1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

HIỆN TRẠNG ĐA DẠNG SINH HỌC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

37 6K 23
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hiện trạng đa dạng sinh học ở Việt Nam hiện nay
Thể loại Báo cáo
Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 197 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo Công ước về Đa dạng sinh học (ĐDSH) được đưa ra năm 1992[1] tại hội nghị Liên hợp quốc về môi trường và sự phát triển

Trang 1

BÁO CÁO RÀ SOÁT, ĐÁNH GIÁ VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT TRONG

LĨNH VỰC BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC

I HIỆN TRẠNG ĐA DẠNG SINH HỌC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

1 Khái niệm Đa dạng sinh học

Theo Công ước về Đa dạng sinh học (ĐDSH) được đưa ra năm 1992[1] tại hội nghị Liên hợp quốc về môi trường và sự phát triển, ĐDSH được định nghĩa là toàn bộ sự phong phúcủa các thế giới sống và các tổ hợp sinh thái mà chúng là thành viên, bao gồm sự đa dạngbên trong và giữa các loài và sự đa dạng của các hệ sinh thái Mức độ ĐDSH của một quần xã sinh vật thể hiện ở 3 dạng: đa dạng về loài – là tính đa dạng các loài trong một vùng; đa dạng di truyền – là sự đa dạng về gen trong một loài; đa dạng hệ sinh thái – là

sự đa dạng về môi trường sống của các sinh vật trong việc thích nghi với điều kiện tự nhiên của chúng Tính đa dạng là một phạm trù bao trùm toàn bộ các thành phần tạo ra của hệ sinh thái đảm bảo sự duy trì một hệ sinh thái đa dạng và phong phú

Theo Luật ĐDSH năm 2008 của Việt Nam, ĐDSH được định nghĩa như sau: “ĐDSH là

sự phong phú về gen, loài sinh vật và hệ sinh thái trong tự nhiên” (khoản 5 Điều 3) Có thể nhận thấy rằng khái niệm ĐDSH theo pháp luật của Việt Nam cụ thể, rõ ràng và chính xác hơn so với khái niệm trong Công ước ĐDSH nêu trên Điều này thể hiện ở một

số điểm như: (i) Luật ĐDSH xác định rõ sự phong phú về “gen” còn Công ước ĐDSH lạinêu chung chung là “sự đa dạng bên trong”; (ii) Luật ĐDSH xác định rõ đa dạng về “loài sinh vật” chứ không chỉ là “các loài” như trong Công ước ĐDSH; (iii) Luật ĐDSH xác định rõ sự đa dạng về gen, loài sinh vật và hệ sinh thái trong “tự nhiên” còn Công ước ĐDSH chưa nêu rõ ý này Bên cạnh đó, Luật ĐDSH còn định nghĩa “Bảo tồn đa dạng sinh học” là việc bảo vệ sự phong phú của các hệ sinh thái tự nhiên quan trọng, đặc thù hoặc đại diện; bảo vệ môi trường sống tự nhiên thường xuyên hoặc theo mùa của loài hoang dã, cảnh quan môi trường, nét đẹp độc đáo của tự nhiên; nuôi, trồng, chăm sóc loàithuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; lưu giữ và bảo quản lâu dài các mẫu vật di truyền (khoản 1 Điều 3)

2 Khái quát thực trạng Đa dạng sinh học của Việt Nam hiện nay

Việt Nam được biết đến như là một trung tâm ĐDSH của thế giới với các hệ sinh thái tự

Trang 2

nhiên phong phú và đa dạng Nằm ở vùng Đông Nam châu Á với diện tích khoảng

330.541 km2, Việt Nam là một trong 16 nước có tính đa dạng sinh học cao trên thế giới (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2002 - Chiến lược quốc gia quản lý hệ thống khu bảo tồn của Việt Nam 2002 - 2010) Đặc điểm về vị trí địa lý, khí hậu của Việt Nam đã góp phần tạo nên sự đa dạng về hệ sinh thái và các loài sinh vật Về mặt địa sinh học, Việt Nam là giao điểm của các hệ động, thực vật thuộc vùng Ấn Độ - Miến Điện, Nam Trung Quốc và Inđo - Malaysia Các đặc điểm trên đã tạo cho nơi đây trở thành mộttrong những khu vực có tính ĐDSH cao của thế giới, với khoảng 10% số loài sinh vật, trong khi chỉ chiếm 1% diện tích đất liền của thế giới (Bộ Nông nghiệp và phát triển nôngthôn, 2002 - Báo cáo quốc gia về các khu bảo tồn và Phát triển kinh tế) ĐDSH có vai trò rất quan trọng đối với việc duy trì các chu trình tự nhiên và cân bằng sinh thái Đó là cơ

sở của sự sống còn và thịnh vượng của loài người và sự bền vững của thiên nhiên trên tráiđất Theo ước tính giá trị của tài nguyên ĐDSH toàn cầu cung cấp cho con người là 33.000 tỷ đô la mỗi năm (Constan Za et al-1997) Đối với Việt Nam nguồn tài nguyên ĐDSH trong các ngành Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Thủy sản hàng năm cung cấp cho đất nước khoảng 2 tỷ đô la (Kế hoạch hành động đa dạng sinh học của Việt Nam - 1995)[2] Các hệ sinh thái rừng, đất ngập nước, biển, núi đá vôi,… với những nét đặc trưng của vùng bán đảo nhiệt đới, là nơi sinh sống và phát triển của nhiều loài hoang dã đặc hữu, cógiá trị, trong đó có những loài không tìm thấy ở nơi nào khác trên thế giới Việt Nam cũng là nơi được biết đến với nhiều nguồn gen hoang dã có giá trị, đặc biệt là các cây thuốc, các loài hoa, cây cảnh nhiệt đới,… Quỹ Bảo tồn động vật hoang dã (WWF) đã công nhận Việt Nam có 3 trong hơn 200 vùng sinh thái toàn cầu; Tổ chức bảo tồn chim quốc tế (Birdlife) công nhận là một trong 5 vùng chim đặc hữu; Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên thế giới (IUCN) công nhận có 6 trung tâm đa dạng về thực vật[3]

Tuy nhiên, hiện nay ĐDSH ở nước ta đang bị suy thoái nhanh Diện tích các khu vực có các hệ sinh thái tự nhiên quan trọng bị thu hẹp dần Số loài và số lượng cá thể của các loài hoang dã bị suy giảm mạnh Nhiều loài hoang dã có giá trị bị suy giảm hoàn toàn về

số lượng hoặc bị đe dọa tuyệt chủng ở mức cao Các nguồn gen hoang dã cũng đang trên

