nari năm 2013 Do đó, xác định được tiềm năng, thế mạnh và nguy cơ tiềm ẩn là mối quan tâm hàng đầu của thành phố Đà Nẵng nhằm quản lý tốt hơn đới ven biển và hướng tới phát triển

Trang 13

bền vững kinh tế - xã hội - môi trường Để đáp ứng những nhu cầu thực tiễn

cấp bách này, đề tài nghiên cứu “Ứng dụng GIS để đánh giá thực trạng xói lở

bờ biển, suy thoái rừng phòng hộ, xu thế diễn biến đường bờ khu vực ven biển

Đà Nẵng” được lựa chọn nhằm đưa ra những cơ sở khoa học chính xác nhất

cho những biến động về mặt không gian của đường bờ biển Đà Nẵng, qua đó đánh giá hiện trạng rừng phòng hộ, tình trạng xói lở Hiện nay, GIS là phương pháp hiện đại, là công cụ mạnh có khả năng giải quyết những vấn đề ở tầm vĩ

mô trong thời gian ngắn nên được lựa chọn cho nghiên cứu này

2 MỤC TIÊU

2.1 Mục tiêu tổng quát

Đánh giá được hiện trạng xói lở, suy thoái rừng phòng hộ và xu thế diễn biến đường bờ khu vực ven biển thành phố Đà Nẵng, nhằm tìm ra giải pháp quản lý và bảo vệ môi trường khu vực ven biển thành phố Đà Nẵng

Trang 14

Chương 1: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu

Chương 2: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu; Chương 3: Kết quả nghiên cứu và biện luận

Trang 15

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐỊA LÝ (GIS) VÀ NHỮNG ỨNG DỤNG 1.1.1 Khái niệm về GIS

Hệ thống thông tin địa lý (GIS) là một ngành khoa học khá mới, có nhiều cách tiếp cận khác nhau, do đó cũng có những định nghĩa khác nhau về GIS

Theo Ducker (1979) định nghĩa, GIS là một trường hợp đặc biệt của hệ

thống thông tin, ở đó có cơ sở dữ liệu bao gồm sự quan sát các đặc trưng phân bố không gian, các hoạt động sự kiện có thể được xác định trong khoảng không như đường, điểm, vùng [24]

Theo Burrough (1986) định nghĩa, GIS là một công cụ mạnh dùng để

lưu trữ và truy vấn, biến đổi và hiển thị dữ liệu không gian từ thế giới thực cho những mục tiêu khác nhau [22]

Theo Nguyễn Kim Lợi (2009), hệ thống thông tin địa lý được định nghĩa

như là một hệ thống thông tin mà nó sử dụng dữ liệu đầu vào, các thao tác phân tích, cơ sở dữ liệu đầu ra liên quan về mặt địa lý không gian, nhằm hỗ trợ việc thu nhận, lưu trữ, quản lý, xử lý, phân tích và hiển thị các thông tin không gian từ thế giới thực để giải quyết các vấn đề tổng hợp từ thông tin cho các mục đích con người đặt ra [8]

1.1.2 Lịch sử phát triển

Theo trích dẫn của các tác giả khác nhau (ESRI, 1990 [25]; Hemakumara, 1993 [26]) GIS đã được hình thành cách đây gần năm mươi năm tức là vào khoảng những năm 60 của thế kỷ XX và hệ thống thông tin địa lý hiện đại đầu tiên ở cấp độ quốc gia đã ra đời ở Canada thì ở Mỹ hàng

Trang 16

loạt các trường đại học cũng tiến hành nghiên cứu và xây dựng các hệ thống GIS của mình như trường đại học Havard, Clark… Kết quả là các chương trình GIS khác nhau đã ra đời [33]

Thập kỷ 80 tiếp tục chứng kiến sự phát triển mạnh của công nghệ máy tính, công nghệ viễn thám và công nghệ GIS Có thể nói vào cuối năm 1980 GIS đã chứng tỏ được tính hữu ích và xu hướng phát triển tích cực Những năm 90 là thời kỳ bùng nổ về GIS về cả phần cứng lẫn phần mềm Song song với các hoạt động lý thuyết và công nghệ, các hoạt động tiếp thị, giáo dục và đào tạo, ứng dụng GIS đã được mở rộng trên phạm vi toàn cầu kể cả nhà nước lẫn tư nhân GIS có sự phát triển sớm và mạnh ở các nước Bắc Mỹ và Tây Âu, còn ở các nước đang phát triển nó được đưa vào và phát triền chậm hơn vì cả những lý do khách quan lẫn chủ quan

Từ những năm cuối thập niên 80 của thế kỷ XX, GIS bắt đầu thâm nhập vào Việt Nam qua các dự án hợp tác quốc tế Tuy nhiên, đến giữa thập niên

90 GIS mới có cơ hội phát triển ở Việt Nam GIS ngày càng được nhiều người biết đến như một công cụ hỗ trợ quản lý trong các lĩnh vực như: quản

lý tài nguyên thiên nhiên; giám sát môi trường; quản lý đất đai… Hiện nay, nhiều cơ quan Nhà nước và doanh nghiệp đã và đang tiếp cận công nghệ GIS

để giải quyết các bài toán cơ quan mình

1.1.3 Thành phần của GIS

Về thành phần của GIS thì tùy vào qui mô ứng dụng của GIS mà ta có số thành phần tương ứng là 3, 4, 5 hoặc 6 Nhưng thường thì GIS có 5 thành phần cơ bản sau: phần cứng, phần mềm, cơ sở dữ liệu địa lý, cơ sở tri thức chuyên gia (con người), phương pháp

Trang 17

H n 1.1 Những thành phần của GIS

(Nguồn: https://www.google.com)

1.1.4 Mô hình dữ liệu của GIS

Một dữ liệu trong GIS được lưu, hiển thị dưới 2 dạng: mô hình dữ liệu không gian và mô hình dữ liệu thuộc tính

Mô hình dữ liệu không gian lưu giữ đối tượng về mặt không gian vị trí, kích thước, hình dạng Chia làm 2 loại vector và raster

Mô hình dữ liệu thuộc tính mô tả về đặc tính, đặc điểm các hiện tượng xảy ra trên vị trí không gian xác định GIS có thể liên kết và xử lý đồng thời

cả dữ liệu không gian và thuộc tính

1.1.5 Chức năng của GIS

GIS có 4 chức năng cơ bản:

- Thu thập dữ liệu: Dữ liệu sử dụng trong GIS đến từ nhiều nguồn khác nhau và GIS cung cấp công cụ để tích hợp dữ liệu thành một định dạng chung

để so sánh và phân tích

Trang 18

- Quản lý dữ liệu: Sau khi dữ liệu được thu thập và tích hợp, GIS cung cấp các chức năng như nội suy không gian, tạo vùng đệm, chồng lớp

- Phân tích không gian: Là chức năng quan trọng nhất của GIS, nó cung cấp các chức năng như nội suy không gian, tạo vùng đệm, chồng lớp

