Do đó việc nghiên cứu phân tích KLN trong môi trường sống, trong thực phẩm và tác động của chúng đến cơ thể con người là rất cần thiết bởi tính độc, tính bền vững và sự tích tụ sinh học
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA SINH - MÔI TRƯỜNG
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA SINH - MÔI TRƯỜNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong khóa luận là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Đà Nẵng, ngày 5 tháng 5năm 2015
Sinh viên
Đoàn Thị Ánh Dương
Trang 4Đà Nẵng, ngày 5 tháng 5 năm 2015
Sinh viên thực hiện
Đoàn Thị Ánh Dương
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
MỞ ĐẦU 1
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 2
2.1 Mục tiêu tổng quát 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI 2
3.1 Ý nghĩa khoa học 2
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 ĐÁNH GIÁ RỦI RO SỨC KHỎE 3
1.1.1 Khái niệm đánh giá rủi ro sức khỏe 3
1.1.2 Ý nghĩa đánh giá rủi ro sức khỏe 4
1.2 ĐỘC TÍNH CỦA KIM LOẠI NẶNG 4
1.2.1 Asen và độc tính của Asen 4
1.2.2 Cadimi và độc tính của Cadimi 5
1.2.3 Chì và độc tính của Chì 6
1.3 TÌNH HÌNH Ô NHIỄM KIM LOẠI NẶNG 7
1.3.1 Tình hình ô nhiễm KLN trên thế giới 7
1.3.2 Tình hình ô nhiễm KLN ở Việt Nam 8
1.4 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ô NHIỄM KLN TRONG THỰC PHẨM VÀ RỦI RO SỨC KHỎE DO KLN 10
1.4.1 Tình hình nghiên cứu trên Thế giới 10
1.4.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 13
1.5 CƠ CHẾ HẤP THỤ KLN Ở CÁ 15
1.6 TỔNG QUAN VỀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU 16
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
Trang 62.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 18
2.1.1 Cá Trích Xương (Sardinella gibbosa) 18
2.1.2 Cá Nục Gai (Decapterus russelli) 19
2.1.3 Cá Chai Ấn Độ (Platycephalus indicus ) 19
2.1.4 Cá Dìa (Siganus canaliculatus) 20
2.1.5 Cá Mòi Cờ Chấm (Konosirus punctatus) 20
2.1.6 Cá Đối Đầu Dẹt (Mugil cephalus) 21
2.2 THỜI GIAN VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 22
2.2.1 Thời gian nghiên cứu 22
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu 22
2.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 23
2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.4.1 Phương pháp hồi cứu số liệu 23
2.4.2 Phương pháp thu mẫu và bảo quản mẫu 23
2.4.3 Phương pháp định loại 23
2.4.4 Phương pháp vô cơ hóa mẫu và phân tích mẫu 23
2.4.5 Phương pháp phỏng vấn cộng đồng 24
2.4.5 Phương pháp đánh giá rủi ro sức khỏe theo US-EPA 25
2.4.6 Phương pháp xử lý số liệu 26
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ BIỆN LUẬN 27
3.1 HÀM LƯỢNG KLN TRONG THỊT CÁ 27
3.1.1 Hàm lượng As trong cá 29
3.1.2 Hàm lượng Cd trong cá 31
3.1.3 Hàm lượng Pb trong cá 33
3.2 ĐÁNH GIÁ RỦI RO SỨC KHỎE CỦA KIM LOẠI NẶNG 35
3.2.1 Thương số nguy hại THQ 35
3.2.2 Chỉ số rủi ro HI 40
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 43
1 KẾT LUẬN 43
2 KIẾN NGHỊ 44
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 45 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Agriculture Organization of the United Nations)
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Trang 10MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Ngày nay sự phát triển của kinh tế đã làm thay đổi bộ mặt đất nước, tuy nhiên
đi kèm với sự phát triển đó là môi trường đang có xu hướng ngày càng nghiêm trọng, đặc biệt là môi trường nước Nguyên nhân chủ yếu là do hoạt động công nghiệp, nông nghiệp sử dụng phân bón, thuốc BVTV, phụ gia thực phẩm đã xả thải vào môi trường, trong đó chứa một lượng lớn KLN gây độc [21]
KLN là những nguyên tố dễ dàng tích lũy trong cơ thể sinh vật, từ đó tương tác với nội bào và làm biến đổi nội bào hoặc liên kết với nội bào hình thành nên những enzim phân hủy protein, tăng sự tổng hợp protein dị thường KLN không phân hủy thành hợp chất nhỏ hơn để gây độc, chúng thường gắn kết với hợp chất hữu cơ để gây độc Do đó, gây tác động xấu đến vấn đề an toàn thực phẩm và trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua con chuổi thức ăn ảnh hưởng sức khỏe con người [1]
Đà Nẵng là được xem là một thành phố cảng lớn nhất miền Trung, hiện nay chiến lược phát triển của Thành Phố đến năm 2020 là tập trung phát triển kinh tế biển Với điều kiện địa lý và khí hậu thuận lợi, Vịnh có tiềm năng lớn về hoạt động nuôi trồng, đánh bắt thủy hải sản Hàng năm trữ lượng khai thác hải sản vùng biển
Đà Nẵng lớn, khoảng 60 - 70 nghìn tấn, tập trung chủ yếu ở cá nổi ven bờ Tuy nhiên, Vịnh cũng là nơi tiếp nhận chất thải trên địa bàn thành phố từ các KCN, bãi rác và chất thải sinh hoạt, theo các dòng sông, cống thải đổ vào Vịnh gây ô nhiễm [26] Do đó việc nghiên cứu phân tích KLN trong môi trường sống, trong thực phẩm và tác động của chúng đến cơ thể con người là rất cần thiết bởi tính độc, tính bền vững và sự tích tụ sinh học của chúng Trong những năm gần đây, nghiên cứu
sự tích lũy và ảnh hưởng của KLN trong cơ thể sinh vật được nhiều nhà khoa học trên thế giới và Việt Nam quan tâm Tại Đà Nẵng, một số nghiên cứu đánh giá hàm lượng KLN trong động vật đã được biết đến như nghiên cứu trong loài hai mảnh vỏ
và một số nghiên cứu KLN trong cá ở vùng cửa sông Tuy nhiên, các nghiên cứu chỉ dừng lại ở bước xác định hàm lượng KLN trong sinh vật mà hạn chế những nghiên cứu về đánh giá về rủi ro sức khỏe thông qua việc tiêu thụ chúng
