1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luận văn quản trị kinh doanh Giải pháp tăng cường hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty Cổ phần Tư vấn Kiến trúc Xây dựng TT-Associate

70 370 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 478 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương pháp nghiên cứu Với phương pháp nghiên cứu truyền thống, kết hợp lý luận với thực tiễntrên cơ sử phân tích các hoạt động tài chính của công ty, chuyên đề nhằm nêu rõbản chất, vai

Trang 1

Lời nói đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Trong hoạt động sản xuất kinh doanh của bất kỳ loại hình doanh nghiệpnào, vốn cũng đóng một vai trò hết sức quan trọng Vốn là đòi hỏi đầu tiên vàbắt buộc phải có, là yếu tố không thể thiếu để đảm bảo cho sự tồn tại và pháttriển của doanh nghiệp Doanh nghiệp vừa phải đảm bảo vốn cho hoạt động củamình đồng thời phải không ngừng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Nâng caohiệu quả sử dụng vốn sẽ giúp doanh nghiệp đứng vững trên thị trường, mở rộngsản xuất kinh doanh, nâng cao đời sống cho người lao động, tạo công ăn việclàm, tăng nhanh lợi nhuận Hiệu quả sử dụng vốn cao hay thấp sẽ quyết định đến

sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh khốcliệt như hiện nay

Xuất phát từ những lý do này và nhận thức được những vấn đề trên nên saumột thời gian thực tập tại công ty Cổ phần Tư vấn Kiến trúc Xây dựng TT-As

tôi đã chọn đề tài: “Giải pháp tăng cường hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty

Cổ phần Tư vấn Kiến trúc Xây dựng TT-Associate” làm nội dung nghiên cứu

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng của đề tài là những lý luận và thực tế về tình hình sử dụng vốntại Công ty Cổ phần Tư vấn Kiến trúc Xây dựng TT-As

Trang 2

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là sẽ giới hạn việc nghiên cứu tại Công ty

Cổ phần Tư vấn Kiến trúc Xây dựng TT-As

4 Phương pháp nghiên cứu

Với phương pháp nghiên cứu truyền thống, kết hợp lý luận với thực tiễntrên cơ sử phân tích các hoạt động tài chính của công ty, chuyên đề nhằm nêu rõbản chất, vai trò của vốn trong nền kinh tế thị trường; nguyên tắc và nội dungtrong việc sử dụng vốn của doanh nghiệp đồng thời đưa ra các giải pháp cơ bảnnhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty cổ phần Tư vấn Kiến trúc Xâydựng TT-As

5 Kết cấu của đề tài nghiên cứu

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và mục lục,chuyên đề được chia làm 3 chương:

Chương 1: Lý thuyết chung về hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệpChương 2: Thực trạng sử dụng vốn tại Công ty Cổ phần Tư vấn Kiến trúcXây dựng TT-As

Chương 3: Giải pháp tăng cường hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty cổ phần

Tư vấn Kiến trúc Xây dựng TT-As

CHƯƠNG I

Trang 3

LÝ THUYẾT CHUNG VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TRONG

DOANH NGHIỆP

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của vốn

Vốn là điều kiện không thể thiếu được để một doanh nghiệp được thành lập

và tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh Trong mọi loại hình doanh nghiệp,vốn phản ánh nguồn lực tài chính đầu tư vào sản xuất kinh doanh Tuy nhiên,khi nói về vốn, trên thực tế còn tồn tại rất nhiều quan điểm khác nhau

Theo Marx, dưới góc độ các yếu tố sản xuất, vốn được khái quát hoá thànhphạm trù tư bản K.Marx cho rằng: Vốn (tư bản) là giá trị đem lại giá trị thặng

dư, là đầu vào của quá trình sản xuất Định nghĩa về vốn của K.Marx có một tầmkhái quát lớn vì bao hàm đầy đủ cả bản chất và vai trò của vốn Bản chất củavốn là giá trị cho dù nó được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như: tàisản cố định, nhà cửa, nguyên vật liệu, tiền công Vốn là giá trị đem lại giá trịthặng dư vì nó tạo ra sự sinh sôi về giá trị thông qua các hoạt động sản xuất kinhdoanh Tuy nhiên, do hạn chế về trình độ phát triển lúc bấy giờ, K.Marx đã bóhẹp khái niệm về vốn trong khu vực sản xuất vật chất và cho rằng chỉ có quátrình sản xuất mới tạo ra giá trị thặng dư cho nền kinh tế

Theo P.Samuelson: “Vốn là các hàng hoá được sản xuất ra để phục vụ choquá trình sản xuất mới, là đầu vào của hoạt động sản xuất của một doanh nghiệp(máy móc, trang thiết bị, vật tư, nguyên vật liệu…)

Còn theo D.Begg, tác giả cuốn “kinh tế học”, cho rằng: vốn bao gồm vốnhiện vật và vốn tài chính Vốn hiện vật là dự trữ các hàng hoá, sản phẩm đã sảnxuất ra để sản xuất các hàng hoá khác Vốn tài chính là tiền và các giấy tờ có giácủa doanh nghiệp Theo định nghĩa trên, D.Begg đã đồng nhất vốn với tài sảncủa doanh nghiệp Thực chất vốn của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của tất

cả các tài sản mà doanh nghiệp dùng trong quá trình sản xuất kinh doanh Vốn

Trang 4

của doanh nghiệp được phản ánh trong bảng cân đối tài sản của doanh nghiệp.Bất cứ một doanh nghiệp nào, khi bắt đầu hoạt động cũng cần phải có một lượngvốn nhất định để thực hiện các khoản đầu tư cần thiết như: chi phí thành lậpdoanh nghiệp, mua sắm nguyên vật liệu, đầu tư công nghệ, trả tiền công, lãi vay,nộp thuế…Lượng vốn này đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp được thực hiện liên tục, chi phí mua công nghệ và máy móc, thiết

bị mới…giúp cho doanh nghiệp tái sản xuất mở rộng Qua đó ta thấy vốn đưavào sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có nhiều hình thái vật chất khác nhau

để từ đó tạo ra sản phẩm hàng hoá, dịch vụ tiêu thụ trên thị trường Lượng tiền

mà doanh nghiệp thu về sau quá trình tiêu thụ phải bù đắp được chi phí bỏ raban đầu, đồng thời phải có lãi Quá trình này phải diễn ra liên tục thì mới bảođảm cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp

Trong nền kinh tế thị trường, vốn được coi là một loại hàng hoá Nó giốngcác hàng hoá khác ở chỗ có chủ sở hữu đích thực, song nó có đặc điểm là người

sở hữu vốn có thể bán quyền sử dụng vốn trong một thời gian nhất định Chi phícủa việc sử dụng vốn chính là lãi suất Chính nhờ có sự tách rời quyền sở hữu vàquyền sử dụng nên vốn có thể lưu chuyển trong đầu tư kinh doanh để sinh lợi.Trong mọi doanh nghiệp, vốn đều bao gồm hai bộ phận: vốn chủ sở hữu và nợ;mỗi bộ phận này được cấu thành bởi nhiều khoản mục khác nhau tùy theo tínhchất của chúng Tuy nhiên, việc lựa chọn nguồn vốn trong các doanh nghiệpkhác nhau sẽ không giống nhau, nó phụ thuộc vào một loạt các nhân tố như:

 Trạng thái của nền kinh tế

 Ngành kinh doanh hay lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp

 Quy mô và cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp

 Trình độ khoa học – kỹ thuật và trình độ quản lý

 Chiến lược phát triển và chiến lược đầu tư của doanh nghiệp

 Thái độ của chủ doanh nghiệp

 Chính sách thuế…

Trang 5

Dưới góc độ của doanh nghiệp, vốn là một trong những điều kiện vật chất

cơ bản kết hợp với sức lao động và các yếu tố khác làm đầu vào cho quá trìnhsản xuất kinh doanh Sự tham gia của vốn không chỉ bó hẹp trong quá trình sảnxuất vật chất riêng biệt mà trong toàn bộ quá trình sản xuất và tái sản xuất liêntục suốt thời gian tồn tại của doanh nghiệp, từ khi bắt đầu quá trình sản xuất đầutiên đến chu kỳ sản xuất cuối cùng

Như vậy, ta có thể hiểu vốn là toàn bộ các giá trị ứng ra ban đầu và các quátrình sản xuất tiếp theo Vốn là giá trị tạo ra giá trị thặng dư