- Hiển thị kết quả: GIS có nhiều cách hiển thị thông tin khác nhau Phương pháp truyền thống bằng bảng và đồ thị được bổ sung với bản đồ và ảnh ba chiều Hiển thị trực quan là một trong những khả năng đáng chú ý của GIS, cho phép người sử dụng tương tác hữu hiệu với dữ liệu

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG GIS ĐỂ ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG XÓI LỞ BỜ BIỂN, SUY THOÁI RỪNG PHÒNG HỘ,

XU THẾ DIỄN BIẾN ĐƯỜNG BỜ KHU VỰC VEN BIỂN TRÊN THẾ GIỚI & VIỆT NAM

1.2.1 Trên thế giới

GIS đầu tiên trên thế giới được xây dựng vào đầu những năm 60 của thế

kỷ XX tại Canada với tên gọi CGIS (Canadian Geographic Infomational System) Song song với Canada hàng loạt các trường đại học Mỹ cũng tiến hành nghiên cứu và xây dựng các hệ thống GIS của mình Tuy nhiên rất nhiều trong số đó đã không tồn tại được lâu

Sự ra đời và phát triển các GIS trong những năm 60 của thể kỷ XX đã được quốc tế chấp nhận và đánh giá cao Vì vậy, năm 1968 Hội Địa Lý Quốc tế

đã quyết định thành lập uỷ ban thu nhận và xử lý dữ liệu địa lý nhằm mục đích phổ biến kiến thức trong lĩnh vực này trong những năm tiếp theo

Trong những năm 70, đứng trước sự gia tăng về nhu cầu quản lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường, chính phủ các nước, đặc biệt là ở Bắc Mỹ, bên cạnh thiết lập hàng loạt cơ quan chuyên trách về môi trường đã

Trang 19

bầy tỏ sự quan tâm nhiều hơn nữa đến việc tiếp tục nghiên cứu và phát triển GIS

Và ở các nước tiên tiến đi đầu trong lĩnh vực công nghệ như: Mỹ, Nga,

Ấn Độ, Canada, Nhật Bản, và mới đây có thêm Trung Quốc việc ứng dụng công nghệ GIS đã trở thành công nghệ hoàn chỉnh, được sử dụng rộng rãi không chỉ để theo dõi, kiểm kê, dự báo, quản lý các tài nguyên trên đất liền

mà còn hướng dần ra biển và đại dương Khuynh hướng sử dụng tư liệu đa thời gian để theo dõi biến động bề mặt địa lý tự nhiên trên mặt đất đã được hình thành Trên thế giới, đã có rất nhiều các công trình khoa học nghiên cứu

về lĩnh vực này và đã rất thành công Nghiên cứu đánh giá hiểm hoạ xói mòn

và chất lượng đất cho các nước thuộc phía nam của cộng đồng Châu Âu (1991) Nó được dựa trên 5 tập hợp dữ liệu: đất, khí hậu, độ dốc, thực vật và thuỷ lợi Tất cả dữ liệu này được đồng nhất về lưới chiếu, được kiểm tra về độ chính xác và độ tương thích Kết quả nghiên cứu đã thu được trong thời gian ngắn nhất và chi phí thấp nhất

- Năm 1999 De Jaeger đã nghiên cứu lập bản đồ địa mạo bằng ảnh vệ tinh TK-300 của Nga và GIS cho thung lũng Wadi Mujib (Jonrdan) [23] Kết quả

đã thành lập được bản đồ địa mạo và thành lập được bản đồ rủi ro môi trường

Trang 20

Khả năng sử dụng GIS không chỉ áp dụng nghiên cứu bề mặt địa lý nói chung hay sự sạt lở đường bờ nói riêng mà nó còn được áp dụng trong nhiều lĩnh vực như quản lý tài nguyên và môi trường Ngày nay, trong lĩnh vực lâm nghiệp, công việc quản lý tài nguyên rừng đang là một thách thức lớn Với GIS, các nhà quản lý có thể thực hiện nhiệm vụ này dễ dàng hơn Do vậy, hiện nay trên thế giới cũng đã có những nghiên cứu, ứng dụng công nghệ GIS trong quản lý, bảo vệ rừng Những ví dụ dưới đây sẽ minh hoạ cho nhận định này:

- Phá rừng: Bức tranh toàn cảnh về môi trường thế giới đã có sự thay đổi lớn Một nguyên nhân quan trọng đó là tình trạng phá rừng đang ngày càng phát triển Viện Tài nguyên Thế giới (WRI) đã sử dụng GIS để đánh giá ảnh hưởng của phá rừng với các quốc gia và người dân trên toàn Thế giới

- Thu hẹp diện tích rừng trên toàn cầu: WRI để kiểm soát diện tích rừng trên toàn cầu Ngoài ra GIS còn hỗ trợ phân tích so sánh diện tích rừng hiện nay với diện tích rừng trong quá khứ, cho thấy xu hướng thu hẹp ngày càng nhanh của các diện tích này và tốc độ thu hẹp ở các vùng khác nhau, từ đó

dự báo tốc độ mất rừng của những nơi mà biên giới rừng vẫn còn tồn tại Với phần mềm GIS, các dự báo có thể được phân tích dưới dạng bản đồ hoặc biểu

đồ [20]

- Dự báo ảnh hưởng ô nhiễm không khí đối với sự phát triển của thực vật: Với GIS, các nhà khoa học có thể phủ dữ liệu cho các vùng (các dữ liệu về sự tăng trưởng, phân bố loài thực vật ) theo thời gian, tạo nên các bản đồ đánh giá sự biến đổi sinh trưởng của từng loài cây Những phân tích này rất hữu ích trong dự báo ảnh hưởng lâu dài của ô nhiễm không khí không chỉ đối với thực vật, mà còn đối với động vật và cả con người [31]

Với những ứng dụng rộng rãi, GIS đã trở thành công nghệ quan trọng

Nó tham gia vào hầu hết các lĩnh vực trong cuộc sống con người và ngày

Trang 21

càng được quảng bá rộng rãi Hơn nữa với xu thế phát triển hiện nay, GIS không chỉ dừng lại ở một quốc gia đơn lẻ mà ngày càng mang tính toàn cầu hóa

1.2.2 Ở Việt Nam

Ở Việt Nam hiện nay cũng đã có nhiều công trình khoa học ứng dụng hệ thống thông tin địa lý trong nghiên cứu quy hoạch đô thị, nghiên cứu sự biến động bề mặt địa lý, giám sát tài nguyên và môi trường

Các ứng dụng GIS trong lĩnh vực nghiên cứu sạt lở và biến động đường

bờ sông mặc dù còn chưa nhiều nhưng cũng đã được đề cập đến như:

- Năm 2011, Nguyễn Quang Thanh: Xác định biến động đường bờ vùng Tiền Hải - Thái Bình [15]

- Năm 2012, Trịnh Gia Bình: Ứng dụng GIS vào công tác quản lý vùng

đề tài có thể ở dưới dạng quan tâm đến các thông tin thu nhận được ở các thời điểm khác nhau, từ đó chiết xuất các thông tin về lớp ở các thời điểm khác nhau, chồng chập các lớp thông tin này để tìm ra biến động Tuy nhiên, việc

