ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA SINH – MÔI TRƯỜNG NGUYỄN THỊ VÂN NGA ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA XÂM NHẬP MẶN ĐẾN HOẠT ĐỘNG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN TẠI HẠ LƯU SÔNG THU BỒN- QUẢNG NAM
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA SINH – MÔI TRƯỜNG
NGUYỄN THỊ VÂN NGA
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA XÂM NHẬP MẶN ĐẾN HOẠT ĐỘNG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN TẠI HẠ LƯU SÔNG THU BỒN- QUẢNG NAM
Đà Nẵng - Năm 2015
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA SINH - MÔI TRƯỜNG
NGUYỄN THỊ VÂN NGA
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA XÂM NHẬP MẶN ĐẾN HOẠT ĐỘNG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN TẠI HẠ
LƯU SÔNG THU BỒN- QUẢNG NAM
Chuyên ngành: Quản lý tài nguyên và môi trường
Người hướng dẫn: PGS TS VÕ VĂN MINH
Niên khóa: 2011- 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài “Đánh giá tác động của xâm nhập mặn đến hoạt động
nuôi trồng thủy sản tại hạ lưu sông Thu Bồn- Quảng Nam” là công trình nghiên
cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Đà Nẵng, tháng 4 năm 2015
Tác giả
Nguyễn Thị Vân Nga
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được khóa luận tốt nghiệp này, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Võ Văn Minh đã hướng dẫn chỉ bảo cho em suốt thời gian qua Đồng thời
em cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Sinh – Môi trường, trường Đại học Sư Phạm, Đại học Đà Nẵng đã dạy dỗ, giúp em học hỏi và mở mang kiến thức trong 4 năm học Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn các chú Phạm Đình Thông, Lê Văn Chừng, Nguyễn Hữu Thập, Nguyễn Tấn Mến, Nguyễn Quang Trung, chị Ngô Thị Kim Huệ, chị Từ Thị Thu Hiếu và các ngư dân vùng hạ lưu sông Thu Bồn đã tạo điều kiện và tận tình giúp đỡ em trong suốt thời gian làm khóa luận
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 5
MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
2.1 Mục tiêu tổng quát 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3 Ý nghĩa khoa học của đề tài 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Xâm nhập mặn và xu thế diễn biến ở các vùng cửa sông 3
1.1.1 Khái niệm về xâm nhập mặn 3
1.1.2 Xu thế diễn biến 4
1.2 Tình hình nghiên cứu tác động của xâm nhập mặn đến nuôi trồng thủy sản trên thế giới và Việt Nam 6
1.2.1 Trên thế giới 6
1.2.2 Ở Việt Nam 8
1.3 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khu vực hạ lưu sông Thu Bồn 11
1.3.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 11
1.3.2 Điều kiện kinh tế xã hội khu vực hạ lưu sông Thu Bồn 12
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
2.1.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 15
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 15
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 15
2.2 Nội dung nghiên cứu 15
Trang 62.3 Phương pháp nghiên cứu 16
2.3.1 Phương pháp thu thập thông tin, hồi cứu dữ liệu, số liệu 16
2.3.2 Phương pháp tham vấn cộng đồng 16
2.3.3 Phương pháp ma trận Leopold 17
2.3.4 Phương pháp sơ đồ mạng lưới 17
2.3.5 Hệ thống định lượng tác động IQS (impact quantitative system) 18
2.3.6 Phương pháp xử lý số liệu bằng phần mềm Excel 19
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ BẢN LUẬN 20
3.1 Thực trạng xâm nhập mặn và xu thế xâm nhập mặn ở khu vực hạ lưu sông Thu Bồn 20
3.1.1 Thực trạng xâm nhập mặn 20
3.1.2 Xu thế xâm nhập mặn 24
3.2 Thực trạng nuôi trồng thủy sản tại khu vực hạ lưu sông Thu Bồn tỉnh Quảng Nam 25
3.2.1 Thực trạng về khu vực và diện tích nuôi trồng 27
3.2.2 Thực trạng về đối tượng và sản lượng nuôi trồng 28
3.2.3 Thực trạng môi trường NTTS khu vực hạ lưu sông Thu Bồn 30
3.2.3 Tình hình dịch bệnh nuôi trồng thủy sản 34
3.2.4 Các vấn đề liên quan đến người nuôi trồng thủy sản 35
3.3 Tác động của xâm nhập mặn đến hoạt động nuôi trồng thủy sản tại vùng hạ lưu sông Thu Bồn 36
3.3.1 Phạm vi tác động 37
3.3.2 Mức độ tác động 41
3.4 Đánh giá các tác động tích lũy 51
3.5 Đề xuất giải pháp phát triển bền vững đối với hoạt động nuôi trồng thủy sản tại khu vực hạ lưu sông Thu Bồn 52
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 54
KẾT LUẬN 54
KIẾN NGHỊ 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO 56
Trang 7PHỤ LỤC 59 PHỤ LỤC 1 : Danh sách phỏng vấn 59 PHỤ LỤC 2: Bảng điều tra tác động của xâm nhập mặn đến hoạt động nuôi trồng thủy sản 60 PHỤ LỤC 3: Bảng điều tra ma trận Leopold 62 PHỤ LỤC 4: Kết quả điều tra phỏng vấn người dân về tác động của xâm nhập mặn đến hoạt động nuôi trồngthủy sản 63 PHỤ LỤC 5 : QCVN 10 : 2008/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước biển ven bờ 64 PHỤ LỤC 6 : QCVN 02 -19 : 2014/BNNPTNT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về
cơ sở nuôi tôm nước lợ - điều kiện đảm bảo vệ sinh thú y, bảo vệ môi trường và
an toàn thực phẩm 65 PHỤ LỤC 7: Phân loại mức độ tác động của xâm nhập mặn đến hoạt động nuôi trồng thủy sản 66 PHỤ LỤC 8 : Một số hình ảnh phỏng vấn tại khu vực hạ lưu sông Thu Bồn 67
Trang 8DANH MỤC VIẾT TẮT
BOD5 Biochemical Oxygen Demand Nhu cầu oxy sinh hoá
COD Chemical Oxygen Demand Nhu cầu oxy hóa học
DO Oxygen Demand Lượng oxy hoà tan trong nước cần thiết
cho sự hô hấp của các sinh vật nước FAO Food and Agriculture
Organization of the United Nations
Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc
TSS Total Suspended Solids Tổng chất rắn lơ lửng
UNEP United Nations Environment
Programme
Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc
Trang 91.1 Diễn biến diện tích, sản lượng nuôi trồng thủy sản của xã Duy
2.2 Phân loại từng mức dộ tác động của độ mặn lên nuôi trồng thủy
Giá trị nhóm các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường sống của hệ
sinh thái thủy sinh trong ao nuôi
32
3.9 Giá trị nhóm các chất hữu cơ trong ao nuôi 32 3.10 Hàm lượng chất dinh dưỡng trong ao nuôi 33 3.11 Giá trị nhóm các chỉ tiêu kim loại nặng trong ao nuôi 34
3.13 Mức độ tác động của xâm nhập mặn đến khu vực hạ lưu sông Thu
3.14 Ma trận tác động môi trường định lượng - ma trận Leopold 41 3.15 Diện tích nuôi trồng thủy sản từ 2010-2014 43
Trang 103.5 Bản đồ phân bố mặn theo kịch bản BĐKH phát thải cao năm
3.7 Tình trạng thâm niên và trình độ học vấn của người nuôi
trồng thủy sản khu vực hạ lưu sông Thu Bồn 35 3.8 Thu nhập năm 2013của các hộ nuôi trồng thủy sản 36
3.9 Sơ đồ tác động của xâm nhập mặn đến hoạt động nuôi trồng
3.10 Sản lượng và độ mặn bình quân các năm 2010-2014 45 3.11 Chất lượng nước sông và nước ao nuôi 49 3.12 Biểu đồ so sánh chất lượng nước triều lên và triều xuống 50
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nuôi trồng thủy sản (NTTS) có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội,