Trang 11Do đó, vấn đề ô nhiễm KLN trong các loài hải sản được đánh bắt tại Vịnh rất
cần được quan tâm Với mong muốn đó, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá
rủi ro sức khỏe của kim loại nặng(As, Cd và Pb) trong một số loài cá được đánh bắt tại vịnh Đà Nẵng”
2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
2.1 Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu nhằm xem xét, đánh giá rủi ro sức khỏe của KLN thông qua tiêu thụ một số loài cá được đánh bắt phổ biến tại Vịnh Đà Nẵng và đưa ra khuyến cáo đối với người tiêu dùng
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài giúp xác định được nguy cơ rủi ro sức khỏe người tiêu dùng thông qua việc tiêu thụ nguồn cá bị nhiễm KLN, từ đó đưa ra khuyến cáo đối với người dân khi sử dụng cá tại đây làm thực phẩm hàng ngày
Ngoài ra kết quả để tài sẽ góp phần cho các cơ quan quản lý môi trường quản
lý tốt những ảnh hưởng của ô nhiễm KLN đến sức khỏe người dân, cũng như kịp thời đưa ra khuyến cáo cho người tiêu thụ thực phẩm nhằm hạn chế tốt nhất những rủi ro sức khỏe, bệnh tật
Trang 12CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 ĐÁNH GIÁ RỦI RO SỨC KHỎE
1.1.1 Khái niệm đánh giá rủi ro sức khỏe
Theo Cơ quan Bảo vệ Môi trường của Mỹ (US - EPA), đánh giá rủi ro sức khỏe là quá trình đánh giá tính chất và khả năng ảnh hưởng đến sức khỏe con người khi tiếp xúc với hóa chất trong môi trường bị ô nhiễm Đánh giá rủi ro sức khỏe có
3 nhóm chính:
+ Rủi ro do nguồn vật lý (được quan tâm nhiều nhất, là những rủi ro về bức
xạ từ nhà máy hạt nhân hoặc trung tâm nghiên cứu hạt nhân)
+ Rủi ro hóa chất
+ Rủi ro sinh học (đánh giá rủi ro đối với lĩnh vực an toàn thực phẩm hoặc đánh giá rủi ro đối với những sinh vật biến đổi gen)
Các bước chính trong đánh giá rủi ro sức khỏe:
Hình 1.1 Sơ đồ đánh giá rủi ro sức khỏe
Bước 1: Xác định mối nguy hại
Xác định mối nguy hại: Là quá trình nhận diện các mối nguy hại và xác định đặc tính mà có thể làm tăng nguy cơ gây hại cho sức khỏe [28], [ 60]
phản ứng
Trang 13Bước 3: Đánh giá mức độ phơi nhiễm
Đánh giá mức độ phơi nhiễm là quá trình xác định hoặc ước tính cường độ, tần
số và thời gian tiếp xúc của con người với một nhân tố trong môi trường, hoặc ước tính những rủi ro tương lai của một nhân tố chưa phát hiện Mức độ phơi nhiễm có thể được đo trực tiếp nhưng thường được tính gián tiếp thông qua nồng độ của chất
ô nhiễm đo được trong môi trường, xem xét các mô hình đường truyền phơi nhiễm
và ước tính liều lượng hấp thụ vào người theo thời gian [60]
Bước 4: Mô tả đặc tính rủi ro
Mô tả đặc tính rủi ro là mô tả đặc điểm rủi ro như tính chất, sự hiện diện hay vắng mặt của rủi ro, cùng với thông tin về cách đánh giá rủi ro, tổng hợp phơi nhiễm và đánh giá độc tính để định tính và định lượng mức độ rủi ro
Trong thực tế mỗi bước của đánh giá rủi ro (nhận định rủi ro, đánh giá liều lượng đáp ứng, đánh giá phơi nhiễm) đều có một đặc tính rủi ro riêng Do đó việc tổng kết đặc tính rủi ro là cần thiết nhằm cung cấp thông tin để quản lý rủi ro tốt hơn
Việc mô tả đặc tính rủi ro được thực hiện trên 4 nguyên tắc: minh bạch, rõ ràng, nhất quán và hợp lý [60]
1.1.2 Ý nghĩa đánh giá rủi ro sức khỏe
Đánh giá rủi ro sức khỏe giúp xác định liều lượng cũng như những nhân tố gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người ngay tại khu vực đó hoặc gần những khu vực ô nhiễm; đồng thời giúp xác định mức độ phải làm sạch dựa trên rủi ro tại khu vực nghiên cứu
Bên cạnh đó, đánh giá rủi ro sức khỏe còn giúp nhà quản lý môi trường cân bằng giữa trách nhiệm bảo vệ con người với sự phát triển kinh tế; giúp đưa ra quyết định hợp lý nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu và loại trừ tác động có hại gây ra đối với con người, đồng thời đảm bảo mức sản xuất hợp lý [28], [ 60]
1.2 ĐỘC TÍNH CỦA KIM LOẠI NẶNG
1.2.1 Asen và độc tính của Asen
Asen hay còn gọi là thạch tín, trong bảng tuần hoàn hóa học asen có ký hiệu là
As, khối lượng nguyên tử 74.92, số thứ tự 33 As là một á kim gây độc và có nhiều
Trang 14dạng thù hình: dạng kim loại và không kim loại [31]
Asen là nguyên tố được hình thành trong vỏ trái đất, có màu xám khi ở dạng nguyên chất, nhưng dạng này ít tồn tại trong tự nhiên, chủ yếu tồn tại dưới dạng hợp chất quặng [31].Nguồn phát thải As nhân tạo chủ yếu từ quá trình nóng chảy kim loại màu, sản xuất dầu mỏ, hoạt động khai thác khoáng sản, dư lượng hóa chất BVTV… Nguyên nhân As có trong nước biển là từ các nguồn nước chảy qua những vỉa quặng chứa As đã bị phong hoá; chất thải chứa As ngấm theo kẽ nứt xuống mạch nước ngầm rồi theo dòng chảy đổ ra biển, hoặc theo dòng thải trực tiếp đổ vào biển [26]
Asen là nguyên tố vi lượng cần thiết cho sự sống của cơ thể, nhưng vượt quá nhu cầu cần thiết thì rất độc [2] As được hấp thụ vào cơ thể con người và động vật qua đường hô hấp, tiêu hóa và qua da As tích tụ trong cơ thể chủ yếu trong mô, cơ sau đó As được bài tiết chủ yếu qua thận, nước tiểu và qua tóc, móng tay [2], [ 17]
As tự do cũng như hợp chất của nó rất độc Trong hợp chất thì hợp chất As (III) là độc nhất Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã xếp As vào nhóm độc loại A gồm: Hg, Pb, Se, Cd, As Người bị nhiễm độc As thường có tỷ lệ bị đột biến NST rất cao Một số tác động đặc trưng khi bị nhiễm độc As dạng vô cơ qua đường miệng là sự xuất hiện các vết màu đen và sáng trên da Khi nồng độ gây nhiễm lên tới 60 mg/l thì có thể gây chết [17]
