KHOA SINH – MÔI TRƯỜNG --- LÊ THỊ TRÂM NGHIÊN CỨU SỰ PHÂN BỐ, SỐ LƯỢNG VÀ TẦN SUẤT GẶP LOÀI VOỌC CHÀ VÁ CHÂN NÂU PYGATHRIX NEMAEUS TẠI BÁN ĐẢO SƠN TRÀ, ĐÀ NẴNG Đà Nẵng – Năm 2015...
Trang 1KHOA SINH – MÔI TRƯỜNG
-
LÊ THỊ TRÂM
NGHIÊN CỨU SỰ PHÂN BỐ, SỐ LƯỢNG VÀ TẦN SUẤT GẶP LOÀI
VOỌC CHÀ VÁ CHÂN NÂU (PYGATHRIX NEMAEUS)
TẠI BÁN ĐẢO SƠN TRÀ, ĐÀ NẴNG
Đà Nẵng – Năm 2015
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA SINH – MÔI TRƯỜNG
-
LÊ THỊ TRÂM
NGHIÊN CỨU SỰ PHÂN BỐ, SỐ LƯỢNG VÀ TẦN SUẤT GẶP LOÀI
VOỌC CHÀ VÁ CHÂN NÂU (PYGATHRIX NEMAEUS)
TẠI BÁN ĐẢO SƠN TRÀ, ĐÀ NẴNG
Ngành: Quản lý tài nguyên và môi trường
Người hướng dẫn: ThS Trần Hữu Vỹ
Đà Nẵng – Năm 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu và kết quả trong khóa luận là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả khóa luận
Lê Thị Trâm
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này tôi đã nhận được sự quan tâm và giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo và cán bộ thuộc Trung tâm Bảo tồn đa dạng sinh học Nước Việt Xanh Vì vậy tôi gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới người hướng dẫn là ThS Trần Hữu Vỹ - Giám đốc Trung tâm Bảo tồn đa dạng sinh học Nước Việt Xanh và ThS Trần Ngọc Sơn đã giúp tôi trong suốt quá trình tôi thực hiện bài khóa luận của mình Đồng thời tôi xin gửi lời cảm
ơn tới các thầy cô giáo trong Khoa Sinh -Môi trường và các thầy cô giáo trong suốt thời gian học tập
Tôi cũng đặc biệt xin cảm ơn anh Triệu Trân Huân đã giúp tôi trong việc
xử lý số liệu sau khi đi thực địa Đồng cảm ơn bạn Võ Thị Thu Thảo (11SS01)
là người đồng hành cùng tôi trong việc đi nghiên cứu và thu thập số liệu
Tôi xin gửi lời cảm ơn trân trọng đến Trung tâm Bảo tồn đa dạng sinh học Nước Việt Xanh và hội động vật học FrankFurt đã hỗ trợ cho tôi về tài liệu tham khảo cũng như cơ sở vật chất để tôi hoàn thành tốt nghiên cứu của mình
Đà Nẵng, ngày 15 tháng 05 năm 2015
Sinh viên
Lê Thị Trâm
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
3 Ý nghĩa khoa học của đề tài 2
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Tình hình nghiên cứu linh trưởng tại Việt Nam 3
1.2 Đa dạng linh trưởng Việt Nam 5
1.3 Tổng quan về loài Voọc chà vá chân nâu 7
1.3.1 Một số đặc điểm của loài Voọc chà vá chân nâu 7
1.3.2 Các mối đe dọa chính đến Voọc chà vá chân nâu 9
1.3.3 Tình trạng bảo tồn loài 10
1.3.4 Tình hình nghiên cứu VCVCN ở bán đảo Sơn Trà 11
1.4 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu 12
1.4.1 Vị trí điạ lý 12
1.4.2 Địa hình - địa mạo 14
1.4.3 Thủy văn 15
1.4.4 Khí hậu 15
1.4.5 Thảm thực vật rừng 17
1.4.6 Khu hệ động vật rừng 18
1.5 Điều kiện kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu 18
1.5.1 Dân số và phân bố 18
1.5.2 Tình hình sử dụng đất của quận Sơn Trà 19
1.6 Công tác tổ chức quản lý tại bán đảo Sơn Trà 22
1.6.1 Ban quản lý bán đảo Sơn Trà và các bãi biển du lịch Đà Nẵng 22
1.6.2 Hạt Kiểm lâm liên quận Sơn Trà - Ngũ Hành Sơn 23
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 24
2.1.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 24
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu 24
2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 25
Trang 62.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.3.1 Phương pháp kế thừa 25
2.3.2 Phương pháp phỏng vấn 25
2.3.3 Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa 26
2.3.4 Phương pháp xử lý số liệu 27
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 28
3.1 Đặc điểm phân bố của loài Voọc chà vá chân nâu (Pygathrix nemaeus) tại bán đảo Sơn Trà, Đà Nẵng 28
3.1.1 Bản đồ phân bố các tuyến khảo sát VCVCN tại bán đảo Sơn Trà 28
3.1.2 Đặc điểm phân bố của loài VCVCN (P nemaeus) 28
3.1.3 Sự phân bố của VCVCN (P nemaeus) trên các tuyến khảo sát 32
3.1.4 Sự phân bố của loài VCVCN (P nemaeus) theo khu vực nghiên cứu trên bán đảo Sơn Trà 35
3.1.5 Sự phân bố của loài VCVCN (P nemaeus) theo đai độ cao 38
3.2 Số lượng và tần suất gặp VCVCN (P Nemaeus) tại bán đảo Sơn Trà 41 3.2.1 Mật độ cá thể và số lượng VCVCN tại bán đảo Sơn Trà 41
3.2.2 Tần suất bắt gặp loài VCVCN trên tuyến nghiên cứu 42
3.3 Những mối đe dọa đến sự tồn tại của VCVCN ở bán đảo Sơn Trà 45
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 51
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Số hiệu
Trang 9DANH MỤC HÌNH ẢNH
Trang 103.10 Số VCVCN bị nhóm của Sơn giết hại, sấy khô 45
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
quốc gia có mức độ đa dạng sinh học cao trên thế giới với nhiều loài động vật, thực vật, quý, hiếm, đặc biệt đa dạng thú linh trưởng Thế giới có 612 loài và phân
loài linh trưởng thì ở Việt Nam có 25 loài thuộc 3 họ: Họ Cu li (Loridae), họ Khỉ (Cercopithecidae) và họ Vượn (Hylobatidae) [6] Đa số các nhà phân loại học trên thế giới đều nhất trí rằng trong họ Khỉ có họ phụ khỉ (Cercopithecinae) và họ phụ voọc (Colobinae) Ở Việt Nam trong phân họ phụ voọc (Colobinae) có 12 loài thuộc 3 giống: Trachypithecus (8 loài), Pygathrix (03 loài: Chà vá chân nâu (P