đà suy thoái nhanh và thất thoát nhiều Suy thoái ĐDSH dẫn đến mất cân bằng sinh thái, ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sống của con người, đe dọa sự phát triển bền vững của đất nước Nhiều hệ sinh thái và môi trường sống bị thu hẹp diện tích và nhiều Taxon loài và dưới loài đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng trong một tương lai gần[4] Những giá trị của ĐDSH lại chưa được nhận thức một cách đầy đủ Sự khai thác quá mứccác giống loài, nguồn gen động thực vật để phục vụ cho các nhu cầu trước mắt của con người, đặc biệt là trong một số năm gần đây đã đẩy nhanh tốc độ suy thoái ĐDSH ở Việt Nam Những mối đe doạ chính đối với sự ĐDSH của Việt Nam là tình trạng khai thác

Trang 3

rừng quá mức, tập quán du canh du cư, tình trạng lấn chiếm đất trồng trọt, ô nhiễm nguồnnước, sự xuống cấp của môi trường ven biển và những đòi hỏi đặt ra với nông dân trong quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường Những sức ép khác là tình trạng dân số tăng nhanh và các hoạt động phát triển nông nghiệp ở mức độ cao Nhiều dự án xây dựng cơ

sở hạ tầng đang được đề xuất - như đập nước hay đường quốc lộ - và những dự án này cũng gây nguy hại tới ĐDSH, nếu không được quy hoạch và quản lý tốt Thách thức lớn nhất của Việt Nam là phải nhìn nhận sự ĐDSH quý báu của mình như là một tài sản quý

và làm thế nào để cân đối nhu cầu phát triển với nhu cầu bảo tồn[5] Bên cạnh đó, việc sửdụng phân bón, các loại thuốc bảo vệ mùa màng, thuốc kích thích tăng trưởng một cách bừa bãi trong phát triển nông nghiệp ở nước ta cũng là một trong những nguyên nhân làmgiảm đi số lượng các loài sinh vật có ích, giảm tính ĐDSH, làm mất vệ sinh an toàn thực phẩm, ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ con người, làm ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí Một số hiện trạng và diễn biến suy thoái ĐDSH ở nước ta có thể được mô tả như sau[6]:

- Hầu hết các hệ sinh thái tự nhiên nước ta hiện đang phải chịu sức ép nặng nề từ các hoạtđộng phát triển kinh tế Hệ sinh thái rừng tự nhiên có nhiều biến động lớn trong hơn nửa thế kỷ qua Độ che phủ rừng tăng nhưng phần lớn diện tích tăng là rừng trồng, nếu tính

về giá trị ĐDSH thì cao Hầu hết các vùng tự nhiên còn lại đều đang bị xuống cấp nghiêmtrọng Diện tích rừng nguyên sinh chưa bị tác động chỉ còn tồn tại trong các vùng rừng nhỏ, rời rạc tại các khu vực núi cao của miền Bắc và Tây Nguyên Đây là mối đe doạ lớn đối với các cấu thành ĐDSH của rừng bao gồm cả các loài thực vật và động vật phụ thuộc vào rừng

- Xu hướng quần thể của rất nhiều loài thực vật đang suy giảm, càng ngày càng có nhiều loài hơn phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng Hoạt động buôn bán động thực vật hoang

dã chưa giảm bớt cũng là một trong những nguyên nhân tác động xấu tới số lượng các loài trong tự nhiên

- Hệ sinh thái nông nghiệp và giống cây trồng, vật nuôi bị ảnh hưởng Các giống cây trồng mới có năng suất cao ngày càng được đưa nhiều vào sản xuất và chiếm diện tích ngày càng lớn Do đó các giống địa phương ngày càng bị thu hẹp diện tích, vì vậy nhiều nguồn gen quý của địa phương, đặc biệt là các nguồn gen chống chịu sâu bệnh bị mai một

- Từ năm 1990 đến nay, diện tích rừng liên tục tăng, trong đó rừng trồng tăng rất nhanh, chỉ sau chưa đầy 15 năm rừng trồng đã tăng lên 4 lần Diện tích rừng tự nhiên tăng lên

Trang 4

trên 1 triệu ha, nhưng chủ yếu là rừng phục hồi Đến năm 2004, tỷ lệ che phủ của rừng đạt 36,7% Tuy nhiên, chất lượng của rừng vẫn chưa được cải thiện Phần lớn rừng tự nhiên hiện nay thuộc nhóm rừng nghèo, trong khi đó rừng nguyên sinh chỉ còn 0,75 triệu

ha phân bố rải rác Những khu rừng tự nhiên ít bị tác động, còn tương đối nguyên sinh và

có giá trị cao về đa dạng sinh học tập trung chủ yếu ở các khu rừng đặc dụng Riêng rừng trồng có diện tích trên 2 triệu hecta, chiếm tỷ lệ 18% diện tích có rừng Rừng trồng công nghiệp hiện nay mang tính thuần loại về cây trồng cao, do vậy tính ĐDSH thấp

- Trong những năm gần đây, việc khai thác và sử dụng đất ngập nước diễn ra một cách ồ

ạt thiếu quy hoạch, nhiều diện tích rừng ngập mặn và các vùng đất ngập nước khác bị chuyển thành đất canh tác nông nghiệp hoặc nuôi trồng thuỷ sản, làm cho diện tích đất ngập nước bị thu hẹp, tài nguyên suy giảm, kéo theo đó là các tai biến xói lở, bồi tụ và môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng Diện tích đầm nuôi tôm tăng dần theo thời gian thì diện tích rừng ngập mặn cũng giảm dần tương ứng Trước đây, rừng ngập mặn trải dài suốt dọc bờ biển, nhưng hiện nay diện tích này đã giảm đi rất nhiều, gây suy thoái hệ sinhthái rừng ngập mặn làm thiệt hại không nhỏ cho vùng đất ngập nước ven biển và cho các ngành kinh tế quan trọng trong khu vực

- ĐDSH biển bị khai thác quá mức Nguồn lợi hải sản suy giảm nhanh: trữ lượng hải sản của Việt Nam năm 2003 là 3.072.800 tấn, giảm 25% so với năm 1990 (4,1 triệu tấn) Nhiều loài tôm, cá kinh tế đã bị giảm sút cả về số lượng lẫn chất lượng, thay vào đó thànhphần cá tạp trong sản lượng tăng lên Danh sách các loài thuỷ hải sản bị đe doạ, có nguy

cơ tuyệt chủng tăng từ 15 loài, năm 1989, lên 135 loài vào năm 1996 Các rạn san hô đang suy giảm về độ phủ Hầu hết các rạn san hô đang bị đe doạ, trong đó có 50% ở mức

bị đe doạ cao và 17% ở mức bị đe doạ rất cao Khai thác quá mức đang bị đánh giá là mối