là hoạt động của con người nhằm tạo ra nguồn thực phẩm cung cấp cho xã hội, góp phần đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm, góp phần giải quyết nhu cầu lao động trong xã hội tại các vùng nông thôn và ven biển, tạo ra thị trường tiêu thụ đối với các sản phẩm công nghiệp như dệt lưới, động cơ, kỹ nghệ lạnh hay thức ăn chăn nuôi,…Đối với môi trường tự nhiên, hoạt động nuôi trồng thủy sản đã và đang góp phần giảm thiểu sự khai thác nguồn thủy sản tự nhiên, góp phần bảo vệ các loài động thực vật biển khỏi nguy cơ bị khai thác quá mức, đảm bảo cân bằng và đa dạng sinh học Tuy nhiên hiện nay, hoạt động nuôi trồng thủy sản trên thế giới nói chung và nước ta nói riêng chịu nhiều ảnh hưởng bởi các yếu tố như biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, dịch bệnh, các chính sách phát triển vùng, Trong đó nổi bật là tác động của sự xâm nhập mặn, đặc biệt là các vùng nôi trồng thủy sản vùng ven biển như cửa sông [1][7][12][15] Xâm nhập mặn tác động đến hầu hết các khía cạnh của hoạt động nuôi trồng như các yếu tố môi trường, dịch bệnh nuôi trồng, sản lượng và sự sinh trưởng và phát triển của các đối tượng nuôi [15]
Nuôi trồng thủy sản là một thế mạnh của vùng hạ lưu sông Thu Bồn, có vai trò quan trọng và góp phần giải quyết việc làm cho hàng nghìn lao động vùng ven biển Tuy nhiên, nghề nuôi trồng thủy sản còn gặp nhiều khó khăn về điều kiện sản xuất, thực trạng sản xuất thời gian qua cho thấy ngành nuôi trồng thủy sản tại khu vực hạ lưu sông Thu Bồn phát triển không bền vững do tổ hợp nhiều nguyên nhân trong đó
có xâm nhập mặn, biểu hiện rõ rệt ở sự gia tăng, sự biến động theo thời gian và không gian của xâm nhập mặn, hoạt động nuôi trồng thủy sản khu vực hạ lưu sông Thu Bồn đã và đang bị ảnh hưởng đáng kể [9] Hiện nay, tại vùng hạ lưu sông Thu Bồn các nghiên cứu về xâm nhập mặn cũng như nghiên cứu tác động của xâm nhập mặn đến sự phát triển kinh tế xã hội, trong đó có hoạt động nuôi trồng thủy sản chưa đầy đủ Vậy vấn đề đặt ra là trong xu hướng gia tăng xâm nhập mặn thì tác động của xâm nhập mặn đến hoạt động nuôi trồng thủy sản tại vùng hạ lưu sông sẽ
Trang 12như thế nào? Để giải quyết vấn đề này, tôi quyết định chọn đề tài “đánh giá tác
động của xâm nhập mặn đến hoạt động nuôi trồng thủy sản tại hạ lưu sông Thu Bồn -Quảng Nam’’
2 Mục tiêu của đề tài
2.1 Mục tiêu tổng quát
Đánh giá ảnh hưởng của quá trình xâm nhập mặn đến hoạt động nuôi trồng thủy sản nhằm góp phần nuôi trồng thủy sản bền vững tại khu vực nghiên cứu
2.2 Mục tiêu cụ thể
Đánh giá thực trạng nuôi trồng thủy sản khu vực hạ lưu sông Thu Bồn
Xác định hiện trạng xâm nhập mặn và xu hướng diễn biến xâm nhập mặn khu vực hạ lưu sông Thu bồn
Xác định phạm vi và mức độ tác động của xâm nhập mặn đến các khía cạnh của hoạt động nuôi trồng thủy sản: đối tượng nuôi trồng, sản lượng, diện tích, dịch bệnh, các yếu tố môi trường nuôi trồng tại vùng hạ lưu sông Thu Bồn
Đánh giá tác động của xâm nhập mặn đến hoạt động nuôi trồng thủy sản khu vực hạ lưu sông Thu Bồn
Đề xuất giải pháp khắc phục, thích ứng với những tác động do xâm nhập mặn đến hoạt động nuôi trồng thủy sản
3 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Đánh giá tác động của xâm nhập mặn đến hoạt động nuôi trồng thủy sản góp phần tạo cơ sở cho việc nghiên cứu định hướng và thực hiện các giải pháp nuôi trồng thủy sản bền vững khu vực hạ lưu sông Thu Bồn
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Xâm nhập mặn và xu thế diễn biến ở các vùng cửa sông
1.1.1 Khái niệm về xâm nhập mặn
Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa về xâm nhập mặn hay xâm nhập mặn Theo đại từ điển Địa lý học, xâm nhập mặn là hiện tượng diễn ra ở vùng cửa sông đổ ra biển hoặc ở đồng bằng ven biển, khi nước biển mặn xâm nhập vào khối nước ngọt của vùng cửa sông hoặc vào các tầng nước dưới đất1
Xâm nhập mặn xảy ra trong tầng chứa nước ngọt ven biển khi sự chênh lệch các mật độ của nước mặn cao hơn nước ngọt cho phép nước biển dễ xâm nhập vào các tầng chứa nước ngọt Căn cứ vào độ mặn, Zernop (1934) đã phân chia giới hạn các loại nước tự nhiên như sau: độ mặn từ 0 - 0,5‰ là nước ngọt, từ 0,5 - 16‰ là nước lợ, nước mặn có độ mặn từ 16-47‰ và nước quá mặn có độ mặn lớn hơn 47‰ [16]
Đối với các cửa sông tiếp giáp với biển, hiện tượng xâm nhập mặn từ biển vào sông xảy ra khá phổ biến, đặc biệt vào mùa kiệt Khi đó lượng nước từ sông đổ ra biển giảm thấp, thủy triều từ biển sẽ mang nước mặn lấn sâu vào lòng sông làm nước sông bị nhập mặn Nồng độ mặn sẽ giảm dần khi càng tiến sâu vào đồng bằng Mức độ xâm nhập mặn vào sâu trong đất liền phụ thuộc vào 5 yếu tố, đầu tiên là lượng nước từ thượng nguồn đổ về, lưu lượng càng giảm, nước mặn càng tiến sâu vào đất liền, thứ hai là biên độ triều vùng cửa sông, vào giai đoạn triều cường, nước mặn càng lấn sâu vào Thứ ba là địa hình, địa hình bằng phẳng là yếu tố thuận lợi cho sự xâm nhập mặn Thứ tư là các yếu tố khí tượng: gió từ biển hướng vào đất liền, nhiệt độ cao, mưa ít, sẽ là tác nhân làm mặn lấn sâu vào nội địa, và cuối cùng do hoạt động kinh tế của con người, việc lấy nước nhiều vào mùa khô sẽ làm mặn đi vào vào đất liền nhiều hơn
1Đại từ điển Địa lý học, man.html
Trang 14http://daitudien.net/dia-li-hoc/dia-li-hoc-ve-xam-nhap-Do sự khác biệt về tỷ trọng giữa nước biển và nước sông nên khi sóng triều truyền vào cửa sông sẽ có dạng hình nêm, thường gọi là nêm mặn Khi triều lên, nêm mặn sẽ di chuyển vào sông làm nước sông bị dồn ép dòng nước ngọt từ nguồn chảy ra biển, gây hiện tượng nước dâng ngược về hướng thượng lưu Ngược lại, khi triều rút đường nêm mặn sẽ rút nhanh về hướng biển, cộng theo sức đẩy của nước ngọt từ thượng lưu làm dòng triều rút gia tăng vận tốc Tùy theo vào sự tương tác giữa năng lượng dòng triều và dòng chảy nước ngọt từ thượng lưu làm hình dạng đường nêm mặn không cố định mà luôn thay đổi, có hình dạng khác nhau [21]
Ngoài ra theo Johnson, Ted (2007), xâm nhập mặn là sự chuyển động của nước mặn vào các tầng nước ngọt , có thể dẫn đến o nhiễm nguồn nước uống và những hậu quả khác [36] Xâm nhập mặn có thể diễn ra trong các tầng nước ngầm theo tự nhiên do thủy lực kết nối giữa nước ngầm và nước biển, bởi vì nước mặn có hàm lượng khoáng cao hơn nước ngọt, nó đậm đặc hơn và có một áp lực nước cao hơn, bên cạnh đó, còn do một số hoạt động của con người, đặc biệt là hoạt động bơm nước ngầm từ giếng nước ngọt đã góp phần gia tăng xâm nhập mặn ở nhiều khu vực ven biển [35][36] Các biến khí hậu, như mưa, nước chảy tràn bề mặt
và nhiệt độ có thể đóng một vai trò lớn trong việc ảnh hưởng xâm nhập mặn mặn Với lượng mưa thấp và nhiệt độ cao hơn, tỷ lệ nhập mặn sẽ ít hơn nhiều do thiếu nước ngầm hiện nay và tăng sự bốc hơi [34]