nemaeus), Chà vá chân xám (P cinerea) và Chà vá chân đen (P Nigripes); Rhinopithecus chỉ có loài Voọc mũi hếch (R avunculus) [2], [24], [29]
Thành phố Đà Nẵng hiện có 59.942 ha rừng, trong đó có 40.883 ha rừng tự nhiên và 19.058 ha rừng trồng; độ che phủ đạt 46,6% Thành phố Đà Nẵng là nơi giao thoa của các tiểu vùng khí hậu, có đặc thù đa dạng về địa hình nên mức độ đa dạng sinh học cao Trên địa bàn thành phố có 2 khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) và 1 khu bảo vệ cảnh quan với nhiều loài động thực vật quý hiếm gồm: KBTTN Sơn Trà, KBTTN Bà Nà – Núi Chúa, và khu bảo
vệ cảnh quan Nam Hải Vân [12]
Bán đảo Sơn Trà có tổng diện tích là 4.439 ha bao gồm 2.591,1 ha rừng đặc dụng, có 985 loài thực vật và 287 loài động vật [1] Với tính chất bán đảo,
có tính đa dạng sinh học đặc trưng nên được các tổ chức và nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, đặc biệt nghiên cứu khoa học trên đối tượng Voọc chà
vá chân nâu (VCVCN) như Lippold (1977,1995) [32] ghi nhận sự tồn tại của loài; Lippold và Vũ Ngọc Thành (2008) nghiên cứu sự phân bố, số lượng của loài trong giới hạn KBTTN Sơn Trà (2.591.1 ha) trong năm 2006, 2007 [39];
Trang 12Theo Larry Ray Ulibarri (2013) về đề tài Tiến sỹ “The Socioecology of Red –
shanked Doucs (Pygathrix nemaeus) in Son Tra Nature Reserve, Vietnam” đã
mô tả chi tiết về cấu trúc bầy đàn, giới tính, thành phần thức ăn, quỹ thời gian hoạt động của VCVCN [30]
Tuy nhiên, từ năm 2007 đến nay chưa có công bố khoa học nào về sự phân bố, số lượng và tần suất gặp loài VCVCN trên toàn bộ bán đảo, trong khi mười năm trở lại đây thành phố Đà Nẵng có chính sách quy hoạch bán đảo Sơn Trà theo hướng du lịch đã gây nhiều tác động đến môi trường sống của VCVCN bởi loài linh trưởng này thích nghi tốt với môi trường rừng tự nhiên
Nhằm cập nhập và cung cấp thêm thông tin mới về đặc điểm phân bố,
số lượng và tần suất gặp loài VCVCN trên toàn bộ bán đảo Sơn Trà, chúng tôi
chọn đề tài “Nghiên cứu sự phân bố, số lượng và tần suất gặp loài Voọc chà vá chân nâu (Pygathrix nemaeus) tại bán đảo Sơn Trà, Đà Nẵng” để
làm cơ sở khoa học giúp bảo tồn bền vững loài linh trưởng nguy cấp, quý
hiếm có nguy cơ tuyệt chủng cao này
2 Mục tiêu của đề tài
- Lập được bản đồ phân bố của loài VCVCN ở bán đảo Sơn Trà;
- Xác định được đặc điểm phân bố của loài VCVCN theo tuyến, khu vực và đai độ cao tại bán đảo Sơn Trà;
- Tính được số lượng, tần suất gặp loài VCVCN tại bán đảo Sơn Trà;
- Xác định được mối đe dọa chính đến loài VCVCN tại bán đảo Sơn Trà
3 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Cung cấp thông tin khoa học về đặc điểm phân bố, số lượng và tần
suất bắt gặp loài VCVCN (Pygathrix nemaeus) tại bán đảo Sơn Trà, thành
phố Đà Nẵng để phục vụ cho công tác quản lý và bảo tồn loài tại bán đảo Sơn Trà được tốt hơn
Trang 13CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tình hình nghiên cứu linh trưởng tại Việt Nam
Ở Việt Nam bắt đầu từ những năm cuối thế kỷ XIX, các nhà khoa học nước ngoài đã thực hiện một số nghiên cứu về các loài động vật hoang
dã, trong đó có các loài linh trưởng [6] Từ năm 1960 đến nay, đã có nhiều nghiên cứu chuyên sâu về các loài linh trưởng được các nhà khoa học Việt Nam thực hiện Lịch sử nghiên cứu linh trưởng ở Việt Nam chia thành 3 giai đoạn chính sau:
- Giai đoạn trước năm 1954:
Trong giai đoạn này, các nghiên cứu về linh trưởng chủ yếu được thực hiện bởi các nhà khoa học người nước ngoài như George Finlayson (1828), Mine-Edwards (1867 - 1874), Morice (1904), Brousniche (1887), Billet (1896 - 1898), Pavie (1879 - 1898), Boutan (1900 - 1906), De Pousargues (1904), Menegeaux (1905-1906), Delacour (1928 - 1930), H.t Stevens (1923 - 1924), Kelly Rooservelts (1928 - 1929), Bourret (1942, 1944) [6], [14], [34], [35]
Những ghi nhận về linh trưởng của Việt Nam trước năm 1954 thông qua các cuộc điều tra và nghiên cứu thám hiểm nhằm phát hiện, mô tả loài mới, phân loại và thống kê thành phần loài, chưa có công trình nghiên cứu sâu về các đặc điểm sinh học, sinh thái và bảo tồn Hơn nữa các nghiên cứu về linh trưởng còn bị gián đoạn trong thời kỳ đất nước kháng chiến chống Pháp từ 1945 – 1954 [14]
- Giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1975:
Sau khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng (tháng 10 năm 1954), các nghiên cứu về các loài linh trưởng đã được tiếp tục và phát triển Ở miền Bắc Việt Nam, các nhà khoa học là người Việt Nam đã tiến hành nhiều cuộc
Trang 14điều tra, nghiên cứu về thành phần loài của các khu hệ và cả một số đặc điểm sinh học, sinh thái các loài linh trưởng ở nhiều tỉnh miền Bắc Việt Nam trong giai đoạn 1956 - 1971 [8] Ở miền Nam Việt Nam, có rất ít điều tra
nghiên cứu thực hiện trong thời gian này [14], [34]
Các nghiên cứu về linh trưởng có giá trị khoa học trong thời gian này phải kể đến các công trình như: Đào Văn Tiến với công trình “Sur les formes