áp dụng chúng vào những hoàn cảnh cụ thể cũng rất cần được nghiên cứu để tìm ra những cách tiếp cận hợp lý, hiệu quả và đánh giá khả năng của chúng một cách đúng đắn Gần đây các nhà khoa học Việt Nam cũng đã có những

đề tài nghiên cứu biến động:

Trang 22

- Năm 2007, Mai Xuân Phúc: Đánh giá ảnh hưởng của chất độc hóa học đối với tài nguyên rừng trong chiến tranh Việt Nam [9]

- Năm 2009, Đại học Khoa học Tự nhiên tham gia dự án Theo dõi diễn biến rừng vùng lưu vực sông Mê Công do GTZ tài trợ [11]

1.3 THÔNG TIN VỀ XÓI LỞ BỜ BIỂN, SUY THOÁI RỪNG PHÒNG

HỘ VEN BIỂN Ở ĐÀ NẴNG

1.3.1 Thực trạng xói lở bờ biển ở Đà Nẵng

Tại Hội thảo tham vấn báo cáo quốc gia về “Đánh giá xói lở bờ biển Việt Nam” diễn ra vào 17/7/2014, các chuyên gia về môi trường nhận định, Việt Nam là một trong số các ít quốc gia chịu tác động mạnh nhất của hiện tượng nước biển dâng do tác động của biến đổi khí hậu, gây xói lở bờ biển nghiêm trọng ở các tỉnh ven biển Thậm chí, nhiều tỉnh còn đứng trước nguy cơ bị nước biển xâm thực nặng [19]

Các chuyên gia dự hội thảo cho rằng cùng với sự gia tăng của bão về tần suất lẫn cường độ, diễn biến bất thường về đường đi của các cơn bão và mực nước biển dâng, gây xói lở bờ biển, thì chính các hoạt động của con người như: Chặt phá rừng ngập mặn, khai thác vật liệu (cát, san hô) ven bờ, xây dựng các đập điều tiết nước ở thượng nguồn các con sông cũng là nguyên nhân góp phần gây xói lở bờ biển trong những năm qua Là đơn vị tư vấn báo cáo quốc gia về xói lở bờ biển Việt Nam, ông Lê Văn Công, Phó Giám đốc Trung tâm Hải văn (Tổng cục Biển và Hải Đảo, Bộ Tài nguyên và Môi trường) cho biết, hơn 30 năm trở lại đây, tình trạng xói lở bờ biển ở Việt Nam

đã diễn ra ngày càng phức tạp trên toàn dải ven biển Theo đó, “mức độ xói lở đối với từng khu vực và từng địa phương cũng không ngừng tăng lên, phụ thuộc vào cấu trúc đường bờ, các quá trình động lực và hoạt động của con người” Đứng ở góc độ quốc tế, ông Reynaldo Molina, Ban thư ký COBSEA cho biết, xói lở bờ biển không chỉ đơn giản là do thiên tai, mà còn phụ thuộc

Trang 23

rất nhiều vào hành vi của con người đối với khu vực ven biển “Có thể nói, Việt Nam đang thiếu một chiến lược để phòng chống xói lở bờ biển và cần thiết phải xây dựng một hệ thống chính sách quản lý xói lở bờ biển”

Ngày 8-12-2014, Phó Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng, ông Nguyễn Ngọc Tuấn cùng đại diện lãnh đạo Văn phòng UBND TP, các sở, ngành liên quan

đã tiếp và làm việc với Đoàn công tác của Ủy ban Khoa học - Công nghệ - Môi trường của Quốc hội do ông Võ Tuấn Nhân, Phó Chủ nhiệm Ủy ban làm Trưởng đoàn Báo cáo về tình hình và kết quả triển khai thực hiện quản lý tài nguyên, môi trường biển và hải đảo tại địa bàn Đà Nẵng, ông Nguyễn Điểu, Giám đốc sở TN&MT cho biết: Hiện nay, UBND TP Đà Nẵng đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật về quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường và có những đề án, dự án quy hoạch khai thác sử dụng biển Tuy nhiên, hiện nay tình trạng xói lở bờ biển, xâm thực biển ở Đà Nẵng đang diễn

ra khá nghiêm trọng, làm sạt lở các đường giao thông ở nhiều quận như: Liên Chiểu, Thanh Khê, Sơn Trà với chiều dài khoảng 30km Đặc biệt, ở Q Liên Chiểu, biển ngày càng ăn sâu vào đất liền, đã bị sạt lở khoảng 400m đường bờ biển, vệt lở ăn sâu vào đất liền khoảng 100m, làm mất khu rừng phi lao ven biển, làm hơn 750 ha đất sản xuất và gần 100 hộ dân dọc biển Nam Ô luôn phải sống trong nỗi ám ảnh bởi sự xâm thực của sóng biển Hiện nay trong công tác quản lý, tổng hợp thống nhất biển và hải đảo ở cấp địa phương là thiếu các văn bản chỉ đạo, các hướng dẫn kỹ thuật, các định mức kinh tế kỹ thuật từ Trung ương, chưa tạo được hành lang pháp lý và công cụ kỹ thuật hỗ trợ công tác quản lý, tổng hợp thống nhất tài nguyên biển và hải đảo cho địa phương [14]

1.3.2 Suy thoái rừng phòng hộ ven biển

Rừng phòng hộ chống cát bay, chắn gió hại ven biển Việt Nam ngoài thảm thực vật tự nhiên, các đai rừng phòng hộ trên cát ven biển được trồng

Trang 24

chủ yếu bằng loài cây Phi lao (Casuarina equisetifolia), loài này được nhập

vào Việt Nam sớm nhất Năm 1896, Phi lao đã được trồng ở ven biển Nghệ

An và cho thấy loài này sinh trưởng rất tốt trên cát ven biển, từ năm 1915 Phi lao được trồng thành các đai rừng phòng hộ ven biển Miền Trung (Lâm Công Định, 1977)

Sau 1975, vùng cát ven biển Quảng Nam – Đà Nẵng được trồng Phi lao

từ phong trào trồng cây gây rừng của Nhà nước giao cho các Hợp Tác xã, Tổ chức Thanh Niên, phụ nữ, học sinh, sinh viên với mục tiêu chính là an ninh – quốc phòng, phòng chống bão Năm 1994 một đề tài hợp tác quốc tế với ACIAR về khảo nghiệm xuất xứ cho 36 loại phi lao được tập hợp từ 14 nước trên thế giới đã được thực hiện ở nước ta Quảng Nam – Đà Nẵng là một trong 4 địa điểm bố trí thí nghiệm, các xã vùng cát của huyện Điện Bàn, Thăng Bình, Núi Thành

Sau 1986, tại Quảng Nam – Đà Nẵng có các chương trình trồng rừng PAM, PAM 4304, CT 135, CT 327 nên hầu hết vùng cát của các xã ven biển được phủ xanh bởi rừng phi lao, keo, bạch đàn Những dải rừng phi lao phát triển trên cát chạy song song với bờ biển đã phát huy tính phòng hộ về mặt An ninh – Quốc phòng, giảm nhẹ thiên tai, tạo nguồn nhiên liệu chất đốt cho cư dân vùng biển, nông thôn, thành thị, làm nên cảnh quan văn hóa đẹp ven biển