đe doạ lớn cho khoảng một nửa số rạn san hô Có nhiều nơi độ phủ giảm đến trên 30% Điều này cho thấy rằng rạn san hô đang bị phá huỷ và có chiều hướng suy thoái

- Hiện nay, nguồn gen (cây trồng, vật nuôi và cây thuốc) đang được các cơ quan, tổ chức trong nước, quốc tế nghiên cứu, thu thập, khai thác và phát triển thành thương phẩm có giá trị kinh tế Tuy nhiên, trong phần lớn trường hợp, chưa có sự chia sẻ lợi ích giữa người sở hữu và người khai thác, sử dụng nguồn gen, cũng như chia sẻ một phần lợi nhuận thu được để góp phần duy trì và phát triển tài nguyên Tri thức bản địa ở nước ta rất phong phú Tri thức bản địa đã được thừa nhận như một nguồn tài nguyên quan trọng không kém các nguồn tài nguyên hữu hình khác Tuy nhiên, tri thức bản địa cũng đang bịmất mát nhiều theo thời gian do chưa ý thức được tầm quan trọng của nguồn tài nguyên này Ngoài ra, cũng như nguồn gen, việc chia sẻ lợi ích giữa người sở hữu và người khai

Trang 5

thác, sử dụng tri thức bản địa không lúc nào cũng được thực hiện một cách công bằng Đểbảo tồn tri thức bản địa cần có sự phối hợp giữa người dân, nhà nước và các nhà khoa học Việc xây dựng các chính sách khai thác, phát triển và chia sẻ lợi ích nguồn gen và trithức bản địa chưa được quan tâm đúng mức.

Các nguyên nhân gây suy thoái ĐDSH[7]:

- Chuyển đổi mục đích sử dụng đất thiếu quy hoạch

- Khai thác và sử dụng không bền vững tài nguyên sinh học

- Các loài sinh vật ngoại lai xâm lại

- Ô nhiễm môi trường

do sự biến đổi bất thường của tự nhiên hoặc do hoạt động của con người

Để khắc phục tình trạng trên Chính phủ Việt Nam đã đề ra nhiều biện pháp, cùng với các chính sách kèm theo nhằm bảo vệ tốt hơn tài nguyên ĐDSH của đất nước Tuy nhiên, thực tế đang đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến bảo tồn ĐDSH cần phải giải quyết như quan hệ giữa bảo tồn và phát triển bền vững hoặc tác động của biến đổi khí hậu đối với bảo tồn ĐDSH,… Trước khi có Luật ĐDSH được ban hành năm 2008, một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng trên là do còn nhiều tồn tại, bất cập trong các quy định của pháp luật về ĐDSH[8] gây ra nhiều khó khăn trong quản lý, bảo tồn và phát triển ĐDSH Sau khi Luật này được ban hành, có hiệu lực vào ngày 01/07/2009, hệ thốngpháp luật về ĐDSH đã được thống nhất, quy về một mối Tuy nhiên, nhận thức được bảo tồn ĐDSH là vấn đề phức tạp với nhiều nội dung khác nhau (nhất là trong điều kiện Luật

Trang 6

mới ban hành) nên việc đánh giá hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về vấn đề này cũng như hiệu quả áp dụng, thi hành trong giai đoạn hiện nay là một điều cần thiết để hoàn thiện các quy định cũng như đẩy mạnh việc thực thi trong thực tế.

II TỔNG QUAN PHÁP LUẬT BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC TẠI VIỆT NAM

1 Tổng quan pháp luật bảo tồn Đa dạng sinh học của Việt Nam trước khi có Luật

Đa dạng sinh học

Trước khi Luật ĐDSH được ban hành, vấn đề bảo tồn ĐDSH được quy định trong nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó pháp luật môi trường đề cập đến bảo tồn ĐDSH ở mức độ bao trùm, khái quát nhất Những nguyên tắc, những quy định chung về bảo tồn ĐDSH được đề cập trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 có ý nghĩa rất lớn đối với việc phát triển các quy định cụ thể về ĐDSH[9] Hệ thống pháp luật giai đoạn này quy định những nội dung của vấn đề bảo tồn ĐDSH như sau: (i) các quy định về nguyên tắc và trách nhiệm bảo tồn và phát triển bền vững ĐDSH; (ii) các quy định về bảo tồn và phát triển bền vững hệ sinh thái tự nhiên; (iii) các quy định về bảo tồn và phát triển bền vững loài hoang dã; (iv) các quy định về nguồn gen; (v) các quy định về an toàn sinh học Căn cứ vào những tiêu chí chung để đánh giá mức độ hoàn thiện của pháp luật, có thể thấy một

số điểm hạn chế, bất cập của pháp luật hiện hành về ĐDSH tại Việt Nam trước khi Luật ĐDSH được ban hành như sau:

- Các quy định pháp luật về bảo vệ ĐDSH còn tản mạn và hiệu quả điều chỉnh trên thực

tế chưa cao, nên suy thoái ĐDSH vẫn đang là vấn đề nhức nhối trong sự nghiệp bảo vệ môi trường ở nước ta

Vấn đề bảo vệ ĐDSH thời kỳ này được quy định tản mạn ở rất nhiều văn bản pháp luật thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, nhưng chủ yếu tập trung trong các văn bản pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, về bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản, bảo vệ và kiểm dịchthực vật, quản lý và bảo hộ giống cây trồng và bảo vệ môi trường Tuy nhiên, nội dung bảo vệ ĐDSH chỉ là một nội dung nhỏ trong những văn bản đó và mỗi văn bản tiếp cận vấn đề bảo vệ ĐDSH theo một góc độ khác nhau, do đó có thể thấy các quy định về bảo

vệ ĐDSH còn tản mạn và hiệu quả điều chỉnh trên thực tế chưa cao[10] Có thể thấy một

số quy định pháp luật về bảo vệ ĐDSH còn mang tính tuyên ngôn hay ở mức chung chung, thiếu tính cụ thể, không có tính khả thi, nhiều quy định mang tính định hướng nên khó áp dụng trên thực tế Các quy định không được pháp điển hóa trong một văn bản pháp lý có hiệu lực cao, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến các nội dung chính của ĐDSH đã làm hạn chế rất nhiều đến hiệu quả áp dụng pháp luật[11] Bên cạnh đó, các

Trang 7

quy định về bảo vệ gen, kiến thức bản địa, di truyền cây thuốc, còn mờ nhạt.

