1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sử dụng chỉ số WQI để đánh giá chất lượng nước mặt sông Cu Đê - thành phố Đà Nẵng.

59 1K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

KHOA SINH MÔI TRƯỜNGLÊ THỊ THU THẢO SỬ DỤNG WQI ĐỂ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG NƯỚC MẶT SÔNG CU ĐÊ – THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG Ngành: QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG Người hướng dẫn: ThS... Hiện nay đã

Trang 1

KHOA SINH MÔI TRƯỜNG

LÊ THỊ THU THẢO

SỬ DỤNG WQI ĐỂ ĐÁNH GIÁ

CHẤT LƯỢNG NƯỚC MẶT

SÔNG CU ĐÊ – THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Đà Nẵng – Năm 2015

Trang 2

KHOA SINH MÔI TRƯỜNG

LÊ THỊ THU THẢO

SỬ DỤNG WQI ĐỂ ĐÁNH GIÁ

CHẤT LƯỢNG NƯỚC MẶT

SÔNG CU ĐÊ – THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Ngành: QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

Người hướng dẫn: ThS Trần Ngọc Sơn

Đà Nẵng – Năm 2015

Trang 3

Các số liệu, kết quả nêu trong khóa luận là trung thực, khách quan và chưatừng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

Ðà Nẵng, ngày 05 tháng 05 năm 2015

Sinh viên

Lê Thị Thu Thảo

Trang 4

Trường Ðại học Sư phạm – Ðại học Ðà Nẵng đã tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôitrong suốt quá trình học tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới thầy Trần Ngọc Sơn đãtận tình giúp đỡ, hướng dẫn, dành nhiều thời gian trao đổi và định hướng cho tôitrong quá trình thực hiện khóa luận

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đã động viên, khuyếnkhích tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Ðà Nẵng, ngày 05 tháng 05 năm 2015

Sinh viên

Lê Thị Thu Thảo

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu đề tài 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 TÌNH HÌNH Ô NHIỄM NGUỒN NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 3

1.2 TÌNH HÌNH Ô NHIỄM NƯỚC Ở VIỆT NAM 5

1.3 TỔNG QUAN CHUNG VỀ WQI 7

1.3.1 Giới thiệu chung về WQI 7

1.3.2 Các ứng dụng chủ yếu của WQI 7

1.3.3 Mục đích của việc áp dụng WQI 7

1.3.4 Quy trình xây dựng WQI 8

1.4 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ SỬ DỤNG WQI TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 8

1.4.1 Tình hình nghiên cứu và sử dụng WQI trên thế giới 8

1.4.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng WQI ở Việt Nam 11

1.5 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ VÀ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU .13

1.5.1 Đặc điểm tự nhiên 13

1.5.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 15

1.6 ĐẶC ĐIỂM SÔNG CU ĐÊ 16

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 19

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 19

Trang 6

2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

2.3.1 Phương pháp hồi cứu số liệu 20

2.3.2 Phương pháp lấy mẫu, phân tích 20

2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu 22

2.3.4 Các phương pháp tính toán chỉ số chất lượng nước (WQI) 22

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 26

3.1 KẾT QUẢ PHÂN TÍCH CÁC THÔNG SỐ LÝ, HÓA, SINH CỦA MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT SÔNG CU ĐÊ 26

3.1.1 Nhu cầu oxy hóa sinh học (BOD5) môi trường nước sông Cu Đê 28

3.1.2 Nhu cầu oxi hóa hóa học (COD) môi trường nước sông Cu Đê 29

3.1.3 Hàm lượng N-NH4môi trường nước sông Cu Đê 30

3.1.4 Hàm lượng P-PO4môi trường nước sông Cu Đê 31

3.1.5 Hàm lượng TSS môi trường nước sông Cu Đê 32

3.1.6 Sự biến động của oxi hòa tan (DO) 33

3.1.7 pH môi trường nước sông Cu Đê 33

3.1.8 Coliform môi trường nước sông Cu Đê 34

3.1.9 Độ đục môi trường nước sông Cu Đê 35

3.2 KẾT QUẢ TÍNH TOÁN WQI CHO TỪNG THÔNG SỐ, WQITỔNG VÀ XẾP LOẠI CHẤT LƯỢNG NƯỚC TẠI CÁC KHU VỰC NGHIÊN CỨU 36

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 44

KẾT LUẬN 44

KIẾN NGHỊ 44

TÀI LIỆU THAM KHẢO 45 PHỤ LỤC

Trang 7

KCN: Khu công nghiệp

NSF: National Sanitation Foundation

TCCP: Tiêu chuẩn cho phép

Trang 8

1.1 Lưu lượng dòng chảy trung bình năm 2005- 2007 của

1.2 Chất lượng môi trường nước sông Cu Đê năm 2012

2.4 Bảng quy định các giá trị BPi và qi đối với DO% bão

2.5 Bảng quy định các giá trị BPivà qiđối với thông số pH 24

3.2 Kết quả tính toán WQI và đánh giá được chất lượng

Trang 9

hình Tên hình vẽ Trang

2 Phạm vi và sơ đồ vị trí lấy mẫu tại sông Cu Đê 19

3.2 COD môi trường nước sông qua hai đợt nghiên cứu 29

3.3 Hàm lượng N-NH4 môi trường nước sông qua hai đợt

3.6 DO của môi trường nước sông qua hai đợt nghiên cứu 33

3.10 WQIthông sốtại khu vực I 383.11 WQIthông sốtại khu vực II 393.12 WQIthông sốtại khu vực III 393.13 WQIthông sốtại khu vực IV 403.14 WQIthông sốtại khu vực V 403.15 Bản đồ phân vùng chất lượng nước sông Cu Đê 41

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thành phố Ðà Nẵng là một trong những thành phố trọng điểm về phát triểnkinh tế của Việt Nam Trong những năm gần đây, với tốc độ phát triển nhanh chóngcủa quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa, đã góp phần đáng kể cho nền kinh tế -

xã hội của thành phố, tạo sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với định hướng của

cả nước Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, hiện nay thành phố ĐàNẵng đang phải đối mặt với những vấn đề bức xúc về sự suy giảm chất lượng môi

trường sống Một trong những vấn đề bức xúc là ô nhiễm nguồn nước ngọt mà đặc

biệt là sự ô nhiễm ở các hệ thống sông, dẫn đến những tác động tiêu cực đến chất

lượng cuộc sống của người dân [6], [15],[25],[24]

Sông Cu Đê là một trong hai con sông chính của thành phố Đà Nẵng, không

chỉ phục vụ cấp nước, tưới tiêu mà còn mang lại giá trị cảnh quan cho thành phố.Hiện nay, với sự gia tăng dân số, nhiều khu đô thị mới được xây dựng, đặc biệt khucông nghiệp (KCN) Hoà Khánh và KCN Liên Chiểu được mở rộng, sông Cu Ðê

đang đứng trước nhiều nguy cơ và thách thức, nổi bật trong số đó là vấn đề chấtlượng môi trường nước sông Do đó, việc đánh giá và quản lý chất lượng nước là

yêu cầu cấp thiết và đang được quan tâm [10],[24],[31]

Hiện nay đã có nhiều phương pháp được sử dụng là công cụ đánh giá chất

lượng nước tại các môi trường thủy vực, trong đó phương pháp sử dụng chỉ số chấtlượng nước (WQI) là một trong những phương pháp được nghiên cứu và ứng dụng

rộng rãi[1],[29],[33],[42] Đây là phương pháp đơn giản, dễ hiểu, có tính khái quát

cao, có thể được sử dụng cho mục đích đánh giá diễn biến chất lượng nước theokhông gian và thời gian, là nguồn thông tin phù hợp cho cộng đồng, cho những nhàquản lý không phải chuyên gia về môi trường nước [8],[27]

Với những lý do nêu trên, tôi lựa chọn đề tài “Sử dụng WQI để đánh giá

chất lượng nước sông Cu Đê - thành phố Đà Nẵng”.

2 Mục tiêu đề tài

Đánh giá hiện trạng và khả năng sử dụng nguồn nước sông Cu Đê – thành

Trang 11

phố Đà Nẵng bằng WQI.