Hầu hết các khái niệm về xâm nhập mặn đều cho rằng xâm nhập mặn là sự xâm nhập của nước biển vào sâu trong các vùng ven biển Trong nghiên cứu này, khái niệm xâm nhập mặn chỉ xét trong phạm vi xâm nhập mặn do nước biển xâm nhập vào các khối nước ngọt bề mặt các vùng ven biển
1.1.2 Xu thế diễn biến
Hiện nay, có nhiều nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng xâm nhập mặn, do hệ quả của biến đổi khí hậu, sự ảnh hưởng tiêu cực của các hoạt động phát triển kinh tế xã hội liên quan đến nguồn nước, Sự gia tăng các khí nhà kính như CO2, CH4, O3,
N2O, CFCs, H2O là nguyên nhân dẫn đến biến đổi khí hậu Trên phạm vi toàn cầu, biến đổi khí hậu tác động đến nhiều yếu tố như làm biến đổi về nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm tương đối và sự bốc hơi nước, điều này làm thay đổi đến hệ vật lý của
Trang 15trái đất: gia tăng dòng chảy, các sông hồ nóng lên, thay đổi chế độ nhiệt và chất lượng nước Bên cạnh đó, sự biến đổi mực nước biển cũng là một hệ quả chính của bến đổi khí hậu
Theo kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam năm 2012, đối với kịch bản phát thải trung bình, đến cuối thế kỷ 21, nhiệt độ trung bình năm tăng 2-30C trên phần lớn diện tích cả nước, lượng mưa năm tăng trên hầu hết lãnh thổ, mức tăng phổ biến từ 2-7%, đối với mực nước biển dâng, trung bình toàn dải ven biển Việt Nam, mực nước biển dâng trong khoảng từ 57-73 cm, khu vực từ Cà Mau đến Kiên Giang là nơi có mực nước biển tăng nhiều hơn so với các khu vực khác Nếu mực nước biển dâng 1 m, sẽ có khoảng 39% diện tích đồng bằng sông Cửu Long, trên 10% diện tích vùng đồng bằng sông Hồng, Quảng Ninh, hơn 2,5 % diện tích thuộc các tình ven biển miền trung và 20% diện tích Thành phố Hồ Chí Minh
có nguy cơ bị ngập Gần 35% dân số thuộc các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, trên 9% dân số vùng đồng bằng sông Hồng, Quảng Ninh, gần 9% dân số các tỉnh ven biển miền Trung và khoảng 7% dân số Thành phố Hồ Chí Minh bị ảnh hưởng trực tiếp Như vậy, xu thế diễn biến của xâm nhập mặn trên toàn Việt Nam sẽ gia tăng theo xu thế diễn biến của mực nước biển dâng [2]
Theo nghiên cứu, dự báo xu thế diễn biến xâm nhập mặn do nước biển dâng cho các vùng cửa sông ven biển Bắc Bộ của Vũ Hoàng Hoa, Lương Hữu Dũng, mực nước biển dâng cao làm quá trình xâm nhập mặn tại các vùng cửa sông thuộc dải đồng bằng ven biển Bắc Bộ diễn biến phức tạp và càng lấn sâu vào trong đất liền, ảnh hưởng đến quá trình lấy nước phục vụ các ngành kinh tế Kết quả nghiên cứu do ứng dụng mô hình Mike 11 mô phỏng dòng chảy kiệt vùng nghiên cứu cho thấy, đối với kịch bản nền theo kịch bản biến đổi khí hậu Việt nam, tại vị trí cách cửa sông khoảng 15 km, độ mặn cao nhất tại các sông Đáy là 15,7 ‰ , sông Ninh
Cơ 1,1‰ , sông Hồng 7‰ , sông Trà Lý 1,8 ‰ , sông Hóa 10,5 ‰ , sông Thái Bình 3,5 ‰ , sông Cấm 17,6 ‰ Khi mực nước biển dâng khoảng 0, 5m với dòng chảy năm ứng với tần suất 85% thì cách các cửa sông khoảng 12 km, độ mắn lớn nhất tại sông Đáy là 23,9 ‰ ; tại cửa sông Ninh Cơ là 4,4 ‰ , sông Hồng là 16,5‰ , sông Trà Lý là 7,1‰ , sông Hóa 20,1 ‰ , sông Thái Bình 21,7 ‰ , sông Cấm 19 ‰ ,…
Trang 16xu hướng xâm nhập mặn tại vùng ven biển Bắc Bộ rất đáng báo động và cần có phương án khắc phục [13]
Đối với vùng ven biển khu vực Nam Bộ, yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long là trữ lượng nước vùng thượng lưu sông (trữ lượng trong biển Hồ) và dòng chảy đến Kratie Diễn biến mực nước Biển
Hồ thông qua tại các trạm thủy văn năm 2013 so với một vài năm gần đây đang có
xu hướng giảm nhanh, ở trạng thái thấp so với trung bình nhiều năm, thấp hơn 2011
và 2012, có xu hướng giảm nhanh vào cuối tháng 1 và sang các tháng 2,3,4 Điều này cho thấy mực nước Biển Hồ thấp hơn nhiều năm Mặt khác, 2012 có lũ nhỏ, dòng chảy kiệt về đồng bằng có khẳ năng giảm so với các năm trước Đây là yếu tố bất lợi cho việc cấp nước đẩy mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long nước ta [33]
Bên cạnh các nguyên nhân do biến đổi khí hậu và các hoạt động kinh tế diễn ra tại vùng thượng lưu sông, các hoạt động của con người ở vùng hạ lưu sông cũng tác động trực tiếp đến sự xâm nhập mặn và xu thế diễn biến xâm nhập mặn Theo Đào Khang, Phạm Vũ Chung, những biểu hiện ban đầu của biến đổi khí hậu của biến đổi khí hậu đến khu vực ven biển Nghệ An, hoạt động nắn dòng sông ở hạ lưu làm cho dòng chảy ngắn và thẳng hơn, vận tốc dòng chảy được tăng lên Nước biển cũng nhờ thế mà vào sâu hơn trong đất liền, làm tăng khả năng xâm nhập mặn Các hoạt động đào kênh mương, nhất là kênh mương tiêu khu vực đồng bằng ven biển cần phải hết sức thận trọng, tránh đào kênh, mương tiêu nước ở những vùng có độ cao không lớn, khi triều cường lên, nước biển dễ vào sâu trong đất liền gây xâm nhập mặn Hoạt động bơm hút nước ngầm quá mức làm giảm nhanh chóng nguồn nước ngầm gây ra hiện tượng đất bị xẹp xuống Hiện tượng triều cường ngày càng tăng lên cả về cường độ và tần suất, gây nhiều trở ngại cho người dân và các hoạt động phát triển kinh tế vùng ven biển [16]
1.2 Tình hình nghiên cứu tác động của xâm nhập mặn đến nuôi trồng thủy
sản trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Trên thế giới
Nuôi trồng thủy sản là một trong những ngành đóng vai trò quan trọng đối với sự cân bằng an ninh lương thực thế giới, mức tiêu thụ các sản phẩm thủy sản
Trang 17xấp xỉ 45% nhu cầu tiêu thụ lương thực Tuy nhiên, hoạt động nuôi trồng thủy sản không được thực hiện đồng đều trên toàn cầu mà chỉ tập trung phân bố ở các vùng ven biển Trên thế giới có khoảng 1-1,5 triệu ha của vùng đất ngập nước ven biển đã được chuyển đổi thành ao nuôi tôm, chủ yếu là các đồng muối, vùng rừng ngập mặn, đầm lầy và đất nông nghiệp Diện tích này chủ yếu ở Trung Quốc, Thái Lan,
Ấn Độ, Indonesia, Philippines, Malaysia, Ecuador, Mexico, Honduras, Panama, và Nicaragua (Rosenberry, FAO 1999) Chỉ trong 6 năm, từ 1987 đến 1993, Thái Lan
đã mất hơn 17% rừng ngập mặn để phát triển ao nuôi tôm2 Do đó việc đánh giá các tác động tiềm năng và hiện hữu do biến đổi khí hậu phụ thuộc vào các yếu tố khí hậu: nhiệt đới, cận nhiệt đới và ôn đới; các yếu tố liên quan đến môi trường biển như nước ngọt và nước lợ; cuối cùng là mối quan hệ với các khu vực địa lý của châu lục Sự phân bố hoạt động nuôi trồng thủy sản cho thấy khu vực nuôi trồng thủy sản chủ yếu tập trung tại các vùng khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới của châu