- Pháp luật về ĐDSH thời kỳ này chưa đảm bảo tính thống nhất

- Pháp luật về ĐDSH thời kỳ này còn chưa hoàn thiện, thiếu một số quy định quan trọng

Cụ thể: thiếu các quy định về cơ chế tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích, quyền đối với tri thức truyền thống của cộng đồng, các quy định về cơ chế kiểm soát các sinh vật lạ xâmhại, các quy định về hình thức bảo tồn ngoại vi, ; các quy định về bảo tồn các loài hoang

dã hầu như mới chỉ được đề cập trong các văn bản pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng

mà chưa được đề cập trong các lĩnh vực pháp luật khác

2 Tổng quan pháp luật bảo tồn Đa dạng sinh học của Việt Nam sau khi ban hành Luật Đa dạng sinh học

Hệ thống văn bản pháp luật về bảo tồn ĐDSH hiện nay bao gồm:

2.1 Luật Đa dạng sinh học năm 2008

Như đã phân tích ở phần trên, hệ thống pháp luật về bảo tồn ĐDSH của Việt Nam trong một thời gian dài đã thể hiện những bất cập lớn, chưa đảm bảo tính đồng bộ, thống

nhất, nên hiệu quả áp dụng chưa cao, dẫn đến việc bảo vệ ĐDSH còn hạn chế, chưa duytrì và phát triển được hệ thống bảo tồn ĐDSH cũng như tính đa dạng trong hệ thống ĐDSH của quốc gia Bên cạnh đó, các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia vẫn chưa được nội luật hóa hoàn toàn vào hệ thống pháp luật trong nước Với những đòi hỏi về mặt lý luận cũng như thực tiễn như vậy, để hoàn thiện hệ thống pháp luật về ĐDSH, luật hóa có hệ thống và thống nhất các chủ trương, chính sách của Đảng

và Nhà nước, thực hiện các cam kết quốc tế về ĐDSH phục vụ mục tiêu phát triển bền vững đất nước, Luật ĐDSH được Quốc hội nước ta ban hành ngày 13 tháng 11 năm 2008

đã tạo nên một hành lang pháp lý thống nhất điều chỉnh việc bảo tồn và phát triển bền vững ĐDSH, đáp ứng được nhu cầu cấp bách của hoạt động bảo tồn ĐDSH hiện hay và trong tương lai Luật ĐDSH bao gồm 8 chương với 78 điều luật quy định các vấn đề cơ bản nhất của việc bảo tồn và phát triển ĐDSH; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong bảo tồn và phát triển bền vững ĐDSH[12] Luật ĐDSH năm 2008 được ban hành đã đánh dấu một bước phát triển lớn của hệ thống pháp luật trong lĩnh vựctài nguyên và môi trường[13] Luật đã hoàn thành nhiệm vụ pháp điển hóa các quy định

về bảo vệ ĐDSH được đề cập rải rác trong nhiều lĩnh vực pháp lý thành một lĩnh vực pháp lý cụ thể, độc lập, hỗ trợ và tạo thế cân bằng với lĩnh vực pháp luật về kiểm soát ô

Trang 8

nhiễm môi trường Có thể nhận thấy một số điểm sau:

- Luật ĐDSH (có hiệu lực từ ngày 01/07/2009) là văn bản đầu tiên và có hiệu lực pháp lý cao nhất trong việc bảo tồn và phát triển bền vững ĐDSH trong thời điểm hiện nay

- Luật ĐDSH 2008 là nền tảng cơ bản về mặt pháp lý cho công tác bảo tồn ở nước ta

- Luật ĐDSH tập trung điều chỉnh các vấn đề: quy hoạch bảo tồn ĐDSH; bảo tồn và phát triển bền vững các loài sinh vật; bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên di truyền; hợp tác quốc tế về ĐDSH; cơ chế, nguồn lực bảo tồn và phát triển bền vững ĐDSH

2.2 Các bộ luật khác có liên quan đến lĩnh vực bảo tồn Đa dạng sinh học

- Luật Bảo vệ môi trường năm 2005[14]

- Luật Bảo vệ phát triển rừng năm 2004

- Luật Thuỷ sản năm 2003

- Luật Hải quan năm 2001

- Luật sửa đổi bổ sung Luật Hải quan năm 2005

- Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005

2.3 Các văn bản khác của Chính phủ về bảo tồn Đa dạng sinh học

- Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam (Định hướng phát triển bền vững của Việt Nam)

- Quyết định số 256/2003/QĐ-TTg ngày 02/12/2003 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020

- Quyết định số 79/2007/QĐ-TTg ngày 31/05/2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt

“Kế hoạch hành động Quốc gia về ĐDSH đến năm 2020 thực hiện Công ước ĐDSH và Nghị định thư Cartagena về An toàn sinh học”

Trang 9

- Quyết định số 845/1995/QĐ-TTg ngày 22/12/1995 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt

“Kế hoạch hành động ĐDSH của Việt Nam”

- Quyết định số 1479/2008/QĐ-TTg ngày 13/10/2008 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch hệ thống khu bảo tồn vùng nước nội địa đến năm 2020

- Quyết định số 102/2007/QĐ-TTg ngày 10/07/2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt

Đề án tổng thể tăng cường năng lực quản lý an toàn sinh học đối với sinh vật biến đổi genđến năm 2020

- Nghị định số 48/2002/NĐ-CP ngày 22/4/2002 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung danh mục thực vật, động vật hoang dã quý hiếm ban hành kèm theo Nghị định số

18/HĐBT ngày 17/10/1992 của HĐBT quy định danh mục thực vật rừng, động vật rừng quý hiếm và chế độ quản lý, bảo vệ)

- Nghị định số 86/2005/NĐ-CP ngày 08-7-2005 về quản lý và bảo vệ di sản văn hóa dướinước

- Nghị định số 109/2003/NĐ-CP về bảo tồn và phát triển bền vững của vùng đất ngập nước[15]

2.4 Các văn bản khác do Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành

- Thông tư số 18/2004/TT-BTNMT của Bộ TN&MT hướng dẫn thực hiện Nghị định số 109/2003/NĐ-CP

- Quyết định số 04/2004/QĐ-BTNMT phê duyệt Kế hoạch hành động về bảo tồn và phát triển bền vững các vùng đất ngập nước

Một vài nhận xét sơ bộ[16]:

- Luật ĐDSH 2008 ra đời đã tạo ra một cơ sở pháp lý quan trọng cho công tác bảo tồn ĐDSH

- Luật ĐDSH 2008 đề cập một cách tổng thể và toàn diện các vấn đề bảo tồn ĐDSH

- Bộ Tài nguyên và Môi trường được giao là cơ

Trang 10

III ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC CỦA VIỆT NAM

2 Các quy định pháp luật về Đa dạng sinh học hiện nay được pháp điển hóa thành một lĩnh vực pháp lý cụ thể, thống nhất trong một văn bản điều chỉnh chung: Luật