1.1.2 Vai trò của vốn trong nền kinh tế thị trường

Để tiến hành bất kỳ một quá trình sản xuất kinh doanh nào thì cũng cần cóvốn Trong nền kinh tế thị trường, vốn là điều kiện tiên quyết, có ý nghĩa quyếtđịnh tới các bước tiếp theo của quá trình sản xuất kinh doanh Doanh nghiệp nàocũng cần phải có vốn trước khi tiến hành sản xuất kinh doanh, sau đó vốn được

sử dụng vào sản xuất kinh doanh, sau một chu kỳ hoạt động nó phải được thu về

để phục vụ cho chu kỳ sản xuất kinh doanh sau Vốn của doanh nghiệp có vaitrò quyết định trong việc tạo ra mọi của cải vật chất và những tiến bộ xã hội, vìvậy nó là nhân tố vô cùng quan trọng để thực hiện quá trình ứng dụng tiến bộkhoa học kỹ thuật, phát triển cơ sở hạ tầng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đẩynhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế Đối với bất kỳ doanh nghiệp nào, mọi hoạtđộng từ việc xác định mục tiêu cho đầu tư dài hạn, tìm nguồn tài trợ cho đếnviệc đưa ra các quyết định tài chính ngắn hạn - tức là ba vấn đề quan trọng đầutiên của doanh nghiệp đều gắn với các hoạt động có liên quan đến vốn Như vậy,vốn là bộ phận không thể thiếu trong quá trình sản xuất kinh doanh và do đóviệc huy động, đảm bảo đầy đủ kịp thời vốn cho nhu cầu sản xuất có ảnh hưởngkhông nhỏ đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Trong cơ chế hành chính cũ, cơ chế bao cấp, nguồn vốn sản xuất kinhdoanh của các xí nghiệp quốc doanh là rất hạn hẹp, ngân sách cấp phát vốn vàngân hàng cho vay với lãi suất ưu đãi Vì thế vai trò đảm bảo vốn của tài chính

xí nghiệp chưa được đặt ra như một vấn đề cấp bách Trong điều kiện của cơ chế

Trang 6

thị trường hiện nay, việc huy động đủ vốn đảm bảo cho quá trình sản xuất kinhdoanh được diễn ra liên tục từ khâu mua sắm vật tư, sản xuất cho đến tiêu thụsản phẩm Hơn nữa, trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp muốn tồn tạithì phải trang bị cho mình các bí quyết, các dây chuyền công nghệ hiện đại đểnâng cao năng suất lao động, bởi vì quy luật cạnh tranh đă đặt ra trước các nhàdoanh nghiệp những yêu cầu rất khắt khe trong sản xuất sản phẩm: phải bánnhững cái mà thị trường cần chứ không phải bán những cái mà mình có Sảnphẩm mà thị trường cần là những sản phẩm tốt, giá hạ, hợp thị hiếu người tiêudùng Để đáp ứng được những yêu cầu này, doanh nghiệp cần phải có nhiềuvốn.

Vốn còn có ý nghĩa quyết định tới quy mô hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp Do sự phát triển của kinh tế thị trường và cách mạng khoa học kỹ thuật,doanh nghiệp muốn mở rộng sản xuất kinh doanh thì nhu cầu vốn càng quantrọng hơn bao giờ hết và có xu hướng tăng không ngừng Nó giúp cho doanhnghiệp có thể tận dụng những cơ hội trong kinh doanh và tạo được lợi thế trongcạnh tranh

Bên cạnh đó, vốn cũng ảnh hưởng đến phạm vi hoạt động hay việc đa dạnghoá nghành nghề kinh doanh của doanh nghiệp.Thông thường khi muốn thamgia kinh doanh một lĩnh vực mới doanh nghiệp phải có một lượng tiền lớn choviệc đầu tư máy móc, thiết bị sản xuất, dây chuyền công nghệ mới, xây dựng hệthống phân phối, tiêu thụ sản phẩm Nếu doanh nghiệp không có nguồn tàichính mạnh thì khó có thể thực hiện được hoạt động này ngay ở những khâu đầutiên như phân tích thị trường, xây dựng phương án kinh doanh Hơn nữa, việcđảm bảo nguồn vốn kinh doanh còn giúp doanh nghiệp chống đỡ được nhữngtổn thất, rủi ro có thể xảy ra trong quá trình hoạt động

Tóm lại, vốn có ý nghĩa rất quan trọng đối với quá trình sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp Đất nước ta sau hai mươi năm thực hiện đổi mới, nềnkinh tế đã ổn định và phát triển Để duy trì được những thành quả đó, giữ vữngnhịp độ tăng trưởng và khắc phục nguy cơ tụt hậu so với các nước trong khu vực

Trang 7

nói riêng, các nước trên thế giới nói chung thì một trong những vấn đề đangđược Nhà nước đặc biệt quan tâm là nguồn vốn cho đầu tư phát triển kinh tế.Trong bối cảnh chung đó, mỗi doanh nghiệp đều phải tích cực khai thác, huyđộng, phát triển nguồn vốn của mình để tạo lợi nhuận cho doanh nghiệp, làmcho doanh nghiệp thực sự trở thành một tế bào quan trọng trong nền kinh tế, gópphần tạo đà thúc đẩy nền kinh tế đất nước đi lên.

1.1.3 Phân loại vốn

Có rất nhiều cách phân loại vốn khác nhau, tuỳ theo loại hình doanh nghiệp

và các đặc điểm cụ thể mà mỗi doanh nghiệp có thể có các phương thức tạo vốn

và huy động vốn khác nhau Trong nền kinh tế thị trường, các phương thức huyđộng vốn của doanh nghiệp được đa dạng hóa nhằm khai thác mọi nguồn vốntrong nền kinh tế Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, trong hoàn cảnh cụ thể ở ViệtNam, do thị trường tài chính chưa phát triển hoản chỉnh nên việc khai thác và sửdụng vốn có những nét đặc trưng nhất định Do đó, người ta phân loại vốn theocác tiêu thức khác nhau:

1.1.3.1 Phân loại theo tính chất sở hữu

a. Nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp

Đối với mọi loại hình doanh nghiệp, vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp baogồm các bộ phận chủ yếu: Vốn góp ban đầu; Lợi nhuận không chia; Tăng vốnbằng cách phát hành cổ phiếu mới

Vốn góp ban đầu:

Khi doanh nghiệp mới thành lập bao giờ chủ doanh nghiệp cũng phải cómột số vốn ban đầu nhất định do các cổ đông - chủ sở hữu góp vốn Khi nói lênnguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp bao giờ cũng phải xem xét hình thức sởhữu của doanh nghiệp đó, vì hình thức sở hữu sẽ quyết định tính chất và hìnhthức tạo vốn của bản thân doanh nghiệp

Đối với doanh nghiệp Nhà nước, vốn góp ban đầu chính là vốn đầu tư củangân sách Nhà nước Chủ sở hữu của các doanh nghiệp Nhà nước là Nhà nước

Trang 8

Hiện nay, cơ chế quản lý tài chính nói chung và quản lý nguồn vốn của doanhnghiệp Nhà nước nói riêng đang có những thay đổi để phù hợp với tình hìnhthực tế.

Đối với doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp thì chủ doanhnghiệp phải có một số vốn ban đầu cần thiết để xin đăng ký thành lập doanhnghiệp Đối với công ty Cổ phần, nguồn vốn do các cổ đông đóng góp là yếu tốquyết định để hình thành công ty Mỗi cổ đông là một chủ sở hữu của công ty vàchỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trên giá trị số cổ phần mà họ nắm giữ Tuy nhiên,các công ty cổ phần cũng có một số dạng tương đối khác nhau, do đó cách thứchuy động vốn cổ phần cũng khác nhau Trong các loại hình doanh nghiệp khácnhư công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài(FDI), các nguồn vốn cũng tương tự như trên; tức là vốn có thể do chủ đầu tư bỏ

ra, do các bên tham gia, các đối tác góp… Tỷ lệ và quy mô góp vốn của các bêntham gia công ty phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau (như luật pháp, đặc điểmngành kinh tế - kỹ thuật, cơ cấu liên doanh)

Lợi nhuận không chia:

Quy mô vốn ban đầu của chủ doanh nghiệp là một yếu tố quan trọng Tuynhiên, số vốn này cần được tăng theo quy mô phát triển của doanh nghiệp.Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, nếu hoạt động có hiệu quả thìdoanh nghiệp sẽ có những điều kiện thuận lợi để tăng trưởng nguồn vốn Nguồnvốn tích luỹ từ lợi nhuận không chia là bộ phận lợi nhuận được sử dụng để táiđầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Đây là một phương thứctạo nguồn tài chính quan trọng và khá hấp dẫn của các doanh nghiệp, vì doanhnghiệp giảm được chi phí, giảm bớt sự phụ thuộc vào bên ngoài Rất nhiềudoanh nghiệp coi trọng chính sách tái đầu tư từ lợi nhuận để lại, họ đặt ra mụctiêu phải có một khối lượng lợi nhuận để lại đủ lớn nhằm tự đáp ứng nhu cầuvốn ngày càng tăng

Nguồn vốn tái đầu tư từ lợi nhuận để lại chỉ có thể thực hiện được nếu nhưdoanh nghiệp đã và đang hoạt động và có lợi nhuận, được phép tiếp tục đầu tư

Trang 9

Đối với các doanh nghiệp Nhà nước thì việc tái đầu tư phụ thuộc không chỉ vàokhả năng sinh lời của bản thân doanh nghiệp mà còn phụ thuộc vào chính sáchtái đầu tư của Nhà nước

Tuy nhiên, đối với công ty cổ phần thì việc giữ lại lợi nhuận không chiaphụ thuộc vào một số yếu tố rất nhạy cảm Khi công ty giữ lại một phần lợinhuận trong năm cho tái đầu tư, điều đó đồng nghĩa với việc công ty không dùng

số lợi nhuận đó để chia lãi cổ phần, các cổ đông không được nhận tiền lãi cổphần (cổ tức), nhưng bù lại họ có quyền sở hữu số vốn cổ phần tăng lên củacông ty

Như vậy, giá trị ghi sổ của các cổ phiếu sẽ tăng lên cùng với việc tài trợbằng nguồn vốn nội bộ Điều này một mặt, khuyến khích cổ đông giữ cổ phiếulâu dài, nhưng mặt khác, dễ làm giảm tính hấp dẫn của cổ phiểu trong thời kỳtrước mắt (ngắn hạn) do cổ đông chỉ nhận được một phần cổ tức nhỏ hơn Nếu

tỷ lệ chi trả cổ tức thấp, hoặc số lãi ròng không đủ hấp dẫn thì giá cổ phiếu cóthể bị giảm sút

Khi giải quyết vấn để cổ tức và tái đầu tư, chính sách phân phối cổ tức củacông ty cổ phần phải lưu ý đến một số yếu tố có liên quan như:

 Tổng số lợi nhuận ròng trong kỳ

 Mức chia lãi trên một cổ phiếu của các năm trước

 Sự xếp hạng cổ phiếu trên thị trường và tính ổn định của thị giá cổ phiếucủa công ty, tâm lý và đánh giá của công chúng về cổ phiếu đó

 Hiệu quả của việc tái đầu tư

Phát hành cổ phiếu.

Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp có thể tăng vốn chủ sởhữu bằng cách phát hành thêm cổ phiếu mới Đây là một kênh huy động vốn dàihạn rất quan trọng cho công ty thông qua thị trường chứng khoán Phát hành cổphiếu được gọilà hoạt động tài trợ dài hạn của doanh nghiệp Có hai loại cổphiếu cơ bản là cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi

Trang 10

Cổ phiếu thường:

Cổ phiếu thường (cổ phiếu thông thường) là loại cổ phiếu thông dụng nhất

vì nó có những ưu thế trong việc phát hành ra công chúng và quá trình lưu hànhtrên thị trường chứng khoán Cổ phiếu thường là chứng khoán quan trọng nhấtđược trao đổi mua bán trên thị trường chứng khoán Vì vậy nó là công cụ tàichính quan trọng nhất trên thị trường chứng khoán Mặc dù việc phát hành cổphiếu có nhiều ưu thế so với các phương thức huy động vốn khác nhưng cũng cónhững hạn chế và các ràng buộc cần được doanh nghiệp cân nhắc kỹ lưỡng.Lượng cổ phiếu tối đa mà công ty được quyền phát hành gọi là vốn cổ phiếuđược cấp phép Đây là một trong những quy định của Ủy ban chứng khoán Nhànước nhằm quản lý và kiểm soát chặt chẽ các hoạt động phát hành và giao dịchchứng khoán Muốn tăng vốn cổ phần thì trước hết cần phải được đại hội cổđông cho phép, sau đó phải hoàn tất những thủ tục quy định khác

Sau khi phát hành, phần lớn những cổ phiếu nằm trong tay các nhà đầu tư(các cổ đông) Những cổ phiếu này được gọi là những cổ phiếu đang lưu hànhtrên thị trường Tuy nhiên có thể chính những công ty phát hành lại mua lại số

cổ phiếu của mình và giữ chúng nhằm mục đích nào đó Những cổ phiếu nàyđược gọi là cổ phiếu ngân quỹ, được coi như tạm thời không lưu hành Việc mualại hoặc bán ra những cổ phiếu này phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: tình hìnhcân đối vốn và khả năng đầu tư; tình hình biến động thị giá chứng khoán trên thịtrường; chính sách đối với việc sát nhập hoặc thôn tính công ty (chống thôntính); tình hình trên thị trường chứng khoán và quy định của Ủy ban chứngkhoán Nhà nước; mệnh giá và thị giá

Cổ phiếu ưu tiên:

Cổ phiếu ưu tiên chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng số cổ phiếu được pháthành Tuy nhiên trong một số trường hợp, việc dùng cổ phiếu ưu tiên tỏ ra làphù hợp hơn cả Cổ phiếu ưu tiên có đặc điểm là nó thường có cổ tức cố định,người mua cổ phiếu này có quyền được thanh toán lãi trước các cổ đông thường.Nếu số lãi chỉ đủ để trả cổ tức cho các cổ đông ưu tiên thì các cổ đông thường sẽ

Trang 11

không nhận được cổ tức của kỳ đó Việc giải quyết chính sách cổ tức được nêu

rõ trong điều lệ công ty

Phần lớn các công ty cổ phần đều quy định rõ: công ty có nghĩa vụ trả hết

số lợi tức chưa thanh toán của các kỳ trước cho các cổ đông ưu tiên, sau đó mớithanh toán cho các cổ đông thường Các cổ phiếu ưu đãi có thể được chính công

ty phát hành thu hồi lại (chuộc lại) khi công ty thấy cần thiết

Hạn chế của cổ phiếu ưu tiên là cổ tức được lấy từ lợi nhuận sau thuế, khácvới chi phí lãi vay được giảm trừ khi tính thuế thu nhập công ty

Các công ty thường cố gắng cân bằng giữa nợ và vốn chủ sở hữu để giữvững khả năng thanh toán, củng cố uy tín tài chính Khi tỷ lệ nợ ở mức thấp, nếucần vốn thì các công ty thường chọn cách phát hành trái phiếu tức là tăng nợ (màkhông tăng vốn bằng cách phát hành cổ phiếu) Nếu tỷ lệ nợ ở mức cao, công typhải tránh việc tăng thêm tỷ lệ nợ và chọn cách phát hành cổ phiếu Tuy nhiên,thực tế các công ty không quan tâm nhiều đến việc giữ một mức cân bằng chínhxác Việc điều chỉnh vốn chủ sở hữu và các khoản nợ thường ngẫu hứng và linhhoạt

Ngoài ra, vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp có thể được bổ sung từ phầnchênh lệch đánh giá lại tài sản cố định và chênh lệch tỷ giá

b. Nợ của doanh nghiệp

Để bổ sung vốn cho quá trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp có thể sửdụng nợ từ các nguồn: tín dụng ngân hàng, tín dụng thương mại hoặc vay thôngqua phát hành trái phiếu

Nguồn vốn tín dụng ngân hàng và tín dụng thương mại.

Có thể nói rằng nguồn vốn vay ngân hàng là một trong những nguồn vốnquan trọng nhất không chỉ đối với sự phát triển của bản thân các doanh nghiệp

mà còn đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân Sự hoạt động và phát triển của cácdoanh nghiệp đều gắn liền với các dịch vụ tài chính do các ngân hàng thươngmại cung cấp trong đó có việc cung ứng các nguồn vốn tín dụng

Trang 12

Không một doanh nghiệp nào không vay vốn ngân hàng hoặc không sửdụng tín dụng thương mại nếu doanh nghiệp đó muốn tồn tại vững chắc trên thịtrường Trong quá trình hoạt động, các doanh nghiệp thường vay vốn ngân hàng

để đảm bảo nguồn tài chính cho hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt là đảmbảo có đủ vốn cho các dự án mở rộng hoặc đầu tư chiều sâu của doanh nghiệp.Nguồn vốn tín dụng ngân hàng có nhiều ưu điểm nhưng cũng có nhiều hạnchế nhất định Đó là các điều kiện về hạn mức tín dụng, kiểm soát của ngânhàng, chi phí sử dụng vốn (lãi suất)

Các doanh nghiệp muốn vay tại các ngân hàng thương mại cần đáp ứngđược các yêu cầu đảm bảo an toàn tín dụng của ngân hàng Doanh nghiệp phảixuất trình hồ sơ vay vốn và những thông tin cần thiết mà ngân hàng yêu cầu.Một khi doanh nghiệp vay vốn ngân hàng thì doanh nghiệp cũng phải chịu sựkiểm soát của ngân hàng về mục đích và tình hình sử dụng vốn vay Và nếu lãisuất vay quá cao thì doanh nghiệp phải gánh chịu chi phí sử dụng vốn lớn vàlàm giảm thu nhập của doanh nghiệp

Vì vậy bên cạnh việc sử dụng nguồn vốn tín dụng ngân hàng các doanhnghiệp cũng thường khai thác nguồn vốn tín dụng thương mại hay còn gọi là tíndụng của nhà cung cấp Nguồn vốn này hình thành một cách tự nhiên trong quan

hệ mua bán chịu, mua bán trả chậm hay trả góp Nguồn vốn tín dụng thương mại

có ảnh hưởng to lớn không chỉ với các doanh nghiệp mà cả với toàn bộ nền kinh

tế Trong một số công ty, nguồn vốn tín dụng thương mại dưới dạng các khoảnphải trả có thể chiếm tới 20% tổng nguồn vốn, thậm chí có thể chiếm tới 40%tổng nguồn vốn Nguồn vốn tín dụng thương mại là một phương thức tài trợ rẻ,tiện dụng và linh hoạt trong kinh doanh; hơn nữa nó còn tạo khả năng mở rộngcác quan hệ hợp tác kinh doanh một cách lâu bền Các điều kiện rằng buộc cụthể có thể được ấn định trong khi hai bên ký kết hợp đồng mua bán hay hợpđồng kinh tế nói chung Tuy nhiên cần nhận thấy tính chất rủi ro của quan hệ tíndụng thương mại khi quy mô tài trợ quá lớn

Trang 13

Trong xu hướng hiện nay ở Việt Nam cũng như trên thế giới, các hình thứctín dụng ngày càng được đa dạng hóa và linh hoạt hơn, với tính chất cạnh tranhhơn, do vậy các doanh nghiệp cũng có nhiều cơ hội để lựa chọn nguồn vốn tàitrợ cho hoạt động của doanh nghiệp.