Á Theo Hiệp hội NTTS thế giới, khu vực châu Á – Thái Bình Dương là nơi NTTS lớn nhất thế giới Năm 2010, sản lượng NTTS đã đạt 53,1 triệu tấn, đóng góp 89 % tổng sản lượng và 80% tổng giá trị thủy sản nuôi trồng thế giới Tốc độ tăng sản lượng bình quân giai đoạn 2000 – 2010 là 6,5%/năm, cao hơn nhiều so với các khu vực khác trên thế giới Năm 2010, có 8 nước thuộc khu vực châu Á – Thái Bình Dương đứng vào hàng 10 nước có sản lượng và giá trị thủy sản nuôi trồng cao nhất thế giới, đó là Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam, Inđônêxia, Bănglađét, Thái Lan, Mianma và Philipin[36]
Các hoạt động nuôi trồng những loài bậc thấp trong chuỗi thức ăn như cá, động vật thân mềm, giáp xác, cỏ biển chiếm ưu thế trong ngành nuôi trồng thủy sản trên thế giới Việc nuôi trồng các đối tượng này yêu cầu các điều kiện khí hậu, địa
lý cao, điều này đòi hỏi sự phát triển các chiến lược thích ứng để giải quyết hoặc giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu Các yếu tố chính của sự thay đổi khí hậu
có tiềm năng ảnh hưởng đến nuôi trồng thủy sản như mực nước biển và nhiệt độ tăng, sự thay đổi chế độ mưa, gió mùa và các hiện tượng khí hậu cực đoan, căng thẳng về nguồn nước cần phải được đánh giá tác động Sự nóng lên toàn cầu và sự
Trang 18gia tăng nhiệt độ của nguồn nước phục vụ hoạt động nuôi trồng có thể ảnh hưởng đáng kể và tiêu cực đến hoạt động nuôi trồng thủy sản ở vùng ôn đới vì nhiệt độ môi trường cao quá giới hạn nhiệt tối ưu của các đối tượng nuôi trồng, bệnh thủy sản sẽ tác động lớn đến hoạt động nuôi trồng vì tần suất bệnh do môi trường, vi rút,
vi khuẩn tăng cao Tuy nhiên, những tác động này có thể tự cân bằng với những tác động tích cực có thể xảy ra do tác động của biến đổi khí hậu như sự tăng cường tăng trưởng và sản xuất ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Bên cạnh những tác động tích cực, các tác động tiêu cực kèm theo cũng rất đáng kể như sự gia tăng hiện tượng phú dưỡng trong các vùng nước nội địa Gần 65% sản lượng nuôi trồng thủy sản tập trung ở nội địa các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới của Châu Á, tác động của biến đổi khí hậu có thể làm thu hẹp vùng nuôi trồng, tác động tiêu cực đến nguồn nước, mưa và ảnh hưởng trầm trọng thêm hiện tượng phú dưỡng và sự phân tầng trong các vùng biển tĩnh Các tác động này rất khó dự đoán [35][38]
1.2.2 Ở Việt Nam
Tại Việt Nam, nuôi trồng thủy sản là một ngành phát triển, góp phần lớn vào tổng thu nhập quốc dân Do đó, các khía cạnh liên quan đến hoạt động nuôi trồng và phát triển ngành thủy sản luôn giành được nhiều sự quan tâm, trong đó quan trọng nhất là các vấn đề môi trường liên quan đến hoạt động nuôi trồng thủy sản[1]
Trong những năm qua, các vấn đề môi trường nổi cộm như biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn, ô nhiễm môi trường đã và đang tác động đáng kể đến các hoạt động và môi trường nuôi trồng thủy sản Theo nghiên cứu của TS Nguyễn Văn Thắng và cộng sự về biến đổi khí hậu và tác động ở Việt Nam, các tác động do biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến hoạt động nuôi trồng thủy sản biểu hiện tại hàm lượng ô xy trong nước giảm nhanh, làm chậm tốc độ sinh trưởng của thủy sản, tạo điều kiện bất lợi cho các thủy sinh đă thích nghi với môi trường thủy sản từ trước đến nay, giảm lượng thức ăn của thủy sinh Các điều kiện thủy lý và thủy hóa có thể thay đổi, ảnh hưởng đến chất lượng sống và tốc độ phát triển của thủy sinh Mất nơi sinh sống thích hợp của một số loài thủy sản nước ngọt trong các rừng ngập mặn Ao hồ cạn kiệt trước thời kỳ thu hoạch, sản lượng nuôi trồng giảm đi rõ rệt Suy giảm sản lượng và chất lượng thủy sản, diện tích nuôi trồng thủy sản [24]
Trang 19Năm 2006, Lê Mạnh Tân đã nghiên cứu đánh giá các tác động ảnh hưởng tới chất lượng nước vùng nuôi tôm Cần Giờ, trong đó tác động của thủy triều và xâm nhập mặn tác động khá lớn đến chất lượng nước vùng nuôi tôm Đối với các loài tôm biển, độ mặn thích hợp để sinh sống và phát triển là từ 15 – 25‰ , vì vậy nếu ở ao nuôi tôm có độ mặn quá thấp (<10‰ ) hoặc quá cao (>25‰ ) đều không thích hợp cho nghề nuôi Độ mặn cũng như hàng loạt các yếu tố khác của môi trường nước rất không ổn định theo thời gian và không gian, sự biến thiên này mang tính chu ì theo mùa hoặc vụ và theo ảnh hưởng của thủy triều: các yếu tố như độ kiềm HCO3-, độ cứng, Ca2+, Mg2+ luôn luôn biến động tỉ lệ thuận với độ mặn của nước, các yếu tố này tạo nên hệ đệm giữ cho môi trường nước luôn trở về trạng thái trung tính ổn định Hầu hết các ao đầm nuôi tôm lấy nước trực tiếp từ kênh rạch tự nhiên, không qua xử lý hoặc hệ thống ao lắng Do đó, những biến động về môi trường sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến con tôm Tôm bị sốc là cơ hội tốt cho các loại bệnh tấn công Không những thế, người dân vẫn chưa có nhận thức đầy đủ về vấn
đề bảo vệ môi trường Chế độ bán nhật triều không đều cũng ảnh hưởng không nhỏ đến việc đưa chất thải từ đầm nuôi ra biển Vì vậy, tuy nước có ra vào đầm nuôi nhưng chất lượng hầu như không thay đổi Hậu quả là làm nguồn nước bị nhập bẩn nặng và tăng cường khả năng lây lan của mầm bệnh ra các đầm nuôi của khu vực [22]
Năm 2011, TS Ngô Văn Hải đã nghiên cứu về ảnh hưởng của biến đổi khí hậu trong nuôi trồng thủy sản, dưới tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng
và xâm nhập mặn là nguyên nhân dẫn đến ô nhiễm môi trường cục bộ, thay đổi môi trường sinh thái và thành phần hệ thủy sinh vật, hay mất đi tính đa dạng sinh học
Từ đó làm thay đổi đối tượng nuôi trong nhiều vùng nuôi Nhiều giống loài nuôi có thể mất đi, hoặc những giống loài ngoại lai mới xuất hiện, chúng có thể cạnh tranh với các giống loài nội địa Hơn nữa, nước biển dâng sẽ làm mất đi diện tích canh tác nuôi trồng thủy sản, làm ô nhiễm cả vùng nuôi và thường gây thất thoát hay giảm sản lượng nuôi Xâm nhập mặn ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động nuôi trồng thủy sản như ảnh hưởng đến việc lột xác của tôm làm tôm chậm lớn, nắng nóng thúc đẩy nhanh các quá trình sinh hóa trong ao gây ra hiện tượng nở hoa của tảo hay tảo tàn
Trang 20thường xảy ra, thiếu oxy trong ao nuôi, đây là những điều kiện thuận lợi để bệnh dịch phát triển và lây lan trên diện rộng Sự thay đổi chế độ mưa kéo theo sự thay đổi nồng độ muối trong ao, có thể làm tôm bị sốc, ít ăn, lột xác kém, tăng trưởng chậm, ngoài ra chế độ mưa còn ảnh hưởng tới pH đột ngột, ảnh hưởng tới các phản ứng phân hủy Sự thay đổi về nhiệt độ cũng ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động sản xuất Khi nhiệt độ tăng lên, hàm lượng oxi trong nước trong giảm mạnh vào ban đêm, môi trường nước xấu đi, ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của loài nuôi, trong khi đó là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các loài vi sinh vật gây hại Thêm vào đó, nhiệt độ lạnh hơn vào mùa đông hoặc có đợt lạnh trái mùa cũng đã ghi nhận trong những năm gần đây Sự chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm lớn sẽ ảnh hưởng lớn đến sức khỏe của các loài nuôi thủy sản3