de semnopithèque noir Presbytis francoisi (Colobidae, Primates) au
Vietnam et description d’une forme nouvelle” (1970) nghiên cứu về các
phân loài của Voọc đen má trắng (Presbytis francoisi) và đã mô tả một phân loài voọc mới - Voọc Hà Tĩnh (Presbytis francoisi hatinhensis) Lê Hiền Hào
xuất bản cuốn “Thú kinh tế miền Bắc Việt Nam”, tập 1 (1973) cung cấp những thông tin về phân bố, đặc điểm sinh học và giá trị kinh tế của 9 loài linh trưởng ở miền Bắc Việt Nam Kết quả của các cuộc điều tra thú ở miền Bắc Việt Nam đã được Đào Văn Tiến (1985) tổng kết trong cuốn “Khảo sát thú ở miền Bắc Việt Nam” [6], [14], [21]
- Giai đoạn từ sau năm 1975 đến nay
Các điều tra, nghiên cứu và các loài linh trưởng được quan tâm và triển khai mạnh mẽ trên các vùng của cả nước và đạt được nhiều kết quả có giá trị Đội ngũ cán bộ Việt Nam nghiên cứu về linh trưởng cũng phát triển và lớn mạnh không ngừng Nhiều nghiên cứu không chỉ bó hẹp do các cán bộ khoa học Việt Nam tiến hành mà còn có sự hợp tác quốc tế sâu rộng với các chuyên gia linh trưởng và các tổ chức bảo tồn quốc tế [14]
Đặc biệt, trong những năm gần đây, công tác điều tra, nghiên cứu, bảo tồn và phát triển các loài linh trưởng quý hiếm đang được chú trọng Hàng loạt các Vườn quốc gia (VQG) và KBTTN được thành lập trên khắp cả nước
để bảo tồn đa dạng sinh vật, trong đó có các loài linh trưởng quý hiếm Một
Trang 15số chương trình nghiên cứu về sinh thái và tập tính của các loài linh trưởng được tiến hành [14], [22], [35]
Nhiều công trình tiêu biểu nghiên cứu về linh trưởng ở Việt Nam của nhiều tác giả trong và ngoài nước thực hiện dài hạn như: Nghiên cứu của
Hoàng Minh Đức trên loài Voọc Chà vá chân đen (Pygathrix nigripes) [28],
Lê Khắc Quyết trên loài Voọc mũi hếch (Rhinopithecus avunculus) [14], Hà Thăng Long trên loài Voọc chà vá chân xám (P cinerea)[31], Nguyễn Vĩnh Thanh trên loài Voọc quần đùi trắng (Trachypithecus delacouri) [18], Otto trên loài Voọc chà vá chân nâu (P nemaeus) [37]
Kết quả của các đợt điều tra khảo sát về khu hệ linh trưởng tại các địa phương, các vùng miền và các công trình nghiên cứu về sinh học, sinh thái của các loài linh trưởng ở Việt Nam được công bố trên nhiều tạp chí khoa học trong nước và quốc tế [14]
1.2 Đa dạng linh trưởng Việt Nam
Việt Nam có mức độ đang dạng thú linh trưởng cao, với 25 loài thuộc 3
trong số 5 họ linh trưởng của châu Á: họ Vượn (Hylobatidae), họ Khỉ và Voọc (Cercopithecidae) và họ Cu li (Loridae) [11], [12] Hai họ còn lại ở châu Á không phân bố ở Việt Nam là Vượn nhảy nhỏ (Tarsiidae) và Đười ươi (Hominidae) phân bố hẹp tại các đảo của thềm lục địa Sunda [14]
Trong số 25 loài, có 05 loài là đặc hữu của Việt Nam và 09 loài đặc hữu Đông Dương và một vùng nhỏ ở Nam Trung Quốc Năm loài chỉ có phân
bố ở Việt Nam (đặc hữu) là: Voọc Mông Trắng (Trachypithecus delacouri), Voọc Cát Bà (T poliocephalus poliocephalus), Voọc chà vá chân xám (P
cinerea), Voọc Mũi hếch (Rhinopithecus avunculus), Vượn đen Tây
Bắc (Nomascus concolor) [33], [16]
Trang 16Ở Việt Nam, họ Cu li (Loridae) chỉ có một giống (Nycticebus) với hai loài Cu li là: Cu li lớn (Nycticebus bengalensis) và Cu li nhỏ (N pygmaeus)
Có thể có loài thứ ba nhưng taxon này chưa được mô tả [33], [16]
Họ Khỉ (Cercopithecidae) có hai phân họ: phân họ Khỉ (Cercopithecinae) và phân họ Voọc (Colobinae) với 4 giống: Macaca,
Trachypithecus, Pygathrix và Rhinopithecus Tổng số có 17 loài nên đây là họ
có số loài phong phú nhất [6]
Phân họ Khỉ (Cercopithecinae) chỉ có một giống (Macaca) gồm 5 loài: Khỉ mặt đỏ (M arctoides), Khỉ mốc (M assamensis), Khỉ đuôi dài (M
fascicularis), Khỉ đuôi lợn Bắc (M leonina), Khỉ vàng (M Mulatta) Ngoài ra
còn có phân loài khỉ đuôi dài côn đảo (M f fascicularis) phân bố hẹp ở Côn Đảo nhưng những nghiên cứu mô tả thông tin về phân loài còn ít [6]
Phân họ Voọc (Colobinae) với 12 loài chiếm 48% tổng số taxon của linh trưởng tại Việt Nam, thuộc 3 giống: giống Trachypithecus (8 loài và phân loài); giống Pygathrix có 3 loài: Chà vá chân nâu (P nemaeus), Chà vá chân xám (P cinerea) và Chà vá chân đen (P nigripes); giống Rhinopithecus chỉ
có một loài Voọc mũi hếch (R avunculus) [6], [16], [33]
Họ Vượn (Hylobatidae) có 6 loài: Vượn má vàng Bắc (Nomascus
annamensis ), Vượn má vàng Nam (N gabriellae); Vượn đen Đông Bắc
hay Vượn cao vít (N nasutus), Vượn đen Tây Bắc (N.concolor), Vượn đen má
trắng Bắc (N leucogenys), Vượn đen má trắng Nam (N siki) [33], [35]
Bên cạnh sự phong phú về số lượng loài và loài đặc hữu, Việt Nam còn
là điểm nóng về đa dạng linh trưởng với 5 loài luôn được liệt vào danh sách
“25 loài linh trưởng nguy cấp hàng đầu trên thế giới” kể từ khi danh lục này ra
đời từ năm 2001: Voọc mông trắng (Trachypithecus delacouri), Voọc mũi hếch (Rhinopithecus avunculus), Voọc Cát Bà (T poliocephalus), Voọc chà
vá chân xám (P cinerea) và Vượn đen Đông Bắc hay Vượn cao vít (N
nasutus) [14], [33]