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

3.1 Ý nghĩa khoa học

Kết quả của đề tài sẽ góp phần xây dựng cơ sở khoa học cho việc hoàn thiện

hệ thống điểm WQI và ứng dụng cho việc đánh giá chất lượng nước các thủy vực ởkhu vực miền Trung

suy thoái tài nguyên môi trường nước của con sông, phục vụ mục tiêu phát triển bền

vững kinh tế xã hội của thành phố Đà Nẵng

Trang 12

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 TÌNH HÌNH Ô NHIỄM NGUỒN NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

Hiện nay, tốc độ công nghiệp hoá - đô thị hoá ngày càng diễn ra khá nhanhcùng với sự gia tăng dân số đã gây áp lực ngày càng nặng nề đối với tài nguyên

nước trong quá trình sinh hoạt và sản xuất Con người ngoài việc khai thác tài

nguyên thiên nhiên thì còn thải ra một lượng lớn chất thải bao gồm chất thải rắn, khíthải và nước thải Trong đó, lượng nước thải chủ yếu được thải ra từ các hoạt độngsinh hoạt, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và giao thông vận tải ngày càng gia

tăng Lượng nước thải này nếu không được xử lý một cách triệt để sẽ tác động rất

lớn đến chất lượng nguồn nước và cũng là một trong những nguyên nhân gây ônhiễm nước nghiêm trọng[2], [7],[22]

Ở các nước phát triển, ước tính có khoảng 90% nước thải được thải trực tiếp

vào sông, hồ mà không qua bất kì biện pháp xử lý nào hoặc có biện pháp xử lý

nhưng không triệt để đã gây ra nhiều ảnh hưởng đến môi trường nước

Tại Mỹ, mỗi năm có 850.000.000 gallon nước thải do bị rò rỉ và hệ thốngcống thoát nước kết hợp không đồng bộ, đã gây ra ô nhiễm các nguồn nước sông,

hồ và vịnh ở Hoa Kỳ Kết quả là sản lượng thủy sản tự nhiên, hệ sinh thái và cảnhquan bị ảnh hưởng nghiêm trọng Năm 2000, vụ tai nạn hầm mỏ xảy ra tại công tyAurul (Rumani) đã thải ra 50 - 100 tấn xianua và kim loại nặng (như đồng) vàodòng sông gần Baia Mare (thuộc vùng Đông - Bắc) Sự nhiễm độc này đã khiến cácloài thuỷ sản ở đây chết hàng loạt, tổn hại đến hệ thực vật và làm bẩn nguồn nướcsạch, ảnh hưởng đến cuộc sống của 2,5 triệu người[47]

Theo nghiên cứu của Ezzat và cộng sự (2002) về chất lượng nước sông Nile

ở Ai Cập cho thấy chất lượng nước sông tại đây cũng đang trong tình tr ạng báođộng Hiện tại có hơn 700 cơ sở công nghiệp hoạt động dọc theo lưu vực sông và

hầu hết nước thải được thải thẳng ra môi trường mà chưa qua xử lý Thành phần

nước thải chứa nhiều các chất độc hại như kim loại nặng, các vi sinh vật gây bệnh,

các hóa chất công nghiệp, do đó khi tích đọng xuống đáy, nó tạo thành lượng bùnrất lớn và gây ảnh hưởng đến hoạt động sống của các sinh vật[46]

Trang 13

Bên cạnh đó, chất lượng nước sông tại các quốc qua ở khu vực Châu phicũng đang bị suy thoái Hầu hết nước từ các sông, suối, ao, hồ và thủy vực đã khanhiếm nay lại chịu sự tác động từ nước thải công nghiệp, nông nghiệp và sinh hoạt

nên đã bị suy giảm đáng kể cả về chất lượng và số lượng Cụ thể, tại Zimbabwe việc

xả thải công nghiệp và đô thị hóa đã làm cho hồ Chivero bị ô nhiễm, chất lượng

nước ngày càng suy giảm, sự tích lũy của các hợp chất amoniac đã dẫn đến nhiều

loại cá sống trong hồ bị chết hàng loạt Năm 1991 tại Nam Phi, Công ty Cổ phần

Năng lượng nguyên tử gây ra một vụ tràn dầu rất lớn gần đập Hartbeesport làm cho

các loại cá và động vật thủy sinh sống trong hồ bị chết Việc các nguồn nước sông

bị ô nhiễm đã gây ra một nguy cơ nghiêm trọng về sức khỏe cho những cộng đồngnằm gần sông, những người sử dụng trực tiếp nguồn nước đó[43]

Tại Thái Lan tình hình ô nhiễm môi trường nước ở nhiều khu vực cũng đangtrong tình trạng tương tự Theo kết quả nghiên cứu của Thares Srisatit và cộng sựcho thấy tại Bangkok môi trường nước tại các khu công nghiệp đang trong tìnhtrạng báo động Trong 30 mẫu phân tích thì có đến 27 mẫu cho thấy các chỉ tiêuBOD5, COD, N tổng vượt tiêu chuẩn cho phép (TCCP) từ 4 - 6 lần, trong đó có một

số chỉ tiêu như Pb, As vượt TCCP từ 7 - 8 lần[4]

Theo kết quả điều tra của David và cộng sự về chất lượng nước mặt tại

Thượng Hải, Trung Quốc cho thấy nguồn nước tại đây có nồng độ Pb, Zn và Hg caohơn tiêu chuẩn cho phép từ 3 – 5 lần, nguyên nhân là do việc xả thải của các nhà

máy, xí nghiệp sản xuất ắc quy, luyện khoáng tại đây hoạt động nhưng không được

xử lý và quản lý chặt chẽ Theo báo cáo của sở Tài nguyên Môi trường tỉnh TứXuyên, thì chất lượng nước mặt tại một số khu vực gần các khu công nghiệp tại đây

đang bị ô nhiễm đáng báo động, hàm lượng Pb, Cu, Fe, N tổng, P tổng tại một số

khu vực đã vư ợt quá giới hạn cho phép vài chục lần, có nơi nguồn nước không cònkhả năng tự làm sạch và nhiều đoạn sông trở thành dòng sông chết [10]

Tại Indonexia, theo kết quả nghiên cứu của Jaume Bech, CharlottePoschenrieder, Juan Barcelos, Alejandro Lansac về chất lượng nước sinh hoạt chothấy trong nước thải sinh hoạt của vùng này chứa một lượng lớn các chất như Ntổng, P tổng vượt TCCP từ 3 - 4 lần, hàm lượng BOD5, COD khá cao, pH không ổn

Trang 14

định, hàm lượng các vi sinh vật gây bệnh rất lớn [10].

Tại Nhật, sự kiện nhiễm độc thủy ngân (Hg) ở vịnh Mianmata do nước thảicủa xí nghiệp sản xuất Hg là một trong những bài học của nhân loại, mặc dù xínghiệp này đã dừng sản xuất từ năm 1952 nhưng hậu quả vẫn kéo dài đến nay chưachấm dứt và có thể còn ảnh hưởng đến các thế hệ mai sau [10]

Tại Anh, đầu thế kỷ 19, sông Tamise rất sạch Đến giữa thế kỷ 20 nó trởthành ống cống xả thải Các sông khác cũng có tình trạng tương tự trước khi người

ta đưa ra các biện pháp bảo vệ nghiêm ngặt [10]

1.2 TÌNH HÌNH Ô NHIỄM NƯỚC Ở VIỆT NAM

Hiện nay, nước ta có khoảng 2.360 con sông, kênh lớn nhỏ với tổng chiềudài khoảng 41.900 km Dọc theo bờ biển từ Bắc vào Nam thì cứ khoảng 23 km lại

có một cửa sông Các sông lớn của nước ta đa số bắt nguồn từ nước ngoài, chỉ cóphần trung lưu và hạ lưu chảy trên địa phận Việt Nam Lưu lượng nước của cácsông và kênh là 26.600 m3/s, trong tổng lượng nước chảy này phần được sinh ra

trên đất Việt Nam chiếm 38,5%, phần từ nước ngoài chảy vào Việt Nam chiếm

khoảng 61,5%[45]