Theo đánh giá tác động đến tài nguyên môi trường đất do quá trình xâm nhập mặn và ngập úng tỉnh Sóc Trăng của trung tâm kỹ thuật môi trường Sóc Trăng, đối với đất nông nghiệp, môi trường đất bị suy thoái do xâm nhập mặn và ngập úng đã gây ra nhiều tác động có hại đối với sản xuất nông lâm nghiệp Đất bị nhập mặn ảnh hưởng rất lớn đến hệ sinh thái nước ngọt, nhất là hệ sinh thái nông nghiệp do hiện tượng sốc, độ mặn vượt quá khả năng chống chịu của các loài động thực vật Khi đó diện tích sản xuất nông nghiệp của tỉnh sẽ bị thu hẹp, năng xuất, chất lượng sản phẩm từ nông nghiệp giảm đáng kể, cơ cấu cây trồng sẽ khó thích ứng được những tác động bất thường của khí hậu, thời tiết Đối với đất sử dụng cho mục đích nuôi trồng thủy sản, xâm nhập mặn lấn sâu vào nội đồng khi nước biền dâng sẽ tác động đến ngành thủy sản Nước biển lấn sâu vào trong nội địa gây mặn hóa đất làm ảnh hưởng đến sự sinh trưởng, phát triển của các loài thủy sản nước ngọt, trong khi đó lại tăng số lượng các loài thủy sản nước mặn, cùng với khả năng cố định các chất hữu cơ của hệ sinh thái dẫn đến giảm nguồn cung cấp sản phẩm quang hợp và chất dinh dưỡng cho sinh vật đáy Do đó, chất lượng môi trường sống của nhiều loài thủy sinh sẽ bị xấu đi [36]
3 http://www.tiengiangdost.gov.vn/
Trang 211.3 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khu vực hạ lưu sông Thu Bồn
1.3.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Hạ lưu sông Thu Bồn nằm trong hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn, là hệ thống sông lớn nhất vùng ven biển miền Trung Sông Vu Gia – Thu Bồn có diện tích lưu vực : 10.350 km2, trong đó diện tích nằm ở tỉnh Kon Tum là 560,5 km2, còn lại chủ yếu thuộc địa phận tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng Phía Bắc giáp lưu vực sông Cự Đê, phía Nam giáp lưu vực sông trà Bồng và Sê San, phía Tây giáp Lào, phía Đông giáp biển Đông và lưu vực sông Tam Kỳ Sông Thu Bồn đổ ra biển Cửa Đại Diện tích từ thượng nuồn đến Nông Sơn 3.150 km2, dài 126 km, diện tích lưu vực sông tính đến Giao Thủy là 3.825 km2, dài 152 km Sông Thu Bồn có các phụ lưu như sông Tranh, sông Khang, sông Trường, sông Ly Ly
Đặc điểm địa hình sông Thu Bồn biến đổi khá phức tạp, bị chia cắt mạnh, có 4 dạng địa hình chính: 1- địa hình vùng núi, chiếm phần lớn diện tích, có độ cao phổ biến từ 500÷ 2000 m; 2- địa hình vùng gò đồi, tiếp theo vùng núi về phía Đông là vùng đồi có địa hình lượn sóng có độ cao thấp dần từ Tây sang Đông; 3 - địa hình vùng đồng bằng, tương đối bằng phẳng, ít biến đổi, tập trung chủ yếu là phía Đông lưu vực; 4 – địa hình vùng cát ven biển, có dạng lượn sóng chạy dài hàng trăm km dọc bờ biển Về đặc điểm khí hậu, Vùng hạ lưu sông Thu Bồn có nhiệt độ bình quan hằng năm khoảng 25,5 ÷ 26 0C, số giờ nắng hàng năm khoảng 1.870 giờ đến 2.290 giờ, vào các tháng mùa mưa độ ẩm không khí đạt 85 ÷ 95 %, các tháng mùa khô khoảng 80 ÷ 85 %, lượng bốc hơi khoảng 680 ÷ 1040 mm
Nằm trên bờ Bắc hạ lưu sông Thu Bồn, thành phố Hội An được giới hạn bởi tọa độ từ 15o15’26” đến 15o55’15” vĩ độ Bắc và từ 108o17’08” đến 108o23’10” kinh
độ Đông; cách quốc lộ 1A khoảng 9 km về phía Đông, cách thành phố Đà Nẵng khoảng 25 km về phía Đông Nam, cách thành phố Tam Kỳ khoảng 50 km về phía Đông Bắc Phần đất liền của thành phố có hình thể gần giống như một hình thang cân, đáy là phía Nam giáp huyện Duy Xuyên với ranh giới chung là sông Thu Bồn, phía Tây và phía Bắc giáp huyện Điện Bàn, phía Đông là bờ biển dài 7 km Cách đất liền 18 km là cụm đảo Cù Lao Chàm Tổng diện tích tự nhiên toàn thành phố là
Trang 226.171,25 ha, phần diện tích đất liền 4.850 ha chiếm 73,50%, diện tích hải đảo 1.654
là các loài cây ngập mặn sinh sống, trong đó quan trọng nhất là dừa nước [11] Phía Nam hạ lưu sông là vùng đất Duy Xuyên với diện tích khoảng 298 km2, phía Bắc giáp huyện Điện Bàn và Hội An, phía Tây Bắc giáp Đại Lộc, phía Tây Nam và phía Nam giáp huyện Quế Sơn, phía Đông Nam giáp huyện Thăng Bình và phía Đông giáp biển
1.3.2 Điều kiện kinh tế xã hội khu vực hạ lưu sông Thu Bồn
1.3.2.1 Điều kiện kinh tế xã hội khu vực phía bắc hạ lưu sông Thu Bồn
Phía Bắc hạ lưu sông Thu Bồn( thành phố Hội An) là khu vực có dân số đông và có nhiều hoạt động kinh tế xã hội phát triển Hoạt động nuôi trồng thủy sản diễn ra ở 5 phường Cẩm Thanh, Cẩm Châu, Cẩm Hà, Cẩm Nam, Cẩm An thuộc thành phố Hội An, trong đó có phường Cẩm Thanh và Cẩm Nam sử dụng nước sông Thu Bồn để nuôi trồng thủy sản Phường Cẩm Thanh có 895,43 ha đất tự nhiên, 8372 người, trong đó có 4035 nam và 4337 nữ, với 8 thôn Thanh Tam Tây, Thanh Tam Đông, Thanh Nhứt, Thanh Nhì, Thanh Đông, Võng Nhi, Vạn Lăng và Cồn Nhàn Các hoạt động sản xuất kinh tế chính gồm nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, công nghiệp và thương mại du lịch Năm 2013, phường có 550 hộ tham gia sản xuất nông lâm thủy sản Trong đó, có 87 ha đất gieo trồng cây có hạt gồm
57 ha lúa với sản lượng 665,6 tấn và 30 ha ngô đạt 5 tạ/ha Về lâm nghiệp, phường
có 3 ha rừng đước và 84,6 ha dừa nước Ngành thủy sản là một trong những thế mạnh của phường, sản lượng khai thác thủy sản 2013 đạt 1010 tấn Bên cạnh khai thác thủy sản, Cẩm Thanh là khu vực tập trung hoạt động nuôi trồng thủy sản lớn nhất vùng hạ lưu sông Thu Bồn, với diện tích là 150 ha (2009) đến năm 2014 giảm còn 110 ha Trong những năm gần đây, Cẩm Thanh đã bắt đầu chuyển đối tượng
Trang 23nuôi trồng từ tôm sú qua tôm thẻ cho sản lượng cao Đối tượng nuôi trồng chủ yếu
là tôm thẻ chân trắng, ngoài ra còn nuôi một số đối tượng như tôm sú, cua, cá diêu hồng Cẩm Thanh có 9 tổ cộng đồng nuôi tôm với 273 hộ nuôi trồng Về công nghiệp, phường Cẩm Thanh có 143 cơ sở sản cuất với giá trị sản xuất đạt 7,5 tỷ đồng Thương mại du lịch cũng là một thế mạnh của phường, với 287 hộ thwong nghiệp, 8 cơ sở nhà trọ và 4 doanh nghiệp nhà hàng [30][31]
Phường Cẩm Nam có 4,55 km2
với dân số trung bình là 6,391 người, mật độ dân sô 1,404 người/km2 Năm 2013, giá trị sản xuất nông nghiệp của xã đạt 129,5 triệu đông, giá trị sản xuất thủy sản đạt 460,8 triệu đồng, giá trị sản xuất thương mại
du lịch đạt 4.129,1 triệu đồng, giá trị sản xuất công nghiệp 424,7 triệu đồng, sản lượng lương thực có hạt là 5.410 tấn [28] Phường Cẩm Nam là một khu vực nuôi trồng biệt lập với các khu vực nuôi trồng còn lại, với diện tích 16,8 ha(2014), hoạt động nuôi trồng ở đây mang tích chất manh mún và nhỏ lẻ Đối tượng nuôi trồng gồm tôm thẻ chân trắng, cua và cá Các đối tượng được nuôi theo mô hình bán thâm
canh
1.3.2.2 Điều kiện kinh tế xã hội khu vực phía Nam hạ lưu sông Thu Bồn