Theo nhận định chung của nhân dân vùng gần biển, trước năm 1997 vùng cát ven biển Quảng Nam – Đà Nẵng, nay là Đà Nẵng được phủ kín bằng các dải rừng Phi lao (mật độ 5000 –10.000 cây/ha, cây cao trên 10m, đường kính ngang ngực trên 20cm), phân bố theo đám, cụm, rải rác trong khu dân

cư, bãi cát, cồn cát, ven bờ ruộng, đường nội bộ liên thôn, xóm và dải rừng phi lao phòng hộ trên cát ven biển các phường Hòa Hiệp Bắc, Hòa Hiệp Nam, phường Hòa Khánh Bắc, phường Thanh Khê Đông, phường Xuân Hà,

Trang 25

phường Thọ Quang, phường Mân Thái, phường Phước Mỹ, phường Mỹ An, phường Hòa Hải, phường Hòa Quý

Giai đoạn 1997 – 2006, do quá trình đô thị hóa, phát triển cơ sở hạ tầng

ở Đà Nẵng phát triển mạnh về phía biển, đặc biệt việc mở mới 3 tuyến đường Nguyễn Tất Thành, Hoàng Sa, Trường Sa chạy song song với bờ biển, các khu resort, sân golf, khu tái định cư ven biển đã chia cắt, phá hủy hầu hết các dải rừng phi lao, các loài thực vật thân gỗ thích nghi vùng cát, thảm cây bụi ven biển đã hình thành và phát triển trên vùng cát này từ rất lâu Các dải rừng phi lao hiện còn 15 – 20 ha, tập trung ở phường Hòa Hải và phường Hòa Quý nhưng cũng đã giao cho các Tập đoàn, Công ty khai thác Du Lịch ven biển quản lý, sử dụng, cho thuê,

Từ năm 2007 – 2013, thành phố Đà Nẵng đã thực hiện việc trồng mới khoảng 20 ha rừng phòng hộ ven biển bằng loài cây phi lao từ các nguồn vốn

DA 661, Tổ chức phi Chính Phủ ACCCRN (gọi tắt DA CTC), Da để bảo vệ

bờ kè ven biển,

Hiện nay, diện tích thành rừng chỉ đạt 40 – 50% so với diện tích thiết kế ban đầu, nguyên nhân mất rừng được xác định là do sạt lở, xói mòn bờ biển, khi ảnh hưởng gió bão, gió mùa đông bắc mang theo hơi muối gây nhiễm mặn ở bộ phận (rễ, thân, lá), hạn hán, cháy rừng [12]

Trang 26

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

2.1.2 Đối tượng nghiên cứu

- Các điểm xói lở bờ biển: Vị trí (tọa độ)

- Phân bố rừng phòng hộ ven biển Đà Nẵng: Năm 2013, Năm 2014 (tọa

độ, diện tích)

- Đường bờ biển Đà Nẵng: Bản đồ

2.1.3 Phạm vi nghiên cứu

- Không gian: Khu vực ven biển thành phố Đà Nẵng

- Thời gian: Tiến hành từ tháng 09/2014 – 04/2015

Hình 2.1 Bản đồ khu vực nghiên cứu

Trang 27

2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Đề tài thực hiện các nội dung cụ thể sau:

- Điều tra, đánh giá dữ liệu về xói lở bờ biển, rừng phòng hộ và đường

bờ biển khu vực ven biển Thành phố Đà Nẵng

- Xây dựng bản đồ hiện trạng xói lở bờ biển, bản đồ suy thoái rừng phòng hộ và bản đồ đường bờ ven biển Đà Nẵng

- Trên cơ sở các bản đồ đã xây dựng, tiến hành chồng ghép bản đồ để đánh giá sự tương quan giữa đặc điểm ven bờ và rừng phòng hộ khu vực ven biển Đà Nẵng

- Xây dựng một số giải pháp giảm thiểu xói lở bờ biển, bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ ven biển thành phố Đà Nẵng

2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.3.1 P ương p áp tiếp cận

Bờ biển luôn bị thay đổi hình dạng do tác dụng của sóng vỗ, thủy triều, các dòng chảy có hướng và dọc theo bờ cũng như tác dụng vật lí, hóa học của nước, của sinh vật sống trong nước Quá trình làm thay đổi hình dáng bờ biển chủ yếu do sóng vỗ gọi là hiện tượng mài mòn

Đường tiếp xúc giữa đất (lục địa) và vực nước (biển) gọi là đường bờ Vị trí đường bờ hoặc thay đổi từ thời địa chất này sang thời địa chất khác (do các chuyển động gần đây nhất của vỏ Trái Đất, do các dao động đơn thuần của mực nước đại dương), cũng như trong các khoảng thời gian ngắn (năm, mùa, tháng, ngày, đêm…) liên quan với sóng, thủy triều Đường bờ có thể dịch chuyển sâu vào lục địa hoặc ra biển hàng chục, hàng trăm mét thậm chí hàng

km hoặc hàng chục km

Dải lục địa tương đối hẹp, tiếp giáp với đường bờ, có dạng địa hình do biển tạo nên với mực nước trung bình hiện tại của biển gọi là bờ Ranh giới của bờ được đánh dấu bằng chỗ có cát do sóng biển đem vào lục địa Tác

Trang 28

dụng qua lại giữa biển lục địa được thể hiện trong sự tạo thành các dạng địa hình nhất định: vách bờ, đới các thềm biển “nâng”, đới các bình nguyên ven biển dạng bậc thềm, đới các vách bờ cổ hơn tạo thành đới ven bờ

Tùy thuộc vào các quá trình và hiện tượng địa chất chiếm ưu thế trong đới bờ, chia ra thành bờ mài mòn và bờ tích tụ Bờ mài mòn thường sâu, dốc cấu tạo chủ yếu là đá gốc chịu tác dụng xói lở và phá hoại mạnh mẽ Các yếu

tố hình thái chủ yếu của loại bờ này là: vách bờ, ngấn sóng vỗ, bãi bồi Bờ tích tụ thường nông thoải gồm cát, sỏi hiếm khi cuội nhỏ Các yếu tố hình thái chủ yếu của bờ này là: thềm tích tụ nổi, đê bờ, bãi bồi, thềm tích tụ ngầm – các bờ ngầm hoặc đê bờ lộ trên mặt nước, đôi khi ngăn thành các vũng [12] Xói lở và biến đổi đường bờ là một quá trình địa chất được biểu hiện bằng sự thay đổi hình thái: Thay đổi mặt cắt, hình dáng bờ và tính ổn định của

Hiện tượng xói lở và biến đổi đường bờ có các đặc trưng sau:

- Tác dụng mài mòn của vực nước thể hiện sự rửa xói sườn bờ của sóng dẫn đến sự hình thành phần mài mòn của thềm bờ ngầm; dọc theo thềm bờ ngầm về phía bờ hình thành đới sóng trườn Sự vận chuyển vật liệu rời rạc do các dòng chảy có hướng dọc theo bờ, trong một số trường hợp cũng thúc đẩy

sự hình thành thềm bờ mài mòn

- Tích tụ vật liệu do tác dụng của rửa xói bờ, vật liệu đó một phần được lắng đọng tạo nên phần tích tụ của thềm bờ