Theo báo cáo về hiện trạng môi trường Việt Nam 2006 đối với chất lượng

nước tại các con sông cho thấy hầu hết các dòng sông chính của Việt Nam đều bị ô

nhiễm bởi nước thải của các nhà máy Cụ thể như trên lưu vực sông Cầu, đoạn chảyqua thành phố Thái Nguyên do tác động của hoạt động khai thác vàng và nhà máythan Phấn Mễ nên nước tại khu vực này rất đục, có màu đen nâu và mùi Đoạn sôngCầu chảy qua khu công nghiệp gang thép Thái Nguyên giá trị thông số SS, BOD5,

COD vượt TCVN 5942 – 1995 (loại A) từ 2 – 3 lần, nước có mùi dầu rõ rệt [5]

Hầu hết sông hồ ở các thành phố lớn như Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh,

nơi có dân cư đông đúc và nhiều KCN lớn đều bị ô nhiễm Phần lớn lượng nước

thải sinh hoạt (khoảng 600.000 m3 mỗi ngày, với khoảng 250 tấn rác được thải racác sông ở khu vực Hà Nội) và công nghiệp (khoảng 260.000 m3 nhưng chỉ có 10%được xử lý) đều không được xử lý, mà đổ thẳng vào các ao hồ, sau đó chảy ra các

con sông lớn tại vùng Châu Thổ sông Hồng và sông Mê Kông Ngoài ra, nhiều nhà

máy và cơ sở sản xuất như các lò mổ và ngay bệnh viện (khoảng 7.000 m3 mỗi

Trang 15

ngày, chỉ 30% là được xử lý) cũng không được trang bị hệ thống xử lý nước thải.Nhiều ao hồ và sông ngòi tại Hà Nội bị ô nhiễm nặng, đáng lưu ý là hệ thống hồtrong công viên Yên Sở Đây được coi là thùng chứa nước thải của Hà Nội với hơn

50% lượng nước thải của thành phố Người dân trong khu vực này không có đủnước sạch cho nhu cầu sinh hoạt và tưới tiêu Điều kiện sống của họ cũng bị đe dọa

nghiêm trọng vì nhiều khu vực trong công viên là nơi nuôi dưỡng mầm mống củadịch bệnh[3], [14]

Không chỉ ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh mà ở các đô thị khác như HảiPhòng, Huế, Đà Nẵng, Nam Định, Hải Dương…nước thải sinh hoạt cũng không

được xử lý, mức độ ô nhiễm nguồn nước nơi tiếp nhận nước thải đều vượt quá tiêu

chuẩn cho phép, các thông số chất rắn lơ lửng, BOD5; COD; Ôxy hoà tan đều vượt

từ 5-10 lần, thậm chí 20 lần TCVN[23]

Đặc biệt, cảnh sát môi trường tỉnh Hải Dương đã bắt quả tang Công ty Tung

Kuang xả nước thải từ dây chuyền sản xuất nhôm định hình (luyện hợp kim đến tạohình, mạ,…) ra sông Ghẽ, huyện Cẩm Giàng – Hải Dương bằng hệ thống ống ngầmkhá tinh vi, nồng độ chất độc hại vượt ngưỡng cho phép Vụ việc được đánh giánghiêm trọng như vụ Vedan[44]

Theo kết quả nghiên cứu của Lê Văn Thăng cho thấy nước ở sông Hương,

đoạn qua thành phố Huế đã bị ô nhiễm cục bộ, đặc biệt là nhánh Đông Ba Hàmlượng DO rất thấp, COD và BOD5, Colifom vượt TCCP nhiều lần mà nguyên nhân

chủ yếu là do nước thải sinh hoạt của người dân cũng như nước thải từ các hoạt

động sản xuất và dịch vụ du lịch[48]

Tại khu vực miền Trung, chất lượng nước tại nhiều con sông cũng đangtrong tình trạng báo động Vào tháng 5 năm 2010, người dân 2 bên bờ sông Trà

Khúc, đoạn qua thành phố Quãng Ngãi phát hiện cá chết hàng loạt, nước sông bốc

mùi và chuyển màu Nguyên nhân là do nhà máy đường Quãng Ngãi xả nước thảikhông qua xử lý xuống sông Kết quả là làm ô nhiễm cả một đoạn sông [5]

Tại khu vực phía Nam, nơi tập trung với khối lượng lớn các KCN, các cơ sởsản xuất tình trạng ô nhiễm nước sông cũng rất nghiêm trọng, nhiều dòng sông đã

và đang kêu cứu, trong đó có nhiều đoạn trở thành dòng sông chết, gây thiệt hại rất

Trang 16

lớn về mặt kinh tế và sức khỏe của người dân.

Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Anh Tuấn – Chi cục bảo vệ môi trườngthành phố Hồ Chí Minh, cho thấy chất lượng nước sông Sài Gòn đều vượt quáTCCP Cũng theo báo cáo này cho thấy chất lượng DO rất thấp chỉ đạt 2,8 – 4,7

mg/l, trong khi đó, TCCP là trên 6 mg/l, hàm lượng Colifom vượt TCCP gấp 220

lần Và nguyên nhân chủ yếu gây ra hậu quả trên là do việc xả thải từ các hoạt độngcủa các nhà máy trên địa bàn[49]

1.3 TỔNG QUAN CHUNG VỀ WQI

1.3.1 Giới thiệu chung về WQI

WQI là một chỉ số tổ hợp được tính toán từ các thông số chất lượng nước xác

định thông qua một công thức toán học, dùng để mô tả định lượng về chất lượngnước và được biểu diễn qua một thang điểm [1] WQI là một phương tiện có khả

năng tập hợp một lượng lớn các số liệu thông tin về chất lượng nước, đơn giản hóa

các số liệu chất lượng nước, để cung cấp thông tin dưới dạng dễ hiểu, dễ sử dụng

cho các cơ quan quản lý tài nguyên nước, môi trường và công chúng[1],[3],[36]

1.3.2 Các ứng dụng chủ yếu của WQI

- Phục vụ quá trình ra quyết định: WQI có thể được sử dụng làm cơ sở choviệc ra các quyết định phân bổ tài chính và xác định các vấn đề ưu tiên;

- Phân vùng chất lượng nước;

- Thực thi tiêu chuẩn: WQI có thể đánh giá được mức độ đáp ứng/không đáp

ứng của chất lượng nước đối với tiêu chuẩn hiện hành;

- Phân tích diễn biến chất lượng nước theo không gian và thời gian;

- Công bố thông tin cho cộng đồng;

- Nghiên cứu khoa học [8],[27]

1.3.3 Mục đích của việc áp dụng WQI

- Đánh giá nhanh chất lượng nước mặt lục địa một cách tổng quát;

- Có thể được sử dụng như một nguồn dữ liệu để xây dựng bản đồ phân vùngchất lượng nước;

- Cung cấp thông tin môi trường cho cộng đồng một cách đơn giản, dễ hiểu,

Trang 17

trực quan;

- Nâng cao nhận thức về môi trường[27]

1.3.4 Quy trình xây dựng WQI

Hầu hết các mô hình chỉ số chất lượng nước hiện nay đều được xây dựngthông qua quy trình 4 bước như sau:

- Bước 1: Lựa chọn thông số

Các thông số nên được lựa chọn theo 5 chỉ thị sau:

+ Hàm lượng Oxy: DO

+ Phú dưỡng: NH4+, NO3-, tổng N, PO43-, tổng P, BOD5, COD, TOC

+ Các khía cạnh sức khỏe: Tổng Coliform, Fecal Coliform, Dư lượng thuốcbảo vệ thực vật, các kim loại nặng

+ Đặc tính vật lý: Nhiệt độ, pH, màu sắc

+ Chất rắn lơ lửng: Độ đục, TSS

- Bước 2: Chuyển đổi các thông số về cùng một thang đo

Các thông số thường có đơn vị khác nhau và có các khoảng giá trị khác nhau,

vì vậy để tập hợp được các thông số vào WQI ta phải chuyển các thông số về cùngmột thang đo Bước này sẽ tạo ra một chỉ số phụ cho mỗi thông số Chỉ số phụ cóthể được tạo ra bằng tỉ số giữa giá trị thông số và giá trị trong quy chuẩn