1.2.2 Cadimi và độc tính của Cadimi
Cadimi có ký hiệu hóa học là Cd, thuộc nhóm II B chu kỳ 5 số hiệu nguyên tử
48 trong bảng tuần hoàn hóa học, khối lượng nguyên tử trung bình là 112.41 (đvC)
Cd là kim loại chuyển tiếp tương đối hiếm, được xếp thứ 67 trong thứ tự các nguyên
tố giàu Cd có tính mềm dẻo, dễ uốn, màu trắng ánh xanh và có tính độc [28]
Trong vỏ trái đất Cd thường tồn tại dưới dạng khoáng vật như Grinolit (CdS)
Cd được sử dụng nhiều trong công nghiệp luyện kim, chế tạo đồ nhựa, hợp chất Cd được sử dụng phổ biến để làm dầu điezen, dầu mazut [18] Ô nhiễm Cd đã và đang tăng nhanh trong thập niên gần đây là do hậu quả của sự phát triển công nghiệp ồ ạt
và đặc biệt là gia tăng sử dụng Cd trong công nghiệp [20] Cd xâm nhập vào môi trường nước qua nước thải từ hoạt động công nghiệp, sinh hoạt của người dân và
Trang 15đặc biệt là hoạt động nông nghiệp, sử dụng phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật chứa Cd [18]
Cd không có chức năng về sinh học thiết yếu cho cơ thể sống nhưng lại có tính độc cao đối với động thực vật Thức ăn là con đường chính để Cd đi vào cơ thể Sau khi xâm nhập vào cơ thể con người, Cd được đào thải qua thận, khoảng 1% được giữa lại trong thận Phần còn lại của Cd trong cơ thể sẽ được tích lũy theo thời gian
và tuổi tác [2]
Lượng Cd xâm nhập vào cơ thể không chỉ phụ thuộc vào việc ăn phải thực phẩm chứa Cd mà phần lớn phụ thuộc vào chế độ và chất lượng thực phẩm Khi Cd vào cơ thể ở nồng độ cao sẽ gây đau thận, thiếu máu do hàm lượng hemoglobin giảm và phá hủy hồng cầu Theo Trịnh Thị Thanh (2000) Cd và hợp chất của nó được xếp vào nhóm có thể gây ung thư (IIA) theo sự sắp xếp của ơ quan Nghiên cứu Quốc tế về Ung thư (IARC), gây ung thư phổi, thủng vách ngăn mũi, ung thư
loạn chức năng thận, thiếu máu, tăng huyết áp, gây dòn xương, ung thư…[18]
1.2.3 Chì và độc tính của Chì
Chì có ký hiệu hóa học là Pb, khối lượng nguyên tử 297.19 thuộc nhóm IV số thứ tự 82 trong bảng tuần hoàn hóa học Pb có màu xám nhạt, không mùi, không vị, không hòa tan trong nước, không cháy Pb rất mềm, dễ gia công và cắt gọt, dễ nghiền thành bột Pb được xem là kim loại mềm nhất trong tất cả kim loại thông thường [2]
sản xuất ắc quy, pin, cáp điện, dệt nhuộm ; trong các ngành công nghiệp như ngành khai thác, luyện kim Pb, sử dụng sơn chứa Pb, ngành xây dựng và thuốc trừ sâu…[2] Đặc biệt ngày nay, xăng pha Pb giúp làm tăng chỉ số octane (đặc trưng cho khả năng chống kích nổ, chỉ số octane càng cao càng tốt, tuy nhiên phù hợp với từng loại động cơ) và giúp động cơ hoạt động tốt hơn đã gây ô nhiễm môi trường trên diện rộng và ảnh hưởng đến sức khỏe con người [10] Pb xâm nhập vào môi trường nước là kết quả của quá trình phong hóa vỏ trái đất, quá trình xóa mòn, lắng
Trang 16đọng Pb từ khí quyển, quá trình hòa tan, rửa trôi hợp chất Pb từ đất, đặc biệt quá trình tiếp nhận dòng thải chứa Pb từ hoạt động của con người [2]
Giống như Cd, Pb không phải là nguyên tố thiết yếu cho cơ thể sống, là chất độc thần kinh Pb được hấp thụ vào cơ thể qua đường tiêu hóa, qua đường hô hấp
và qua da Số lượng và tốc độ hấp thụ Pb qua đường tiêu hóa của cơ thể phụ thuộc vào dạng tồn tại hóa học của Pb, kích thước hạt bụi, trạng thái no hoặc đói của cơ thể, chế độ dinh dưỡng và độ tuổi [2]
Độc tính của Pb chủ yếu là do khả năng ức chế một số enzim của quá trình tổng hợp máu dẫn đến ngăn chặn quá trình tạo hồng cầu Ngộ độc Pb nặng thường gây đau bụng dữ dội, nôn ra chì clorua màu trắng, tiêu chảy kèm theo phân đen của chì sunfua, tê tay chân, co giật và dẫn đến tử vong Trẻ em là đối tượng nhạy cảm nhất và dễ bị bệnh về não do nhiễm độc chì, thể hiện rõ nhất là chậm phát triển trí tuệ Ngoài ra Pb còn ảnh hưởng đến hệ sinh sản, có thể gây vô sinh đối với nam giới
và gây sẩy thai khi tiếp xúc ở nồng độ cao, ảnh hưởng đến trẻ sơ sinh [1], [ 32]
1.3 TÌNH HÌNH Ô NHIỄM KIM LOẠI NẶNG
1.3.1 Tình hình ô nhiễm KLN trên thế giới
Hiện nay vấn đề ô nhiễm KLN trên thế giới đã và đang ngày càng diễn biến theo chiều hướng xấu Nguyên nhân dẫn đến vấn đề này là hoạt động công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, hoạt động sinh hoạt của người dân đã trực tiếp hoặc gián tiếp đưa vào môi trường một lượng lớn KLN Sự cố nhiễm độc KLN đã được ghi nhận tại nhiều nơi trên thế giới, tuy nhiên mức độ trầm trọng thường xảy
Mỹ, Anh, Hà Lan khi nghiên cứu một số chế phẩm sử dụng trong nông nghiệp người ta đã xác định được nồng độ Pb trong bùn thải biến động từ 50 - 3000 mg/kg, phân lân từ 7 - 225 mg/kg, vôi từ 20 - 1250 mg/kg, phân chuồng từ 6.6 - 15 mg/kg
Ô nhiễm kim loại ở môi trường biển đã gia tăng trong những năm gần đây do
động sản xuất đưa vào môi trường 60.000 tấn As , 25.000 tấn Cd, ngoài ra môi trường tự nhiên cũng đóng góp một lượng đáng kể: 45.000 tấn As, 33.000 tấn Pb,
Trang 17800 tấn Cd [2], [ 41]
Ô nhiễm KLN ở nhiều vùng cửa sông, ven biển trên thế giới đã được biết từ lâu bởi tính độc hại đe dọa đến sự sống của sinh vật thủy sinh, gây nguy cơ cho sức khỏe con người Trong đó ô nhiễm Pb và Zn là một trong những điều đáng quan tâm do ảnh hưởng độc hại của chúng Tại vùng cửa sông Úc với hàm lượng 1000 µg/g Pb, 2000 µg/g Zn có thể tìm thấy trong trầm tích bị ô nhiễm Bryan và cộng sự (1985) đã xác định hàm lượng Pb vô cơ trong trầm tích cửa sông ở Anh biến động