Trang 17Thú linh trưởng ở Việt Nam đã và đang bị đe dọa, suy giảm về số lượng và chất lượng do săn bắt, mất môi trường sống Trong bảng đánh giá năm 2006 của tổ chức IUCN đã kết luận có 65% các loài thú linh trưởng của Việt Nam đang ở trong tình trạng nguy cấp và cực kì nguy cấp, vì vậy Việt Nam là một trong những nước được ưu tiên cao nhất trên toàn cầu về bảo tồn thú linh trưởng [24], [29]
1.3 Tổng quan về loài Voọc chà vá chân nâu
1.3.1 Một số đặc điểm của loài Voọc chà vá chân nâu
a Đặc điểm hình thái
VCVCN là loài khỉ lớn so với những loài Voọc khác, kích thước cơ thể dài từ 53 – 63cm, trọng lượng trung bình từ 5,3 – 11,5kg, bộ lông có năm màu sắc khác nhau nên còn gọi là Voọc ngũ sắc Đuôi màu trắng với kích thước tương đương chiều dài của cơ thể Chi sau dài hơn chi trước Đầu không có mào nhọn trên đỉnh Lông trên đầu chải ngược về phía sau Mắt hình quả hạnh
và góc mắt hơi nghiêng Dương vật con đực trưởng thành có màu đỏ [30]
Màu sắc của con đực trưởng thành và con cái như nhau ngoại trừ ở con đực có một túm lông trắng ở phía trên mỗi góc hình tam giác ở gốc đuôi Bộ lông con non có màu vàng cam, khuôn mặt hơi đỏ xanh, mắt màu vàng sáng Đỉnh đầu có màu hơi đỏ đen, dọc theo sống lưng có một đường màu đen Sau hai năm, màu sắc của loài đã có sự khác biệt rõ ràng Bộ lông nhiều màu, đỉnh đầu, trán màu đen Lông mặt dày tạo thành đĩa mặt, màu từ trắng xám đến xám Cổ và ngực màu hung đỏ từ rực rỡ đến nhạt Lưng màu xám nhạt hoặc lốm đốm trắng, lông ở vai màu xám đen Chân, tay dài, cánh tay từ khủy đến
mu bàn tay trắng xám, đùi màu đen, ống chân hung đỏ đến nâu đỏ thẫm mu bàn chân và ngón màu đen [30]
Trang 18b Đặc điểm sinh học và sinh thái
Tổ chức xã hội của VCVCN gồm nhiều đàn nhỏ có thể tập hợp thành đàn lớn Tuy nhiên cấu trúc đàn lớn lỏng lẻo và có hiện tượng tách nhập đàn thường xuyên Đàn nhỏ thường gồm 01 con đực, vài con cái và con con Tỷ lệ đực cái thường từ 1: 1,63, trong một đàn thì tỉ lệ từ con trưởng thành, con bán trưởng thành, con nhỡ đến con non là 3,7: 0,8: 0,8: 1,5 [30]
Kích thước đàn ở các nhóm chà vá khác nhau và liên quan đến môi trường sống Thức ăn của Voọc chà vá chân nâu gồm lá, hoa, quả hạt và vỏ cây Theo Larry Ray Ulibarri (2013), thức ăn chủ yếu của VCVCN là lá chiếm 87,8%, tiếp theo là quả và hạt (10,2%), hoa (1,6%) và vỏ cây (0,4%) [30]
Quá trình sinh trưởng của chúng tốt nhất vào giữa tháng hai và tháng sáu, nhờ vào sự phong phú của trái cây theo mùa Mùa sinh sản của chúng là mùa xuân, đến mùa động dục những con đực trưởng thành đi tìm con cái riêng cho mình Nhiều khi, những con đực phải đánh nhau để giành lấy con cái Con non có lông màu vàng nhạt, ống chân màu đỏ nhạt Đuôi và ống tay
Hình 1.1: Voọc chà vá chân nâu (P nemaues) tại bán đảo Sơn Trà
(Ảnh: Trung tâm GreenVieet)
Hình 1.0.2: Voọc chà vá chân nâu (Pygathrix nemaues) tại bán đảo Sơn Trà
(Ảnh: Bùi Văn Tuấn)
Trang 19có màu trắng, chúng luôn di chuyển bên cạnh con mẹ, bám chặt dưới bụng mẹ khi di chuyển [30]
c Phân bố
VCVCN chỉ có vùng sống giới hạn trong những tán rừng nguyên sinh thuộc 3 quốc gia gồm Lào, Campuchia, Việt Nam Trong đó, tại Việt Nam loài có vùng phân bố từ Nghệ An đến Kon Tum [43]
Hình 1.2: Bản đồ phân bố của loài VCVCN [43]
1.3.2 Các mối đe dọa chính đến Voọc chà vá chân nâu
Trang 20Trước 1967, VCVCN đã được tìm thấy trong nhiều môi trường sống
từ độ cao thấp lên địa hình đồi núi cao tới 2.000m (6.600 feet), rừng rụng
lá và rừng nhiệt đới Tại quốc gia Lào, tổ chức WWF tìm thấy quần thể
Hinnammo, đây là quần thể loài VCVCN lớn nhất trên thế giới, phân bố
từ 14° 25’N đến 18°38’N, nơi sống của loài trong các khu rừng nguyên sinh và thứ sinh Tuy nhiên loài trong tình trạng nguy cấp bị săn bắt, du lịch, phá rừng gia tăng [40]
VCVCN bị săn bắn nhiều cho mục đích làm thực phẩm, sử dụng để làm thuốc cũng như phục vụ cho nhu cầu làm vật nuôi Loài linh trưởng quý hiếm này rất dễ bị săn bắn, khi nghe tiếng súng hay phát hiện người lạ chúng không chạy trốn mà sợ hãi núp yên một chỗ trên cây Một mối nguy khác tác động xấu tới số lượng của VCVCN chính là môi trường sống của loài ngày càng bị thu hẹp do các hoạt động du lịch, dịch vụ của con người [33], [34], [36]
1.3.3 Tình trạng bảo tồn loài
Loài VCVCN thuộc nhóm IB/5 tại Nghị Định 32/2006/NĐ-CP về quản
lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm [13]
Trong sách Đỏ Việt Nam (2007) và IUCN (2013), VCVCN xếp ở mức
độ nguy cấp (EN) [2]
VCVCN được liệt kê trong phụ lục I của công ước CITES (Công ước về thương mại Quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp, phụ lục I – bao gồm những loài bị nguy cấp bị đe doạ tuyệt chủng Việc buôn bán, trao đổi những loài trong phụ lục này cần phải có cả Giấy phép Xuất khẩu và Giấy phép Nhập khẩu cấp bởi Cơ quan quản lý CITES của nước xuất khẩu và nước nhập khẩu) [42]
Trang 211.3.4 Tình hình nghiên cứu VCVCN ở bán đảo Sơn Trà