- Bước 3: Trọng số

Trọng số được đưa ra khi ta cho rằng các thông số có tầm quan trọng khác

nhau đối với chất lượng nước

Các phương pháp thường được sử dụng để tính toán WQI từ các chỉ số phụ:

Trung bình cộng, trung bình nhân hoặc giá trị lớn nhất[28]

1.4 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ SỬ DỤNG WQI TRÊN THẾ GIỚI

VÀ VIỆT NAM

1.4.1 Tình hình nghiên cứu và sử dụng WQI trên thế giới

WQI là một chỉ số được tính toán từ các thông số quan trắc chất lượng nước,

dùng để mô tả định lượng về chất lượng nước và khả năng sử dụng của nguồn nước

Trang 18

đó, được biểu diễn qua một thang điểm Thang đo giá trị WQI được chia thành các

khoảng nhất định, mỗi khoảng ứng với 1 mức đánh giá chất lượng nước khác nhau

WQI được đề xuất đầu tiên ở Mỹ vào thập niên 70 và được áp dụng rộng rãi ở nhiềuBang trên nước Mỹ Hiện nay, WQI được triển khai nghiên cứu và sử dụng rộng rãi

ở nhiều Quốc gia như: Ấn Độ, Canada, Chilê, Anh, Đài Loan, Úc, Malaysia…[3],[18],[20], [29],[38] Điểm đáng chú ý là ở mỗi Quốc gia và Địa phương có sự khácnhau trong lựa chọn các thông số và phương pháp tính chỉ số phụ riêng, để xâydựng WQI cho từng mục đích sử dụng và phù hợp với thực tế[18],[28]

Ở Canada thì phương pháp này do Cơ quan Bảo vệ môi trường Canada xây

dựng (The Canadian Council of Ministers of the Environment CCME) WQI

-CCME được xây dựng dựa trên rất nhiều số liệu khác nhau sử dụng một quy trình

thống kê với tối thiểu 4 thông số và 3 hệ số chính (F1 - phạm vi, F2 - tần suất và F3

- biên độ của các kết quả không đáp ứng được các mục tiêu chất lượng nước - giớihạn chuẩn) WQI-CCME là một công thức rất định lượng và sử dụng hết sức thuậntiện với các thông số cùng các giá trị chuẩn (mục tiêu chất lượng nước) của chúng

có thể dễ dàng đưa vào CCME để tính toán tự động Tuy nhiên, trong CCME, vai trò của các thông số chất lượng nước trong WQI được coi như nhau,mặc dù trong thực tế các thành phần chất lượng nước có vai trò khác nhau đối vớinguồn nước[32],[35]

WQI-Tại Hoa Kỳ, WQI được xây dựng cho mỗi bang, đa số các bang tiếp cận theo

phương pháp của Quỹ Vệ sinh Quốc gia Mỹ (National Sanitation Foundation

-NSF) WQI-NSF là một trong các bộ chỉ số chất lượng nước được dùng phổ biến,xây dựng bằng cách sử dụng kỹ thuật Delphi của tập đoàn Rand, thu nhận và tổnghợp ý kiến của số đông các chuyên gia khắp nước Mỹ để lựa chọn các thông số chất

lượng nước quyết định sau đó xác lập phần trọng lượng đóng góp của từng thông số

và tiến hành xây dựng các đồ thị chuyển đổi từ các giá trị đo được của thông sốsang chỉ số phụ Tuy nhiên các giá trị trọng số (wi) hoặc giản đồ tính chỉ số phụ(qi) trong WQI - NSF chỉ thích hợp với điều kiện chất lượng nước của Mỹ[18]

Bên cạnh đó, WQI cũng được các nhà khoa học nghiên cứu và áp dụng.Chẳng hạn như nghiên cứu của Ashok Lumb, Doug Halliwell, Tribeni Sharma

Trang 19

(2006) về áp dụng CCME WQI để đánh giá chất lượng nước tại lưu vực sôngMackenzie, Canada CCME WQI được sử dụng trong phương pháp là sự kết hợp bayếu tố: Phạm vi - số các thông số chất lượng nước không đạt chỉ tiêu (F1); Tần số -

số lần các chỉ tiêu không đạt (F2); Biên độ - mức độ mà các chỉ tiêu không đạt (F3).Chỉ số từ 0 (kém nhất) đến 100 (tốt nhất) để phản ánh chất lượng nước Kết quả chothấy chất lượng nước của lưu vực sông Mackenzie-Great Bear bị ảnh hưởng bởi độ

đục cao và kim loại[34]

Một nghiên cứu khác của Kavita Parmar và Vineeta Parmar (2006) về sửdụng WQI để đánh giá chất lượng nước sông Subernarekha tại huyện Singhbhum.Nghiên cứu đã đư ợc thực hiện để phát triển WQI, sử dụng sáu thông số chất lượng

nước là oxy hòa tan (DO), nhu cầu oxy sinh hóa (BOD), số có thể xảy nhất (MPN),

độ đục, tổng chất rắn hòa tan (TDS) và giá trị pH tại các địa điểm khác nhau dọctheo lưu vực sông từ tháng 11 năm 2006 đến tháng 11 năm 2007 Kết quả cho thấy

chất lượng nước của sông Subernarekha thay đổi từ tốt sang xấu Các giá trị MPN

vượt quá giới hạn chấp nhận được ở hầu hết các trạm Nguyên nhân chính của sự

suy giảm chất lượng nước là do sự thiếu vệ sinh thích hợp, con sông không đượcbảo vệ, các hoạt động của con người cao và xả thải trực tiếp nước thải công nghiệp[39]

Năm 2008, G Srinivas Rao, G Nageswararao đã tiến hành nghiên cứu sử

dụng WQI để đánh giá chất lượng nước ngầm tại năm mươi trạm lấy mẫu của thànhphố Greater Visakhapatnam Các mẫu được phân tích theo các thông số hóa lý nhưnhiệt độ, độ pH, dẫn điện, tổng chất rắn hòa tan, oxy hòa tan, độ cứng, Canxi,Magiê, kiềm, Clorua và Nitrat Kết quả phân tích cho thấy có 8 trạm thuộc chất

lượng nước rất tốt, 21 trạm thuộc về chất lượng nước tốt, 20 trạm thuộc về chấtlượng xấu, 1 trạm thuộc về chất lượng nước rất xấu[40]

Một nghiên cứu về sử dụng WQI tại sông Yamuna, Ấn Độ được thực hiện

trong 10 năm (2000 – 2009) để mô tả mức độ ô nhiễm trên con sông Nghiên cứu

cũng xác định các chất gây ô nhiễm quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng nướcsông trong suốt thời gian nghiên cứu của mình Các chỉ số đã đư ợc đo đạc, tính toán

trước mùa mưa, mùa mưa và sau mùa mưa ở bốn địa điểm là Palla, ODRB,

Trang 20

Nizamuddin và Okhla Kết quả cho thấy chất lượng nước dao động từ tốt đến vừa ở

Palla và rơi vào diện xấu ở tất cả các địa điểm khác BOD5, DO, tổng số coliforms

và ammonia tự do được tìm thấy là thông số quan trọng cho phân tích[41]

Gần đây, Hossain M.A, Sujaul I.M và Nasly M.A (2013) đã sử dụng WQI để

đánh giá mức độ ô nhiễm nước tại phần phía Đông bán đảo Malaysia Để thực hiện

nghiên cứu, 240 mẫu nước được thu thập trong 12 tháng và phân tích lý hóa dựatrên nồng độ DO, BOD5, COD, SS, pH và N-NH3 Kết quả cho thấy 8 trạm đầu tiên

được phân loại là cấp IV (ô nhiễm nặng) và 2 trạm cuối cùng được phân loại là loại

III (ô nhiễm) Giá trị WQI thấp nhất là 35,37 và giá trị cao nhất là 57,53 Nồng độcủa DO và BOD, COD và N-NH3thấp là do các hoạt động công nghiệp[37]

1.4.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng WQI ở Việt Nam

Tại Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu, đề xuất và áp dụng về bộ WQI khi

đánh giá chất lượng nước tại các thủy vực Đáng chú ý như đánh giá chất lượngnước trên sông Sài Gòn tại Phú Cường, Bình Phước và Phú An trong thời gian từ