Phát hành trái phiếu công ty

Trái phiếu (hay còn gọi là trái khoán) là một tên chung của các giấy vay nợtrung và dài hạn Có hai loại trái phiếu cơ bản là trái phiếu Chính phủ và tráiphiếu công ty Thời hạn phổ biến nhất của trái phiếu thường có thời hạn 1 năm,

3 năm, 5 năm và 10 năm; rất ít công ty phát hành trái phiếu có kỳ hạn tới 20năm Một trong những vấn đề cần xem xét trước khi phát hành là lựa chọn loạitrái phiếu nào phù hợp nhất với điều kiện cụ thể của doanh nghiệp và tình hìnhtrên thị trường tài chính Việc lựa chọn trái phiếu thích hợp là rất quan trọng vìliên quan đến chi phí trả lãi, cách thức trả lãi, khả năng lưu hành và tính hấp dẫncủa trái phiếu

 Trái phiếu có lãi suất cố định:

Đây là loại trái phiếu thường được sử dụng nhiều nhất, phổ biến nhất trongcác loại trái phiếu doanh nghiệp Lãi suất được ghi ngay trên mặt trái phiếu vàkhông thay đổi trong suốt kỳ hạn của nó Để huy động vốn trên thị trường bằngtrái phiếu, doanh nghiệp phải tính đến mức độ hấp dẫn của trái phiếu Tính hấpdẫn phụ thuộc và các yếu tố như: lãi suất của trái phiếu; kỳ hạn của trái phiếu và

uy tín của doanh nghiệp

Trong việc phát hành trái phiếu cũng cần chú ý đến mệnh giá vì nó có thểliên quan đến sức mua của dân chúng Đặc biệt, ở Việt Nam khi phát hành tráiphiếu, doanh nghiệp cần xác định một mức giá vừa phải để nhiều người có thểmua được, tạo sự lưu thông dễ dàng cho trái phiếu trên thị trường

 Trái phiếu có lãi suất thay đổi:

Đây là loại trái phiếu có lãi suất phụ thuộc vào một số nguồn lãi suất quantrọng khác Trong điều kiện thị trường có mức lạm phát khá cao và lãi suất

Trang 14

không ổn định, doanh nghiệp có thể khai thác tính ưu việt của loại trái phiếunày Do các biến động của lạm phát kéo theo sự dao động của lãi suất thực, cácnhà đầu tư mong muốn được hưởng một lãi suất thỏa đáng khi so sánh với tìnhhình thị trường

Tuy nhiền, nó cũng có một số nhược điểm như: doanh nghiệp không thểbiết chắc chắn về chi phí lãi vay của trái phiếu, điều này gây khó khăn cho việclập kế hoạch tài chính Ngoài ra, việc quản lý trái phiếu đòi hỏi tốn nhiều thờigian hơn do doanh nghiệp phải thông báo các lần điều chỉnh lãi suất

 Trái phiếu có thể thu hồi:

Một số doanh nghiệp lựa chọn cách phát hành những trái phiếu có thể thuhồi, tức là doanh nghiệp có thể mua lại vào một thởi gian nào đó Trái phiếu nhưvậy được quy định ngay khi phát hành để người mua trái phiếu được biết.Doanh nghiệp phải quy định rõ về thời hạn và giá cả khi doanh nghiệp chuộc lạitrái phiếu

Loại trái phiếu này có thể được sử dụng như một cách điều chỉnh lượngvốn sử dụng Khi không cần thiết, doanh nghiệp có thể mua lại các trái phiếu,tức là giảm số vốn vay Doanh nghiệp có thể thay đổi nguồn tài chính do pháthành trái phiếu loại này bằng một nguồn tài chính khác thông qua mua lại cácloại trái phiếu đó

 Chứng khoán có thể chuyển đổi:

Các doanh nghiệp thường phát hành những chứng khoán kèm theo nhữngđiều kiện có thể chuyển đổi được Sự lựa chọn và chuyển đổi cho phép cả doanhnghiệp lẫn người đầu tư có thể lựa chọn cách thức đầu tư thích hợp và có lợi

Có hai loại hình thức chuyển đổi chính: giấy bảo đảm và trái phiếu chuyểnđổi

Giấy bảo đảm: người sở hữu giấy bảo đảm có thể mua một số lượng cổphiếu thường, được quy định trước với giá cả và thời gian xác định

Trang 15

Trái phiếu chuyển đổi: là loại trái phiếu cho phép có thể chuyển đổi thànhmột số lượng nhất định các cổ phiếu thường Nếu thị giá cổ phiếu tăng lên thìngười giữ trái phiếu có cơ may nhận được lợi nhuận cao.

1.1.3.2 Phân loại theo cơ cấu vốn kinh doanh của doanh nghiệp

Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sảnhữu hình và vô hình được đầu tư vào kinh doanh nhằm mục đích sinh lời Theocách phân loại này thì vốn của doanh nghiệp được phia thành vốn cố định vàvốn lưu động

a. Vốn cố định

Bất kỳ một hàng hoá nào cũng có hai thuộc tính là giá trị và giá trị sử dụng,

nó cũng là đối tượng để trao đổi buôn bán trên thị trường Như vậy, trong nềnkinh tế thị trường để mua sắm tài sản cố định trước hết phải có một số vốn ứngtrước.Vốn tiền tệ ứng trước để mua sắm tài sản cố định hữu hình hoặc những chiphí đầu tư cho tài sản cố định không có hình thái vật chất được gọi là vốn cốđịnh của doanh nghiệp

Vốn cố định là khoản vốn đầu tư ứng trước về tài sản cố định; quy mô tàisản cố định được quyết định bởi quy mô của vốn cố định Song đặc điểm vậnđộng của tài sản cố định lại quyết định đến đặc điểm tuần hoàn và chu chuyểncủa vốn cố định Trên ý nghĩa của mối quan hệ đó ta có thể khái quát những nétđặc thù về sự vận động của vốn cố định trong sản xuất kinh doanh như sau:Vốn cố định được tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất Sở dĩ có đặc điểmnày do tài sản cố định có thể được phát huy trong nhiều chu kỳ sản xuất Vì thếvốn cố định - hình thái biểu hiện bằng tiền của nó cũng tham gia vào nhiều chu

kỳ sản xuất tương ứng

Vốn cố định được luân chuyển dần dần từng phần vào giá trị sản phẩm Khitham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, giá trị sử dụng của tài sản giảm dần.Theo đó vốn cố định cũng được tách thành hai phần: một phần sẽ tham gia vàochi phí sản xuất kinh doanh (dưới hình thức chi phí khấu hao) tương ứng với

Trang 16

giảm dần giá trị sử dụng tài sản cố định; phần còn lại của vốn cố định được cốđịnh trong nó Trong các chu kỳ sản xuất kinh doanh kế tiếp, nếu như phần vốnluân chuyển dần dần được tăng lên thì phần vốn cố định lại dần dần giảm đitương ứng với mức suy giảm dần giá trị sử dụng của tài sản cố định Kết thúc sựbiến thiên nghịch chiều đó, cũng là lúc tài sản cố định hết thời gian sử dụng vàvốn cố định hoàn thành một vòng luân chuyển.

Như vậy, trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn cố định được luânchuyển dần dần từng phần, vì thế phải sau một thời gian dài vốn cố định mớihoàn thành được một vòng luân chuyển Như vậy ta có thể nói vốn cố định củadoanh nghiệp là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước về tài sản cố định, màđặc điểm của nó là luân chuyển dần dần từng phần trong nhiều chu kỳ sản xuất

và hoàn thành một vòng tuần hoàn khi tài sản cố định đã hết thời gian sử dụng.Tài sản cố định của doanh nghiệp không những bao gồm toàn bộ tài sản cốđịnh hiện có thuộc sở hữu doanh nghiệp được hình thành từ các nguồn vốn khácnhau mà còn bao gồm các tài sản cố định doanh nghiệp đi thuê dài hạn của bênngoài (thuê tài sản)

Tài sản cố định hữu hình: là những tài sản có tính chất vật chất như nhàcửa, vật kiến trúc, máy móc, thiết bị

Tài sản cố định vô hình: là tài sản cố định không có hình thái vật chất, lànhững giá trị biểu hiện những quyền của doanh nghiệp như quyền đặc nhượng,quyền sử dụng, giá trị bằng phát minh sáng chế, lợi thế thương mại Ngoài ra,phần này cũng gồm những giá trị đã được đầu tư như chi phí thành lập doanhnghiệp, chi phí chuẩn bị sản xuất kinh doanh, chi phí nghiên cứu

Tài sản cố định thuê dài hạn: là những tài sản mà doanh nghiệp có do thuêtheo hợp đồng thuê; quyền sở hữu tài sản cố định được chuyển cho bên đi thuêkhi hết hạn hợp đồng hoặc bên đi thuê có thể mua được tài sản cố định với giátrị tài sản cố định thuê tại một thời điểm nào đó hoặc vào lúc kết thúc hợp đồng.Hao mòn luỹ kế tài sản cố định: là toàn bộ giá trị hao mòn của của 3 loại tàisản nêu trên

Trang 17

Đầu tư dài hạn bao gồm vốn góp liên doanh bằng bất cứ hình thái nào (hiệnvật hay tiền), đầu tư chứng khoán dài hạn (cổ phiếu, trái phiếu), và đầu tư dàihạn khác (đặc biệt là đầu tư kinh doanh bất động sản).