Đa dạng sinh học năm 2008

Đây có thể được xem là một bước tiến trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật nói chung cũng như pháp luật môi trường nói riêng của Việt Nam trong thời gian qua Việc ban hành Luật ĐDSH năm 2008 đã thể hiện sự nhận thức đúng đắn tầm quan trọng

và sự cần thiết trong việc điều chỉnh thực trạng bảo tồn ĐDSH hiện nay của nước ta Một hành lang pháp lý được xây dựng góp phần hệ thống hóa các quy định rải rác trước đó cũng như bổ sung thêm những nội dung mới nhằm điều chỉnh đầy đủ và thực thi có hiệu quả pháp luật bảo tồn ĐDSH – một trong những phương thức bảo vệ và phát triển tài nguyên thiên nhiên của trái đất Sau khi Luật ĐDSH bắt đầu có hiệu lực từ ngày

01/07/2009, Luật này đã trở thành văn bản quan trọng nhất điều chỉnh lĩnh vực quan trọng này Bên cạnh đó, có thể nhận thấy Luật ĐDSH đã quy định những vấn đề chung nhất về bảo tồn và phát triển bền vững ĐDSH còn các vấn đề mang tính đặc thù vẫn đượcquy định trong các luật chuyên ngành (như Luật Bảo vệ và phát triển rừng, Luật Thủy sản,…) Điều này đã dẫn đến một vấn đề là một số vấn đề sẽ bị trùng lặp khiến cho việc

áp dụng trong thực tế sẽ khá khó khăn Trong quá trình xây dựng Luật ĐDSH, các nhà làm luật đã cố gắng xây dựng ranh giới rõ ràng giữa luật này với các luật chuyên ngành hiện hành nhưng vẫn chưa đạt được hiệu quả như mong muốn Ví dụ một trường hợp nhưsau:

Theo Luật ĐDSH 2008, Khu bảo tồn (KBT) được phân thành: i) Vườn quốc gia; ii) Khu

dự trữ thiên nhiên; iii) KBT loài - sinh cảnh; iv) Khu bảo vệ cảnh quan (Điều 16) Như vậy, so với Luật BVMT 2005, đã có sự khác biệt về Khu dự trữ sinh quyển So với Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 đã có sự khác nhau về KBT loài - sinh cảnh, Khu dự

Trang 11

trữ thiên nhiên So với Luật Thuỷ sản năm 2003, sự khác biệt đó là Khu bảo vệ cảnh quan Vấn đề đặt ra là cách phân loại các KBT theo Luật ĐDSH 2008 có thay thế cách phân loại các KBT hiện hành theo các Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004, Luật Thủy sản năm 2003, Nghị định số 109/2003/NĐ-CP về bảo tồn và phát triển bền vững các vùng đất ngập nước hay không? Nếu áp dụng các quy định về hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật, theo đó “Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùngmột cơ quan ban hành mà có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của văn bản được ban hành sau”[1] thì việc phân loại lại các KBT theo Luật ĐDSH

2008 sẽ được tiến hành trên thực tế như thế nào? Trong thời gian bao lâu? Mặc dù Luật

đã có quy định chuyển tiếp (Khoản 1 Điều 76) nhưng quy định đó chỉ có giá trị đối với việc thành lập các KBT chứ không có ý nghĩa đối với việc phân loại chúng

Tuy nhiên, điều quan trọng nhất là hệ thống pháp luật ĐDSH đã được thống nhất trong một đạo luật có hiệu lực pháp lý cao Bởi vậy, hoạt động bảo tồn ĐDSH từ nay trở về sau

sẽ được điều chỉnh thông qua chủ yếu bằng Luật ĐDSH Việc xây dựng được một hành lang pháp lý riêng biệt về ĐDSH của Việt Nam như hiện nay là một cố gắng lớn, mang lại nhiều điều tích cực

3 Hệ thống pháp luật Đa dạng sinh học hiện nay nhìn chung bảo đảm tính thống nhất, tính phù hợp với hệ thống văn bản pháp luật hiện hành nhưng vẫn tồn tại những mâu thuẫn, xung đột nhất định

Pháp luật về ĐDSH hiện nay đảm bảo được tính thống nhất nội tại ở mức độ cao của hệ thống pháp luật về bảo vệ tài nguyên và môi trường, phục vụ mục tiêu phát triển bền vững đất nước Các khía cạnh của ĐDSH cũng như các nội dung quan trọng của bảo tồn ĐDSH trước đây chưa được pháp luật điều chỉnh hoặc điều chỉnh ở mức sơ sài nay đã được Luật ĐDSH 2008 quy định đầy đủ, toàn diện, như: vấn đề quy hoạch bảo tồn ĐDSH; vấn đề tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích, vấn đề kiểm soát sinh vật lạ xâm hại, tiếp cận bảo tồn cảnh quan Tuy nhiên cũng có một số vấn đề còn chưa thống nhất, cần được làm rõ hơn nữa Có thể nhìn nhận quan điểm này qua việc phân tích một số nội dung điển hình trong Luật ĐDSH năm 2008 sau đây[2]:

Về những nội dung liên quan đến quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học

Luật ĐDSH 2008 rất phù hợp với Luật Đất đai năm 2003 về Quy hoạch bảo tồn (QHBT) ĐDSH (từ Điều 21 đến Điều 30 Mục 2 Chương II - Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất) Theo đó, quy hoạch sử dụng đất là một trong những căn cứ quan trọng để lập quy hoạch

Trang 12

tổng thể bảo tồn ĐDSH của cả nước[3].

Về cơ bản, có sự phù hợp giữa Luật ĐDSH 2008 với Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 (Luật BVMT 2005) về QHBT ĐDSH Tuy nhiên, có một số vấn đề cần phải làm rõ hơn như sau:

Một là, theo Luật ĐDSH 2008, một trong những nội dung của quy hoạch tổng thể bảo tồnĐDSH của cả nước là đánh giá môi trường chiến lược dự án quy hoạch tổng thể bảo tồn ĐDSH (khoản 7 Điều 9) Vấn đề cần phải làm rõ là quy hoạch tổng thể bảo tồn ĐDSH của cả nước là dạng quy hoạch nào trong số các quy hoạch được quy định tại Điều 14 Luật BVMT 2005 mà theo đó, chủ dự án phải có trách nhiệm đánh giá tác động môi trường?

Thứ hai, khoản 2 Điều 28 và khoản 5 Điều 29 Luật BVMT 2005 quy định về QHBT thiên nhiên và trách nhiệm lập QHBT thiên nhiên Vậy có sự khác biệt nào giữa QHBT thiên nhiên với QHBT ĐDSH hay không? Mối quan hệ giữa chúng là gì?