2003 đến 2007 của Lê Trình Ngoài ra, chỉ số WQI còn được sử dụng để đánh giá

chất lượng nước tại một số sông ở Đồng Nai, sông Hồng…[3], [12], [13], [16], [20]

Mô hình WQI được đề xuất bởi Phạm Thị Minh Hạnh được chia làm 2 loạilà: WQI cơ bản IB và WQI tổng hợp IO Trong đó, WQI cơ bản được tính cho 8thông số chính (COD, BOD5, DO, độ đục, SS, N-NH4, P-PO4 và Coliform) WQItổng hợp ngoài 8 thông số trên được tính thêm các thông số pH, nhiệt độ, các kimloại nặng và dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong nước, WQI tổng hợp cung cấpnhiều thông tin hơn cho việc đánh giá chất lượng nước Mỗi thông số sẽ xác địnhmột chỉ số chất lượng nước phụ, WQI cuối cùng được xác định bằng việc kết hợp

phương pháp trung bình cộng và trung bình nhân không trọng số[29]

Đề tài “Nghiên cứu phân vùng chất lượng nước theo WQI và đánh giá khảnăng sử dụng các nguồn nước sông, kênh rạch ở vùng thành phố Hồ Chí Minh” do

Lê trình làm chủ nhiệm là một trong những công trình nghiên cứu đầu tiên ở ViệtNam về phân vùng chất lượng nước theo WQI Bằng việc lựa chọn 10 thông số đặc

trưng (DO, BOD, SS, T.coliform, pH, Tổng N, Độ đục, Dầu mỡ, COD, Tổng P) vận

dụng và cải tiến các mô hình WQI của Hoa Kỳ và Ấn Độ) Đề tài đã lập mô hình

Trang 21

WQI phù hợp cho đặc điểm môi trường nước thành phố Hồ Chí Minh Trên cơ sở

số liệu phân tích chất lượng nước của đề tài, giá trị WQI của từng điểm trong 35

điểm khảo sát đại diện trên các sông rạch chính đã được tính toán Kết quả cho thấykhông có điểm nào ở thành phố Hồ Chí Minh đạt loại I (rất tốt - ô nhiễm nhẹ), chỉ

có một số điểm trên sông Sài Gòn, Đồng Nai và một số sông ở Cần Giờ đ ạt loại II(tốt, ô nhiễm nhẹ) Phần lớn các điểm trên sông Đồng Nai , Sài Gòn và các sông ởCần Giờ chỉ đạt loại III (trung bình, ô nhiễm trung bình), các sông Chợ Đệm, CầnGiuộc, kênh An Hạ, Thầy Cai, Rạch Tra Các sông rạch ở Bình Chánh, Nhà Bè,Hóc Môn chỉ đạt loại IV (kém, ô nhiễm nặng), các kênh rạch ở các quận nội thànhchỉ đạt loại IV và V (rất kém, ô nhiễm rất nặng) Kết quả phân loại chất lượng n ước

theo WQI được tính bằng phần mềm có tính khách quan, do vậy có thể làm cơ sở

cho công tác quan trắc môi trường nước sử dụng nước và cả i tạo ô nhiễm trong các

năm tới[29],[30]

Một số tác giả nghiên cứu áp dụng WQI để đánh giá chất lượng nước một sốsông ở khu vực Bình Trị Thiên (trừ sông Bồ) Các tác giả đó chủ yếu tập trungnghiên cứu áp dụng mô hình WQI của Quỹ Vệ sinh Mỹ đề xuất vào những năm 70,

áp dụng có điều chỉnh mô hình WQI do Bhargava - Ấn Độ (hay Bhargava - WQI)

đề xuất năm 1983, hoặc mô hình WQI do Hội đồng Bộ trưởng Môi trường Canada

đề xuất năm 2001 [11]

Năm 2010, Nguyễn Duy Phú đã tiến hành nghiên cứu áp dụng phương pháp

tính toán WQI cho Sông Hồng (đoạn chảy qua địa bàn thành phố Hà Nội) Nghiêncứu được khảo sát, lấy mẫu tại 15 điểm dọc từ Ba Vì xuống đến Phú Xuyên vào 2

đợt (tháng 3 và tháng 8/2010), đo đạc thêm các thông số độ đục, nhiệt độ để phục

vụ cho việc tính toán chỉ số chất lượng nước (WQI) Kết quả cho thấy chất lượng

nước sông tại 15 vị trí quan trắc vào 2 đợt nhìn chung tương đối tốt, chỉ xảy ra ô

nhiễm cục bộ tại một số vị trí bởi các chỉ tiêu như Coliform, N-NH4, P-PO4 Kết quảtính toán WQI theo Quyết định số 879/ QĐ_TCMT áp dụng cho sông Hồng còn cónhững hạn chế như: vào mùa lũ lư ợng phù sa tương đối lớn nên hàm lượng TSS và

độ đục cũng rất cao, khi đó WQI sẽ không phản ánh được mức độ ô nhiễm nước

sông, nước sông Hồng được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau nên mỗi thông

Trang 22

số ô nhiễm sẽ có mức độ quan trọng khác nhau[20].

Tại Đà Lạt, nghiên cứu ứng dụng WQI để đánh giá hiện trạng chất lượng

môi trường nước mặt do Phạm Thế Anh và Nguyễn Văn Huy (2013) thực hiện Từ

kết quả phân tích, khảo sát và đánh giá chỉ số chất lượng nước mặt tại một số hồ vàsuối lớn của thành phố Đà Lạt, nhìn chung các hồ và suối chứa nước trên địa bànthành phố Đà Lạt đều bị ô nhiễm, nặng nhất là nước Hồ Xuân Hương[3]

Hiện nay, để thống nhất cách tính toán WQI, tháng 07 năm 2011, Tổng cục

Môi trường đã chính thức ban hành Sổ tay hướng dẫn kỹ thuật tính toán chỉ số chấtlượng nước theo Quyết định số 879/QĐ-TCMT ngày 01 tháng 07 năm 2011 của

Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường Theo Quyết định chỉ số chất lượng nước

được áp dụng đối với số liệu quan trắc môi trường nước mặt lục địa và áp dụng đối

với cơ quan quản lý nhà nước về môi trường, các tổ chức, cá nhân có tham gia vàomạng lưới quan trắc môi trường và tham gia vào việc công bố thông tin về chất

lượng môi trường cho cộng đồng[27]

1.5 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ VÀ XÃ HỘI KHU VỰC

cách chân đèo Hải Vân chừng 5 km Chiều dài toàn bộ sông là 47 km, độ cao bình

quân lưu vực là 353 m, độ dốc bình quân lưu vực 26,6% [10],[31]

Huyện Hoà Vang nằm ở phía Tây của thành phố Đà Nẵng Phía Đông giápcác quận của thành phố Đà Nẵng (trừ quận Sơn Trà, bao gồm các quận: Hải Châu,Thanh Khê, Ngũ Hành Sơn , Liên Chiểu, Cẩm Lệ), phía Bắc giáp huyện Phú Lộc -tỉnh Thừa Thiên - Huế, phía Tây giáp huyện Nam Đông - tỉnh Thừa Thiên - Huế vàhuyện Đông Giang - tỉnh Quảng Nam, phía Nam giáp các huyện Đại Lộc và ĐiệnBàn - tỉnh Quảng Nam [10]

Trang 23

Quận Liên Chiểu nằm ở phía Tây Bắc thành phố Đà Nẵng, phía Đông giápvịnh Đà Nẵng, phía Nam giáp quận Cẩm Lệ, Thanh Khê, phía Tây giáp huyện HòaVang, phía Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên - Huế qua đèo Hải Vân Là cửa ngõ chính ravào của thành phố Đây là nơi tập trung 2 KCN lớn của thành phố, trong tương laicảng nước sâu Liên Chiểu và ga đường sắt Bắc Nam sẽ được xây dựng [10].

b Khí hậu

Khí hậu là nhiệt đới gió mùa điển hình, nền nhiệt độ cao và ít biến động, chế

độ ánh sáng và mưa ẩm phong phú Nhiệt độ trung bình hằng năm là 250C, mùa hètrung bình là 28-300C, mùa đông là 120C, độ ẩm tương đối cao trung bình 82%,lượng mưa trung bình là 2066 mm, giờ nắng trung bình 2150 h/năm