- Vật liệu tích tụ do các dòng chảy có hướng dọc theo bờ [11]

Việt Nam nằm dọc theo bán đảo Đông Dương, gắn liền với lục địa Châu

Á rộng lớn và thông ra biển Thái Bình Dương Phần đất liền của Việt Nam trải dài chiều dọc tính theo đường thẳng trong đất liền từ Bắc xuống Nam khoảng 1650 km Chiều ngang từ Tây sang Đông, nơi rộng nhất trên đất liền

Trang 29

khoảng 600 km, nơi hẹp nhất 50 km Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới, chịu ảnh hưởng của chế độ gió mùa Châu Á Trung bình hàng năm có từ 6 –

10 cơn bão và áp thấp nhiệt đới, kéo theo mưa lớn gây ra lũ lụt và đôi khi xảy

ra sóng thần ven biển Việt Nam là một nước có nhiều núi và sông, bờ biển dài, có hệ sinh thái rừng đầu nguồn và ven biển rất phong phú, đa dạng [8] Vai trò của rừng phòng hộ ven biển là rừng được xây dựng và phát triển cho mục đích bảo vệ và điều tiết nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn đất, hạn chế thiên tai, điều hòa khí hậu, bảo đảm cân bằng sinh thái và an ninh môi trường [14]

Hiệu quả của rừng phòng hộ chắn gió, chống cát bay đã được nghiên cứu bởi Turnbull, JW and Martensz năm 1982 Cho thấy trên các hoang mạc muốn cải thiện tiểu khí hậu và cải tạo đất phải trồng rừng phòng hộ thành hệ thống đai theo mạng lưới ô vuông, có kết cấu kín, hỗn giao nhiều tầng [30] Các kết quả nghiên cứu đều khẳng định vai trò to lớn của các đai rừng phòng hộ và cải thiện điều kiện canh tác Một đai rừng có chiều rộng 100m, hàng năm có khả năng cố định được 104 – 223m3

cát Ở thành phố Zhanjiang, được bao quanh trên 20.000 ha cát di động và bán di động đã được cố định bởi các đai rừng và kết quả là hàng nghìn ha đất nông nghiệp được phục hồi (Yang, J.C và cộng sự, năm 1995) Ở khoảng cách 5 – 25H tốc độ gió giảm

25 – 40%, vùng có hiệu quả nhất trong phạm vị 5H, ở đó tốc độ gió giảm 46 – 69% Hiệu quả chắn gió giảm đi khi khoảng cách giữa các đai rừng càng xa nhau Nhiệt độ không khí trong đai rừng tăng 0,3 – 1,50C vào mùa đông, giảm

1 – 20C vào mùa hè và lượng bốc hơi trong đai rừng giảm 10 – 30% so với nơi đất trống Theo tài liệu của Trạm Nông Lâm Dao Đông ở Đảo Hải Nam, một khu rừng trồng Phi lao 10 tuổi đã tạo một lớp thảm mục dày 4 – 9cm, với tổng lượng rơi rụng 15 – 21 tấn/ha trong mười năm [35]

Trang 30

Hiện tượng gió cuốn hàng tỉ tấn đất màu ở Đại Bình Nguyên Bắc Mĩ là chứng nghiệm rõ rệt nhất về sự tàn phá của gió Chính cây cỏ nhờ rễ mới giữ được đất, tránh xói lở bào mòn do gió Ở Liên Xô trước đây kế hoạch GOELRO của Lê - Nin năm 1921 đã đưa ngành nông nghiệp phát triển cao nhờ trồng hơn 2 triệu ha rừng làm vành đai phòng hộ phần đất phía đông châu

Âu của Liên Xô Ngoài ra, các nhà khoa học cho rằng vùng Cận Đông từ Do Thái đến Ấn Độ không nhất thiết trở thành sa mạc nếu người ta trồng rừng, trồng cỏ và ngăn không cho gia súc phá hại [32]

2.3.2 P ương p áp t u t ập số liệu

a Vị trí khu vực nghiên cứu:

Sử dụng máy định vị GPS 62sc, thước dây hiệu DFJ 30m, thước cầm tay 3m kết hợp với phương pháp lập tuyến điều tra của Nguyễn Nghĩa Thìn (2007), Hoàng Chung (2006) [3], [17], cụ thể như sau:

- Lập tuyến điều tra: Trước tiên xác định địa điểm nghiên cứu, căn cứ vào bản đồ khu vực lập các tuyến điều tra theo hướng Bắc – Nam, chạy dọc theo trục đường Hoàng Sa – Trường sa (thuộc quận Sơn Trà và quận Ngũ Hành Sơn); dọc theo tuyến đường Nguyễn Tất Thành – ven biển phường Hòa Hiệp Bắc (thuộc quận Liên Chiểu), sau đó trên tuyến điều tra cứ 100 m, lập tuyến ngang, vuông góc với tuyến Bắc – Nam theo hướng Đông – Tây

- Thu thập số liệu: Trên tuyến điều tra dọc, ngang theo chiều dài bãi cát ven biển, tiến hành đo đạc (vị trí khu vực nghiên cứu)

Trang 31

c Thu thập số liệu rừng phòng hộ:

- Căn cứ vào Hồ sơ thiết kế trồng rừng phòng hộ năm 2007 và bản đồ mapinfo phân bố rừng phòng hộ năm 2013 của sở NN và PTNTthành phố Đà Nẵng, rừng phòng hộ ven biển được trồng thành lô dọc theo bãi cát ven biển [22]

- Khảo sát thực tế: Dùng GPS đo tọa độ các đỉnh đa giác giác của lô rừng phòng hộ ven biển

d Thu thập số liệu đường bờ biển Đà Nẵng:

- Số liệu đường bờ biển Đà Nẵng trong năm 2014 được lấy bằng phương pháp hồi cứu tài liệu tại Sở công nghệ và thông tin thành phố Đà Nẵng (bản

đồ mô hình hóa)

2.3.3 P ương p áp xử lý số liệu

Bản đồ địa lý thành phố Đà Nẵng của sở thông tin và truyền thông Đà Nẵng năm 2014 dưới dạng file Mapinfo Để thuận tiện cho quá trình xây dựng bản

đồ, đề tài chuyển đổi sang dạng Shapefile để thực hiện trên ArcGIS

Hình 2.2 Bản đồ thông tin địa lý thành phố Đà Nẵng hiển thị bằng Mapinfo

Trang 32

Hình 2.3 Bản đồ thông tin địa lý thành phố Đà Nẵng sau khi chuyển từ

Mapinfo sang ArcGIS

Tọa độ điểm xói lở, tọa độ điểm của rừng phòng hộ ven biển sau khi thu thập bằng GPS sẽ được chuyển đổi phù hợp với hệ tọa độ VN2000 bằng phần mềm GIScoord 2.0