Ngoài ra, cần xem xét tính khách quan trong quy trình lập, thẩm định, phê duyệt QHBT ĐDSH đối với hai quy định sau: “Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức lập, thẩm định, điều chỉnh QHBT ĐDSH của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trình Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua”[4]; “Bộ, cơ quan ngang Bộ căn cứ vào quy hoạch tổng thể bảo tồn ĐDSH của cả nước tổ chức lập, phê duyệt, điều chỉnh QHBT ĐDSH thuộc phạm vi quản lý”[5] Một chủ thể vừa chịu trách nhiệm tổ chức lập quy hoạch vừa tổ chức thẩm định, phê chuẩn quy hoạch liệu có đảm bảo tính khách quan của các hoạt động này hay không?

Về những nội dung liên quan đến bảo tồn và phát biển bền vững các loài sinh vật

Việc quản lý, bảo vệ các loài sinh vật được pháp luật đề cập khá sớm Từ năm 1972, Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã giao nhiệm vụ cho Hội đồng Chính phủ quy định những loại thực vật, động vật quý và hiếm trong rừng cần phải đặc biệt bảo vệ Từ đó đến nay, Danh mục các loài động vật, thực vật quý hiếm cần có chế độ quản lý bảo vệ nghiêm ngặt thường xuyên được hoàn thiện Hiện đang tồn tại khá nhiều Danh mục loài sinh vật cần được bảo vệ, như:

- Danh mục các loài thực vật, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm được ban hành kèm theo Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30/3/2006 của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm;

Trang 13

- Danh mục các loài động vật, thực vật hoang dã quy định trong các Phụ lục của Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp được ban hành kèm theo Quyết định số 54/2006/QĐ-BNN ngày 5/7/2006 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn;

- Danh mục các loài thuỷ sinh quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam cần được bảo vệ, phục hồi và phát triển được ban hành Quyết định số 82/2008/QĐ-BNN ngày 7/7/2008 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn

Tuy nhiên, việc xác định Danh mục các loài nêu trên chủ yếu dựa vào các căn cứ định tính chứ chưa có tiêu chí cụ thể Hiện mới chỉ có một số quy định chung về việc phân nhóm đối với thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm Theo đó, Nhóm I gồm những loài thực vật rừng, động vật rừng có giá trị đặc biệt về khoa học, môi trường hoặc

có giá trị cao về kinh tế, số lượng quần thể còn rất ít trong tự nhiên hoặc có nguy cơ tuyệtchủng cao; Nhóm II gồm những loài thực vật rừng, động vật rừng có giá trị về khoa học, môi trường hoặc có giá trị cao về kinh tế, số lượng quần thể còn ít trong tự nhiên hoặc có nguy cơ tuyệt chủng (khoản 2 Điều 2 Nghị định số 32/2006/NĐ-CP) Tương tự, Pháp lệnh Giống cây trồng năm 2004, Pháp lệnh Giống vật nuôi năm 2004 cũng chỉ đề cập đếnviệc thu thập, bảo tồn trao đổi nguồn gen cây trồng quý, hiếm mà chưa có tiêu chí xác định giống cây trồng, giống vật nguy cấp, quý hiếm Điều này cũng xảy ra đối với vi sinhvật và nấm nguy cấp quý hiếm Thêm nữa, để Danh mục các loài quý hiếm trong quá nhiều văn bản pháp luật như đã nêu trên sẽ gây trở ngại cho việc tiếp cận văn bản và áp dụng thi hành

Bên cạnh đó, theo Luật ĐDSH 2008, loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ có phạm vi đối tượng rộng hơn so với các quy định trước đây[6], đó là không chỉ bao gồm loài động vật, thực vật nguy cấp, quý, hiếm mà còn bao gồm cả giống cây trồng, giống vật nuôi, vi sinh vật và nấm nguy cấp, quý hiếm Đây là điểm cần phải có sự thống nhất

về nhận thức do Danh mục các loài nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ sẽ bao gồm

cả giống cây trồng, giống vật nuôi, vi sinh vật và nấm nguy cấp, quý hiếm Điều này cũng

có nghĩa là còn cần phải xử lý mối quan hệ giữa các quy định của Luật ĐDSH 2008 với các quy định của Pháp lệnh Giống cây trồng năm 2004, Pháp lệnh Giống vật nuôi năm 2004

Ngoài ra, theo Luật ĐDSH 2008, còn có thêm hai Danh mục nữa cần được ban hành, bao gồm: i) Danh mục loài hoang dã bị cấm khai thác trong tự nhiên; và ii) Danh mục loài

Trang 14

hoang dã được khai thác có điều kiện trong tự nhiên[7] Điều này cũng có nghĩa là số lượng Danh mục các loài cần bảo vệ lại tăng lên, nguy cơ trùng lặp, chồng chéo trong cácquy định nêu trên là điều cần phải được dự liệu.

Mặc dù có nhiều loại Danh mục các loài nguy cấp, quý hiếm cần ưu tiên bảo vệ như đã nêu trên, song pháp luật lại thiếu các quy định về căn cứ, trình tự, thủ tục để đưa vào hoặcđưa ra khỏi Danh mục các loài nguy cấp, quý hiếm Điều này đã ít nhiều gây tranh cãi giữa các nhà khoa học, các nhà chuyên môn trong suốt thời gian qua

Đối với các cơ sở bảo tồn ĐDSH, mặc dù hiện tại đã có một số quy định về điều kiện được cấp giấy chứng nhận đối với các cơ sở nuôi, nhốt; các trung tâm cứu hộ động thực vật rừng quý hiếm, song các quy định về việc cấp, thu hồi giấy chứng nhận cơ sở bảo tồn ĐDSH cũng được dự báo là sẽ gây nhiều tranh cãi, đặc biệt là quy định chuyển tiếp đối với các loại giấy phép, giấy chứng nhận đã cấp cho các cơ sở bảo tồn ĐDSH, cơ sở nuôi sinh sản, nuôi sinh trưởng, trồng cấy nhân tạo các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, quý hiếm trước khi Luật này có hiệu lực nếu phù hợp với quy định của Luật này thì vẫn có giá trị thi hành Mối quan tâm của các đối tượng có liên quan đến việc nuôi, cứu

hộ các loài sinh vật nguy cấp, quý hiếm là nếu các giấy phép đó không phù hợp với các quy định của Luật ĐDSH 2008 thì hậu quả pháp lý xảy ra là gì? Các cơ sở mới thành lập

sẽ do cơ quan nào cấp phép?