từ 25 µg/g trong khu vực không bị ô nhiễm đến hơn 2700 µg/g trong cửa sông
ra là 650 tấn/năm từ công nghiệp luyện kim màu; 9 tấn/năm vào không khí và 197 tấn/năm vào đất từ ngành thép; 297 tấn/năm vào không khí và 838 tấn/năm vào đất
từ đốt dầu mỏ… [2]
Theo điều tra các cống xả thải chất ô nhiễm khu vục ven biển năm 2004 của Trung Quốc, đã có 643 cống thải trực tiếp xả chất ô nhiễm vào vùng ven biển trên toàn Trung Quốc Vào năm 2004 có tổng cộng 22.4 tấn nước thải đã được đưa trực tiếp vào vùng ven biển thông qua cống thải Một lượng lớn chất ô nhiễm theo dòng chảy đi vào biển, trong đó có 108 tấn Pb, 74 tấn As, 6.2 tấn Cd và 1.2 tấn Hg [59]
1.3.2 Tình hình ô nhiễm KLN ở Việt Nam
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp hóa, quá trình đô thị hóa ngày càng tăng kéo theo vấn đề môi trường ngày càng nhiều, đặc biệt là sự xâm nhập của KLN Có thể nói ô nhiễm môi trường nói chung và ô nhiễm KLN nói riêng đã và đang là thách thức lớn đối với môi trường Việt Nam
Kết quả quan trắc môi trường cho thấy hàm lượng KLN tại vùng nước ven biển gần thị trấn và trung tâm công nghiệp là đáng kể: Tại Vinh hàm lượng Cu trung bình là 0.025 mg/l, tại Vũng Tàu 0.046 mg/l Hàm lượng Cu này cao hơn từ
30 đến 60 lần so với mức trung bình của hàm lượng Cu trong nước biển ở ngoài khơi (0.0008 mg/l) và cao gấp 2.5 đến 4.6 lần so với TCCP của Việt Nam đối với vùng nước ven biển [22]
Cùng với sự phát triển của công nông nghiệp, giao thông vận tải vấn đề ô nhiễm môi trường tại thành phố Đà Nẵng ngày càng gia tăng Nước thải chứa một
Trang 18lượng lớn KLN, theo dòng sông đổ vào Vịnh Đà Nẵng, tích lũy trong nước và trầm tích, theo chuỗi thức ăn đi vào sinh vật và con người
Theo số liệu báo cáo hiện trạng môi trường thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2005
- 2010 tại vùng cửa sông, ven biển một số khu vực có tình trạng ô nhiễm KLN Tại cửa sông Phú Lộc hàm lượng KLN (trừ Cu, Zn, Pb) cao hơn tiêu chuẩn cho phép và gia tăng không ổn định, kết quả quan trắc trung bình mỗi năm đều dưới 0.0038 mg/l, mức độ cao hơn tiêu chuẩn dao động từ 0.15 - 2.80 lần, riêng hàm lượng Fe có
xu hướng tăng qua các năm, cao nhất là năm 2009 (cao hơn tiêu chuẩn 1.65 lần) Tại khu vực sông Cu Đê, cửa sông Phú Lộc hàm lượng Hg trong nước vượt TCCP
từ 0.08 - 0.56 lần, hàm lượng Pb vượt 0.06 - 0.27 lần, tại khu vực cửa Mũi Vịnh hàm lượng As, Fe, Zn vượt tiêu chuẩn 2.17 - 11.4 lần [16]
Theo kết quả phân tích mẫu trầm tích của Đề án "Điều tra địa chất, tìm kiếm khoáng sản rắn biển ven bờ (0 - 30 m nước) Việt Nam tỷ lệ 1/500,000", hàm lượng KLN trong trầm tích Vịnh Đà Nẵng được thể hiện trong bảng 1.1
Bảng 1 1 Hàm lượng KLN trong trầm tích vùng biển vịnh Đà Nẵng
Tất cả mẫu đều nhiễm KLN, trong đó hàm lượng As dao động trong khoảng
trong trầm tích biển nông thế giới (1 ppm) [19]
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Khánh, Phan Văn Hiệp (2009) hàm lượng Cd trong bùn tại khu vực sông Hàn (2.66 ± 1.55 ppm) cao hơn và khác nhau
có ý nghĩa (α = 0.05) với hàm lượng Cd trong bùn tại khu vực sông Cu Đê (1.41 ± 0.75 ppm), cả hai khu vực đều đã bị ô nhiễm Cd ở mức độ cao, vượt từ 2.01 đến 3.8
lần tiêu chuẩn của Canada Và kết quả phân tích trong loài hến (Corbicula sp), hàm
Trang 19lượng Cd ở mẫu động vật cao hơn tiêu chuẩn từ 1.67 - 2.09 lần [3]
Chất lượng nước biển ven bờ Vịnh Đà Nẵng ngày càng bị ô nhiễm nghiêm trọng, chủ yếu do hoạt động của con người đã gây ảnh hưởng lớn đến sự phát triển
du lịch của thành phố cũng như đe dạo sự sinh tồn của sinh vật biển Theo nghiên cứu của Nguyễn Viết Hải Hiệp, Phan Văn Nhật Anh, Nguyễn Thị Thu Hiền (2012)
về đánh giá chất lượng nước biển ven bờ vùng Vịnh Đà Nẵng cho thấy, hàm lượng
Pb trong nước biển dao động từ 0.1069 - 0.1779 mg/l vào mùa khô và dao động từ 0.0318 - 0.0685mg/l vào mùa mưa [14]
Từ những dẫn liệu trên cho thấy tình trạng ô nhiễm KLN trên thế giới và Việt Nam đã, đang gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái và sức khỏe, đời sống của con người Vì vậy nghiên cứu sự tích lũy KLN và đánh giá rủi ro sức khỏe của KLN thông qua tiêu thụ cá là cần thiết nhằm phản ánh ô nhiễm KLN và đánh giá được rủi ro sức khỏe người tiêu thụ thực phẩm nhiễm KLN để từ đó có thể kiểm soát, xử lý ô nhiễm cũng như đưa ra khuyến cáo cho người tiêu dùng
1.4 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ô NHIỄM KLN TRONG THỰC PHẨM VÀ RỦI RO SỨC KHỎE DO KLN
1.4.1 Tình hình nghiên cứu trên Thế giới
Trong những năm gần đây, trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về ô nhiễm KLN và tập trung vào sử dụng sinh vật để đánh giá môi trường Trong đó, hải sản như trai, sò, nghêu,… đặc biệt là cá đã được nhà khoa học quan tâm nghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau và được ứng dụng tại nhiều khu vực trên thế giới
Nghiên cứu khác của A B Tabinda và cộng sự (2010) về sự tích lũy của kim
loại vết (Cd, As, Ni, Pb, Cr, Zn, Cu, Fe) và chất độc hại trong 6 loài cá (Pampus
argenteus, Sardinella sindensis, Labeo rohita,, Platycephalus indicus, Kowala coval, Tenualosa ilisha) và 2 loài tôm (Penaeus indicus và Penaeus indicus, Pencillantus) từ quận Keti Bunder Thatta, Sindh Vùng biển Keti Bunder là nơi tiếp