Để chuyển đổi dữ liệu từ WGS84 sang VN2000, trước tiên ta cần kiểm tra dữ liệu có chắc chắn ở WGS84 chưa Một công cụ hỗ trợ cho việc xem dữ liệu có thể đang ở WGS84 là công cụ ArcGoogle 2.0 Với dữ liệu ở WGS84, khi ta hiển thị trên nền Google maps, dữ liệu sẽ nằm trùng khớp với ảnh Google maps

- Khởi động chương trình GISCoord;

- Chọn vào menu Chuyển đổi hệ tọa độ: WGS84 sang VN2000;

- Chọn địa phương tương ứng;

Trang 33

- Chọn múi chiều 3 độ hoặc 6 độ;

- Nhấn vào để chọn lớp dữ liệu cần chuyển sang VN2000;

- Chọn suất sang Shapefile hoặc Personel Geodatabase;

- Nhấn vào để chọn tới thư mục nơi lưu dữ liệu xuất ra;

- Nhập vào tên file xuất ra;

Hình 2.4 Hướng dẫn cách chuyển WGS84 quan VN2000

- Nhấn nút Chuyển để chuyển sang VN2000;

- Sau khi chuyển thành công chương trình sẽ đưa ra thông báo chuyển thành công;

- Sau khi lớp dữ liệu đã chuyển đổi sang VN2000, ta có thể kiểm tra bằng cách đưa lớp dữ liệu này vào ArcMap và kết hợp với công cụ Arcgoogle

để xem lớp dữ liệu ở hệ tọa độ VN2000 đã sinh ra

2.2.4 P ương p áp GIS

Trang 34

Trong hệ thống thông tin địa lý có nhiều chương trình để làm việc như Mapinfo, QGIS, ArcGIS…Đề tài sử dụng phần mềm ArcGIS vì đây là hệ thống mở, có thể phát triển ra nhiều phương tiện khác như web, mobi…

ArcGIS là dòng sản phẩm hỗ trợ trong hệ thống thông tin địa lý của ESRI Tùy mức độ đăng ký bản quyền mà ArcGIS sẽ ở dạng ArcView, ArcEditor, ArcInfo Trong đó ArcInfo có chi phí bản quyền lớn nhất và nhiều chức năng nhất

ERSI có những sản phẩm chủ yếu sau: ArcGIS gồm các ứng dụng chính ArcMap, ArcCatalog, ArcToolbox

- ArcIMS dùng để đưa dữ liệu GIS lên Web;

- ArcPad dùng cho các thiết bị Mobil;

- ArcSDE dùng làm cầu nối truy xuất vào các hệ quản trị cơ sở dữ liệu;

- ArcExplore dùng truy cập nguồn dữ liệu trên Web;

- ArcGIS server hỗ trợ các chức năng bên phía server cũng như triển khai các ứng dụng qua mạng

Giới thiệu về ArcMap

ArcMap cho phép người sử dụng thực hiện các chức năng sau:

- Hiển thị trực quan: Thể hiện dữ liệu theo sự phân bố không gian giúp người dùng nhận biết được các quy luật phân bố của dữ liệu các mối quan hệ không gian mà nếu sử dụng phương pháp truyền thống thì rất khó nhận biết;

- Tạo lập bản đồ: Nhằm giúp cho người sử dụng dể dàng xây dựng các bản đồ chuyên đề để truyền tải thông tin cần thiết một cách nhanh chóng và chuẩn xác, ArcMap cung cấp hàng loạt các công cụ để người dùng đưa dữ liệu của họ lên bản đồ, thể hiện, trình bày chúng sao cho có hiệu quả và ấn tượng nhất;

Trang 35

- Trợ giúp ra quyết định: ArcMap cung cấp cho người dùng các công cụ

để phân tích, xử lý dữ liệu không gian, giúp cho người dùng dể dàng tìm được lời giải đáp cho các câu hỏi như là “Ở đâu…?”, “Có bao nhiêu…?”,… Các thông tin này sẽ giúp cho người dùng có những quyết định nhanh chóng, chính xác hơn về một vấn đề cụ thể xuất phát từ thực tế mà cần phải được giải quyết;

- Trình bày: ArcMap cho phép người dùng trình bày, hiển thị kết quả công việc của họ một cách dễ dàng Người dùng có thể xây dựng những bản

đồ chất lượng và tạo các hiển thị tương tác để kết nối các báo cáo, đồ thị, biểu đồ, bảng biểu, bản vẽ, tranh ảnh và những thành phần khác với dữ liệu của người dùng Họ có thể tìm kiếm, truy vấn thông tin địa lý thông qua các công cụ xử lý dữ liệu rất mạnh và chuyên nghiệp của ArcMap

Việc áp dụng GIS trong quá trình tiến hành đề tài được xác định với các bước sau là phù hợp nhất, đó là các bước:

- Xác định vị trí xói lở trên bản đồ ven biển thành phố Đà Nẵng;

- Xác định được các lô rừng phòng hộ ven biển trên bản đồ thành phố Đà Nẵng;

- Mô hình hóa được đường bờ biển Đà Nẵng;

- Phân tích xu thế diễn biến đường bờ thông qua chồng ghép các bản đồ liên quan để thấy được sự tương quan của yếu tố xói lở, rừng phòng hộ đến đường bờ biển [4]

Trang 36

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BIỆN LUẬN 3.1 THỰC TRẠNG DỮ LIỆU VỀ XÓI LỞ BỜ BIỂN, ĐƯỜNG BỜ VEN BIỂN VÀ RỪNG PHÒNG HỘ KHU VỰC VEN BIỂN ĐÀ NẴNG

3.1.1 Dữ liệu xói lở bờ biển và đường bờ khu vực ven biển Đà Nẵng

Theo kết quả nghiên cứu của đề tài, trước năm 2014, vấn đề xói lở bờ biển thành phố Đà Nẵng chưa từng được nghiên cứu đánh giá nên việc hồi cứu số liệu về xói lở bờ biển là không thể Từ giữa tháng 7 năm 2014 sở TN

& MT thành phố Đà Nẵng giao cho Chi cục biển và Hải đảo thành phố Đà Nẵng đánh giá tình trạng xói lở ven biển Đà Nẵng, dự kiến đầu năm 2016 mới hoàn thành báo cáo đánh giá [14]

Theo kết quả nghiên cứu của đề tài, dữ liệu đường bờ khu vực ven biển

Đà Nẵng đang được Chi cục Biển và Hải đảo Đà Nẵng điều tra đánh giá và chưa được công bố [19] Để phục vụ cho đề tài, dữ liệu đường bờ biển Đà Nẵng sẽ được tách chiết từ bản đồ thông tin địa lý thành phố Đà Nẵng năm

2013 Bản đồ địa lý thành phố Đà Nẵng năm 2013 là dữ liệu của sở Công nghệ và thông tin thành phố Đà Nẵng thành lập và công bố vào tháng 7 năm