Tại KBTTN Sơn Trà, trước đây có các cuộc nghiên cứu, tìm hiểu về loài Voọc Chà vá chân nâu của J.F.T.Eydoux (1837), Phạm Nhật (1994), Van peenen (1969), Lippold (1977,1995) [32], [38], [41] Khảo sát của Lois K Lippold Vũ Ngọc Thành và cộng sự (2008) đã xác định tại Sơn Trà có 12 đàn VCVCN với số lượng khoảng 171 và xác định sơ bộ về các khu vực phân bố của loài [39]
Theo tài liệu: “Điều tra khu hệ động thực vật và nhân tố ảnh hưởng Đề xuất phương án sử dụng hợp lý khu BTTN Sơn Trà (1997)” của TS Đinh Thị
Phương Anh và cộng sự đã ghi nhận quần thể Voọc Chà vá chân nâu (P
nemaeus), Khỉ vàng (M mulatta), Khỉ đuôi dài (M fascicularis) có tồn tại tại
KBTTN Sơn Trà [1] Ngoài ra, năm 2010 có các nghiên cứu: “Bước đầu
nghiên cứu sự phân bố và tập tính tư thế vận động của họ Khỉ voọc tại KBTTN Sơn Trà – Thành phố Đà Nẵng”của Nguyễn Hồng Chung và cộng sự
đã xác định quần thể VCVCN phân bố chủ yếu ở hai sinh cảnh: rừng lá rộng thường xanh mùa mưa nhiệt đới và rừng phục hồi còn các sinh cảnh trảng cây bụi cỏ và sinh cảnh khu dân cư là chưa tìm thấy [3]
Kết quả “Nghiên cứu đặc điểm sinh thái của quần thể loài Voọc chà vá
chân nâu tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà thành phố Đà Nẵng” do sinh
viên khoa Sinh – Môi trường, trường Đại học Sư Phạm – Đà Nẵng thực hiện cho thấy quần thể VCVCN có 3 loại kích thước khác nhau; mật độ quần thể thay đổi khác nhau ở các sinh cảnh và các mùa; thành phần thức ăn gồm 9 loài thực vật Nhân tố ảnh hưởng đến quần thể VCVCN là làm đường, phát triển du lịch, thực vật gây hại; hoạt động khai thác tài nguyên rừng [23]
Năm 2013, theo Luận án tiến sĩ của Larry Ray Ulibarri về đề tài “The
Socioecology of Red – shanked Doucs (Pygathrix nemaeus) in Son Tra Nature
Trang 22Reserve, Vietnam” đã mô tả chi tiết về cấu trúc bầy đàn, giới tính; thành phần
thức ăn; quỹ thời gian hoạt động của loài VCVCN [30]
Năm 2014 (Nguyễn Tài Thu) với đề tài “Nghiên cứu sử dụng giá thể và
chiều cao trên cây của quần thể Voọc chà vá chân nâu (Pygathrix nemaeus) tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà” thì loài VCVCN thường sử dụng những
cây cao nhất (vượt tầng tán) cho các hoạt động, tập tính Chúng sử dụng ở độ cao cao từ 5 – 19,9m [20]
Từ năm 2013 cho đến nay, Nghiên cứu sinh Jonathan Clayton phối hợp
với Đại học Đà Nẵng và Trung tâm GreenViet thực hiện đề tài “Nghiên cứu
đặc điểm sinh học và thành phần vi sinh vật trong hệ tiêu hóa của loài Chà vá chân nâu tại bán đảo Sơn Trà”, kết quả nghiên cứu sẽ hỗ trợ tốt hơn cho công
tác nuôi dưỡng loài VCVCN tại các trung tâm cứu hộ
1.4 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu
1.4.1 Vị trí điạ lý
Sơn Trà là một bán đảo nằm ở phía Đông Bắc thành phố Đà Nẵng, phía Tây Bắc giáp vịnh Đà Nẵng, Đông Bắc và Đông Nam giáp biển đông, Tây Nam giáp đất liền và Cảng Sông Hàn [11] (hình 1.3)
Về mặt hành chính, bán đảo Sơn Trà thuộc phường Thọ Quang, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng, nằm ngang theo hướng Đông Tây và nối với đất liền vùng nội thị của thành phố Đà Nẵng Toạ độ địa lý: 108012'45''-
108020'48'' kinh độ Đông, 16005'50'' - 16009'06'' vĩ độ Bắc [11]
Trang 23KBTTN thuộc bán đảo Sơn Trà được chính thức thành lập từ năm 1989 (theo Quyết định phê duyệt Luận chứng kinh tế kĩ thuật rừng đặc dụng Sơn Trà, số 2062/QĐ-UBND ngày 12/9/1989 của UBND tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng) trên cơ sở chuyển đổi Khu rừng cấm bán đảo Sơn Trà (theo Quyết định
số 41-TTg ngày 24/01/1977 của Thủ tướng Chính phủ)
Theo Quyết định số 6758/QĐ-UBND ngày 20/9/2008 của UBND thành phố Đà Nẵng, về việc phê duyệt quy hoạch 3 loại rừng trên địa bàn thành phố
Đà Nẵng giai đoạn 2008 - 2020 thì diện tích rừng đặc dụng và đất rừng đặc dụng của riêng quận Sơn Trà là 2.591,1 ha, trong đó có 2.320 ha diện tích rừng tự nhiên, 192,1 ha rừng trồng, 79 ha là đất trống, đồi núi trọc
Gần đây, trong Quyết định 45/QĐ-TTg ngày 8/1/2014 của Thủ tướng Chính phủ về Quy hoạch tổng thể bảo tồn đa dạng sinh học của cả nước đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 thì khu dự trữ thiên nhiên bán đảo Sơn Trà có diện tích quy hoạch là 3.871 ha Còn trong Quyết định 1976/QĐ-TTg ngày 30/10/2014 của Thủ tướng Chính phủ về Quy hoạch hệ thống rừng đặc
Hình 1.3: Vị trí địa lí bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng) (Nguồn: Google Earth, 2015)
Trang 24dụng cả nước đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 thì Khu bảo tồn thiên nhiên bán đảo Sơn Trà được quy hoạch với diện tích 2.591,1 ha
Để thuận tiện cho công tác quản lý, bảo vệ rừng và phát triển rừng
Rừng ở bán đảo Sơn trà được chia làm các phân khu chức năng như sau:
Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt: Diện tích 2.593,1 ha nằm ở phía đông của
bán đảo, ranh giới phân cách phân khu phục hồi là đường từ Bãi Con qua đỉnh
82, theo đường lên dốc đỉnh 621 dọc đường nhựa đến đỉnh truyền hình (647m) theo suối Heo xuống đến suối Bãi Xếp Chức năng bảo vệ toàn bộ diện tích rừng trung bình và hệ động thực vật còn lại đặc biệt là bảo vệ loài Chà vá chân nâu, Khỉ đuôi dài, Chò đen, Dầu lá bóng [11]