Trong các doanh nghiệp, vốn cố định là một bộ phận quan trọng của vốnđầu tư nói riêng và của vốn sản xuất nói chung Quy mô vốn cố định và trình độquản lý sử dụng nó là nhân tố ảnh hưởng quyết định đến trình độ trang bị kỹthuật của sản xuất kinh doanh Do ở một vị trí then chốt và đặc điểm vận độngcủa nó lại tuân theo tính quy luật riêng, nên việc quản lý và sử dụng vốn cố địnhmột cách có hiệu quả được coi là trọng điểm của công tác tài chính doanhnghiệp

b. Vốn lưu động

Bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn tiến hành sản xuất kinh doanh ngoài tưliệu lao động còn phải có đối tượng lao động Đối tượng lao động khi tham giavào quá trình sản xuất không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu; bộ phận chủyếu của đối tượng lao động thông qua quá trình chế biến để hợp thành thực thểcủa sản phẩm, bộ phận khác sẽ hao phí mất đi trong quá trình sản xuất; đốitượng lao động chỉ có thể tham gia vào một chu kỳ sản xuất, đến chu kỳ sản xuấtsau lại phải dùng đối tượng lao động khác Vì vậy toàn bộ toàn bộ giá trị của đốitượng lao động được chuyển dịch toàn bộ một lần vào sản phẩm và được bù đắpkhi giá trị sản phẩm được thực hiện

Đối tượng lao động trong doanh nghiệp được biểu hiện thành hai bộ phận:một bộ phận là những vật tư dự trữ để chuẩn bị cho quá trình sản xuất được liêntục như nguyên nhiên vật liệu…một bộ phận khác chính là những vật tư đangtrong quá trình chế biến như sản phẩm đang chế tạo, bán thành phẩm Hai bộphận này biểu hiện dưới hình thái vật chất gọi là tài sản lưu động Để phục vụcho quá trình sản xuất còn cần phải dự trữ một số công cụ dụng cụ và phụ tùngthay thế, vật đóng gói cũng được coi là tài sản lưu động Mặt khác, quá trình sảnxuất của doanh nghiệp luôn gắn liền với quá trình lưu thông Trong quá trình lưuthông còn phải tiến hành một số công việc như chọn lọc, đóng gói, xuất giao sản

Trang 18

phẩm và thanh toán Do đó hình thành một số khoản hàng hoá và tiền tệ trongkhâu lưu thông.

Tài sản lưu động nằm trong quá trình sản xuất và tài sản lưu động nằmtrong quá trình lưu thông thay chỗ nhau vận động không ngừng nhằm đảm bảocho quá trình tái sản xuất được tiến hành liên tục và thuận lợi Như vậy, doanhnghiệp nào cũng cần một số vốn thích đáng để đầu tư vào tài sản lưu động, sốtiền ứng trước của những tài sản lưu động được gọi là vốn lưu động của doanhnghiệp

Tài sản lưu động là những tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp màthời gian sử dụng, luân chuyển, thu hồi thường dưới một năm hoặc một chu kỳkinh doanh Trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp, tài sản lưu độngđược thể hiện ở các bộ phận tiền mặt, các loại chứng khoán thanh khoản cao,phải thu và dự trữ tồn kho Đối với các doanh nghiệp kinh doanh thương mại thìgiá trị của tài sản lưu động thường chiếm tỉ trọng lớn trong tổng giá trị tài sảncủa doanh nghiệp

Tài sản lưu động bao gồm:

 Vốn bằng tiền: gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng và các khoản tiềnđang chuyển Tài khoản “tiền mặt” bao gồm tiền mặt, ngân phiếu, ngoại tệ, vàngbạc đá quý

 Đầu tư ngắn hạn: là việc bỏ vốn mua chứng khoán có giá trị hoặc góp vốnliên doanh bằng tiền, hiện vật có thể thu hồi kịp thời trong một chu kỳ kinhdoanh hoặc trong khoản thời gian không quá một năm như tín phiếu kho bạc,trái phiếu, kỳ phiếu ngân hàng và các khoản đầu tư khác không quá một năm

 Các khoản phải thu bao gồm phải thu từ khách hàng, phải thu nội bộ, thếchấp ký cược ký quỹ

 Dự phòng phải thu khó đòi: các khoản phải thu khó đòi phát sinh tại tàikhoản này được coi là chi phí trong kỳ

Trang 19

 Tam ứng cho công nhân viên và chi phí trả trước ( chi phí đã phát sinhnhưng có tác dụng đến kết quả của nhiều kỳ hạch toán được tính vào chi phí củanhiều kỳ).

 Vật tư hàng hoá tồn kho: bao gồm vật tư, hàng hoá, thành phẩm, giá trịsản phẩm dở dang Doanh nghiệp có thể sử dụng một trong các phương phápnhư giá bình quân gia quyền, giá đích danh, giá nhập trước xuất trước hoặc giánhập sau xuất trước để dánh giá tồn kho Riêng sản phẩm dở dang và thànhphẩm thì được đánh giá theo chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm

Ngoài ra, tài sản lưu động còn bao gồm các khoản chi phí sự nghiệp dởdang hoặc đã kết thúc nhưng đang chờ quyết toán Chi phí sự nghiệp là nhữngkhoản chi phí của doanh nghiệp cho những công việc, những hoạt động đượctrang trải bằng nguồn kinh phí do ngân sách Nhà nứơc cấp hoặc cấp trên phát.Vốn lưu động luôn được chuyển hoá thành nhiều hình thái khác nhau, bắtđầu từ hình thái tiền tệ sang hình thái dự trữ vật tư hàng hoá và cuối cùng lại trở

về hình thái tiền tệ ban đầu của nó Quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra liêntục không ngừng cho nên vốn lưu động cũng không ngừng tuần hoàn và có tínhchất chu kỳ

Do sự chu chuyển không ngừng nên vốn lưu động thường xuyên có các bộphận tồn tại cùng một lúc dưới các hình thái khác nhau trong các lĩnh vực sảnxuất và lưu thông

Tóm lại, vốn lưu động của doanh nghiệp là số tiền ứng trước về tài sản lưuđộng nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp được thực hiệnthường xuyên, liên tục Vốn lưu động luân chuyển toàn bộ giá trị ngay trong mộtlần, tuần hoàn liên tục và hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ sảnxuất Vốn lưu động là điều kiện vật chất không thể thiếu được trong quá trình táisản xuất Trong cùng một lúc, vốn lưu động của doanh nghiệp được phân bổ trênkhắp các giai đoạn luân chuyển và tồn tại dưới các hình thái khác nhau Muốncho quá trính tái sản xuất được liên tục thì doanh nghiệp cần phải có đủ vốn lưuđộng đầu tư vào các hình thái khác nhau đó, khiến cho các hình thái có được

Trang 20

mức tồn tại hợp lý và đồng bộ với nhau Như vậy sẽ khiến cho việc chuyển hoáhình thái của vốn trong quá trình luân chuyển được thuận lợi Nếu như doanhnghiệp nào đó không đủ vốn thì tổ chức sử dụng vốn sẽ gặp khó khăn và do đóquá trình sản xuất cũng bị trở ngại hoặc gián đoạn.

Trong các doanh nghiệp vấn đề tổ chức và quản lý vốn lưu động có một vaitrò quan trọng Doanh nghiệp sử dụng vốn lưu động càng có hiệu quả thì càng

có thể sản xuất được nhiều sản phẩm tức là càng tổ chức được tốt quá trình muasắm, quá trình sản xuất và tiêu thụ, phân bổ hợp lý vốn trên các giai đoạn luânchuyển để vốn đó chuyển biến nhanh từ một loại này thành một loại khác, từhình thái này sang hình thái khác thì tổng vốn lưu động sẽ tương đối ít hơn màđạt hiệu quả cao hơn

1.1.3.3 Phân loại theo nguồn hình thành

c Vốn liên doanh, liên kết

Là vốn do doanh nghiệp liên kết với các doanh nghiệp khác trong và ngoàinước để thực hiện quá trình sản xuất kinh doanh Do nhiều yếu tố phức tạp chiphối nên cần phải quy định chặt chẽ và đầy đủ trên giấy tờ về quyền lợi và nghĩa

vụ của mỗi bên

d Vốn vay

Trang 21

Gồm những khoản vay từ ngân hàng, các tổ chức tín dụng, vay cán bộ côngnhân viên trong doanh nghiệp, vay nước ngoài, phát hành trái phiếu

1.1.3.4 Phân loại theo nội dung vật chất

Căn cứ vào nội dung vật chất, vốn kinh doanh được chia thành vốn thực vàvốn tài chính

a Vốn thực

Là bộ phận vốn được biểu hiện dưới dạng toàn bộ hàng hoá phục vụ chosản xuất kinh doanh và dịch vụ khác như máy móc, thiết bị, đường xá Các tàisản này phản ánh hình thái vật chất của vốn, nó tham gia trực tiếp vào hoạt độngkinh doanh

b Vốn tài chính

Là bộ phận vốn được biểu hiện dưới hình thái tiền, chứng khoán và cácgiấy tờ có giá trị khác Phần vốn này phản ánh phương diện tài chính của vốn,

nó tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua hoạt động đầu tư

1.1.3.5 Phân loại theo phạm vi huy động vốn

Căn cứ vào phạm vi huy động vốn, nguồn vốn kinh doanh của doanhnghiệp được chia làm 2 nguồn sau:

a Nguồn vốn bên trong doanh nghiệp

Là nguồn vốn mà doanh nghiệp có thể huy động được từ hoạt động của bảnthân doanh nghiệp, bao gồm lợi nhuận giữ lại, các khoản dự trữ, dự phòng

b. Nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp

Là nguồn vốn mà doanh nghiệp có thể huy động từ bên ngoài để đáp ứngcho nhu cầu sản xuất kinh doanh, bao gồm vốn vay ngân hàng, vốn vay các tổchức kinh tế, phát hành trái phiếu, nợ nhà cung cấp và các khoản nợ khác

Cách phân loại này chủ yếu giúp cho việc xem xét tình hình huy động vốncủa doanh nghiệp đang hoạt động và mỗi hình thức phân loại có những ưunhược điểm riêng

Trang 22

Huy động vốn bên trong có ý nghĩa rất quan trọng cho sự phát triển củadoanh nghiệp, doanh nghiệp hoàn toàn tự chủ trong viêc sử dụng vốn trong quátrình sản xuất kinh doanh nhưng có hạn chế là dễ đi đến tình trạng sử dụng vốnkém hiệu quả.