Ngoài ra, các quy định về cứu hộ loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ được xem là có thủ tục quá rắc rối trong khi vấn đề cứu hộ lại đòi hỏi phải tiến hành nhanh chóng: “Tổ chức, cá nhân phát hiện cá thể loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ bị mất nơi sinh sống tự nhiên, bị lạc, bị thương hoặc bị bệnh có trách nhiệm báo ngay cho Uỷ ban nhân dân cấp xã hoặc cơ sở cứu hộ nơigần nhất Khi nhận được thông tin, Uỷ ban nhân dân cấp xã phải kịp thời báo cáo với cơ quan chuyên môn của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh hoặc báo cơ sở cứu hộ nơi gần nhất” (khoản 2 Điều 47)

Về những nội dung liên quan đến bảo tồn và phát biển bền vững tài nguyên di truyền

Một trong những mục tiêu của Công ước Đa dạng sinh học là sự chia sẻ công bằng và hợp lý các lợi ích có được từ việc khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên di truyền (nguồn gen) thông qua việc tiếp cận các nguồn gen, chuyển giao hợp lý các công nghệ liên quan đến nguồn gen, công nhận các quyền sở hữu các nguồn gen, công nghệ gen và các tài trợ thích đáng[8] Các quy định về gen được đề cập chủ yếu trong các văn bản

Trang 15

pháp luật về giống cây trồng, giống vật nuôi Đối chiếu với Luật ĐDSH 2008 cho thấy,

có sự khác biệt về khái niệm nguồn gen so với Pháp lệnh Giống cây trồng năm 2004, Pháp lệnh Giống vật nuôi năm 2004

Các quy định của Luật ĐDSH 2008 cho thấy, Luật này điều chỉnh toàn bộ nguồn gen trênlãnh thổ Việt Nam Đây là điều cần phải được thống nhất về nhận thức và phải được giải thích rõ ràng hơn để tránh gây mơ hồ về sự thống nhất của các yếu tố hợp thành ĐDSH Bởi lẽ, đối với hệ sinh thái, Luật chỉ đề cập đến các KBT và các hệ sinh thái tự nhiên; đốivới loài sinh vật, Luật chỉ đề cập các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm và giống cây trồng, giống vật nuôi, vi sinh vật và nấm nguy cấp, quý, hiếm, trong khi đó đối với nguồn gen thì Luật lại không giới hạn phạm vi điều chỉnh đối với nguồn gen nào? Hiện tại, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã ban hành Danh mục nguồngen cây trồng quý, hiếm cần bảo tồn (kèm theo Quyết định số 80/2005/QĐ-BNN ngày 05/12/2005) Đây là một trong những căn cứ có thể được tham khảo để ban hành quy định hướng dẫn về bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên di truyền

Quản lý, tiếp cận và chia sẻ lợi ích từ nguồn gen là những nội dung hoàn toàn mới và ít nguy cơ mâu thuẫn, chồng chéo với các quy định khác nên việc hướng dẫn thi hành Luật cần tập trung vào các khía cạnh trình tự, thủ tục, điều kiện pháp lý của việc tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích từ nguồn gen

So với các quy định về quản lý an toàn sinh học đối với các sinh vật biến đổi gen, sản phẩm, hàng hóa có nguồn gốc từ sinh vật biến đổi gen được quy định tại Quyết định số 212/2005/QĐ-TTg ngày 26/5/2005 của Thủ tướng Chính phủ, các quy định về quản lý rủi

ro sinh vật biến đổi gen, mẫu vật di truyền của sinh vật biến đổi gen gây ra đối với ĐDSHđược quy định tại Mục 3 Chương 5 Luật ĐDSH 2008 có nội dung hẹp hơn, đó là chỉ đề cập đến những rủi ro mà sinh vật biến đổi gen và mẫu vật di truyền của chúng gây ra đối với môi trường và ĐDSH mà không xem xét ảnh hưởng của chúng gây ra đối với sức khoẻ của con người Điều này góp phần hạn chế sự phức tạp trong việc phân công trách nhiệm quản lý rủi ro sinh vật biến đổi gen, mẫu vật di truyền của sinh vật biến đổi gen giữa các bộ ngành, đặc biệt là giữa Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ Tài nguyên và Môi trường và Bộ Y tế Như vậy, các quy định hướng dẫn thi hành Luật ĐDSH 2008 cũng chỉ tập trung vào những nội dung liên quan đến ảnh hưởng của sinh vậtbiến đổi gen, mẫu vật di truyền của sinh vật biến đổi gen gây ra đối với ĐDSH

4 Luật Đa dạng sinh học đã nội luật hóa các điều ước quốc tế liên quan đến Đa dạng sinh học mà Việt Nam đã ký kết hoặc là thành viên (đặc biệt là Công ước quốc

Trang 16

tế về Đa dạng sinh học năm 1994)

Trong thời gian vừa qua, Việt Nam đã tham gia hoặc ký kết các điều ước quốc tế liên quan đến ĐDSH như: Công ước Liên hợp quốc về đa dạng sinh học (UNCBD), Công ước

về các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế, đặc biệt như là nơi cư trú của các loài chim nước (RAMSAR), Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật bị đe dọa tuyệt chủng (CITES), Nghị định thư về an toàn sinh học (CARTAGENA),… Hiện nay, nhiều cam kết quốc tế đã được nội luật hóa trong Luật ĐDSH năm 2008 Có thể thấyrằng những nội dung nội luật hóa quan trọng nhất là các nội dung trong Công ước của Liên hợp quốc về ĐDSH, cụ thể như sau[9]:

Thứ nhất, Quy định rõ và đầy đủ về nội dung và trình tự, thủ tục lập, thẩm định và phê duyệt quy hoạch bảo tồn ĐDSH cấp cả nước và cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; mục tiêu và tiêu chí chủ yếu để phân cấp và thành lập khu bảo tồn; trình tự, thủ tục lập, thẩm định dự án và quyết định thành lập khu bảo tồn; chế độ quản lý và bảo vệ, các chính sách đầu tư đối với các phân khu chức năng và vùng đệm; trách nhiệm và quyền lợicủa các bên liên quan, đặc biệt là đối với cộng đồng dân cư sinh sống trong và xung quanh các khu bảo tồn Khu bảo tồn được phân thành 4 loại, bao gồm vườn quốc gia; khu

dự trữ thiên nhiên; khu bảo tồn loài - sinh cảnh; và khu bảo vệ cảnh quan Căn cứ vào mức độ ĐDSH, giá trị ĐDSH, quy mô diện tích, khu bảo tồn được phân thành khu bảo tồn cấp quốc gia và cấp tỉnh để có chính sách quản lý, đầu tư phù hợp Ngoài ra, Luật quyđịnh về điều tra, đánh giá và xác lập chế độ phát triển bền vững đối với các hệ sinh thái tựnhiên trên biển, các vùng đất ngập nước tự nhiên, vùng núi đá vôi, vùng đất chưa sử dụngnhằm phục hồi và bảo vệ các hệ sinh thái tự nhiên, môi trường sống tự nhiên

Thứ hai, Quy định rõ và đầy đủ về bảo tồn và phát triển bền vững các loài sinh vật, bao gồm bảo vệ loài thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ và phát triển bền vững các loài sinh vật Căn cứ vào tiêu chí, các loài hoang dã có giá trị đang bị