Một năm có một mùa khô từ tháng 1 đến tháng 8, mùa mưa từ tháng 9 đếntháng 12 Mùa mưa và thời kỳ đầu mùa khô là thời kỳ hoạt động của gió mùa ĐôngBắc Gió mùa Đông Bắc tràn về thường làm cho nhiệt độ trung bình ngày giảm từ 2

đến 50C Nhiệt độ trung bình ngày xuống dưới 210C

Từ giữa mùa khô thường có hoạt động của gió mùa Tây Nam làm cho thờitiết Đà Nẵng khô hanh, nhiệt độ cao nhất trong ngày trên 350C, độ ẩm không khí

xuống dưới 55%, nước bốc hơi nhiều, độ mặn thường xâm nhập sâu vào hạ lưu cácsông

Trong suốt 12 tháng đều có khả năng có bão hoặc áp thấp nhiệt đới hoạt

động trên biển Đông và đều có khả năng ảnh hưởng đến thời tiết quận Liên Chiểu

Bên cạnh đó còn xuất hiện các đợt mưa to đến rất to kéo dài trong vài ba ngày, trêndiện rộng thường dẫn đến lũ lụt[17], [15]

c Địa hình

Hoà Vang có 3 loại địa hình là miền núi, trung du và đồng bằng [17]

Vùng đồi núi: Phân bố ở phía Tây, có diện tích khoảng 56.476,7 ha, bằng

79,84% tổng diện tích đất tự nhiên toàn huyện Bốn xã miền núi, bao gồm Hoà Bắc,

Hoà Ninh, Hoà Phú và Hoà Liên, có độ cao khoảng từ 400-500 m, cao nhất là đỉnhnúi Bà Nà (1.487 m), độ dốc lớn > 400, là nơi tập trung nhiều rừng đầu nguồn có ý

nghĩa bảo vệ môi trường sinh thái của thành phố Đà Nẵng Đất đai có nguồn gốcchủ yếu đá biến chất, đất đỏ vàng…phát triển trên các đá mẹ như mắc -ma, gra-

Trang 24

phit…Địa hình đất đai của vùng này thích hợp cho việc phát triển lâm nghiệp, nôngnghiệp và du lịch.

Vùng trung du: Chủ yếu là đồ i núi thấp có độ cao trung bình từ 50 đến 100

m, xen kẽ là những cánh đồng hẹp, bao gồm các xã Hoà Phong, Hoà Khương, Hoà

Sơn, Hoà Nhơn với diện tích 11.170 ha, chiếm 15,74 % diện tích toàn huyện Phần

lớn đất đai bị bạc màu, xói mòn trơ sỏi đá, chỉ có rất ít đất phù sa bồi tụ hàng nămven khe suối Địa hình và đất đai ở vùng này phù hợp cho việc trồng các cây cạn, cónhu cầu nước ít, chịu được hạn

Vùng đồng bằng: Bao gồm ba xã Hoà Châu, Hoà Tiến, Hoà Phước vớí tổng

diện tích là 3.087 ha, chiếm 4,37% diện tích tự nhiên Đây là vùng nằm ở độ caothấp 2-10 m, hẹp nhưng tương đối bằng phẳng Đất phù sa ven sông và đất cát là hailoại đất đặc trưng của vùng, thích hợp cho việc trồng rau, lúa màu Tuy nhiên, cóyếu tố không thuận lợi là do địa hình thấp, khu vực này thường bị ngập l ụt trongnhững ngày mưa lũ lớn

Địa hình đa dạng của Hoà Vang cùng với kết cấu đất vững chắc thuận lợi

cho bố trí các công trình hạ tầng kỹ thuật, tạo cho huyện tiềm năng phát triển mộtnền kinh tế với thế mạnh về nông lâm nghiệp và du lịch nhưng đồng thời cũng cónhiều khó khăn, thách thức như hạn hán, lũ lụt… cần phải giải quyết Cần phải cóquy hoạch sử dụng đất hợp lý và phải tính đến những tác động tích cực cũng nhưtiêu cực của quá trình khai thác sử dụng nhằm đảm bảo trạng thái cân bằng về địahình, bảo vệ môi trường sinh thái

Địa hình ở quận Liên Chiểu thì tương đối phức tạp và đa dạng, vừa có đồng

bằng vừa có núi Có thể phân chia thành hai vùng rõ rệt: Vùng đồi núi phía Bắc:Hoà Hiệp 1, Đà Sơn, Khánh Sơn có độ dốc khá lớn, là nơi tập trung rừng đặc dụng

Và vùng đồng bằng ven biển: Xuân Thiều, Nam Ô, Chơn Tâm, Trung Nghĩa làvùng thấp chịu ảnh hưởng của biển bị nhiễm mặn, lại là vùng tập trung nhiều cơ sởnông nghiêp, công nghiệp, dịch vụ, quân sự và các khu dân cư đông đúc[17]

1.5.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

Sông Cu Đê nằm trong khu vực quận Liên Chiểu có số dân 91.681 người và

huyện Hòa Vang có 106.339 người Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên thời kì 1996- 2000 là

Trang 25

1,52% Tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động là 53,5%, trong đó dưới 41 tuổi chiếm81% dân số[31].

Tỷ lệ tăng trưởng cơ cấu tổng sản phẩm quốc nội trên địa bàn quận về ngànhcông nghiệp và xây dựng năm 2000 là 41,26%; 49,07% năm 2004; 49,95% năm

2006 Hai bên lưu vực sông Cu Đê hiện nay có tổng diện tích gieo trồng 1552 ha,

trong đó diện tích gieo trồng lúa 1350 ha, hoa màu 202 ha[19] Trên lưu vực sông

Cu Đê, có hai vụ chính trong hoạt động nuôi trồng thủy sản Tại những vùng bị ảnhhưởng của lũ lụt và đủ lượng nước cấp thì vụ 1 bắt đầu từ tháng 1 và kết thúc vào

tháng 4 Vụ 2 bắt đầu từ tháng 6 và kết thúc vào tháng 9[19]

1.6 ĐẶC ĐIỂM SÔNG CU ĐÊ

Sông Cu Đê nằm ở phía Bắc của thành phố Đà Nẵng, bắt nguồn từ dãy núi

Bạch Mã, là hợp lưu của 2 con sông Bắc và sông Nam, có độ cao khoảng

700-800m, có độ nghiêng theo hướng Đông Bắc - Tây Nam Chiều dài toàn bộ sông Cu

Đê là 38km, tổng diện tích lưu vực 426km2, độ dốc bình quân 26,6%, chiều rộng

bình quân 12,8km, tổng lượng nước bình quân hằng năm vào khoảng 0,5 tỉ m3

Thượng nguồn sông Cu Đê có các sông suối nhỏ ngoằn nghèo và đổi hướng liên

tục theo các khe núi Sau khi tiếp cận với vùng thấp chảy chung theo hướng Tây

-Đông rồi đổ ra vịnh Đà Nẵng[17]

Thượng nguồn sông Cu Đê có hai phụ lưu, bao gồm sông Bắc và sông Nam

Phía bên trái sông là phụ lưu số 1 gọi là sông Bắc: Bắt nguồn từ độ cao khoảng800m, chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, đổ vào sông Cu Đê, có diện tíchkhoảng 143km2 Phụ lưu số 2 nằm bên phải sông gọi là sông Nam, nhánh này bắtnguồn từ độ cao 500m, đổ vào sông Cu Đê có diện tích khoảng 45km2[17]

Dòng chảy hằng năm ở sông Cu Đê chủ yếu phân bố trong mùa mưa (tháng9-12), mùa khô dòng chảy nhỏ, nên thủy triều ảnh hưởng rất lớn Lượng nước sôngtrong mùa khô chủ yếu là nước biển biến động theo chế độ bán nhật triều không đều

được thể hiện trong bảng 1.1

Trang 26

Bảng 1.1 Lưu lượng dòng chảy trung bình năm 2005- 2007 của sông Cu Đê

(Nguồn: Đài khí tượng Thủy văn khu vực Trung Trung Bộ, 2009) [7]

Bảng 1.2 Chất lượng môi trường nước sông Cu Đê năm 2012 - 2013

Thông số

QCVN Cầu Nam

Ô

Cầu Phò Nam

Cầu Nam Ô

Cầu Phò Nam

(Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường năm 2012 – 2013)

Từ những kết quả quan trắc được tại sông Cu Đê một số năm trước, có thểnhận thấy rằng chất lượng nước nơi đây còn khá tốt, hầu như các thông số đều nằm

ở mức cho phép Tuy nhiên, khi so sánh với năm 2012 thì nă m 2013 chất lượngnước có đang có dấu hiện bị ô nhiễm Vì vậy, cần phải thường xuyên quan trắc chấtlượng nước để theo dõi hiện trạng môi trường tại khu vực từ đó có các biện pháp xử

Trang 27

lý và chính sách cụ thể nhằm hạn chế đến mức thấp nhất khả năng ô nhiễm, đảmbảo khả năng phát triển bền vững cho tương lai.