Hoạt động nuôi trồng thủy sản khu vực phía Nam hạ lưu sông Thu Bồn tập trung chủ yếu ở các xã Duy Nghĩa, Duy Vinh thuộc huyện Duy Xuyên
Duy Nghĩa là một trong những xã nằm về phía đông của huyện Duy Xuyên, cách trung tâm huyện khoảng 13 km Phía Đông giáp xã Duy Hải, phía Tây giáp Duy Thành, Duy Vinh, phía Nam giáp xã Bình Dương, huyện Thăng Bình, phía Bắc có con sông Thu Bồn giáp phường Cẩm Thanh, thành phố Hội An Ngoài ra , xã Duy Ngĩa còn được bao bọc bời 2 con sông: Sông Thu Bồn ở phía Bắc và sông Trường Giang ở phía Tây Với tổng diện tích tự nhiên 1.344 ha, mật độ dân số 750 người/km2 Xã Duy Nghĩa có 2.575 hộ với 10.059 khẩu Trong đó, nam 4.970 người, nữ 5.089 người, lao động có 5.427 người, chiếm tỷ lệ 53,9% dân số Tổng số
hộ ngư nghiệp trên toàn xã là 257 hộ với 1.250 khẩu; chiếm 9,98% tổng số hộ và 12,42% tổng số khẩu trong xã, lao động ngư nghiệp là 452 người chếm tỷ lệ 8,32% trong số lao động trong toàn xã, trong đó có 263 lao động chính trực tiếp khai thác trên biển và 189 lao động phụ khai thác trên sông và ven lộng [27]
Trang 24Hoạt động nuôi trồng thủy sản xã Duy Nghĩa tập trung chủ yếu ven sông Trường Giang và sông Thu Bồn với 56 hộ nuôi trên 19,1 ha Đối tượng nuôi chủ yếu là tôm thẻ chân trắng, rôm sú và cua Đầu vụ 1, 15 ha tôm thẻ sẽ được thả và đến vụ 2, chuyển đổi đối tượng nuôi qua tôm sú Diện tích nuôi trồng không đổi qua các năm
Nuôi trồng theo mô hình bán chuyên canh ( 11,1 ha) và chuyên canh ( 8 ha) [27] Bảng 1.1 Diễn biến diện tích, sản lượng nuôi trồng thủy sản của xã Duy Nghĩa giai
xã và chia xã thành 3 vùng riêng biệt, tổng diện tích tự nhiên 880,36 ha, dân số tính đến 2014 có 2388 hộ với 10.117 nhân khẩu Người dân sinh sống bằng ngành nghề đa dạng, cơ cấu kinh tế là nông ngư, tiểu thủ công nghiệp và thương mại dich
vụ trong đó đánh bắt nuôi trồng thủy sản đuợc xác định là ngành kinh tế mũi nhọn Với tổng diện tích 67 ha gồm 5 vùng nuôi trồng: Thôn Đông Bình, Trà Đông, Hà Thuận, Hà Mỹ và Vĩnh Nam, 245 hộ nuôi trồng trên 7 tổ cộng đồng, xã Duy Vinh
là khu vực nuôi trồng lớn thứ 2 sau phường Cẩm Thanh về nuôi trồng thủy sản Tại
xã Duy Vinh có thành lập 7 tổ cộng đồng nuôi tôm, và việc đo đạc các thông số môi
trường ao nuôi do tổ trưởng tổ cộng đồng phụ trách Vụ nuôi chính diễn ra từ tháng
3 đến tháng 8, vụ phụ sẽ kết thúc trước tháng 10 [32]
Trang 25CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 2.1.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
a Hiện trạng và xu hướng xâm nhập mặn khu vực hạ lưu sông Thu Bồn
b Hoạt động nuôi trồng thủy sản khu vực hạ lưu sông Thu Bồn: đối tượng, diện tích, sản lượng, chất lượng, yếu tố con người về kỹ thuật, kinh nghiệm nuôi trồng
Để thực hiện các mục tiêu đã đặt ra, đề tài tập trung giải quyết một số nội dung sau:
Trang 26Nghiên cứu hiện trạng nuôi trồng thủy sản ở khu vực hạ lưu sông Thu Bồn: thu thập thông tin, điều tra, khảo sát về thực trạng nuôi trồng thủy sản tại khu vực hạ lưu sông Thu Bồn như hình thức nuôi, phương pháp, đối tượng, sản lượng và chất lượng nuôi trồng, môi trường ao nuôi, các điều kiện tự nhiên
Nghiên cứu thực trạng xâm nhập mặn và xu thế xâm nhập mặn ở khu vực hạ lưu sông Thu Bồn: điều tra thu thập dữ liệu, số liệu về hiện trạng xâm nhập mặn và
xu thế xâm nhập mặn khu vực hạ lưu sông Thu Bồn
Đánh giá tác động của xâm nhập mặn đến hoạt động nuôi trồng thủy sản tại khu vực hạ lưu sông Thu Bồn: phạm vi tác động và các tác động đến diện tích nuôi trồng, sản lượng, dịch bệnh, chi phí đầu tư, yếu tố con người
Đề xuất giải pháp: Từ thực trạng nuôi trồng, thực trạng xâm nhập mặn và kết quả đánh giá tác động của xâm nhập mặn lên hoạt đồn nuôi trồng thủy sản để đề xuất các giải pháp khăc phục các tác động tiêu cực, các giải pháp thích ứng và ứng phó với xâm nhập mặn theo hướng nuôi trồng bền vững
2.3 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các nội dung trên, chúng tôi sử dụng một số phương pháp sau:
2.3.1 Phương pháp thu thập thông tin, hồi cứu dữ liệu, số liệu
Phương pháp hồi cứu dữ liệu, số liệu: Hồi cứu các nguồn thông tin dữ liệu,
số liệu từ văn phòng UBND xã, phường, thành phố về hoạt động nuôi trồng thủy sản trong giai đoạn từ 2010 đến 2014, bao gồm các thông tin về điều kiện kinh tế
xã hội của địa phương, đối tượng nuôi trồng, dịch bệnh, diện tích nuôi trồng, môi trường nuôi trồng, sản lượng nuôi trồng,…phục vụ nghiên cứu hiện trạng nuôi trồng thủy sản tại khu vực hạ lưu sông Thu Bồn, đánh giá tác động của xâm nhập mặn đến hoạt động nuôi trồng thủy sản và các giải pháp chính sách phát triển ngành nuôi trồng thủy sản để đề xuất giải pháp
Đối tượng tài liệu được thu thập: hiện trạng xâm nhập mặn và xu hướng xâm nhập mặn khu vực hạ lưu sông Thu Bồn
Trang 27Thu Bồn và hiện trạng xâm nhập mặn nguồn nước mặt , tác động của xâm nhập mặn đến hoạt động nuôi trồng thủy sản tại địa phương Các biểu hiện của tác động xâm nhập mặn đến hoạt động nuôi trồng thủy sản
2.3.3 Phương pháp ma trận Leopold
Trong ma trận Leopold, hệ thống định cấp theo thang từ 1 đến 10 được dùng cho cả mức tác động và tầm quan trọng của tác động Với mức tác động, mức 1 là mức tác động thấp còn mức 10 là mức tác động cao nhất Mức 1 là mức có tầm quan trọng thấp nhất còn mức 10 là mức có tầm quan trọng cao nhất Trong nghiên cứu này, phương pháp ma trận Leopold được sử dụng để đánh giá tác động của xâm nhập mặn đến các khía cạnh hoạt động nuôi trồng như con người, môi trường nuôi trồng, dịch bệnh, sản lượng, diện tích và nguồn nước cấp nuôi trồng
M
I M: mức tác động I: tầm quan trọng Phương pháp ma trận là phương pháp đơn giản, dể sử dụng, không đòi hỏi nhiều số liệu môi trường nhưng có thể phân tích tường minh tác động của nhiều hành động khác nhau lên cùng một nhân tố, bên cạnh đó các dạng ma trận có thể dể dàng biến đổi phù hợp theo yêu cầu cũng như dễ hiểu Tuy nhiên phương pháp này cũng có một số nhước điểm như khó xác định ác tác động thứ cấp và chưa xét đến diễn biến teo thời gian của các hoạt động, tác động nên chưa phân biệt được tác động lâu dài hay tạm thời [13][14]
2.3.4 Phương pháp sơ đồ mạng lưới
Phương pháp sơ đồ mạng lưới cho phép phân tích các tác động song song và nối tiếp do xâm nhập mặn gây ra đối với hoạt động nuôi trồng thủy sản nhằm đánh đánh giá tác động của xâm nhập mặn đến hoạt động nuôi trồng thủy sản Để sử dụng phương pháp, trước hết cần liệt kê toàn bộ hành động trong hoạt động và xác định mối quan hệ nhân quả giữa những hành động đó Các mối quan hệ nối các hành động với nhau thành một mạng lưới Trên mạng lưới có thể xác định được các tác động bậc 1 do 1 hành động trực tiếp gây ra, và các bậc tác động tiếp theo do tác động đứng trước ảnh hưởng, các chuỗi tác động đó sẽ dẫn về tác động cuối cùng,