đe dọa tuyệt chủng hoặc nguy cấp ở mức cao được đưa vào Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ và có chế độ quản lý, bảo vệ Khu vực có loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ sinh sống tự nhiên thường xuyên hoặc theo mùa được điều tra, đánh giá để lập dự án thành lập khu bảo tồn Quản lý và cơ chế, chính sách, thành lập cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học nhằm mục đích nuôi, trồng loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; cứu hộ loài hoang dã; và lưu giữ giống cây trồng, vật nuôi, vi sinh vật và nấm đặc hữu, nguy cấp, quý, hiếm có giá trị Ngoài ra, Luật còn quy định cụ thể về việc khai thác các loài hoang dã; nuôi, trồng; trao đổi, xuất khẩu, nhập khẩu, mua, bán, tặng cho, lưu giữ, vận chuyển; cứu hộ loài

Trang 17

thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; bảo vệ cây trồng và vật nuôi đặc hữu hoặc có giá trị đang bị đe dọa tuyệt chủng; bảo vệ loài vi sinh vật và nấm đặc hữu hoặc có giá trị.

Thứ ba, Quy định về trách nhiệm quản lý nguồn gen và quản lý các hoạt động liên quan đến nguồn gen, việc lưu giữ và bảo quản lâu dài mẫu vật di truyền của các nguồn gen có giá trị, phát triển các ngân hàng gen, quản lý thống nhất thông tin và cơ sở dữ liệu về nguồn gen Quy định rõ về trình tự, thủ tục hợp đồng, cấp phép tiếp cận nguồn gen Đặc biệt là quy định rõ về quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân được cấp phép tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích, đăng ký sở hữu đối với nguồn gen và tri thức truyền thống

Thứ năm, Quy định rõ về trách nhiệm tổ chức điều tra, lập, thẩm định và ban hành Danh mục loài ngoại lai xâm hại Kiểm soát việc nhập khẩu, lây lan, phát triển của loài ngoại lai xâm hại và việc nuôi trồng loài ngoại lai có nguy cơ xâm hại và công khai thông tin vềloài ngoại lai xâm hại

Việc xác định vị trí địa lý, giới hạn và biện pháp tổ chức quản lý, bảo vệ hành lang

ĐDSH; và dịch vụ môi trường liên quan đến ĐDSH là biện pháp, công cụ hiệu quả mới nhằm bảo tồn và phát triển bền vững ĐDSH, được quy định trong Luật là những đóng góp quan trọng của Luật ĐDSH, vì đây là hai vấn đề hoàn toàn mới không những đối với Việt Nam mà cả các nước trong khu vực và thế giới

Luật ĐDSH đã quy định thống nhất các vấn đề mâu thuẫn, chồng chéo hoặc bất cập trongcông tác quản lý, bảo tồn và phát triển bền vững ĐDSH Quy định rõ trách nhiệm của cácbên liên quan đến ĐDSH Ngoài ra, Luật ĐDSH còn nội luật hóa các nghĩa vụ, trách nhiệm pháp lý quy định trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên Đây là những nét mới và là những đóng góp lớn của Luật ĐDSH Vì vậy, có thể nói các nội dung chủ yếu của Công ước ĐDSH đã được nội luật hoá đầy đủ, toàn diện trong Luật ĐDSH của Việt Nam

Trang 18

5 Pháp luật về Đa dạng sinh học hiện nay còn một số thiếu sót, chưa hoàn thiện

5.1 Thiếu các quy định về thuế sử dụng các thành phần môi trường[10]

Thuế là khoản đóng góp của các thể nhân và pháp nhân theo luật định nhằm đáp ứng yêu cầu chi tiêu của Nhà nước Như vậy trường hợp này thuế sử dụng các thành phần môi trường sẽ có xu hướng tăng thêm thu nhập cho Ngân sách quốc gia Bên cạnh đó, thuế sử dụng các thành phần môi trường còn có mục đích giảm tốc độ khai thác lãng phí tài nguyên thiên nhiên, sử dụng tài nguyên một cách tiết kiệm và có hiệu quả nhất, đặc biệt

là tài nguyên thiên nhiên không tái tạo Thuế sử dụng các thành phần môi trường bao gồm: thuế sử dụng đất, thuế rừng, thuế thu năng lượng đó là các loại thuế dùng để điều tiết thu nhập của những hoạt động khai thác tài nguyên, các thành phần môi trường Từ trước đến nay, tình trạng khai thác bừa bãi, sử dụng lãng phí tài nguyên thiên nhiên rất phổ biến dẫn đến các nguy cơ cạn kiệt tài nguyên tài nguyên và suy thoái môi trường Trước thực tế trên, việc phát triển và cải tiến các loại thuế sử dụng các thành phần môi trường sẽ đóng góp vai trò cốt yếu như một công cụ kinh tế hạn chế những nhu cầu không quan trọng và xác định mức tối đa khi sử dụng và khai thác các tài nguyên thiên nhiên, từ đó có cơ chế quản lý, điều chỉnh các hoạt động kỹ thuật tài nguyên thiên nhiên trong khả năng tái tạo, đảm bảo và khuyến khích những hoạt động hướng đến mục tiêu phát triển bền vững

Qua phân tích ở trên, có thể thấy được yêu cần thiết của việc ban hành một đạo luật quy định về thuế sử dụng các thành phần môi trường trong mối tương quan với vấn đề bảo tồnĐDSH Hiện nay, Thủ tướng Chính phủ đã giao cho Bộ Tài chính soạn thảo Luật Thuế bảo vệ môi trường, dự kiến sẽ trình Quốc hội khóa XII thông qua vào kỳ họp thứ 8

5.2 Thiếu quy định về chế tài đối với các hành vi gây ô nhiễm môi trường làm ảnh hưởng đến đa dạng sinh học

Chẳng hạn, pháp luật đất đai hiện nay tuy đã có một số quy định về việc sử dụng đất nông nghiệp liên quan đến việc bảo vệ môi trường, tuy nhiên, những quy định đó mới chỉdừng lại ở việc bảo vệ và làm tăng độ màu của đất, còn các quy định mang tính chế tài đối với việc sử dụng hóa chất bừa bãi gây ô nhiễm đất, nguồn nước trong sản xuất nông nghiệp dẫn đến mất hay phá vỡ các hệ sinh thái và các sinh cảnh thì chưa được quy định Pháp luật hiện hành mới chỉ quy định việc xử phạt hành chính đối với hành vi làm giảm khả năng sản xuất của đất nông nghiệp, mà chưa có các quy định về sử phạt hành chính đối với hành vi gây suy thoái, ô nhiễm khi sử dụng các loại đất khác

Ngày đăng: 10/04/2013, 11:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w