2013

3.1.2 Dữ liệu rừng phòng hộ ven biển Đà Nẵng

Theo kết quả nghiên cứu của đề tài, diện tích đất cát và cồn cát di động ven biển Đà Nẵng có khoảng 159 ha, chiếm 0,123% tổng diện tích tự nhiên của thành phố, tạo thành các dải đất cát chạy dọc theo bờ biển, phân bố chủ yếu ở các quận Liên Chiểu, quận Ngũ Hành Sơn, quận Sơn Trà và quận Thanh Khê Đây là những tiểu vùng sinh thái khắc nghiệt, thường xuyên chịu ảnh hưởng của bão, áp thấp nhiệt đới, lũ lụt, triều cường, gió mùa đông bắc gây nên hiện tượng cát bay, xói mòn, sạt lở, cuốn trôi làm cho thể nền vùng cát chạy sát biển dễ bị thay đổi hình dạng, diễn biến này đã từng xảy ra ở

Trang 37

vùng ven biển Đà Nẵng những năm có bão lớn (2006, 2009 và 2013) uy hiếp mạnh mẽ các khu dân cư, đường sá, thảm thực vật

Kết quả điều tra thực địa kết hợp với báo cáo hàng năm của Ban Quản

lý rừng đặc dụng Bà Nà – Núi Chúa thành phố Đà Nẵng về thực trạng phân

bố, quy mô rừng phi lao ven biển Đà Nẵng trình bày ở bảng 3.1 [7]

Trang 38

Bảng 3.1 Phân bố, quy mô rừng phi lao ven biển Đà Nẵng giai đoạn 2004 – 2014

Năm Nguồn đầu tư Diện tích

(ha)

Phân bố Dạng địa hình Địa điểm

Trước 1996 Dự án PAM, PAM – 4304 20 Bãi cát, cồn cát đã ổn định,

2007 Dự án 661 1.5 Bãi cát bán di động sát biển P Hòa Hiệp Nam, Q Liên Chiểu

2008 Dự án Green Viet 1 Bãi cát bán di động sát biển P Hòa Hiệp Nam, Q Liên Chiểu

2012 Dự án WB 1.5 Bãi cát bán di động sát biển P Hòa Khánh Bắc, Q Liên Chiểu

2013 Sự nghiệp Thủy sản -

Nông – Lâm 0.6 Bãi cát bán di động sát biển P Hòa Hiệp Nam, Q Liên Chiểu

Tổng 40.9 4 Quận: Liên Chiểu, Thanh Khê, Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn

Ngày đăng: 15/06/2015, 19:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Trịnh Gia Bình (2012), "Ứng dụng GIS vào công tác quản lý vùng bờ tỉnh Nam Định", Kỷ yếu Hội thảo ứng dụng GIS toàn Quốc 2012. NXB. Nông Nghiệp, tr. 65 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng GIS vào công tác quản lý vùng bờ tỉnh Nam Định
Tác giả: Trịnh Gia Bình
Nhà XB: NXB. Nông Nghiệp
Năm: 2012
[8] Nguyễn Kim Lợi (2009), "Ứng dụng GIS và mô hình MWSWAT trong đánh giá chất lượng nước tại huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.", Kỷ yếu Hội thảo ứng dụng GIS toàn Quốc 2010. NXB. Nông Nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng GIS và mô hình MWSWAT trong đánh giá chất lượng nước tại huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng
Tác giả: Nguyễn Kim Lợi
Nhà XB: NXB. Nông Nghiệp
Năm: 2009
[9] Mai Xuân Phúc (2007), "Đánh giá ảnh hưởng của chất độc hóa học đối với tài nguyên rừng trong chiến tranh Việt Nam", Đề tài nghiên cứu KC 08 – 21, Trung tâm khoa học tự nhiên và công nghệ quốc gia – Viện Địa lí Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá ảnh hưởng của chất độc hóa học đối với tài nguyên rừng trong chiến tranh Việt Nam
Tác giả: Mai Xuân Phúc
Năm: 2007
[15] Nguyễn Quang Thanh (Năm 2011), "Ứng dụng GIS xác định biến động đường bờ vùng Tiền Hải - Thái Bình", Kỷ yếu Hội thảo ứng dụng GIS toàn Quốc 2011. NXB. Nông Nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng GIS xác định biến động đường bờ vùng Tiền Hải - Thái Bình
Nhà XB: NXB. Nông Nghiệp
[18] Vũ Thị Thu Thủy (2012), "Ứng dụng GIS nghiên cứu sự sạt lở bờ sông Tiền, sông Hậu thuộc tỉnh Vĩnh Long ", Kỷ yếu Hội thảo ứng dụng GIS toàn Quốc 2012. NXB. Nông Nghiệp, tr. 81 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng GIS nghiên cứu sự sạt lở bờ sông Tiền, sông Hậu thuộc tỉnh Vĩnh Long
Tác giả: Vũ Thị Thu Thủy
Nhà XB: NXB. Nông Nghiệp
Năm: 2012
[19] Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam (2014), "Đánh giá xói lở bờ biển Việt Nam", Kỷ yếu Hội thảo tham vấn Báo cáo quốc gia về xói lở bờ biển tại Việt Nam.TÀI LIỆU TIẾNG ANH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá xói lở bờ biển Việt Nam
Tác giả: Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam
Năm: 2014
[20] A. G. zThomson và các cộng sự. (2003), "The use of airborne remote sensing for extensive mapping of intertidal sediments and saltmarshes in eastern England", International Journal of Remote Sensing. 24(13), tr. 2717-2737 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The use of airborne remote sensing for extensive mapping of intertidal sediments and saltmarshes in eastern England
Tác giả: A. G. zThomson và các cộng sự
Năm: 2003
[22] Burrough ( 1986), "Principles of geographical information systems for land resources assessment", Geocarto International. 1(3), tr. 54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Principles of geographical information systems for land resources assessment
[24] Ducker (1979), "Expert systems, GIS and spatial decision", Nova science publisher. 27(15), tr. 207- 228 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Expert systems, GIS and spatial decision
Tác giả: Ducker
Năm: 1979
[25] ESRI (1990), "Understanding GIS: The ARC/INFO method", Environmental Systems Research Institute. 3(5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Understanding GIS: The ARC/INFO method
Tác giả: ESRI
Năm: 1990
[26] Hemakumara (1993), "GIS based analysis on environmental sensitive areas and identification of the potential disaster hazardous locations in southern sri lanka", Canadian Journal of Forest Research. 9(9), tr. 311 Sách, tạp chí
Tiêu đề: GIS based analysis on environmental sensitive areas and identification of the potential disaster hazardous locations in southern sri lanka
Tác giả: Hemakumara
Năm: 1993
[2] Bộ Khoa học Công nghệ (1999-2000), "Nghiên cứu dự báo phòng chống sạt lở bờ sông, bờ biển Miền Trung&#34 Khác
[3] Hoàng Chung (1980), "Đồng cỏ vùng núi phía bắc Việt Nam&#34 Khác
[4] Nguyễn Đình Dương (1997), "Kĩ thuật viễn thám và hệ thống thông tin địa lý trong vấn đề đánh giá tác động môi trường ở Việt Nam &#34 Khác
[5] Nguyễn Văn Hòa (2005), "Ứng dụng GIS trong quản lý tài nguyên rừng tại Hạt Kiểm lâm huyện Lâm Hà tỉnh Lâm Đồng&#34 Khác
[6] Lê Hùng (2013), "Ứng dụng công nghệ viễn thám và hệ thống thông tin địa lý (GIS) trong nghiên cứu biến động đường bờ hỗ trợ xác định vị trí xây dựng công trình kinh tế xã hội&#34 Khác
[7] Nguyễn Xuân Lâm (2004), "Nghiên cứu ứng dụng phương pháp viên thám và hệ thống thông tin địa ỉý phục vụ mục đích giảm sát một số thành phân tài nguyên, môi trường tại các khu vực xây dựng công trình thủy điện&#34 Khác
[10] Lê Công Quang (2014), "Nghiên cứu đặc điểm sinh thái ven biển Đà Nẵng và đề xuất biện pháp phục hồi, phát triển bền vững rừng phòng hộ&#34 Khác
[11] Nguyễn Thị Sinh (2009), "Thực trạng xói lở bờ biển Việt Nam – Giải pháp công nghệ Stabiplage&#34 Khác
[12] Sở Công nghệ và thông tin (2014), "Hội thảo tham vấn báo cáo quốc gia về “ Đánh giá xói lở bờ biển Việt Nam" &#34 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1. Bản đồ khu vực nghiên cứu - ứng dụng arcgis để đánh giá thực trạng xói lở bờ biển, suy thoái rừng phòng hộ và xu thế diễn biến đường bờ khu vực ven biển đà nẵng
Hình 2.1. Bản đồ khu vực nghiên cứu (Trang 26)
Hình 2.3. Bản đồ thông tin địa lý thành phố Đà Nẵng sau khi chuyển từ - ứng dụng arcgis để đánh giá thực trạng xói lở bờ biển, suy thoái rừng phòng hộ và xu thế diễn biến đường bờ khu vực ven biển đà nẵng
Hình 2.3. Bản đồ thông tin địa lý thành phố Đà Nẵng sau khi chuyển từ (Trang 32)
Hình 3.2. Bản đồ thực trạng xói lở bờ biển Đà Nẵng vị trí Q. Liên Chiểu - ứng dụng arcgis để đánh giá thực trạng xói lở bờ biển, suy thoái rừng phòng hộ và xu thế diễn biến đường bờ khu vực ven biển đà nẵng
Hình 3.2. Bản đồ thực trạng xói lở bờ biển Đà Nẵng vị trí Q. Liên Chiểu (Trang 47)
Hình 3.3. Bản đồ thực trạng xói lở bờ biển Đà Nẵng vị trí Q. Thanh Khê - ứng dụng arcgis để đánh giá thực trạng xói lở bờ biển, suy thoái rừng phòng hộ và xu thế diễn biến đường bờ khu vực ven biển đà nẵng
Hình 3.3. Bản đồ thực trạng xói lở bờ biển Đà Nẵng vị trí Q. Thanh Khê (Trang 48)
Hình 3.5. Bản đồ thực trạng xói lở bờ biển Đà Nẵng vị trí quận Ngũ Hành - ứng dụng arcgis để đánh giá thực trạng xói lở bờ biển, suy thoái rừng phòng hộ và xu thế diễn biến đường bờ khu vực ven biển đà nẵng
Hình 3.5. Bản đồ thực trạng xói lở bờ biển Đà Nẵng vị trí quận Ngũ Hành (Trang 50)
Hình 3.6. Bản đồ thể hiện thông tin chi tiết từng điểm xói lở - ứng dụng arcgis để đánh giá thực trạng xói lở bờ biển, suy thoái rừng phòng hộ và xu thế diễn biến đường bờ khu vực ven biển đà nẵng
Hình 3.6. Bản đồ thể hiện thông tin chi tiết từng điểm xói lở (Trang 51)
Hình 3.13. Bản đồ rừng phòng hộ ven biển Đà Nẵng năm 2013 và năm 2014 - ứng dụng arcgis để đánh giá thực trạng xói lở bờ biển, suy thoái rừng phòng hộ và xu thế diễn biến đường bờ khu vực ven biển đà nẵng
Hình 3.13. Bản đồ rừng phòng hộ ven biển Đà Nẵng năm 2013 và năm 2014 (Trang 56)
Hình 3.17. Bản đồ rừng phòng hộ ven biển Đà Nẵng năm 2013 và năm 2014 - ứng dụng arcgis để đánh giá thực trạng xói lở bờ biển, suy thoái rừng phòng hộ và xu thế diễn biến đường bờ khu vực ven biển đà nẵng
Hình 3.17. Bản đồ rừng phòng hộ ven biển Đà Nẵng năm 2013 và năm 2014 (Trang 59)
Hình 3.19. Bản đồ tổng hợp xói lở, rừng phòng hộ và đường bờ ven biển Đà - ứng dụng arcgis để đánh giá thực trạng xói lở bờ biển, suy thoái rừng phòng hộ và xu thế diễn biến đường bờ khu vực ven biển đà nẵng
Hình 3.19. Bản đồ tổng hợp xói lở, rừng phòng hộ và đường bờ ven biển Đà (Trang 61)
Hình 3.20. Bản đồ tổng hợp xói lở, rừng phòng hộ và đường bờ ven biển Đà - ứng dụng arcgis để đánh giá thực trạng xói lở bờ biển, suy thoái rừng phòng hộ và xu thế diễn biến đường bờ khu vực ven biển đà nẵng
Hình 3.20. Bản đồ tổng hợp xói lở, rừng phòng hộ và đường bờ ven biển Đà (Trang 62)
Hình 3.21. Bản đồ tổng hợp xói lở, rừng phòng hộ và đường bờ ven biển Đà - ứng dụng arcgis để đánh giá thực trạng xói lở bờ biển, suy thoái rừng phòng hộ và xu thế diễn biến đường bờ khu vực ven biển đà nẵng
Hình 3.21. Bản đồ tổng hợp xói lở, rừng phòng hộ và đường bờ ven biển Đà (Trang 63)
Hình 3.22. Bản đồ tổng hợp xói lở, rừng phòng hộ và đường bờ ven biển Đà - ứng dụng arcgis để đánh giá thực trạng xói lở bờ biển, suy thoái rừng phòng hộ và xu thế diễn biến đường bờ khu vực ven biển đà nẵng
Hình 3.22. Bản đồ tổng hợp xói lở, rừng phòng hộ và đường bờ ven biển Đà (Trang 64)
Hình PL1. Một số điểm xói lở - ứng dụng arcgis để đánh giá thực trạng xói lở bờ biển, suy thoái rừng phòng hộ và xu thế diễn biến đường bờ khu vực ven biển đà nẵng
nh PL1. Một số điểm xói lở (Trang 75)
Hình PL2. Một số lô rừng phòng hộ - ứng dụng arcgis để đánh giá thực trạng xói lở bờ biển, suy thoái rừng phòng hộ và xu thế diễn biến đường bờ khu vực ven biển đà nẵng
nh PL2. Một số lô rừng phòng hộ (Trang 76)
Hình PL3. Hoạt động khảo sát thực tế - ứng dụng arcgis để đánh giá thực trạng xói lở bờ biển, suy thoái rừng phòng hộ và xu thế diễn biến đường bờ khu vực ven biển đà nẵng
nh PL3. Hoạt động khảo sát thực tế (Trang 77)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w