Trang 28hiểu theo nghĩa là những sự việc có lợi hoặc có hại Sử dụng phương pháp này ta có thể xem xét các biện pháp phòng tránh hoặc hạn chế các tác động tiêu cực từ việc phân tích nguyên nhân và con đường dẫn tới hậu quả Nhược điểm của phương pháp này là không phân biệt được tác động ngắn hạn và dài hạn, còn mang tính chủ quan, chưa thể hiện được khu vực phạm vi bị tác động [13]
2.3.5 Hệ thống định lƣợng tác động IQS (impact quantitative system)
Phương pháp ma trận hiện đang được áp dụng có tính tổng hợp cao là hệ thống định lượng tác động (impact quantitative system – IQS) được xây dựng trên
cơ sở các hướng dẫn đánh giá tác động môi trường của Tổ chức E&P Forum, UNEP
và WB Trong hệ thống IQS, mỗi tác động sau khi xác định sẽ được đánh giá dựa trên các đặc điểm sau:
Bảng 2.1 Hệ thống phân loại tác động IQS
trọng (significant
impacts or major impact)
Tác động có thể làm thay đổi nghiêm trọng các nhân tố của môi trường hoặc tạo ra biến đổi mạnh mẽ về môi trường Tác động loại này có thể ảnh hưởng lớn đến môi trường tự nhiên hoặc KT-XH của một khu vực
3
Tác động trung bình
(medium or
intermediate impacts)
Tác động có thể ảnh hưởng rõ rệt một
số nhân tố của môi trường Tác động loại này có thể ảnh hưởng không lớn đến môi trường tự nhiên hoặc KT-XH của một khu vực
Trang 29Tác động không đáng kể hay không tác động
Từ các tiêu chí trên cùng với kết quả đo đạc và tính toán độ mặn, khoanh vùng
độ mặn, các bảng phân loại mức độ tác động được xây dựng theo các mức khác nhau nhằm đánh giá phạm vi tác động của xâm nhập mặn đến hoạt động nuôi trồng thủy sản khu vực hạ lưu sông Thu Bồn Trong hệ thống IQS, mỗi tác động sau khi xác định sẽ được đánh giá dựa trên các đặc điểm sau:
Bảng 2.2 Phân loại từng mức dộ tác động của độ mặn lên nuôi trồng thủy sản
2.3.6 Phương pháp xử lý số liệu bằng phần mềm Excel
Phần mềm Excel là phần mềm tiện ích, dễ sử dụng cho việc thống kê dữ liệu, xây dựng các biểu đồ
A Không tác động Biến động của độ mặn theo tầng nước
không vượt qúa 5 ‰ trong ngày
A Không tác động Biến động của độ mặn bình quân thủy trực
không vượt qúa 5 ‰ trong ngày
C Tác động lớn Biến động của độ mặn bình quân thủy trực
vượt qúa 5‰ trong ngày
Trang 30CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 3.1 Thực trạng xâm nhập mặn và xu thế xâm nhập mặn ở khu vực hạ lưu sông Thu Bồn
3.1.1 Thực trạng xâm nhập mặn
Kết quả hồi cứu dữ liệu về thực trạng xâm nhập mặn tại vùng hạ lưu sông Thu Bồn tại bảng 3.1 và hình 1.1 cho thấy có sự thay đổi độ mặn theo không gian và thời gian Theo thời gian độ mặn có sự chênh lệch theo giờ tại các vị trí đo theo chế độ triều Trong cùng 1 ngày (một con triều) độ mặn tại Cẩm Nam, Cẩm Thanh, Thanh Hà biến động mạnh Những ngày triều cường độ mặn tăng cao hơn những ngày khác Giá trị lớn nhất và nhỏ nhất của một con triều chênh nhau 8,2o/ootại Thanh Hà, 7,1o/oo tại Cẩm Nam và 5,5o/oo tại Cẩm Thanh Kết quả cho thấy đỉnh
và chân của 1 con mặn chênh nhau lớn tại Cẩm Nam và Thanh Hà Tuy nhiên, càng
về hạ lưu gần Cửa Đại (Cẩm Thanh) độ mặn ít biến động hơn [15]
Hình 3.1 Diễn biến độ mặn các giờ của một con triều lớn trong các ngày 25 và 26
tháng 7 năm 2014 tại 3 vị trí trên sông Thu Bồn – Hội An
Độ mặn giữa các năm cũng biến động nhiều Kết quả hồi cứu ở bảng 3.1 cho thấy từ năm 2010 đến 2014, độ mặn có giảm đi từ năm 2011 đến 2013, tuy nhiên
2014 độ mặn tăng trở lại Độ mặn các tháng cùng một năm tại một vị trí cũng biến động khác nhau Độ mặn lớn nhất thường rơi vào các tháng 5, 6, 7
Diễn biến độ mặn trong các giờ của 1 chu kỳ triều lớn nhất
trong tháng
0 10 20 30
Trang 31Bảng 3.1 Độ mặn lớn nhất bình quân thủy trực trên sông Thu Bồn từ 2010-2014
Nguồn: Đài Khí tượng Thủy Văn khu vực Trung Trung Bộ [15]
Kết quả bảng 3.2 và 3.3 cho thấy có sự thay đổi độ mặn theo tầng nước và
Trang 32Đáy 28.5 30.2 VIII
11-12
Nguồn: Đài Khí tượng Thủy Văn khu vực Trung Trung Bộ [15]
Về độ sâu, tại mỗi vị trí trên sông, độ mặn có sự phân tầng khá rõ rệt, độ mặn tăng nhanh từ trên mặt xuống đáy sông Giữa dòng chính độ mặn tăng nhanh khi triều lên và khi triều rút thì độ mặn lại giảm nhanh hơn hai bên bờ Nước biển xâm nhập vào trong sông theo dạng hình nêm Ở vùng sông gần sát biển, chênh lệch độ mặn giữa các lớp nước không lớn lắm, độ mặn ở đáy lớn hơn lớp mặt không quá hai lần, càng về thượng lưu chênh lệch giữa các lớp nước càng lớn, một số thời điểm trên mặt hoàn toàn ngọt nhưng ở đáy sông độ mặn vẫn khá lớn Độ mặn giữa các lớp nước (mặt, giữa, đáy), trong cùng một thời gian biến động lớn, cả 3 vị trí đo trên sông Thu Bồn chênh nhau trên 10 o/oo và kết quả đo trên cùng một triền sông cũng biến động mạnh Độ mặn lớn nhất tổng hợp được trong các năm và đề tài đo trong năm 2014 từ Câu Lâu xuống đến Cửa Đại biến động từ 8,7 đến 31,5o
/oo
Hình 3.2 Diễn biến độ mặn các tầng nước trong các tháng mùa khô năm 2014
Qua số liệu hồi cứu cho thấy, diễn biến mặn theo dọc sông rất phức tạp, càng
về thượng lưu độ mặn càng giảm dần, khoảng cách bị ảnh hưởng mặn (tính từ biển vào) ngắn hơn khoảng cách bị ảnh hưởng triều Khoảng cách này mỗi sông có khác nhau vì phụ thuộc vào nhiều yếu tố như độ dốc lòng sông, sự tác động đồng thời
DIỄN BIẾN ĐỘ MẶN CÁC TẦNG NƯỚC TRONG CÁC THANG
MÙA KHÔ NĂM 2014
0 5 10 15 20 25 30 35
Trang 33của dòng triều và dòng chảy thượng nguồn, sự hoạt động của các công trình thuỷ lợi Trong đó yếu tố lưu lượng dòng chảy thượng nguồn chi phối mạnh nhất
Hình 3.3 Diễn biến độ mặn bình quân thủy trực lớn nhất dọc sông Thu Bồn 2014
Kết quả bảng 3.3 và hình 3.3 cho thấy, khoảng cách bị ảnh hưởng triều trên sông Thu bồn có thể lên xa cửa biển gần 35 km, nhưng khoảng cách bị ảnh hưởng mặn ngắn hơn nhiều Trong 5 năm từ 2010-2014, dọc theo sông Thu Bồn độ mặn giảm dần từ Cửa Đại – Cầu Câu Lâu, sự chênh lệch giữa các giá trị mặn lớn nhất và nhỏ nhất ở Cửa Đại (25,8‰ ), Cẩm Nam(23,1 ‰ ) thể hiện rõ rệt, còn ở cầu Câu Lâu, sự chênh lệch này khá nhỏ so với 2 khu vực trên
Bảng 3.3 Độ mặn lớn nhất và nhỏ nhất dọc sông Thu Bồn năm (2010 -2014)
TT Sông Điểm đo Khoảng cách đến cửa Smax ( 0 / 00 ) Smin ( 0 / 00 )
Nguồn: Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Trung Trung Bộ[18]
Kết quả trên cho thấy, độ mặn biến động mạnh giữa các tầng nước, giữa các điểm trên cùng một triền sông trong cùng một thời gian khảo sát Tuy nhiên, độ mặn tầng đáy và tầng giữa tại Cửa Đại chỉ biến động nhỏ hơn 5 ‰
Hầu hết các sông đều có diễn biến mặn theo dọc sông theo hướng giảm dần
về thượng lưu, kết quả nghiên cứu dự báo xu thế diễn biến xâm nhập mặn do nước
DIỂN BIẾN ĐỘ MẶN BÌNH QUÂN THỦY TRỰC LỚN NHẤT DỌC SÔNG THU BỒN NĂM 2014