Trang 28

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Chất lượng nước mặt của sông Cu Đê gồm các chỉ tiêu:

- Thông số vật lý: Nhiệt độ, độ đục, tổng chất rắn lơ lửng (TSS)

- Thông số hóa học: pH, DO, COD, BOD5, N-NH4, P-PO4.

- Thông số vi sinh: Tổng Coliform

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu

- Khảo sát chọn 5 khu vực: Khu vực I (KV1) và khu vực II (KV2) thuộc

phường Hòa Hiệp Bắc, quận Liên Chiểu; khu vực III (KV3) thuộc xã Hòa Liên,

huyện Hòa Vang; khu vực IV (KV4) và khu vực V (KV5) thuộc xã Hòa Bắc, huyệnHòa Vang

- Thời gian nghiên cứu: 8/2014 (mùa khô) – 11/2014 (mùa mưa)

Hình 2 Phạm vi và sơ đồ vị trí lấy mẫu tại sông Cu Đê

2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Đánh giá chất lượng nước sông Cu Đê qua thông số lý, hóa, sinh vào mùakhô và mùa mưa;

- Đánh giá hiện trạng tổng quát chất lượng nước sông Cu Đê qua WQI và khảnăng sử dụng nguồn nước;

Trang 29

- Xây dựng bản đồ chất lượng nước của sông Cu Đê bằng phần mềm Mapinfo.

2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.3.1 Phương pháp hồi cứu số liệu

Trong phương pháp này, chúng tôi tiến hành hồi cứu số liệu đối với các tài

liệu trong và ngoài nước về phương pháp tính toán WQI Các đề án, số liệu quantrắc, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội tại lưu vực sông Cu Đê, các tiêu chuẩn,quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước mặt, tiêu chuẩn cấp nước cho tướitiêu thủy lợi, nuôi trồng thủy sản

2.3.2 Phương pháp lấy mẫu, phân tích

a Phương pháp lấy mẫu ngoài thực địa

Tiến hành lấy mẫu nước theo TCVN 6663-6: 2008 về chất lượng nước – lấymẫu - phần 6: Hướng dẫn lấy mẫu ở sông và suối[26]

Lấy mẫu ở 5 khu vực của sông Cu Đê gồm khu vực 1 (Cầu Nam Ô), khu vực

2 (đường dẫn hầm Hải Vân), khu vực 3 (Cầu Trường Định), khu vực 4 (Cầu PhòNam), khu vực 5 (Cầu Tà Lang – Giàn Bí) Mẫu nước được lấy bằng dụng cụ lấymẫu nước wilco, sau đó cho vào bình nhựa, bỏ trong bao đen, cho vào thùng xốplạnh rồi đem về phòng thí nghiệm phân tích theo tiêu chuẩn TCVN 4556-88

b Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm

Bảng 2.1 Các phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm

1 Độ đục, nhiệt độ,

pH, DO, N-NH4

Máy đo đa chỉ tiêu 6920 V2

200C

3 TSS Phương pháp trọng lượng của Standard method, 1999

4 COD Phương pháp Hồi lưu kín – trắc quang của Standard

Method, 1999

5 P-PO4 Phương pháp đo quang với thuốc thử sunfo molypdic

tạo phức màu xanh đậm

6 Coliform Gửi mẫu cho Đài khí tượng thủy văn Trung Trung Bộ

Chỉ số BOD được xác định bằng bộ xác định 6 vị trí – BOD sensor system 6

Ngày đăng: 15/06/2015, 19:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Mai Tuấn Anh (2010), Chỉ số chất lượng nước WQI và ứng dụng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ sốchất lượng nước WQI vàứng dụng
Tác giả: Mai Tuấn Anh
Năm: 2010
[2]. Phạm Thế Anh (2010), Giáo trình Quản lý chất lượng môi trường, Trường Đại học Yersin Đà Lạt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản lý chất lượng môi trường
Tác giả: Phạm Thế Anh
Năm: 2010
[3]. Phạm Thế Anh, Nguyễn Văn Huy (2013), "Ứng dụng chỉ số WQI đánh giá hiện trạng chất lượng môi trường nước mặt thành phố Đà Lạt", Bản tin khoa học và giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng chỉ số WQI đánh giáhiện trạng chất lượng môi trường nước mặt thành phố Đà Lạt
Tác giả: Phạm Thế Anh, Nguyễn Văn Huy
Năm: 2013
[4]. Nguyễn Thị Ngọc Ẩn (2005), Con người và môi trường, Đại học khoa học tự nhiên Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con người và môi trường
Tác giả: Nguyễn Thị Ngọc Ẩn
Năm: 2005
[6]. Cục Quản Lý Tài Nguyên Nước Bộ Tn & Mt (2012), Báo cáo Môi trường Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Môi trườngQuốc gia
Tác giả: Cục Quản Lý Tài Nguyên Nước Bộ Tn & Mt
Năm: 2012
[8]. V ũ Thị Hà (2012), Sử dụng chỉ số WQI bước đầu đánh giá chất lượng nước một số sông tại Tuyên Quang, Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng chỉ số WQI bước đầu đánh giá chất lượng nướcmột sốsông tại Tuyên Quang
Tác giả: V ũ Thị Hà
Năm: 2012
[9]. Thanh Hằng (2010), Đánh giá chất lượng môi trường nước sông Túy Loan – Cầu Đỏ, thành phố Đà Nẵng thông qua một số chỉ tiêu lý hóa, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá chất lượng môi trường nước sông Túy Loan –Cầu Đỏ, thành phố Đà Nẵng thông qua một sốchỉtiêu lý hóa
Tác giả: Thanh Hằng
Năm: 2010
[10]. Phạm Thị Thu Hiền (2010), Đánh giá hiện trạng môi trường nước sông Cu Đê thành phố Đà Nẵng thông qua một số chỉ tiêu hóa lý, Đà Nẵng, Trường Cao đẳng Đức Trí Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiện trạng môi trường nước sông Cu Đêthành phố Đà Nẵng thông qua một số chỉ tiêu hóa lý
Tác giả: Phạm Thị Thu Hiền
Năm: 2010
[11]. Nguyễn Văn Hợp, Phạm Nguyễn Anh Thi, Nguyễn Mạnh Hưng (2010),"Đánh giá chất lượng nước sông Bồ ở tỉnh Thừa Thiên Huế dựa vào chỉ số chất lượng nước (WQI)", Tạp chí khoa học, Đại học Huế (58) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá chất lượng nước sông Bồ ở tỉnh Thừa Thiên Huếdựa vào chỉsốchất lượng nước (WQI)
Tác giả: Nguyễn Văn Hợp, Phạm Nguyễn Anh Thi, Nguyễn Mạnh Hưng
Năm: 2010
[12]. Trần Thị Thu Hương (2012), Nghiên cứu hiện trạng chất lượng nước sông Cầu đoạn chảy qua địa bàn tỉnh Thái Nguyên, Hà Nội, Trường Đại học khoa học tự nhiên Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu hiện trạng chất lượng nước sôngCầu đoạn chảy qua địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Tác giả: Trần Thị Thu Hương
Năm: 2012
[13]. Tôn Thất Lãng (2006), "Xây dựng chỉ số chất lượng để đánh giá và quản lý chất lượng nước hệ thống sông Đồng Nai", Tuyển tập báo cáo Hội thảo khoa học lần thứ 10 - Viện KH KTTV & MT, tr. 262-268 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng chỉ số chất lượng để đánh giá và quản lýchất lượng nước hệ thống sông Đồng Nai
Tác giả: Tôn Thất Lãng
Năm: 2006
[14]. Trịnh Bích Liên (2011), Phân tích đánh giá chất lượng nước hồ Thiền Quang, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích đánh giá chất lượng nước hồThiền Quang
Tác giả: Trịnh Bích Liên
Năm: 2011
[15]. Nguyễn Ngọc Minh (2011), Nghiên cứu đánh giá tác động của công trình thủy điện Sông Nam - Hòa Bắc đến Môi trường khu vực dự án, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đánh giá tác động của công trình thủyđiện Sông Nam - Hòa Bắc đến Môi trường khu vực dựán
Tác giả: Nguyễn Ngọc Minh
Năm: 2011
[16]. Nguyễn Thị Thế Nguyên (2014), Nghiên cứu phân vùng chất lượng nước vịnh Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh và đề xuất giải pháp quản lý và sử dụng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu phân vùng chất lượng nước vịnhHạ Long, tỉnh Quảng Ninh và đề xuất giải pháp quản lý và sửdụng
Tác giả: Nguyễn Thị Thế Nguyên
Năm: 2014
[17]. Lê Anh Nhi (2014), Đánh giá rủi ro sinh thái của một số kim loại nặng trong trầm tích mặt tại hạ lưu sông Cu Đê, Liên Chiểu, Đà Nẵng, Đại học Sư Phạm Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá rủi ro sinh thái của một sốkim loại nặng trongtrầm tích mặt tại hạ lưu sông Cu Đê, Liên Chiểu, Đà Nẵng
Tác giả: Lê Anh Nhi
Năm: 2014
[18]. Nhóm Smiles (2009), Chỉ số chất lượng nước của tổ chức vệ sinh quốc gia Mỹ, Hồ Chí Minh, tr. 21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ số chất lượng nước của tổ chức vệ sinh quốc giaMỹ
Tác giả: Nhóm Smiles
Năm: 2009
[19]. Phòng Tài Nguyên Và Môi Trường Quận Liên Chiểu Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế- xã hội quận Liên Chiểu đến năm 2020, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch tổng thểpháttriển kinh tế- xã hội quận Liên Chiểu đến năm 2020
[20]. Nguyễn Duy Phú (2010), Áp dụng phương pháp tính toán chỉ số chất lượng nước (WQI) cho sông Hồng (đoạn chảy qua địa bàn thành phố Hà Nội), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Áp dụng phương pháp tính toán chỉ số chất lượng nước (WQI) cho sông Hồng (đoạn chảy qua địa bàn thành phố Hà Nội)
Tác giả: Nguyễn Duy Phú
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2010
[22]. Nguyễn Thanh Sơn (2005), Đánh giá tài nguyên nước Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tài nguyên nước Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thanh Sơn
Năm: 2005
[23]. Nguyễn Hồng Thái, Nguyễn Khắc Bách, Lê Đăng Tỉnh (2009), Sinh thái nhân văn – ô nhiễm nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh thái nhânvăn –ô nhiễm nước
Tác giả: Nguyễn Hồng Thái, Nguyễn Khắc Bách, Lê Đăng Tỉnh
Năm: 2009