Phân khu phục hồi: Diện tích 1.843,9 ha, nằm ở phía tây của đảo, ranh
giới giữa Bãi Con đến Bãi Xếp Chức năng là phục hồi thảm thực vật bằng con đường nhân tạo khoanh nuôi tái sinh và tái sinh tự nhiên Đây cũng là phân khu nhằn ngăn cách tác động của con người vào phân khu bảo vệ nghiêm ngặt [11]
Khu hành chính: được xây dựng ở phía dưới chân núi Tuy nhiên hiện
nay chỉ có Văn phòng hạt kiểm lâm đặt trên đường lên đài FM còn các trạm Bãi Nam, Bãi Bắc, Suối Đá, Tiên Sa hiện nay nằm trong diện giải tỏa thu hồi phục vụ cho các dự án du lịch Điều này đã gây hạn chế đối với công tác quản
lý, bảo vệ rừng [11]
Vùng đệm: là khu vực bao quanh chân núi với chiều rộng 500 m Việc
quản lý mặt nước biển bao quanh bán đảo do ngành thủy sản và du lịch quản
lý khai thác [11]
1.4.2 Địa hình - địa mạo
Dãy núi Sơn Trà có hình dáng như một con cá, dài theo hướng Đông Tây, các sườn chạy theo hướng Bắc Nam có độ dốc lớn từ 250 - 300, sườn Đông Bắc dốc hơn sườn Tây Nam Địa hình của KBTTN Sơn Trà bị chia cắt
Trang 25mạnh bởi hệ thống suối Đỉnh cao nhất bán đảo Sơn Trà là đỉnh Ốc cao 696m, đỉnh truyền hình cao 647 m, đỉnh 3 quả cầu thuộc Trạm Rada 29 cao 621 m Bán đảo có chiều dài 13 km, chỗ rộng nhất 5 km, hẹp nhất 1,5 km [11]
1.4.3 Thủy văn
Trong khu vực bán đảo Sơn Trà có 20 con suối chảy quanh năm hoặc theo mùa, những con suối thường xuyên chảy quanh năm Ở sườn Bắc Sơn Trà: có suối Hải Độ 8, Tiên Sa, Suối Lớn, Suối Sâu, Suối ông Tám, Suối Ông Lưu và suối Bãi Bắc Ở sườn Nam Sơn Trà: có suối Bãi Cồn, bãi Trệm, suối
Đá Bằng, suối Bãi Xếp, Suối Heo, Suối Đá, Suối Cầu Trắng [11]
1.4.4 Khí hậu
Theo đài khí tượng thủy văn Khu vực Trung Trung bộ (2012), bán đảo Sơn Trà mang đặc điểm khí hậu chung của thành phố Đà Nẵng, tuy nhiên do
tính chất bán đảo nên có một số sự khác biệt
Nhiệt độ: Mùa hè (tháng 1- 8): nhiệt độ trung bình 280C - 290C, cao nhất 370 C- 380 C, thấp nhất 270 C- 290 C Mùa đông (tháng 9 -12): nhiệt độ trung bình 210C - 230C, thấp nhất 170 C - 190C, cao nhất 270C - 290C Tổng
Bảng1.1: Nhiệt độ và độ ẩm trung bình các tháng trong năm 2012
năm Nhiệt
Trang 26Lượng mưa: Tổng lượng mưa 3822mm/năm; lượng mưa lớn nhất tập trung
vào tháng 10,11; lượng mưa thấp nhất tập trung vào tháng 6,7 [20]
Hình 1.4: Biểu đồ so sánh lượng mưa Đà Nẵng và Sơn Trà
(Nguồn: Đài khí tượng thủy văn Trung Trung Bộ, 2012)
Qua hình 1.3 cho thấy mùa mưa tại bán đảo Sơn Trà và thành phố Đà Nẵng bắt đầu từ tháng 8 đến cuối tháng 12 hoặc tháng 1 Các tháng có lượng mưa lớn tập trung vào tháng 10,11 Mùa khô kéo dài từ tháng 2 đến tháng 7 Lượng mưa tại Sơn Trà nhìn chung cao hơn Đà Nẵng, tuy nhiên vào 2 tháng 9,10 lượng mưa tại Đà Nẵng cao hơn tại Sơn Trà do đây là 2 tháng tại Sơn Trà tốc độ gió cao (13 m/s – 14m/s), ảnh hưởng đến sự hình thành lượng mưa tại đây [20]
Độ ẩm không khí: trung bình 80 - 90%; độ ẩm cao tập trung các tháng
Trang 271.4.5 Thảm thực vật rừng
KBTTN Sơn Trà có 985 loài thực vật thuộc 483 chi, 143 họ [1] Trong tổng số gần một nghìn loài thực vật tại KBTTN Sơn Trà có 22 loài cây quý hiếm cần được bảo vệ phục hồi và phát triển Thảm thực vật rừng ở đây được chia ra thành 4 kiểu chính: Kiểu rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới; Kiểu quần hệ rừng phục hồi sau khai thác kiệt; Kiểu quần hệ trảng cây bụi; Kiểu quần hệ trảng cỏ [1]
Hình thành các kiểu rừng trên là sự cấu thành bởi 985 loài thực bao gồm:
ngành thực vật hạt kín – Angiospermae (919 loài), ngành Thực vật hạt trần –
Gymnospemae (4 loài), ngành Quyết thực vật – Pterophyta (62 loài) Tổ thành
loài phong phú, bao gồm nhiều loài ưu thế thuộc họ Dầu (Dipterocarpaceae),
họ Đậu (Leguminosae), họ Ba mảnh vỏ (Euphorbiaceae), họ Tử vi (
Lythraceae), họ Lan (Orchidaceae) Đặc điểm quan trọng là khu hệ thực vật
gồm yếu tố khu hệ bản địa Bắc Việt Nam – Trung Hoa mang đặc trưng khu
hệ nhiệt đới cổ kỷ thứ III (Tertiary) tiêu biểu là các họ: Re (Lauraceae), Da (Fagaceae), Dâu tằm (Moraceae), Đậu (Fabaceae) Yếu tố ngoại lai gồm
thành phần thực vật di cư nguồn gốc Malaysia – Indonesia tiêu biểu là họ Dầu
(Dipterocarpaceae) và yếu tố nguồn gốc Ấn Độ - Mianma tiêu biểu là các loài cây rụng lá họ: Tử vi (Lythaceae), Thung (Datissaceae), Chưng bầu (Combretaceae) và yếu tố nguồn Hymalayas Tây Tạng –Vân Nam mà tiêu
biểu là các loài hạt trần như Thông tre trung bộ, Kim giao lá nhỏ [1]
Trang 28Hình 1.5: Bản đồ hiện trạng rừng bán đảo Sơn Trà
(Nguồn: Viện Quy hoạch và Điều tra rừng khu vực miền Trung, 2008)
1.5 Điều kiện kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu
1.5.1 Dân số và phân bố
Dân số toàn quận Sơn Trà thuộc thành phố Đà Nẵng gồm có 7 phường với 113.613 nhân khẩu Nam: 55.220 khẩu, Nữ: 58.393 khẩu; Mật độ dân số bình quân: 1.869 người/ km2, lao động 68.168 người, trong đó có việc làm 64.003 người; chưa có công ăn việc làm 4.165 người
Trang 29Bảng 1.2: Cơ cấu dân số quận Sơn Trà, Đà Nẵng năm 2009 (ĐVT: người)