Trang 34biển dâng cao cho vùng cửa sông ven biển Bắc Bộ cho thấy diễn biến xâm nhập mặn tương đồng giữa các con sông Dọc sông Đáy, tại vùng cửa sông độ mặn lớn nhất là 25‰ , cách cửa sông 24,7 km độ mặn giảm còn 3 ‰ và khu vực cách cửa sông 35 km hoàn toàn là nước ngọt, tại sông Hồng, độ mặn lớn nhất là 25‰ và cách cửa sông 34,8 km hoàn toàn là nước ngọt [14]
3.1.2 Xu thế xâm nhập mặn
Kết quả hồi cứu xu thế lan truyền mặn hiện tại được thể hiện ở hình 3.5 cho thấy, quá trình mực nước, độ mặn khá phù hợp với số liệu thực đo và tương quan thuận với nhau Kết quả tính toán được thể hiện trên bản đồ hiện trạng với từng cấp
độ khác nhau độ mặn từ 0-33‰ trong đó sự phân cấp chi tiết cho từng vùng mặn lệch nhau 2‰ Từ bản đồ hiện trạng mặn cho thấy toàn bộ vùng hạ lưu sông Thu Bồn với từng khu vực ứng với các cấp độ mặn của từng vị trí trên sông Trong đó, khu vực xã Cẩm Thanh có độ mặn lớn nhất năm 2013 lên đến 30-33‰ , khu vực nuôi Cẩm Nam có độ mặn lớn nhất dọc theo sông từ 24 – 30‰ , khu vực nuôi xã Duy Nghĩa 20-30‰ và khu vực xã Duy Vinh từ 24-30‰ (hình 3.4) [15]
Hình 3.4 Bản đồ phân bố độ mặn lớn nhất năm 2013 trên sông Thu Bồn
Trang 35Bản đồ phân bố mặn năm 2100 cho thấy, xâm nhập mặn vùng hạ lưu hệ thống sông Thu Bồn biến đổi mạnh so với thời điểm hiện tại, ranh giới độ mặn 1‰ dao
động từ 24-26km tính từ cửa Đại; độ mặn 4‰ ở vị trí cách cửa Đại 20-22 km và
cũng theo các tài liệu nghiên cứu cho thấy trên sông Hội An nước biển dịch chuyển lên nhiều nhất năm 2020 là 3,6km và năm 2100 là 4km so với cửa Đại (hình 3.5) Cũng từ kết quả trên, diện tích đất ngập nước các năm 2020, 2050, 2100 tương ứng là 979 ha, 1064 ha và 1286 ha chủ yếu là tại các vùng ven biển, ven sông Thu Bồn, thành phố Hội An, huyện Điện Bàn Mức độ xâm nhập mặn thể hiện trên bản
đồ phát thải cao năm 2100 trên các khu vực hạ lưu sông Thu Bồn, độ mặn trên sông tiến sâu vào đất liền và độ mặn 10‰vượt qua quốc lộ 1A, trong khi hiện nay đa phần là 0‰[15]
Hình 3.5 Bản đồ phân bố mặn theo kịch bản BĐKH phát thải cao năm 2100 trên
sông Thu Bồn, Quảng Nam
3.2 Thực trạng nuôi trồng thủy sản tại hạ lưu sông Thu Bồn tỉnh Quảng Nam
Kết quả nghiên cứu thực trạng nuôi trồng thủy sản tại hạ lưu sông Thu Bồn được thể hiện ở bảng 3.6 Hạ lưu sông Thu Bồn là nguồn nước cấp nuôi trồng cho các phường Cẩm Thanh ((110 ha), Cẩm Nam(11,8 ha) thành phố Hội An và các xã Duy Vinh (67), Duy Nghĩa(10,5) huyện Duy Xuyên với đối tượng nuôi chính là tôm thẻ chân trắng, ngoài ra, còn có các đối tượng nuôi xen canh như cá, cua, tôm sú
Trang 36nhưng diện tích không lớn Tại khu vực nghiên cứu, nuôi trồng thủy sản được thực hiện theo hình thức bán thâm canh là chủ yếu và nuôi vụ 1,2 đối với tôm thẻ chân trắng và nuôi vụ 3 đối với cua cá và số ít tôm sú
Bảng 3.4 Tình hình nuôi trồng thủy sản vùng hạ lưu sông Thu Bồn năm 2014
Loại hình nuôi trồng
Diện tích (ha)
Số vụ nuôi/
năm
Sản lượn
g
Nguồn nước cấp nuôi trồng
Khu vực nuôi trồng (thôn)
Cẩm
Thanh
359
Tôm thẻ chân trắng
Bán thâm canh, lót bạt
110
2 177
Nước giếng đóng, Sông Thu Bồn, Hóc Rộ, Sông Đình,
Đế Võng
Hóc Rộ, Biền Lăng, Đồng Muối, Sông Đình, Ô Rô, Hói Lăng
Bán thâm canh
1 0,5
Cua
Bán thâm canh
1 7,8
Cẩm
Tôm thẻ chân trắng
Bán thâm canh
7,8 2
23,3
1
Sông Thu Bồn
Thanh Nam Đông, Hà Trung
Chuyên canh và bán chuyên canh
79
Sông Trường Giang(8,6 ha), Sông Thu Bồn (10,5 ha)
Tây Thành, Hồng Triều, Hội Sơn
Bán thâm canh
Sông Thu Bồn, Ly
Ly và Trường Giang
Đông Bình, Trà Đông, Hà Thuận, Hà
Mỹ, Vĩnh Nam
Trang 373.2.1 Thực trạng về khu vực và diện tích nuôi trồng
Phần lớn diện tích nuôi trồng có nguồn gốc chủ yếu từ các bãi bồi triều, đất chuyển đổi mục đích sử dụng từ trồng lúa sang nuôi trồng thủy sản và đất nằm trong diện quy hoạch nuôi trồng thủy sản của nhà nước (hình 3.7) Diện tích nuôi trên khu vực hạ lưu sông Thu Bồn chủ yếu nuôi tôm nước lợ và tập trung ở các hình thức thâm canh, bán thâm canh và quãng canh cải tiến Bình quân một hộ có 0,3 ha nuôi trồng thủy sản Diện tích nuôi trồng của các xã phường thuộc khu vực nghiên cứu
có diện tích không thay đổi qua các năm và có định hướng phát triển giữ nguyên diện tích Phường Cẩm Thanh có khoảng 110 ha nuôi trồng, trong đó có 40 ha nuôi tôm nước lợ, 60 ha nuôi tôm sú xen tôm thẻ và cua và 2 ha nuôi cá, chia thành 6 tổ cộng đồng Hóc Rộ, Biền Lăng, Đồng Muối, Sông Đình, Ô Rô, Hói Lăng Phường Cẩm Nam có 11,8 ha đất nuôi trồng ở các thôn Thanh Nam Đông, Hà Trung, diện tích nuôi tôm lớn nhất 7,8 ha, còn lại là 3 ha cua và 2 ha cá
Hình 3.6 Nguồn gốc đất nuôi trồng thủy sản ( Nguồn: Phòng Kinh tế Hội An)
Diện tích nuôi trồng thủy sản của xã Duy Nghĩa khoảng 19 ha với 56 hộ, trong đó có 8 ha chủ yếu là tôm thẻ chân trắng nuôi theo quy trình chuyên canh còn lại là nuôi bán chuyên canh lông ghép tôm xen cua, cá nước ngọt Các hộ nuôi tập trung chủ yếu ở các thôn Tây Thành, Hồng Triều và Hội Sơn Xã Duy Vinh là địa phương có diện tích nuôi trồng lớn nhất huyện Duy Xuyên với 67 ha và 245 hộ tập trung ở các thôn Đông Bình, Trà Đông, Hà Thuận, Hà Mỹ, Vĩnh Nam
Trang 383.2.2 Thực trạng về đối tƣợng và sản lƣợng nuôi trồng
3.2.2.1 Đối tượng nuôi trồng
Kể từ năm 2008 trở lại đây, tại khu vực hạ lưu sông Thu Bồn, việc chuyển đổi đối tượng nuôi trồng từ tôm Sú sang nuôi tôm thẻ chân trắng được thực hiện phổ biến Mặc dù không có lợi thế về đặc tính loài bản địa, song xét lợi ích từ các mặt kinh tế, nguồn giống, kỹ thuật nuôi trồng, thức ăn nên tôm thẻ chân trắng ngày càng được nuôi trồng rộng rãi Sản lượng nuôi trồng của tôm thẻ chân trắng được đánh giá cao hơn tôm sú Tôm thẻ có tập tính kiếm ăn vào ban đêm là chủ yếu Trong hồ nuôi nhân tạo tôm ăn cả ngày lẫn đêm Tôm phát triển tốt trong môi trường có sự biến động độ mặn trong ngày không quá 5‰
Bảng 3.5 Điều kiện môi trường nuôi trồng của tôm thẻ chân trắng
TT Các chỉ tiêu Khoảng thích hợp Khoảng chịu đựng
3.2.2.2 Sản lượng nuôi trồng khu vực hạ lưu sông Thu Bồn
Năm 2014, sản lượng tôm thẻ chân trắng đạt hơn 190 tấn, chiếm hơn 80% tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản của khu vực Việc đưa tôm thẻ chân trắng vào nuôi cũng góp phần nâng cao năng suất nuôi trồng, nếu năm 2008 năng suất chỉ đạt
840 kg/ha thì năm 2012 năng suất đã lên đến 2,2 tấn/ha Năm 2013, tình hình nuôi
Trang 39tôm có nhiều bất lợi nên năng suất chỉ đạt 1,52 tấn/ha Sản lượng cua ổn định qua các năm nhưng sản lượng cá giảm dần vì hai đối tượng này chưa phải là đối tượng nuôi chính Cua và cá được nuôi xen canh chủ yếu vào vụ 3 (vụ đông) với mật độ rất thưa, bình quân 0,34 con/m2
Bảng 3.6 Sản lượng nuôi trồng thủy sản khu vực hạ lưu sông Thu Bồn
Mặc dù sản lượng nuôi trồng thủy sản nhất là tôm nước lợ đã gia tăng đáng
kể trong những năm qua, tuy nhiên sự phát triển vẫn chưa bền vững, nghề nuôi trồng còn bị ảnh hưởng nhiều bởi dịch bệnh, vấn đề an toàn thực phẩm, môi trường sinh thái bị suy thoái và chất lượng nước ngày càng xấu đi, không ổn định