Để giải nguy cho nền kinh tế, chính phủ các nước đã tung ra hàng loạt những gói kích cầu mà nguồn chi chủ yếu từ ngân sách nhà nước, một trong những khoản mục chi tiêu công của Chính phủ
Trang 1PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Đối với mỗi quốc gia, dù theo chế độ chính trị nào, Chính phủ vẫn phải quan tâm đến tình trạng của ngân sách Nhà nước và đặc biệt là chi tiêu công Năm 2008 đã khép lại với khủng hoảng kinh tế không chỉ diễn ra ở Việt Nam mà hầu hết các nước trên thế giới Để giải nguy cho nền kinh tế, chính phủ các nước đã tung ra hàng loạt những gói kích cầu mà nguồn chi chủ yếu từ ngân sách nhà nước, một trong những khoản mục chi tiêu công của Chính phủ Năm 2008, Việt Nam có bội chi ngân sách lên tới con số 8% GDP là rất đáng lưu tâm vì các năm trước Việt Nam vẫn kiểm soát bội chi ngân sách trong kế hoạch dưới 5% GDP Vậy, quyết định chi tiêu công của Chính phủ Việt Nam có hợp lý không? Hiệu quả của các chính sách trong chương trình chi tiêu của Chính phủ như thế nào? Đây là những vấn đề vẫn đang còn nhiều ý kiến thảo luận Nhằm làm rõ hơn tình hình chi tiêu công của Chính phủ Việt Nam
năm 2008, nhóm chúng tôi quyết định chọn đề tài “Chương trình chi tiêu công cho huyện đảo Lý Sơn” Trên cơ sở số liệu tổng hợp được, nhóm đã tìm hiểu về tình hình chi tiêu công
cho huyện đảo của Chính phủ Việt Nam xoay quanh các vấn đề: nội dung chi tiêu công diễn ranhư thế nào, tập trung chi tiêu cho những vấn đề gì? Hiệu quả của chính sách chi tiêu công củaChính phủ? Bên cạnh đó, nhóm cũng muốn nêu ra một số giải pháp và định hướng nhằm nâng cao hiệu quả của chi tiêu công cho huyện đảo
2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài
Đề tài “ Chương trình chi tiêu công cho huyện đảo Lý Sơn” củng đã ghi nhận tìm
hiểu, phân tích, vấn đề quan trọng việc chi tiêu của Nhà nước để phân bổ nguồn lực, phânphối lại thu nhập Từ đó rút ra và đi vào phân tích sâu hiệu quả của việc chi tiêu đó đểphát triển nền kinh tế vĩ mô
3 Nguồn số liệu
Sử dụng nguồn số liệu thứ cấp
4 Phương pháp nghiên cứu
Trang 2Bằng việc thu cấp sô liệu sơ cấp, thứ cấp, từ sách, báo, mạng Internet….sử dụngphương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá số liệu qua các năm, các lí do đưa ra, từ đó
mà rút ra đươc hiệu quả của việc chi tiêu công cho chương trình huyện đảo Lý Sơn
5 Kết quả nghiên cứu
- Tổng hợp lại tình hình phát triển huyện đảo Lý Sơn
- Phân tích hạn chế và khó khăn trong của chương trình chi tiêu công cho huyện đảo
Lý Sơn
- Đề xuất một số giải pháp giúp phân phối lại nền kinh tế vĩ mô
6 Bố cục của đề tài
Chương 1: Cái nhìn chung về xuất khẩu của Việt Nam
Chương 2: Thực trạng sản xuất, xuất khẩu cà phê của Việt Nam
Chương 3: Một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu cà phê Việt Nam
Chương 4: Một số đề xuất, kiến nghị của nhóm
PHẦN 2: NỘI DUNG CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHI TIÊU CÔNG, HUYỆN ĐẢO LÝ SƠN 1.1 Khái niệm căn bản
1.1.1 Khái niệm chi tiêu công
Chi tiêu công phản ánh những lựa chọn chính sách của Chính phủ trong việc quyếtđịnh cung cấp những loại hàng hoá, dịch vụ nào; với khối lượng, chất lượng bao nhiêu vàtrong thời gian bao lâu Hiểu rộng hơn, chi tiêu công phản ánh định hướng, chiến lượcphát triển kinh tế- xã hội của Chính phủ trong từng giai đoạn Nếu tiếp cận từ góc độ này,hiện tại có 2 cách hiểu khác nhau về chi tiêu công:
o Thứ nhất, hiểu chi tiêu công theo nghĩa hẹp hay còn gọi là chi tiêu Chínhphủ Khi đó, chi tiêu công là toàn bộ những chi phí cho việc cung cấp hàng hoá, dịch vụthông qua ngân sách công, tức là lượng tiền mà Chính phủ trích ra từ ngân sách để đáp
Trang 3ứng các khoản chi tiêu này Ví dụ: Chính phủ trích ngân sách để chi cho giáo dục, quốcphòng…
o Thứ hai, hiểu chi tiêu công theo nghĩa rộng, tức là phải tính toán toàn bộnhững chi phí phát sinh khi đưa ra bất kỳ quyết định hay chính sách ngân sách nào Cáchtính này sẽ giúp phản ánh được hết những tác động của một quyết định công đối với toàn
bộ nền kinh tế quốc dân, vì hầu hết các quyết định hay chính sách của Chính phủ đều trựctiếp hoặc gián tiếp tác động đến chi tiêu của khu vực tư nhân, do vậy sẽ ảnh hưởng đến
sự phân bổ nguồn lực chung của nền kinh tế Ví dụ: khi chính phủ thông qua quy địnhbuộc tất cả các doanh nghiệp phải lắp đặt hệ thống xử lý nước thải để bảo vệ môi trườngthì quyết định đó cũng sẽ buộc khu vực tư nhân phải bỏ ra một chi phí đáng kể để chấphành quy định của Nhà nước Hoặc khi Chính phủ ấn định lãi suất ưu đãi cho các DNNNthì thực chất đây là một hình thức trợ cấp ngầm, nhưng khoản trợ cấp này lại không đượcphản ánh trực tiếp qua ngân sách
Hiểu một cách khái quát nhất, chi tiêu công là tổng hợp các khoản chi của chínhquyền trung ương, chính quyền địa phương; các doanh nghiệp nhà nước và toàn dân khicùng trang trải kinh phí cho các hoạt động do Chính phủ quản lý
Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, Nhà nước đóng vai trò là trung tâm của quátrình tái phân phối thu nhập trong xã hội Thông qua các khoản chi tiêu công, Nhà nướccung ứng lại cho xã hội những khoản thu nhập đã lấy đi của xã hội từ các khoản nộp thuếbằng cách cung cấp những hàng hoá, dịch vụ công cần thiết mà khu vực tư nhân không
có khả năng cung cấp hoặc cung cấp không hiệu quả Với cơ chế này, Nhà nước thựchiện tái phân phối thu nhập của xã hội theo hướng đảm bảo công bằng hơn, khắc phụcnhững khuyết tật của cơ chế thị trường và đảm bảo kinh tế tăng trưởng ổn định, bềnvững
1.1.2 Phân loại của chi tiêu công
a Phân loại theo tính chất
Cách phân loại này được thực hiện dựa trên việc xem xét các khoản chi tiêu công
có thực sự đòi hỏi tiêu hao nguồn lực của nền kinh tế quốc dân hay không Theo đó, chitiêu công được chia thành chi mua sắm hàng hoá, dịch vụ và chi chuyển nhượng
Chi mua sắm hàng hoá, dịch vụ: Là những khoản chi tiêu đòi hỏi các nguồn lựccủa nền kinh tế Việc khu vực công sử dụng những nguồn lực này sẽ loại bỏ việc sử dụngchúng vào các khu vực khác Vì thế, với một tổng nguồn lực có hạn của nền kinh tế, vấn
đề đặt ra là cần phải cân nhắc nên chi tiêu vào đâu sẽ có hiệu quả nhất
Trang 4Chi chuyển giao hay chi có tính chất phân phối lại như chi lương hưu, trợ cấp,phúc lợi xã hội: Những khoản chi tiêu này không thể hiện yêu cầu của khu vực công cộngđối với các nguồn lực thực của xã hội , vì chúng đơn thuần chỉ là sự chuyển giao từ ngườinày sang người khác thông qua khâu trung gian là khu vực công Tuy nhiên, nói như vậykhông có nghĩa chi chuyển giao không gây tổn thất gì cho xã hội