(Nguồn: Niên giám thống kê 2009, Phòng thống kê quận Sơn Trà)
Qua bảng 1.2 có thể thấy dân số ở Sơn Trà có tỷ lệ nữ chiếm nhiều hơn nam giới Nguồn lao động chiếm 60% tổng dân số của quận Lao động có công ăn việc làm chiếm tỷ lệ 93,89%; lao động chưa có công ăn việc làm chiếm tỷ lệ 6,11% Điều này cho thấy việc giải quyết tạo công ăn việc làm cho người dân ở quận Sơn Trà rất cao, tình trạng thất nghiệp ít, đó cũng đồng nghĩa với việc ổn định, nâng cao đời sống của người dân, trật tự an ninh được đảm bảo, giảm áp lực của người dân đối với khu bảo tồn Tuy nhiên tỷ lệ thất nghiệp, không có công ăn việc làm là 4.165 người (6,11%) ít nhiều đây cũng
là thách thức đối với KBTTN Sơn Trà với những hoạt động trái phép của họ như: đốt rừng, hái lá, đốt than, chặt củi, săn bẫy động vật
1.5.2 Tình hình sử dụng đất của quận Sơn Trà
Cơ cấu đất đai quận Sơn Trà thể hiện trong bảng 1.3 cho thấy diện tích đất lâm nghiệp tương đối lớn (4.195,7 ha), chiếm 69,1 % so với tổng diện tích đất tự nhiên toàn quận Toàn bộ diện tích đất lâm nghiệp trong khu bảo tồn
Trang 30Bảng 1.3: Cơ cấu sử dụng đất của quận Sơn Trà
(Nguồn: Niên giám thống kê 2009, Phòng thống kê quận Sơn Trà)
Với một quận thuộc thành phố Đô thị loại I lại có diện tích rừng lớn như vậy, điều này cho thấy tài nguyên rừng ở quận Sơn Trà rất phong phú, đặc biệt giá trị của nguồn lâm sản ngoài gỗ rất nhiều Điều này nếu không được quan tâm, quản lý sẽ dẫn tới việc người dân thường xuyên vào rừng khai
thác để phục vụ cho cuộc sống hằng ngày là không thể tránh khỏi
Bảng 1.4 Cơ cấu sử dụng đất trong KBTTN Sơn Trà
(Nguồn: Ban quản lý KBTTN Sơn Trà, 2006)
Hiện tại chung quanh chân núi Sơn Trà diện tích đất được giao và khoán theo nghị định 184/NĐ-HĐBT, Nghị định 02/NĐCP, Nghị định
Trang 31163/NĐCP và Nghị định 01/CP là 625ha cho 247 đơn vị tập thể và cá nhân sử dụng để trồng rừng và làm kinh tế vườn rừng
Ngành Công nghiệp-xây dựng đạt tốc độ tăng trưởng cao và ổn định Trên địa bàn quận, đặc biệt ở phường Thọ Quang có nhiều nhà máy, trung tâm Công nghiệp đã góp phần vào việc giải quyết việc làm cho người dân Tuy nhiên sự ô nhiễm môi trường (do khí bụi, tiếng ồn, chiếu sáng nhân tạo)
đã gây ảnh hưởng xấu tới hệ sinh thái tự nhiên
Hình 1.6: Sơ đồ các tuyến du lịch trên bán đảo Sơn Trà Đà Nẵng
(Nguồn: Ban quản lý bán đảo Sơn Trà và các bãi biển du lịch Đà Nẵng)
Với vị trí địa lý thuận lợi, Bán đảo Sơn Trà có tiềm năng về phát triển
du lịch biển, du lịch sinh thái và các dịch vụ khác rất lớn Du lịch là ngành ưu thế phát triển của quận Sơn Trà với nhiều bãi biển đẹp, cảnh quan môi trường, đặc biệt là hệ sinh thái rừng - biển Hiện nay tại KBTTN Sơn Trà có 5 dự án
du lịch sinh thái đã triển khai thực hiện và đưa vào hoạt động Thành phố Đà Nẵng đã phê duyệt 19 dự án du lịch trên bán đảo Sơn Trà, tập trung dọc theo biển từ Suối Đá đến Bãi Nam, khu vực Tiên Sa, khu vực Bãi Bắc Bên cạnh
đó thành phố cũng đã đầu tư nâng cấp và mở mới các tuyến đường giao thông
Trang 32bao bọc xunh quanh bán đảo Sơn Trà, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại của du khách Tuy nhiên cần phải đưa ra các đề án kế hoạch phù hợp nếu không sẽ ảnh hưởng tới các hệ sinh thái tự nhiên và tác động xấu đến KBTTN Sơn Trà [11]
Mạng lưới giao thông ở quận Sơn Trà tương đối hoàn chỉnh, với trục đường chính là Ngô Quyền dài 12 km, nối với cảng Tiên Sa Tuyến giao thông ven biển Sơn Trà - Điện Ngọc chạy dọc theo bờ biển rất thuận lợi cho việc lưu thông hàng hóa và du lịch
Như vậy, KBTTN Sơn Trà tiếp cận với một vùng đệm có dân số đông, mật độ dân số cao, cơ sở hạ tầng giao thông, thương mại và dịch vụ, công nghiệp phát triển đã và đang tạo ra sức ép lớn đối với hệ sinh thái rừng về nhu cầu sử dụng đất và sử dụng nguồn lợi ĐDSH từ rừng và biển [11]
1.6 Công tác tổ chức quản lý tại bán đảo Sơn Trà
1.6.1 Ban quản lý bán đảo Sơn Trà và các bãi biển du lịch Đà Nẵng
BQL bán đảo Sơn Trà và các bãi biển du lịch thành phố Đà Nẵng được thành lập theo Quyết định số 4694/QĐ-UBTBTngày 11/7/2006 của UBND thành phố Đà Nẵng [44] Nhiệm vụ của Ban quản lý liên quan đến bảo vệ môi trường sinh thái tại bán đảo Sơn Trà là:
Lập kế hoạch quản lý, khai thác và thực hiện việc quản lý quy hoạch, kiểm tra đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, dịch vụ công cộng để phục vụ cho hoạt động về du lịch tại bán đảo Sơn Trà trong phạm vi khu vực được giao và
đã được các cấp có thẩm quyền phê duyệt [44];
Tổ chức các hoạt động kinh doanh du lịch, vui chơi, giải trí, nghỉ mát, sắp xếp, quản lý các tổ chức, cá nhân kinh doanh tại bán đảo Sơn Trà phù hợp với cảnh quan môi trường và theo quy hoạch đã được các cấp có thẩm quyền phê duyệt [44];
Trang 33Phối hợp với các cơ quan đơn vị, địa phương có liên quan quản lý, khai thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên, bảo tồn và phát triển khu du lịch bán đảo Sơn Trà theo đúng quy định của nhà nước [44];