nhận KLN từ năm con sông của Punjab thông qua sông Indus cũng như từ thành phố Karachi (đây là nơi tiếp nhận 110 triệu gallon nước thải sinh hoạt mỗi ngày và 37,000 tấn chất thải công nghiệp/năm từ 30,000 đơn vị công nghiệp) Kết quả phân tích cho thấy giá trị trung bình của chất độc và kim loại trong hầu hết các loài cá,
Trang 20tôm đều nằm trong giới hạn cho phép về hàm lượng KLN trong thực phẩm từ nhiều
địa phương và không có bất kì rủi ro sức khỏe nào cho người tiêu thụ [35]
Theo nghiên cứu Maroof A Khalaf và cộng sự (2012) tại Vịnh Aqaba, là một Vịnh kín thuộc Biển Đỏ, Jordan về sự tích lũy KLN trên những bộ phận khác nhau
của ba loài cá thuộc họ cá Khế (Carangidae) gồm cá Nục Thu (Decapterus
macarellus), cá Nục Thuôn (Decapterus macrosoma), và cá Nục Gai (Decapterus russelli) cho 7 kim loại (Cu, Ni, Mn, Pb, Zn, Cd, Fe) Kết quả phân tích chỉ ra rằng
có sự khác biệt đáng kể hàm lượng kim loại giữa ba loài cá D macarelus, D
macrosoma và D russelli Trong đó hai loài: Decapterus macarellus và D macrosoma có nơi sống giống nhau, sử dụng thức ăn tương tự (động vật phù du,
động vật đáy không xương sống và sinh vật phù du khác) Ngược lại cá D russelli
sống ở vùng nước sâu từ tầng giữa đến tầng đáy và sử dụng động vật phù du, động vật đáy, động vật giáp xác đáy và sinh vật trôi để làm thức ăn, điều đó giải thích cho
sự khác nhau về hàm lượng kim loại trong các loài cá [47]
Không chỉ dừng lại ở đánh giá hàm lượng, sự tích lũy KLN trong sinh vật, môi trường mà ngày nay đã có nhiều nghiên cứu mở rộng hơn trong lĩnh vực này Dựa vào nghiên cứu sự tích lũy KLN trong sinh vật, nhiều nhà nghiên cứu đã đi sâu hơn vào việc đánh giá rủi ro sức khỏe của người tiêu thụ thực phẩm bị nhiễm KLN Những nghiên cứu theo hướng mới giúp cho nhà quản lý môi trường quản lý tốt những ảnh hưởng của nó đến sức khỏe người dân, cũng như kịp thời đưa ra khuyến cáo cho người tiêu thụ thực phẩm nhằm hạn chế tốt nhất những rủi ro sức khỏe, bệnh tật
Một nghiên cứu của Z Khoshnood and R Khoshnood (2013)về rủi ro sức khỏe người tiêu thụ cá tại hai khu vực bị ô nhiễm Pb, Cd ở Iran được dựa vào thương số THQ Sự phân bố của Cd và Pb được phân tích trong thịt và gan của sáu
loài cá khác nhau (Lutjanus johnii, Lutjanus lemniscatus, Liza subviridis, Sillago
sihama, Acanthopagrus latus và Pampus argentus) ở vùng Vịnh Ba Tư Kết quả
phân tích cho thấy giá trị THQ của Cd, Pb trong tất cả mẫu đều thấp hơn 1 cho cả người lớn và trẻ em Tổng THQs (Cd và Pb) ở người lớn tại khu vực Bushehr và Bandar - Genaveh là 0.05 và trẻ em là 0.04; tại khu vực Bushehr và Bandar -
Trang 21Genaveh ở người lớn là 0.08 và trẻ em là 0.05 [63]
A.L Rantetampang, Anwar Mallongi (2013) tập trung nghiên cứu về ô nhiễm
Pb và đánh giá rủi ro sức khỏe của người tiêu thụ hải sản ở Sentani Lake, Papua, Indonesia Kết quả phân tích đã cho thấy nồng độ của Pb trong nước, trầm tích, động vật hai mảnh vỏ, sinh vật đáy và cá dao động tương ứng từ 0.13 - 1,87 mg/l, 1.24 - 3.84 mg/kg, 0.43 - 2.76 mg/kg, 0.27 - 2.78 mg/kg, 1.39 - 3.55 mg/kg Ngoài
ra theo nghiên nghiên cứu này tất cả thương số THQ đều nhỏ hơn 1, nên không ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe con người [36]
Sự phát triển của ngành nuôi trồng thủy sản, nông nghiệp và hoạt động công nghiệp đã dẫn đến chất gây ô nhiễm phát thải ngày càng tăng vào hệ sinh thái ven biển KLN là một trong những chất gây ô nhiễm phổ biến nhất trong khu vực ven biển Nhận xét này được P.V Krishna (2014) làm rõ qua nghiên cứu đánh giá rủi ro
sức khỏe của KLN thông qua việc tiêu thụ cá biển Liza macrolepis tại bờ biển
Machilipatnam, Andhra Pradesh, Ấn Độ Kết quả phân tích nồng độ kim loại (mg/kg) trong thịt và gan của cá lần lượt như sau: Nồng độ Zn là 34.6 và 38.2; Pb là 14.2 và 15.5; Ni là 10.4 và 11.8; Cu là 33.2 và 34.2; Hg 2.1 và 2.9; Cd là 0.8 và 0.9 Hầu hết giá trị THQ > 1, trừ Cd Cụ thể như sau: của Zn là 17.9; Pb là 7.3; Ni là 5.3;
Cu là 17.2; Hg là 1.08; và Cd là 0.4 Vì vậy tiêu thụ cá Liza macrolepis từ bờ biển
Machilipatnam gây ảnh hưởng đến sức khỏe của người tiêu thụ, người dân không nên sử dụng cá ở đây làm thực phẩm thường ngày [53]
Ảnh hưởng đến sức khỏe không chỉ riêng từng hóa chất mà ảnh hưởng có thể
là sự tương tác của hai hay nhiều hóa chất nguy hại với nhau Vì vậy đánh giá rủi ro sức khỏe không chỉ dừng lại ở riêng lẻ từng kim loại, mà cần đánh giá sự kết hợp của chúng lại với nhau Nghiên cứu của Joseph o osakwea và cộng sự (2014) tại sông Imo của Negeria Nghiên cứu này đã đánh giá nguy cơ sức khỏe từ KLN (Cd,
Cu, Zn, Ni, Pb và Fe) qua việc tiêu thụ cá trê (Clarias gariepinus) dựa vào thương
số THQs và chỉ số rủi ro HI Kết quả phân tích giá trị thương số THQ của tất cả KLN nhỏ hơn 1, giảm theo thứ tự Cd> Ni> Zn> Fe> Cu> Pb, và giá trị rủi ro của chúng tương ứng là là 0.31, 0.14, 0.019, 0.017, 0.015 và 0.0.01 Giá trị HI là 0.499, thấp hơn 0.5 lần so với giá trị ngưỡng là 1 Kết quả này chỉ ra rằng nguy cơ sức
Trang 22khỏe liên quan đến từng KLN hay kết hợp tất cả kim loại thông qua tiêu thụ cá trê là tương đối thấp vào lúc này Tuy nhiên, do mối nguy hiểm sức khỏe tiềm năng của KLN, hệ thống sông Imo đòi hỏi phải theo dõi để ngăn chặn nguy cơ sức khỏe tốt [43]