Huy động vốn từ bên ngoài có ưu điểm là tạo cho doang nghiệp một cơ chếtài chính linh hoạt, chi phí sử dụng vốn có giới hạn, nếu doanh nghiệp đạt mứcdoanh lợi cao thì không phải chia phần lợi nhuận cao đó Nhưng có hạn chế làdoanh nghiệp phải trả lợi tức tiền vay và hoàn trả tiền vay đúng thời hạn Nếudoanh nghiệp sử dụng vốn kém hiệu quả hoặc bối cảnh kinh tế thay đổi theochiều hướng bất lợi thì nợ vay sẽ trở thành gánh nặng cho doanh nghiệp vàdoanh nghiệp phải chịu rủi ro lớn

1.2 HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TRONG DOANH NGIỆP

1.2.1 Khái niệm hiệu quả sử dụng vốn

Có rất nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả sử dụng vốn trong doanhnghiệp, mỗi cách đánh giá đều đưa ra những quan niệm từ nhiều khía cạnh và từmỗi một thị trường khác nhau

Trong thời kỳ bao cấp thì quan niệm về hiệu quả sử dụng vốn rất lệch lạc

và hầu như chưa có nhận thức nhiều về vấn đề này vì mọi hoạt động đều do Nhànước chỉ đạo và bao cấp, đó là một thị trường không có sự cạnh tranh, không cóđộng lực của sự thúc đẩy phát triển Quan niệm của họ về hiệu quả sử dụng vốnchỉ là sự hoàn thành kế hoạch Nhà nước giao cho sao cho đúng hạn, đúng kếhoạch Một số ít kinh doanh thì chỉ dừng lại ở hiệu quả sử dụng vốn là kinhdoanh làm sao có lãi chứ chưa có nhận thức sâu sắc

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay quan niệm về hiệu quả sử dụngvốn đã được nhận thức một cách hoàn thiện hơn bởi nền kinh tế thị trường làmột nền kinh tế của sự cạnh tranh, chỉ có sự canh tranh thì mới có thể tồn tại vàkinh doanh hiệu quả Hiệu quả sử dụng vốn hay cũng chính là hiệu quả sản xuất

Trang 23

kinh doanh của một doanh nghiệp được đánh giá trên hai góc độ là hiệu quảkinh tế và hiệu quả xã hội Để đạt được cả hai tính hiệu quả trên thì bản thândoanh nghiệp trước tiên phải có sự nhận thức và có chiến lược kinh doanh hiệuquả, sau đó là những giải pháp của chính doanh nghiệp nhằm đưa hiệu quả sảnxuất hay cũng chính là hiệu quả sử dụng vốn một cách tốt nhất Trong quanniệm của các nhà kinh doanh thì hiệu quả sử dụng vốn là chiến lược kinh doanhhiệu quả nhất, với chi phí thấp nhất mà đưa lại lợi nhuận cao nhất, đó là chiếnlược đưa dòng vốn vào lưu thông một cách hiệu quả nhất, dòng vốn luôn luônchảy và không bị ứ đọng Vì thế việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là yêu cầumang tính thường xuyên và bắt buộc đối với các doanh nghiệp Đánh giá hiệuquả sử dụng vốn sẽ giúp ta thấy được hiệu quả hoạt động kinh doanh nói chung

và quản lý hiệu quả sử dụng vốn nói riêng

Để đánh giá kết quả kinh doanh của một doanh nghiệp hay đánh giáquy mô của doanh nghiệp, chất lượng của một doanh nghiệp thì có rất nhiềucách đánh giá, rất nhiều chỉ tiêu khác nhau nhưng một chỉ tiêu không thể thiếuđược và rất quan trọng đó là hiệu quả sử dụng vốn Hiệu quả sử dụng vốn củadoanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ khai thác, sử dụng vàquản lý nguồn vốn làm cho đồng vốn sinh lời tối đa nhằm mục tiêu cuối cùngcủa doanh nghiệp là tối đa hoá giá trị tài sản của chủ sở hữu

Hiệu quả sản xuất kinh doanh bao gồm hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội,

mà ở đây hiệu quả kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sao cho đạthiệu quả kinh tế cao nhất với chi phí thấp nhất Do vậy các nguồn lực kinh tếđặc biệt là nguồn vốn của doanh nghiệp có tác động rất lớn đến hiệu quả kinhdoanh của doanh nghiệp

Xét riêng về chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn thì nó bao gồm khá nhiềuchỉ tiêu nhỏ như : tốc độ luân chuyển của vốn, khả năng sinh lời, tỷ suất lợinhuận trên chi phí nó phản ánh mối quan hệ giữa đầu ra và đầu vào hay cụ thểhơn đó là mối tưong quan giữa chi phí bỏ ra và lợi nhuận thu được Chi bỏ racàng thấp mà lợi nhuận thu về càng lớn thì đó là biểu hiện rõ nhất của hiệu quả

Trang 24

sử dụng vốn Ngoài ra những chỉ tiêu như tốc độ lưu thông của vốn cũng là mộtchỉ tiêu quan trọng để đánh giá, tốc độ lưu thông càng cao thì chứng tỏ dòng vốnlưu thông luôn luôn tốt, khả năng sinh lời cao, vốn không bị ứ đọng và chứng tỏrằng chiến lược sử dụng vốn của doanh nghiệp là rất tốt Do vậy chiến lược nângcao hiệu quả sử dụng vốn phải luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu của các doanhnghiệp, muốn vậy doanh nghiệp phải đảm bảo các điều kiện :

- Đảm bảo cho tốc độ quay vòng của vốn cao nhất, dòng vốn luônluôn trong lưu thông, tránh để vốn ứ đọng nhàn rỗi, qua đó khai thác các nguồnlực một cách triệt để

- Có chiến lược đầu tư và sử dụng vốn một cách hiệu quả và hợp lýnhất, tránh đầu tư dàn trải và để thất thoát vốn, tối thiểu hoá chi phí và tối đa hoálợi nhuận

- Luôn luôn hoàn thiện công tác quản lý trong doanh nghiệp, đặc biệt

là tăng cường giám sát việc sử dụng vốn trong khi đầu tư và trong quá trình sảnxuất kinh doanh

Ngoài ra doanh nghiệp phải thường xuyên phân tích đánh giá hiệu quả

sử dụng vốn để có giải pháp kịp thời cho từng trường hợp, khắc phục hạn chế

và phát huy cao nhất những ưu điểm, lợi thế của mình

Có hai phương pháp để đánh giá phân tích tài chính cũng như phân tíchhiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp, đó là phương pháp so sánh và phươngpháp phân tích tỷ lệ

* Phương pháp so sánh

Phương pháp so sánh là phương pháp đưa ra các con số cụ thể củatừng thời kỳ, từng giai đoạn rồi qua đó so sánh để phân tích và đưa ra kết luận,tìm ra các nguyên nhân cụ thể và từ đó đề ra các biện pháp chiến lược để khắcphục và phát huy một cách tốt nhất những thành quả đã đạt được

Phương pháp so sánh yêu cầu các chỉ tiêu tài chính, các đại lượng phảithống nhất về không gian, thời gian, nội dung, tính chất và đơn vị tính toán…và

Trang 25

theo mục đích phân tích mà xác định gốc so sánh Xác định kỳ phân tích hay sosánh, kỳ báo cáo hay kỳ kế hoạch phải chính xác và tuân theo những quy tắcnhất định Gốc so sánh được chọn là gốc về thời gian, không gian, kỳ phân tíchđược chọn là kỳ báo cáo hoặc kế hoạch, giá trị so sánh có thể được lựa chọnbằng số tuyệt đối hoặc số tương đối, bình quân.

Nội dung so sánh bao gồm:

+ So sánh giữa số thực kỳ này với số thực kỳ trước để thấy được xuhướng thay đổi về tài chính doanh nghiệp, đánh giá sự tăng trưởng hay thua lỗtrong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

+ So sánh giữa số kế hoạch với số thực thực tế đạt được để thấy đượcdoanh nghiệp đã hoàn thành kế hoạch như thế nào, có vượt chỉ tiêu hay khônghay là kinh doanh thua lỗ so với kế hoạch đề ra

+ So sánh giữa số liệu của doanh nghiệp với số liệu trung bình củangành, hoặc so sánh với số liệu của các doanh nghiệp khác cùng ngành để thấy

rõ được sự tăng trưởng và phát triển của doanh nghiệp trong nền kinh tế nóichung và trong ngành nói riêng

+ So sánh theo chiều dọc để xem xét từng chỉ tiêu so với tổng thể, sosánh theo chiều ngang của nhiều kỳ để thấy được sự biến đổi cả về số tương đối

và số tuyệt đối của một chỉ tiêu nào đó qua các niên độ kế toán lien tiếp

* Phương pháp phân tích tỷ lệ

Với phương pháp này sẽ cho ta những tỷ lệ nhất định giữa số liệu của

kỳ này với số liệu của kỳ trước, giữa số liệu của doanh nghiệp với số liệu củangành và với ngành khác, ua đó ta thấy được tỷ lệ đầu tư, tỷ lệ hiệu quả sử dụngvốn, tỷ lệ tăng trưởng … của doanh nghiệp trong từng kỳ, từng quý, và cả năm.Trong phân tích tài chính doanh nghiệp, các tỷ lệ tài chính được phân thànhcác nhóm tỷ lệ đặc trưng, phản ánh những mục tiêu cơ bản theo mục tiêu hoạtđộng của doanh nghiệp Cụ thể là nhóm tỷ lệ về khả năng thanh toán, nhóm tỷ lệ

về cơ cấu và nguồn vốn, nhóm tỷ lệ về năng lực hoạt động kinh doanh, nhóm tỷ

Trang 26

lệ về khả năng sinh lời, mỗi nhóm tỷ lệ lại bao gồm nhiều tỷ lệ phản ánh riêng lẻtừng bộ phận của hoạt động tài chính, trong mỗi trường hợp khác nhau tuỳ theogiác độ phân tích mà người ta lựa chọn những nhóm chỉ tiêu khác nhau.