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.4. Bảng quy định các giá trị BP i và qi đối với DO % bão hòa - Sử dụng chỉ số WQI để đánh giá chất lượng nước mặt sông Cu Đê - thành phố Đà Nẵng.
Bảng 2.4. Bảng quy định các giá trị BP i và qi đối với DO % bão hòa (Trang 33)
Hình 3.1. BOD 5 môi trường nước sông qua hai đợt nghi ên cứu - Sử dụng chỉ số WQI để đánh giá chất lượng nước mặt sông Cu Đê - thành phố Đà Nẵng.
Hình 3.1. BOD 5 môi trường nước sông qua hai đợt nghi ên cứu (Trang 37)
Hình 3.2. COD môi  trường nước sông qua hai đợt nghiên cứu - Sử dụng chỉ số WQI để đánh giá chất lượng nước mặt sông Cu Đê - thành phố Đà Nẵng.
Hình 3.2. COD môi trường nước sông qua hai đợt nghiên cứu (Trang 38)
Hình 3.3. Hàm lượng N-NH 4 môi trường nước sông qua hai đợt nghi ên cứu - Sử dụng chỉ số WQI để đánh giá chất lượng nước mặt sông Cu Đê - thành phố Đà Nẵng.
Hình 3.3. Hàm lượng N-NH 4 môi trường nước sông qua hai đợt nghi ên cứu (Trang 39)
Hình 3.4. Hàm lượng P-PO 4 môi trường nước sông qua hai đợt nghi ên cứu - Sử dụng chỉ số WQI để đánh giá chất lượng nước mặt sông Cu Đê - thành phố Đà Nẵng.
Hình 3.4. Hàm lượng P-PO 4 môi trường nước sông qua hai đợt nghi ên cứu (Trang 40)
Hình 3.5. Hàm lượng TSS môi trường nước sông qua hai đợt nghi ên cứu - Sử dụng chỉ số WQI để đánh giá chất lượng nước mặt sông Cu Đê - thành phố Đà Nẵng.
Hình 3.5. Hàm lượng TSS môi trường nước sông qua hai đợt nghi ên cứu (Trang 41)
Hình 3.6. DO của môi trường nước sông qua hai đợt nghiên cứu - Sử dụng chỉ số WQI để đánh giá chất lượng nước mặt sông Cu Đê - thành phố Đà Nẵng.
Hình 3.6. DO của môi trường nước sông qua hai đợt nghiên cứu (Trang 42)
Hình 3.8. Coliform môi trường nước sông qua hai đợt nghiên cứu - Sử dụng chỉ số WQI để đánh giá chất lượng nước mặt sông Cu Đê - thành phố Đà Nẵng.
Hình 3.8. Coliform môi trường nước sông qua hai đợt nghiên cứu (Trang 44)
Hình 3.9. Độ đục môi trường nước sông qua hai đợt nghiên cứ u - Sử dụng chỉ số WQI để đánh giá chất lượng nước mặt sông Cu Đê - thành phố Đà Nẵng.
Hình 3.9. Độ đục môi trường nước sông qua hai đợt nghiên cứ u (Trang 45)
Hình 3.10. WQI thông s ố tại khu vực I - Sử dụng chỉ số WQI để đánh giá chất lượng nước mặt sông Cu Đê - thành phố Đà Nẵng.
Hình 3.10. WQI thông s ố tại khu vực I (Trang 47)
Hình 3.12. WQI thông số tại khu vực III - Sử dụng chỉ số WQI để đánh giá chất lượng nước mặt sông Cu Đê - thành phố Đà Nẵng.
Hình 3.12. WQI thông số tại khu vực III (Trang 48)
Hình 3.11. WQI thông s ố tại khu vực II - Sử dụng chỉ số WQI để đánh giá chất lượng nước mặt sông Cu Đê - thành phố Đà Nẵng.
Hình 3.11. WQI thông s ố tại khu vực II (Trang 48)
Hình 3.13. WQI thông số tại khu vực IV - Sử dụng chỉ số WQI để đánh giá chất lượng nước mặt sông Cu Đê - thành phố Đà Nẵng.
Hình 3.13. WQI thông số tại khu vực IV (Trang 49)
Hình 3.15. Bản đồ phân v ùng chất lượng nước sông Cu Đê - Sử dụng chỉ số WQI để đánh giá chất lượng nước mặt sông Cu Đê - thành phố Đà Nẵng.
Hình 3.15. Bản đồ phân v ùng chất lượng nước sông Cu Đê (Trang 50)
Hình 1. Lấy mẫu nước sông Hình 2. Mẫu nước - Sử dụng chỉ số WQI để đánh giá chất lượng nước mặt sông Cu Đê - thành phố Đà Nẵng.
Hình 1. Lấy mẫu nước sông Hình 2. Mẫu nước (Trang 59)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w