Một nghiên cứu khác của P O Ukoha và cộng sự (2014) cũng tại Negria về đánh giá rủi ro sức khỏe của KLN (Cd, Cu, Fe) trong ba loài cá đông lạnh nhập
khẩu được tiêu thụ rộng rãi tại Negria: Sardenlla Syndesis, Scomber Scombrus và
Gadus mangala Nguy cơ sức khỏe của con người về tiêu thụ cá được đánh giá bằng
cách tính thương số nguy hiểm HQ và tổng chỉ số rủi ro THI của độc chất KLN Kết quả phân tích hóa học chỉ ra rằng mức độ tập trung của các yếu tố này trong phạm
vi tương ứng là 0.001 - 0.150 mg /kg; 1.05 - 12.06 mg /kg và 8.21 - 85.06 mg /kg đối với Cd, Cu và Fe Ngoài ra kết quả của đánh giá nguy cơ sức khỏe dựa trên tổng chỉ số nguy hiểm (THI) của tất cả chất độc hại cho thấy không có nguy cơ từ tiêu thụ loài cá được nghiên cứu [51]
1.4.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Tại Việt Nam nghiên cứu về tích lũy KLN chủ yếu tập trung vào động vật thân mềm và thực vật Số lượng những nghiên cứu đánh giá hàm lượng KLN trong động vật có xương sống như cá vẫn còn hạn chế, bài nghiên cứu chưa được công bố rộng rãi Chủ yếu tập trung trong một số nghiên cứu của Nguyễn Quốc Thắng, Nguyễn Thị Diệu Thúy, Mai Thị Xuân Hiếu
Theo nghiên cứu của Nguyễn Quốc Thắng (2010) về xác định hàm lượng Hg,
Se, As trong cá thu (Acanthocybium), cá trích (Clupeidea) ở hai bến cá Cửa Hội
(Nghệ An) và Hộ Độ (Hà Tĩnh) Từ kết quả phân tích có thể kết luận: Hàm lượng nguyên tố Hg, Se nằm dưới ngưỡng cho phép về vệ sinh an toàn thực phẩm theo TCVN và theo tiêu chuẩn thế giới biển ở hai vùng này chưa có dấu hiệu ô nhiễm Hg
và Se Tuy nhiên hàm lượng As trong cá trích ở cả hai vùng cao hơn so với TCVN, điều này có thể là do khả năng tích tụ As cao của loài cá này [25]
Trong nghiên cứu khác của Nguyễn Thị Diệu Thúy (2012) về phân tích đánh giá tổng hàm lượng As trong cá biển trên địa bàn TP Đà Nẵng bằng phương pháp hấp thụ nguyên tử AAS Tác giả tiến hành phân tích làm hai đợt vào 12/3/2012 và
Trang 2330/3/2012 trên 10 loài cá (cá thu, cá chuồn, cá trích, cá ngừ, cá đuối, cá ngân, cá nục, cá nhám, cá phèn, cá chỉ vàng) Kết quả phân tích hai đợt cho thấy hầu hết cá mẫu cá đều nhiễm As Hàm lượng As trong mỗi loại cá ở hai đợt phân tích không khác nhau nhiều Hàm lượng As trong mẫu cá nằm trong giới hạn cho phép, dao động từ 0.01 mg/kg - 0.22 mg/kg Đặc biệt cá phèn và cá đuối có hàm lượng As cao nhất (0.193 mg/kg - 0.215mg/kg) nhưng mức an toàn vẫn nằm trong giới hạn cho phép theo QĐ - BYT 867/BYT (1998) Những loài cá có hàm lượng As thấp hơn là:
cá đuối, cá chuồn, cá ngừ, cá nục, cá trích (0.062 mg/kg - 0.109 mg/kg) và hàm lượng As không đáng kể là cá thu, cá ngân, cá chỉ vàng (0.015-0.058 mg/kg) [26] Một nghiên cứu của Mai Thị Xuân Hiếu (2014) về hàm lượng KLN (Pb, Cd, Cr) trong trầm tích và trong mô một số loài cá ở khu vực cửa Đại thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam Nghiên cứu này đã tiến hành phân tích trên 4 đối tượng gồm cá
Ong Căng (Terapon), cá Liệt lớn (Leiognathus equulus), cá Móm gai dài (Gerres
filamentosus), cá Móm gai ngắn (Gerres lucidus) và trầm tích tại khu vực này Kết
quả phân tích cho thấy hàm lượng Pb, Cd, Cr trong trầm tích tại khu vực nghiên cứu nằm trong giới hạn cho phép của QCVN 43/2012/BTNMT, tuy nhiên khi so sánh với tiêu chuẩn của Canada thì hàm lượng Pb và Cd trong 3 khu vực nghiên cứu đều vượt TCCP Mức độ quan tâm của KLN tại khu vực nghiên cứu được sắp xếp như sau Pb > Cd > Cr Hàm lượng Cd trung bình tích lũy trong mô cá qua 2 đợt thu mẫu đều thấp, điều này cho thấy chưa có ô nhiễm Cd tại khu vực này Tuy nhiên hàm lượng Pb trung bình trong mô cá Liệt lớn, cá Móm gai ngắn, cá Móm gai dài và hàm lượng Cr trong mô loài cá Liệt lớn hầu hết đều vượt tiêu chuẩn Điều đó chứng
tỏ đã có ô nhiễm Pb và Cr trong mô các loài cá trên, vì vậy cần thận trong khi sử dụng những loài này làm thực phẩm cho con người [15]
Đánh giá rủi ro sức khỏe đối với người tiêu thụ thực phẩm đã bắt đầu được nghiên cứu ở Việt Nam, tuy nhiên số lượng nghiên cứu còn ít, chỉ tập trung vào nghiên cứu rủi ro sức khỏe do ô nhiễm môi trường không khí, ô nhiễm KLN trong rau Những nghiên cứu về rủi ro sức khỏe do ô nhiễm KLN trong cá vẫn chưa được tiến hành tại Việt Nam
Lê Thị Hồng Trân, Trần Thị Tuyết Giang (2009) đã bắt đầu nghiên cứu về
Trang 24đánh giá rủi ro sức khỏe do ô nhiễm không khí đối với công nhân tại hai KCN Vĩnh Lộc và KCN Tân Thới Hiệp Trong nghiên cứu này tác giả tập trung vào một số loại
Quotient) Kết quả phân tích cho thấy tại KCN Tân Thới Hiệp thì tại 2 vị trí, thương
đối với sức khoẻ công nhân, thương số nguy hại cho chỉ tiêu bụi lớn hơn 1 (vị trí 1
là 3.128 và vị trí 2 là 3.379) gây rủi ro cao đối với sức khoẻ công nhân Đối với
nguy hại đối với sức khoẻ công nhân, những chỉ tiêu còn lại đều nhỏ hơn 1, không gây nguy hại rủi ro đối với sức khoẻ công nhân Tuy nhiên thương số nguy hại của
Nghiên cứu của Đoạn Chí Cường và cộng sự (2014) tại TP Đà Nẵng được thực hiện để đánh giá rủi ro của KLN khi sử dụng rau muống được trồng tại thôn Trung Sơn Các tác giả đã tiến hành phân tích hàm lượng KLN trong đất và rau, xác định hệ số vận chuyển (TCs) và chỉ số rủi ro sức khỏe (HRI) đối với Cd, Cr và Pb Kết quả cho thấy hàm lượng Cd (0.0202 mg/kg), Cr (1.1046 mg/kg) và Pb (3.38 mg/kg) trong đất đều thấp hơn so với quy định của QCVN 03:2008/BTNMT và QCVN 43:2012/BTNMT Hàm lượng KLN tích lũy trong rau muống cao hơn trong đất: Cd (0.0396 mg/kg), Cr (1.484 mg/kg) và Pb (1.656 mg/kg) do đó hầu hết TCs