Nói chung mỗi phương pháp đều có những ưu nhược điểm khác nhau

và đưa ra được những đánh giá từ những khía cạnh và những góc độ khác nhau.Không nên chỉ sử dụng một phương pháp nào đó bởi nó sẽ không thể đưa rađược đầy đủ những đánh giá, không phản ánh đúng thực trạng kinh doanh và tốc

độ phát triển của doanh nghiệp từ nhiều khía cạnh Hai phương pháp này chúng

bổ sung lẫn cho nhau tạo nên sự đánh giá một cách chính xác về doanh nghiệp,phản ánh đúng thực tế phát triển của doanh nghiệp

Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp có tồn tại và phát triển đượchay không phụ thuộc vào việc doanh nghiệp đó có tạo ra được lơi nhuận haykhông Như vậy, mục tiêu chủ yếu của hoạt động kinh doanh của các doanhnghiệp là tối đa hoá giá trị tài sản cho chủ sở hữu Để đạt tới lợi nhuận kỳ vọngtối đa các doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao trình độ quản lý sản xuấtkinh doanh; đặc biệt quản lý và sử dụng vốn là một bộ phận rất quan trọng có ýnghĩa quyết định đến kết quả, hiệu quả lao động của doanh nghiệp Hơn nữa, khichuyển sang cơ chế hạch toán kinh doanh độc lập, được trao quyền chủ độngtrong việc sử dụng vốn, trách nhiệm bảo toàn và phát triển vốn, các doanhnghiệp Nhà nước cần phải quan tâm đúng mức đến hiệu quả sử dụng vốn

Hiệu quả sử dụng vốn trong một doanh nghiệp là một phạm trù kinh tếphản ánh trình độ, năng lực khai thác và sử dụng vốn của doanh nghiệp vào hoạtđộng sản xuất kinh doanh nhằm mục đích tối đa hoá lợi ích và tối thiểu hoá chiphí Một doanh nghiệp có hiệu quả sử dụng vốn cao đồng nghĩa với việc doanhnghiệp làm ăn có lãi, hiệu quả sản xuất kinh doanh cao Trong nền kinh tế thịtrường, đây là một nhân tố quyết định đến khả năng mở rộng sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp cả về chiều rộng và chiều sâu Nói cách khác, khi phânchia vốn vào các mục đích sử dụng một cách hợp lý và được bảo toàn, doanhnghiệp có thể tiết kiệm được vốn, tránh lãng phí và tạo uy tín với đối tác, làm ăn

Trang 27

có hiệu quả Muốn vậy, các doanh nghiệp phải thường xuyên đánh giá mình vềphương diện sử dụng vốn, qua đó thấy được chất lượng quản lý sản xuất kinhdoanh, khả năng khai thác các tiềm năng sẵn có, biết được mình đang ở giaiđoạn nào trong quá trình phát triển của doanh nghiệp.

1.2.2 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn của công ty cổ phần

Có rất nhiều các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn của công ty cổphần; tuy nhiên trong giới hạn của một chuyên đề thực tập tốt nghiệp tôi chỉ nêu

ra được một số nhóm chỉ tiêu chủ yếu ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụngvốn của công ty cổ phần

1.2.2.1 Một số chỉ tiêu chung.

Vốn bao gồm vốn cố định và vốn lưu động, do vậy với mỗi loại chúngcũng có những chỉ tiêu đánh giá riêng, ngoài ra còn có rất nhiều chỉ tiêu tổngquát để đánh giá chung Tuy vào mỗi loại vốn mà sử dụng chỉ tiêu nào hợp lý.Sau đây là một số chỉ tiêu chung:

- Hiệu quả sử dụng tổng tài sản.

Trang 28

doanh nghiệp thu được hay cũng chính là hiệu quả sử dụng vốn của doanhnghiệp Chỉ tiêu này còn gọi là tỷ lệ hoàn vốn đầu tư.

- Doanh lợi vốn chủ sở hữu.

Lợi nhuận

Doanh lợi vốn chủ sở hữu =

Vốn chủ sở hữu

Chỉ tiêu này đánh giá khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu

Đây là những chỉ tiêu tổng quát đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của doanhnghiệp, tuy đây mới chỉ là những chỉ tiêu tổng quát xong đôi khi nó cũng đãphản ánh được toàn bộ hiệu quả sử dụng vốn và kinh doanh của doanh nghiệp.Tuy nhiên để đánh giá cụ thể từng chỉ tiêu, trong từng khâu kinh doanh sảnxuất thì phải dung đến những chỉ tiêu cụ thể hơn của từng loại tài sản, từng loạivốn, có như vậy mới đánh giá một cách chính xác nhất, cụ thể nhất tình hình củadoanh nghiệp

1.2.2.2 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định.

Trước tiên là những chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định,vốn cố định có vai trò rất quan trọng đối với doanh nghiệp, nó là tiền đề để cóthể hình thành doanh nghiệp và là cơ sở để sản xuất kinh doanh, do vậy các chỉtiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định cũng rất quan trọng, nó có thể ảnhhưởng đến quá trình sản xuất của doanh nghiệp nếu như đánh giá không đúnghoặc đánh giá sai lệch về nó

Các chỉ tiêu sau:

- Hiệu quả sử dụng tài sản cố định.

Doanh thu thuần

Hiệu quả sử dụng tài sản cố định =

Trang 29

Nguyên giá bình quân tài sản cố địnhThông qua đánh giá của chỉ tiêu này ta biết được một đồng tài sản cố địnhtạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần.

- Suất hao phí tài sản cố định.

Nguyên giá bình quân tài sản cố định

Suất hao phí tài sản cố định = Doanh thu thuần

-Qua đánh giá chỉ tiêu này cho ta biết để tạo ra một đồng doanh thu thuầnthì phải bỏ ra bao nhiêu đồng nguyên giá tài sản cố định Hệ số này càng nhỏcàng tốt

Đây là hai chỉ tiêu đánh giá khá tổng quát chưa cho những kết quả chínhxác về hiệu suất sử dụng tài sản cố định

- Suất sinh lời của tài sản cố định.

- Hệ số đổi mới tài sản cố định.

Giá trị tài sản tăng mới trong kỳ

Hệ số đổi mới TSCĐ =

Giá trị TSCĐ có ở cuối kỳ

- Hệ số loại bỏ TSCĐ.

Trang 30

Giá trị TSCĐ lạc hậu - Giảm trong kỳ

Hệ số loại bỏ TSCĐ =

Giá trị TSCĐ có ở đầu kỳ

Đây là hai chỉ tiêu cũng dùng để đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản cố địnhnhưng đây chỉ là hai chỉ tiêu phụ và chủ yếu chúng đánh giá về tình hình tài sảncủa doanh nghiệp, cũ hay mới, còn sử dụng được hay không, và đánh giá vềtrình độ tiến bộ khoa học kỹ thuật của doanh nghiệp

Còn hai chỉ tiêu nữa để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định cũng đượcdoanh nghiệp rất hay dùng nữa là: hiệu suất sử dụng và hiệu quả sử dụng vốn cốđịnh

Hai chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của vốn cố định

Đây là những chỉ tiêu mà doanh nghiệp dùng để đánh giá hiệu quả sử dụngvốn cố định, mỗi chỉ tiêu đều đưa ra một đánh giá nhất định và tuỳ vào từngtrường hợp cụ thể mà doanh nghiệp sử dụng chỉ tiêu nào cho phù hợp

1.2.2.3 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vôn lưu động.

Vốn lưu động là khoản vốn đặc biệt quan trọng đối với doanh nghiệp trongquá trình duy trì sản xuất kinh doanh, do vậy việc đánh giá các chỉ tiêu hiệu quả

Trang 31

sử dụng vốn lưu động có tính chất quyết định đến sự tồn tại của doanh nghiệp,nếu đánh giá đúng doanh nghiệp sẽ có hướng kinh doanh đúng.

Các chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động là:

- Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động.

Vốn lưu động bình quân trong kỳ

Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động = Doanh thu thuần

-Đánh giá chỉ tiêu này cho biết để tạo ra một đồng doanh thu thuần thì cầnbao nhiêu đồng vốn lưu động, hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng cao thì chỉ sốnày càng nhỏ

- Sức sinh lời của vốn lưu động.

Lợi nhuận

Sức sinh lời của vốn lưu động = Vốn lưu động bình quân trong kỳ

- Số vòng quay của vốn lưu động.

Doanh thu thuần

Số vòng quay của vốn lưu động = Vốn lưu động bình quân trong kỳĐây là chỉ tiêu khá quan trọng để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động,chỉ tiêu cho biết tốc độ quay vòng của vốn, điều này thể hiện khả năng tân dụng

-và sử dụng vốn của doah nghiệp có hiệu quả hay không, vốn luôn luôn sinh lờihay là đang trong tình trạng ứ đọng Chỉ tiêu này phần nào cho ta đánh giá đượctình hình kinh doanh hiện tại của doanh, số vòng quay của vốn càng cao thìchứng tỏ doanh nghiệp sử dụng rất có hiệu quả và thu được lợi nhuận cao Chỉtiêu này còn được gọi là hệ số luân chuyển vốn lưu động nó cho biết vốn lưuđộng quay được mấy vòng trong kỳ

Trang 32

- Thời gian của một vòng lưu chuyển.