Chủ động phối hợp với các địa phương, đơn vị có liên quản lý vệ sinh môi trường, cảnh quan thiên nhiên tại bán đảo Sơn Trà (khu vực được quy hoạch hoạt động du lịch) [44];
1.6.2 Hạt Kiểm lâm liên quận Sơn Trà - Ngũ Hành Sơn
BQL KBTTN Sơn Trà được thành lập theo Quyết định số UBND ngày 10 tháng 4 năm 1997 của UBND thành phố Đà Nẵng, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Chi cục Kiểm lâm thành phố Đà Nẵng Sau đó, BQL KBTTN Sơn Trà được giao về cho Hạt Kiểm lâm liên quận Sơn Trà - Ngũ Hành Sơn, có trụ sở đặt tại bán đảo Sơn Trà Nhiệm vụ và quyền hạn [45]:
905/QĐ-Tham mưu, giúp Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành về bảo vệ và phát triển rừng, quản
lý lâm sản trên địa bàn; huy động các đơn vị vũ trang, lực lượng, phương tiện khác của các đơn vị, cá nhân đóng trên địa bàn để kịp thời ngăn chặn, ứng cứu những vụ cháy rừng và những vụ phá rừng nghiêm trọng trong những tình huống cần thiết và cấp bách [45];
Phối hợp với các cơ quan nhà nước có liên quan, các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang, lực lượng bảo vệ rừng của chủ rừng, thực hiện bảo vệ rừng trên địa bàn [45];
Bố trí, chỉ đạo, kiểm tra công chức kiểm lâm địa bàn cấp xã; theo dõi diễn biến rừng, đất lâm nghiệp; xử lý hoặc trình cơ quan có thẩm quyền xử lý các vụ vi phạm thuộc lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng, quản lý lâm sản theo quy định của pháp luật; kiểm tra việc thực hiện các phương án, quy hoạch, thiết kế kinh doanh rừng, quy trình điều chế, khai thác [45];
Trang 34CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.1.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được thực hiện trong 10 tháng, từ tháng 07 năm 2014 đến tháng 04 năm 2015 Có 26 ngày thực địa thu số liệu trên 18 tuyến nghiên cứu ở bán đảo Sơn Trà, TP Đà Nẵng, với tổng diện tích 4.439 ha
Hình 2.1 Bản đồ khu vực nghiên cứu – Bán đảo Sơn Trà, Đà Nẵng
(Nguồn: BQL bán đảo Sơn Trà)
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu
Loài Voọc chà vá chân nâu (Pygathrix nemaeus) tại bán đảo Sơn Trà thuộc:
Họ: Khỉ - voọc (Cercopithecidae), họ phụ khỉ (Cercopithecinae)
Giới: Động vật (Animalia)
Trang 35 Lớp: Thú (Mammalia)
2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Xây dựng bản đồ phân bố loài VCVCN tại bán đảo Sơn Trà;
- Nghiên cứu sự phân bố của VCVCN trên toàn bán đảo đảo Sơn Trà theo các tuyến nghiên cứu, theo đai độ cao và theo khu vực;
- Xác định mật độ và số lượng của VCVCN ở bán đảo Sơn Trà;
- Ước lượng tần suất gặp loài VCVCN ở bán đảo Sơn Trà;
- Nghiên cứu các mối đe dọa đến loài VCVCN tại bán đảo Sơn Trà
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1 Phương pháp kế thừa
Kế thừa các số liệu về đa dạng sinh học, điều kiên tự nhiên, kinh tế - xã hội dân cư tại bán đảo Sơn Trà trong các báo cáo; các tài liệu, kiến thức có liên quan tới hướng nghiên cứu của đề tài do các nhà khoa học trước đã đưa ra
để làm cơ sở cho nghiên cứu
Kế thừa tuyến nghiên cứu trong đề tài “Nghiên cứu s ự phân bố, số lượng và tần suất gặp loài khỉ Vàng (Macaca mulatta) tại bán đảo Sơn Trà,
Đà Nẵng” của Võ Thị Thu Thảo
2.3.2 Phương pháp phỏng vấn
Đối tượng được phỏng vấn: người dân bản địa Phỏng vấn theo nhóm hoặc cá nhân với thời gian tối đa 30 phút cho mỗi cuộc phỏng vấn Câu hỏi phỏng vấn được thiết kế theo dạng câu hỏi mở kết hợp câu hỏi đóng Nội dung phỏng vấn tập trung vào các vấn đề chính như: Số lần bắt gặp, đặc điểm nhận dạng, vùng phân bố, thành phần loài, mức độ phong phú tương đối của loài VCVCN tại khu vực nghiên cứu [9] (phụ lục)
Trang 36Ảnh được sử dụng để giúp người được phỏng vấn nhận dạng sau khi kết thúc các câu hỏi phỏng vấn [9]
2.3.3 Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa
a Phương pháp thiết lập tuyến nghiên cứu [Brockelman, W Y aTBTAli, R (1987)]
Các tuyến nghiên cứu được lựa chọn trong những khu vực có sự xuất hiện của loài Voọc trong vòng một năm trở lại thông qua kết quả phỏng vấn Ngoài ra cũng thiết lập các tuyến đối chứng đi qua các sinh cảnh không ghi nhận sự xuất hiện [27]
Khu vực nghiên cứu được chia thành 18 tuyến, mỗi tuyến khoảng từ 1,2 đến 3km Khoảng cách tối thiểu giữa hai tuyến gần nhau là 400m Các tuyến chạy theo cùng hướng của la bàn nhưng không nhất thiết thẳng hàng Tuyến được thiết lập dựa trên các lối mòn có sẵn trong rừng, tuyến đường du lịch, hoặc tạo mới đi qua các sinh cảnh khác nhau [27] Dùng GPS để xác định tọa độ điểm đầu và cuối, các vị trí quan trọng trên tuyến
b Phương pháp quan sát và thu thập số liệu [Brockelman, W Y aTBTAli, R (1987)]
Mỗi tuyến được khảo sát trong một ngày, thời gian khảo sát từ 7:00 – 16:30 Các thông tin cần thu thập trên tuyến lấy theo cả chiều đi lẫn về Mỗi
tuyến chỉ khảo sát một lần không lặp lại [27]
Sử dụng ống nhòm và mắt để quan sát Tọa độ, độ cao được xác định bằng máy định vị (GPS) etrax; hình ảnh được chụp lại bằng máy ảnh chuyên dụng Khi gặp loài Voọc, các thông số được ghi chép bao gồm: tên loài; sinh
cảnh sống; tọa độ; số lượng, thời gian gặp; điều kiện thời tiết [27] (phụ lục)