>1 Giá trị chỉ số rủi ro HRI trong rau muống thấp hơn 1 cho tất cả KLN tại tất cả điểm thu mẫu nên không có rủi ro về sức khỏe khi sử dụng rau muống được trồng
1.5 CƠ CHẾ HẤP THỤ KLN Ở CÁ
Cá sống ở vùng nước bị ô nhiễm có xu hướng tích tụ KLN trong các mô Nhìn chung sự tích lũy phụ thuộc vào nồng độ kim loại, thời gian tiếp xúc, cách hấp thụ kim loại, điều kiện môi trường (nhiệt độ nước, pH, độ cứng, độ mặn) và yếu tố nội tại (tuổi cá, thói quen ăn uống) Ở loài cá khác nhau thì khả năng tích lũy KLN cũng khác nhau và kim loại khác nhau cho thấy mối quan hệ khác nhau đến các mô cá Hầu hết tích lũy chủ yếu ở gan, thận và mang Thịt cá so với các mô khác thường chứa hàm lượng thấp KLN, tuy nhiên là bộ phận được sử dụng nhiều nhất để làm
Trang 25thực phẩm Tích lũy KLN trong cơ quan của cá có thể gây tổn thương cấu trúc và rối loạn chức năng của cá và gián tiếp ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu thụ [37] Con đường kim loại vào cá phụ thuộc vào đặc điểm hóa lý của môi trường và đặc điểm sinh học của sinh vật Có ba cách kim loại có thể đi vào cơ thể cá: thông qua bề mặt cơ thể, qua mang và đường tiêu hóa Tuy nhiên, bề mặt cơ thể cá ít cho chất nguy hại trong môi đi vào trong bởi da cá có khả năng tiết ra chất dịch nhày giúp ngăn chặn KLN xâm nhập vào cơ thể [55]
KLN hòa tan đi vào cơ thể sinh vật Vai trò sinh lý quan trọng nhất của mang cá là
không khí, một con cá phải chuyển khoảng 20 lít nước qua bề mặt hô hấp để trích xuất cùng một lượng oxy như một động vật có vú để có được 1 lít không khí Điều này có nghĩa rằng một lượng lớn kim loại được truyền tải qua mang bất cứ lúc nào, làm tăng sự hấp thụ kim loại vào cơ thể [62]
Các chất ô nhiễm trong trong trầm tích, chất rắn lơ lửng, sinh vật là thức ăn của cá được hấp thụ vào cá thông qua đường tiêu hóa Cá sử dụng thức ăn bị ô nhiễm sau đó đi vào cơ thể và được hấp thụ bởi thành ruột [55]
Nói chung, kim loại hấp thụ qua da, mang hoặc thành ruột được phân phối thông qua hệ tuần hoàn, liên kết với protein được vận chuyển đến các mô khác nhau của cơ thể Trong mô, kim loại có thể tham gia vào chức năng sống cần thiết nhưng cũng có thể gây những tác động độc hại, hoặc được khử độc bằng cách gắn vào protein, metallothionein [62]
Kim loại không thể được đào thải qua quá trình trao đổi chất, sinh vật phải làm bất hoạt những độc chất hại tiềm tàng Kim loại có thể được bài tiết qua mang, da, ruột, túi mật hoặc thận Bài tiết là một trong những cách giúp sinh vật bảo vệ mình chống lại tác động độc hại của KLN [62]
1.6 TỔNG QUAN VỀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU
vùng kín gió, ít sóng, có 3 con sông chính đổ vào là sông Hàn, sông Phú Lộc, sông
Trang 26Cu Đê [34] Theo niên giám thống kê năm 2013, thành phố Đà Nẵng có diện tích
Trên địa bàn thành phố Đà Nẵng có khoảng 4,500 cơ sở sản xuất công nghiệp Trong đó có khoảng 5.3 % số cơ sở sản xuất công nghiệp có quy mô lớn tập trung tại KCN, phần còn lại là cơ sở sản xuất nhỏ được xây dựng xen kẻ trong những khu dân cư [12] Trong những năm gần đây, thành phố Đà Nẵng được thúc đẩy phát triển công nghiệp, đặc biệt là khu vực Vịnh Đà Nẵng với những ưu thế thuận lợi về điều kiện tự nhiên, có vị thế đặc biệt quan trọng với tài nguyên biển và an ninh quốc phòng trong khu vực Đó là những điều kiện thuận lợi cho việc phát triển cảng biển
và các ngành kinh tế khác như nuôi trồng, đánh bắt hải sản, du lịch và dịch vụ Vùng biển Đà Nẵng có trữ lượng hải sản lớn, khả năng khai thác hàng năm khoảng
60 - 70 ngàn tấn Càng ra vùng nước sâu tỷ lệ cá nổi càng tăng, cá đáy giảm Hiện nay sản lượng khai thác trung bình hàng năm khoảng 25 nghìn tấn, chủ yếu là cá nổi ven bờ Trữ lượng cá ven bờ ở độ sâu dưới 50 m và đặc biệt dưới 30 m trở vào đã khai thác quá mức cho phép, cần phải hạn chế Năm 2013 sản lượng cá biển khai thác được toàn vùng ước tính sơ bộ là 28.1 nghìn tấn [24]
Tuy nhiên hoạt động của KCN, hoạt động giao thông vận tải, du lịch, sinh hoạt
đã xả chất thải vào môi trường gây ô nhiễm môi trường, suy thoái cảnh quan và tài nguyên [24] Chất thải theo dòng sông chính đổ vào Vịnh gây ra nhiều vấn đề về môi trường cũng như sức khỏe người dân sống ven Vịnh, ảnh hưởng đến hoạt động phát triển kinh tế, du lịch trên địa bàn thành phố Theo số liệu của báo cáo môi
[7] Tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng, đặc biệt hàm lượng Zn tại cửa Vịnh tăng gấp
8 lần so với năm 2002, Cu tăng khoảng 5 lần, As khoảng 20 lần, Hg khoảng 8 lần và
Pb khoảng 10 lần [33]
Trang 27CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Trong nghiên cứu, tôi xác định hàm lượng KLN (As, Cd và Pb) trong 6 loài
loài cá được đánh bắt phổ biến tại Vịnh Đà Nẵng: Cá Trích Xương (Sardinella
gibbosa), cá Nục Gai (Decapterus russelli), cá Chai Ấn Độ (Platycephalus indicus),
cá Dìa (Siganus canaliculatus), cá Mòi Cờ Chấm (Konosirus punctatus), cá Đối Đầu Dẹt (Mugil cephalus)
2.1.1 Cá Trích Xương (Sardinella gibbosa)
Cá Trích Xương có tên khoa học là Sardinella gibbosa (Bleeker, 1849) thuộc
họ cá trích (Clupeidae), bộ cá trích (Clupeiformes), lớp cá vây tia (Actinopterygii),
Hình 2 1 Cá Trích Xương (Sardinella gibbosa)