Thời gian của một kỳ phân tích Thời gian vốn lưu chuyển một vòng = -

Số vòng quay vốn lưu động trong kỳChỉ tiêu này cho biết thời gian vốn lưu động lưu chuyển một vòng là baolâu, chỉ tiêu này càng nhỏ thì chứng tỏ tốc độ luân chuyển của vốn là càng lớn

và chứng tỏ doanh nghiệp đang kinh doanh rất tốt, linh vực kinh doanh củadoanh nghiệp đưa lại lợi nhuận cao và thời gian thu hồi vốn là khá nhanh Khi

mà tốc độ thu hồi vốn càng nhanh thì doanh nghiệp càng có nhiều cơ hội đầu tưhơn, thu được nhiều lợi nhuận hơn

- Tỷ suất thanh toán ngắn hạn.

và kinh doanh của doanh nghiệp là khá ổn định

- Tỷ suất thanh toán tức thời.

Trang 33

chính khá vững chắc và hiệu quả kinh doanh là rất tốt.

- Thời gian một vòng quay các khoản thu.

Thời gian kỳ phân tích

Thời gian một vòng quay =

các khoản thu Số vòng quay các khoản thu

Chỉ tiêu cho biết để thu hồi các khoản thu cần một thời gian là bao nhiêu,nếu số ngày mà lớn hơn thời gian bán chịu quy định cho khách hang thì việc thuhồi các khoản thu là chậm

Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động còn rất nhiều chỉ tiêu khác nữanhư: Tỷ suất tài trợ, tỷ suất đầu tư, tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu…

Đối với mỗi doanh nghiệp thì không nhất thiết phải bắt buộc dung một chỉtiêu nào đó mà tuỳ vào loại hình kinh doanh hay lĩnh vực kinh doanh, sản phẩmkinh doanh mà sử dụng chỉ tiêu nào, tỷ suất thanh toán ngắn hạn hay tức thời,thời gian hoàn vốn hay khả năng thanh toán…

Nói chung doanh nghiệp dù là có vốn lưu động hay vốn cố định lớn hơn thìcũng phải sử dụng tất cả các chỉ tiêu của cả hai loại sao cho phù hợp và đánh giámột cách chính xác nhất tình hình sử dụng vốn của mình, có thế doanh nghiệpmới kịp thời đưa ra được các giải pháp cụ thể để điều chỉnh, đưa doanh nghiệptrở lại quỹ đạo và kinh doanh ngày càng phát triển

1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn

Để hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đạt hiệu quả cao thìdoanh nghiệp phải xác định phương hướng, mục tiêu trong việc sử dụng vốncũng như các nguồn lực sẵn có khác Muốn vậy, các doanh nghiệp cần phải nắmbắt được các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh, hiệu quả sử dụng vốn

cả về xu hướng và mức độ của nó

Trang 34

1.2.3.1 Những nhân tố khách quan

 Môi trường tự nhiên

Là toàn bộ yếu tố tự nhiên tác động đến doanh nghiệp như khí hậu thời tiết,môi trường Các điều kiện làm việc trong môi trường tự nhiên thích hợp sẽ làmtăng năng suất lao động và tăng hiệu quả công việc

 Môi trường kinh tế

Là tác động của các yếu tố như tăng trưởng kinh tế, thu nhập quốc dân, lạmphát, thất nghiệp, lãi suất, tỉ giá hối đoái…đến các hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp Chẳng hạn, trong nền kinh tế có lạm phát sức mua củađồng tiền giảm sút nên dẫn đến sự tăng giá của các loại vật tư hàng hóa…Vìvậy, nếu doanh nghiệp không kịp thời điều chỉnh giá trị các loại tài sản đó thì sẽlàm cho vốn của doanh nghiệp bị mất dần theo tốc độ giảm giá của tiền

 Môi trường pháp lý

Là hệ thống các chủ trương, chính sách, hệ thống pháp luật của Nhà nướctác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Trên cơ sở phápluật kinh tế và các biện pháp kinh tế, Nhà nước tạo môi trường cho các doanhnghiệp phát triển sản xuất kinh doanh và hướng các hoạt động đó theo kế hoạch

vĩ mô Với bất kỳ thay đổi nào trong chế độ chính sách hiện hành đều chi phốicác mảng hoạt động của doanh nghiệp Các văn bản pháp luật về tài chính; vềquy chế đầu tư như các quy định về trích khấu hao, về tỷ lệ trích lập các quỹ;các văn bản về thuế … đều ảnh hưởng lớn tới hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp

 Môi trường chính trị văn hóa

Tất cả mọi hoạt động của doanh nghiệp đều hướng tới khách hàng; do đócác phong tục tập quán của khách hàng sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp hoạt động trong môitrường văn hóa lành mạnh, chính trị ổn định thì hiệu quả hoạt động sản xuấtkinh doanh sẽ được nâng cao

Trang 35

 Môi trường khoa học công nghệ

Là sự tác động của các yếu tố như trình độ tiến bộ khoa học công nghệ kỹthuật Doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả thì cần phải nắm bắt được côngnghệ hiện đại vì công nghệ hiện đại sẽ giúp doanh nghiệp tăng năng suất, giảmchi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm và tính cạnh tranh…

 Môi trường cạnh tranh

Cơ chế thị trường là cơ chế có sự cạnh tranh gay gắt; bất cứ doanh nghiệpnào muốn tồn tại và phát triển cũng đều phải đứng vững trong cạnh tranh.Doanh nghiệp sản xuất ra sản phẩm căn cứ vào nhu cầu hiện tại và cả trongtương lai để sản phẩm cạnh tranh có chất lượng cao, giá thành hạ mà điều nàychỉ có được ở những doanh nghiệp có hàm lượng khoa học công nghệ kỹ thuậtcao Vì vậy doanh nghiệp phải có kế hoạch đầu tư cải tạo, đầu tư mới tài sản cốđịnh trước mắt cũng như lâu dài

 Nhân tố giá cả

Đây là nhân tố do doanh nghiệp quyết định nhưng lại phụ thuộc vào mứcchung của thị trường Khi giá cả tăng, các kết quả kinh doanh tăng dẫn đến hiệuquả sử dụng vốn tăng; đồng thời sự biến động về giá cả sẽ làm cho hoạt độngsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn gây ảnh hưởng đếnhiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp

1.2.3.1.Những nhân tố chủ quan

Ngoài các nhân tố khách quan, còn nhiều nhân tố làm ảnh hưởng đến hiệuquả sử dụng vốn là do chính bản thân doanh nghiệp tạo nên Nhân tố này gồmnhiều yếu tố tác động trực tiếp đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh cảtrước mắt và lâu dài Bởi vậy, việc xem xét, đánh giá và ra quyết định đối vớicác yếu tố này là hết sức cần thiết Thông thường, chúng bao gồm các yếu tốsau:

a. Trình độ quản lý vốn của doanh nghiệp

Ngày đăng: 15/06/2015, 16:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Công ty Cổ phần Tư vấn Kiến trúc xây dựng TT-As, Báo cáo Kết quả hoạt động kinh doanh năm 2006 Khác
2. Công ty Cổ phần Tư vấn Kiến trúc xây dựng TT-As, Báo cáo Kết quả hoạt động kinh doanh nâm 2007 Khác
3. Báo cáo Tài chính Công ty Cổ phần Tư vấn Kiến trúc xây dựng TT-As năm 2006 Khác
4. Báo cáo Tài chính Công ty Cổ phần Tư vấn Kiến trúc xây dựng TT-As năm 2007 Khác
5. Giáo trình tài chính doanh nghiệp - chủ biên PTS. Lưu Thị Hương - Khoa Ngân hàng - Tài chính. Trường ĐH KTQD Khác
6. Giáo trình Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh – Khoa Kế toán. Trường ĐH KTQD Khác
7. Giáo trình: Tiền tệ, Ngân hàng & Thị trường Tài chính - Frederic S.Mishkin - Người dịch: Nguyễn Quang Cư, PTS Nguyễn Đức Dy Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ bộ máy của công ty : - luận văn quản trị kinh doanh Giải pháp tăng cường hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty Cổ phần Tư vấn Kiến trúc Xây dựng TT-Associate
Sơ đồ b ộ máy của công ty : (Trang 41)
Bảng 1. Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2006 - luận văn quản trị kinh doanh Giải pháp tăng cường hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty Cổ phần Tư vấn Kiến trúc Xây dựng TT-Associate
Bảng 1. Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2006 (Trang 47)
Bảng 2. Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2007. - luận văn quản trị kinh doanh Giải pháp tăng cường hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty Cổ phần Tư vấn Kiến trúc Xây dựng TT-Associate
Bảng 2. Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2007 (Trang 48)
Bảng 4. Tình hình đảm bảo nguồn vốn kinh doanh của công ty. - luận văn quản trị kinh doanh Giải pháp tăng cường hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty Cổ phần Tư vấn Kiến trúc Xây dựng TT-Associate
Bảng 4. Tình hình đảm bảo nguồn vốn kinh doanh của công ty (Trang 54)
Bảng 5.  Cơ cấu tài sản cố định của công ty - luận văn quản trị kinh doanh Giải pháp tăng cường hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty Cổ phần Tư vấn Kiến trúc Xây dựng TT-Associate
Bảng 5. Cơ cấu tài sản cố định của công ty (Trang 55)
Bảng 6. Hiệu quả sử dụng tài sản cố định. - luận văn quản trị kinh doanh Giải pháp tăng cường hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty Cổ phần Tư vấn Kiến trúc Xây dựng TT-Associate
Bảng 6. Hiệu quả sử dụng tài sản cố định (Trang 56)
Bảng 9. Hiệu quả sử dụng vốn lưu động - luận văn quản trị kinh doanh Giải pháp tăng cường hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty Cổ phần Tư vấn Kiến trúc Xây dựng TT-Associate
Bảng 9. Hiệu quả sử dụng vốn lưu động (Trang 59)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w