Đặc điểm hình thái: Thân dài, dẹp bên, nhìn bên thân có hình bầu dục dài Đầu tương đối dài Mõm dài vừa phải Mắt hơi to, màng mỡ mắt phát triển Miệng tương đối nhỏ, môi dày Hai hàm không có răng Khoảng cách giữa hai mắt rộng, bằng phẳng Vẩy tròn, dễ rụng Vây hậu môn dài, hai tia vây cuối cùng kéo dài rõ ràng Vây ngực lớn, vây bụng nhỏ Lưng màu xanh lục đậm, bụng màu trắng bạc Vây bụng và vây hậu môn màu trắng, vây ngực và vây đuôi màu vàng nhạt [9], [11] Đặc điểm sinh thái: Cá Trích Xương sống ở biển hay rạn san hô có độ sâu khoảng 10 - 70 m Cá thường sử dụng thực vật phù du và động vật phù du (giáp xác
và ấu trùng thân mềm) làm thức ăn Chế độ ăn thay đổi từ giáp xác ở giai đoạn đầu chuyển sang thực vật phù du tương ứng với sự tăng trưởng về chiều dài [11], [23]
Trang 282.1.2 Cá Nục Gai (Decapterus russelli)
Cá Nục Gai có tên khoa học là Decapterus russelli (Teminck & Schlegel,
1842) thuộc họ cá khế (Carangidae), bộ cá vược (Perciformes), lớp cá vây tia Actinopterygii), ngành động vật có xương sống (Vertebrata) [11]
Hình 2 2 Cá Nục Gai (Decapterus russelli)
Đặc điểm hình thái: Thân hình thoi thuôn dài, hơi dẹp một bên Mắt trung bình, có mô mỡ phát triển gần như phủ toàn mắt Vẩy đầu chỉ phủ ngang mắt Cả hai hàm đều có răng nhỏ Hai vây lưng cách nhau rõ rệt Thân có màu lam lục phía trên, bụng trắng bạc; có những đốm đen nhỏ nơi bờ nắp mang Vây đuôi vàng nhạt đến nâu trong, các vây khác vàng trong, trừ vây ngực màu xậm [11], [40]
Đặc điểm sinh thái: Sống vùng ven biển và ngoài khơi có độ sâu khoảng 100m
vật thân mềm,…[11], [52]
2.1.3 Cá Chai Ấn Độ (Platycephalus indicus )
Cá Chai Ấn Độ có tên khoa học là Platycephalus indicus (Linnaeus, 1758)
thuộc họ cá chai (Platycephalidae), bộ cá mù làn (Scorpaeniformes), siêu lớp cá xương (Osteichthyes), ngành động vật có xương sống (Vertebrata) [11]
Hình 2 3 Cá Chai Ấn Độ (Platycephalus indicus)
Trang 29Đặc điểm hình thái: Thân dài, đầu dẹt và rộng Đường góc và gai trên đầu trơn
và thấp hơn nhiều so với loài cá chai khác Viền sau xương nắp mang trước có hai gai không khác nhau hoặc gai dưới dài hơi gai trên, phía dưới của không có gai ngưc, trên mắt không có vân da Vẩy rất bé, trên vẩy đường bên không có gai Kích thước 100 - 200 mm, lớn nhất 1000 mm [11], [ 46]
Đặc điểm sinh thái: Cá Chai Ấn Độ là loài sống ở tầng đáy của thủy vực có độ sâu từ 20 - 200m, được tìm thấy nhiều ở nhiều ở vùng lãnh hải, vùng cửa sông, cửa biển Thức ăn chủ yếu là động vật giáp xác và cá nhỏ [46]
2.1.4 Cá Dìa (Siganus canaliculatus)
Cá Dìa có tên khoa học là Siganus canaliculatus (Park, 1797) thuộc họ cá dìa
(Siganidae), bộ cá vược (Perciformes), lớp cá vây tia Actinopterygii), ngành động
Hình 2 4 Cá Dìa (Siganus canaliculatus)
Đặc điểm hình thái: Đây là loài da thô, thân dẹp bên Miệng cá nhỏ; răng hàm dày, khít Gai vây lưng cứng Màu cơ bản của cơ thể là màu xanh ô liu ở phần lưng,
cơ thể có đốm màu nâu xẫm đến dưới 2/3 của cơ thể [11]
Đặc điểm sinh thái: Cá Dìa Siganus canaliculatus sống ở vùng ven, rạn san
hô, cửa sông và tong đầm phá lớn với môi trường sống là tảo – xác thực vật Ngoài
ra cá Dìa Siganus canaliculatus phân bố ở các dãy đá và vùng có nhiều thực vật Loài cá dìa Siganus canaliculatus là loài ăn thực vật, tảo, cỏ biển [11]
2.1.5 Cá Mòi Cờ Chấm (Konosirus punctatus)
Cá Mòi Cờ Chấm có tên khoa học là Konosirus punctatus thuộc họ cá trích
(Clupeidae), bộ cá trích (Clupeiformes), lớp cá vây tia (Actinopterygii), ngành động
Trang 30Hình 2 5 Cá mò cờ chấm (Konosirus punctatus)
Đặc điểm hình thái: Cá có thân hình bầu dục dài, dẹp bên Mõm ngắn có vẩy răng cưa Tia vây cuối cùng của vây lưng kéo dài về phía sau Khuyết của hàm trên không rõ Mặt tương đối lớn, trước và sau có màng trong suốt che và chỉ để ở giữa một khe hở nhỏ Vây lưng tương đối lớn Cá có lưng màu xám, hai bên thân và bụng đều trắng Cá lớn ở phía sau nắp mang một chấm đen [9], [11]
Đăc điểm sinh thái: Cá Mòi Cờ Chấm sống ở tầng giữa và tầng trên Khi sống
ở biển, trong dạ dày cá thành phần thức ăn khá đa dạng, chủ yếu là tảo lông chim, giáp xác nhỏ và cặn vẩn Sống ở ven biển đến mùa sinh sản gặp phổ biến ở hạ lưu các sông lớn [11], [23]
2.1.6 Cá Đối Đầu Dẹt (Mugil cephalus)
Cá Đối Đầu Dẹt có tên khoa học là Mugil cephalus (Linnaeus, 1758) thuộc họ
cá đối (Mugilidae), bộ cá đối (Mugiliformes), lớp cá vây tia (Actinopterygii), ngành động vật có xương sống (Vertebrata) [11]
Hình 2 6 Cá Đối Đầu Dẹt (Mugil cephalus)
Đặc điểm hình thái: Thân dài, tương đối tròn Đầu tương đối ngắn, đỉnh đầu bằng phẳng Phía trước của hàm dưới có một gai thịt tương đối lớn Môi trên có một
Trang 31vài răng nhỏ Vây ngực ngắn, không đạt đến khởi điểm của vây lưng thứ nhất Gốc vây ngực có vẩy nách Vây hậu môn có 8 tia vây mềm Lưng có màu xanh ô liu, bụng màu trắng bạc Bên thân có 6 - 7 sọc nâu chạy dọc thân [11]
Đặc điểm sinh thái: Cá thường sinh sống trong vùng nước mặn và nước lợ, nông với độ sâu khoảng 20m nhưng có một vài loài sống trong nước ngọt Thức ăn chủ yếu là các dạng tảo và tảo cát mịn, mảnh vụn của trầm tích đáy Cá đẻ trứng vào cuối mùa thu, đầu mùa đông [11], [61]
2.2 THỜI GIAN VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
2.2.1 Thời gian nghiên cứu
Đề tài được thực hiện từ tháng 6 năm 2014 đến tháng 2 năm 2015, tiến hành thu mẫu làm hai đợt