b Phần loại theo chức năng
Cách phân loại này thường được sử dụng trong đánh giá phân bổ nguồn lực củaChính phủ nhằm thực hiện các hoạt động và mục tiêu khác nhau của Chính phủ Theocách phân loại này, chi tiêu công bao gồm:
o Chi thường xuyên: Đây là nhóm chi phát sinh thường xuyên cần thiết chohoat động của các đơn vị khu vực công Chi thường xuyên bao gồm chi lương, chi nghiệp
vụ, chi quản lý các hoạt động
o Chi đầu tư phát triển: Đây là nhóm chi gắn liền với chức năng phát triểnkinh tế của Nhà nước Chi đầu tư phát triển gồm có chi xây dựng cơ sở hạ tầng; đầu tư hỗtrợ các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế có sự quản lý
và điều tiết của Nhà nước; chi hỗ trợ cho các quỹ hỗ trợ tài chính của Nhà nước; chi dựtrữ quốc gia
c Phân loại theo quy trình lập ngân sách
Chi tiêu công theo các yếu tố đầu vào: Nhà nước xác lập mức kinh phí cho cáckhoản chi tiêu công dựa trên danh sách liệt kê các khoản mua sắm những phương tiện cầnthiết cho hoạt động của các cơ quan, đơn vị Thông thường có các khoản mục cơ bản sau:chi mua tài sản cố định, chi mua tài sản lưu động, chi tiền lương và các khoản phụ cấp,chi bằng tiền khác
Chi tiêu công theo đầu ra: Kinh phí phân bổ cho một cơ quan, đơn vị không căn cứvào các yếu tố đầu vào, mà dựa vào khối lượng công việc đầu ra và kết quả tác động đếnmục tiêu hoạt động của đơn vị
1.2 Vai trò của chi tiêu công đối với nền kinh tế Việt Nam
Chi tiêu công đóng vai trò quan trọng trong chính sách kinh tế Hầu hết các khoản chi của Chinh phủ đều nhằm vào một trong 3 mục tiêu chính, gồm: phân bổ nguồn lực, phân phối lại thu nhập và ổn định kinh tế vĩ mô Vì vậy chi tiêu công có một số vai trò
cơ bản sau:
Trang 5a Phân bổ nguồn lực
Một trong những vai trò quan trọng của Chính phủ là can thiệp vào nền kinh tế thị trường để khắc phục những khuyết tật của thị trường, như độc quyền, hàng hoá công cộng, ngoại ứng hay thông tin không đối xứng Tất nhiên, cũng cần phải thấy rằng sự can thiệp của Chính phủ vào phân bổ nguồn lực không phải là chìa khoá vạn năng để giải quyết mọi vấn đề Bởi lẽ, Chính phủ cũng có những hạn chế của mình và mọi chính sách can thiệp của Chính phủ đều kèm theo chi phí nhất định Vì thế, nguyên tắc biên đã chỉ ramột tiêu chuẩn để đánh gía giá trị của các chính sách can thiệp của Chính phủ, đó là các chính sách đó phải mang lại cho xã hội những lợi ích lớn hơn những chi phí phát sinh mà
xã hội phải gánh chịu
b Phân phối lại thu nhập
Đây là một mục tiêu quan trọng đứng sau nhiều chính sách của Chính phủ Chínhphủ có thể thực hiện mục tiêu này bằng nhiều cách nhưng cách thức trực tiếp thườngdùng nhất là đánh thuế luỹ tiến và chi trợ cấp bằng tiền cho các đối tượng cần thiết ViệcChính phủ cung cấp các dịch vụ y tế, giáo dục, nhà ở và các dịch vụ xã hội khác cũng lànhững trọng tâm của các chính sách phân phối lại Ngoài ra, các hoạt động điều tiết nhưbảo vệ người tiêu dùng, chống độc quyền, đảm bảo an toàn lao động, vệ sinh thựcphẩm… cũng mang hàm ý phân phối lại Tuy nhiên, đứng sau mỗi mức độ phân phối lại
đó đều hàm chứa sự đánh đổi giữa hiệu quả và công bằng, vì nó có liên quan đến nhữngchi phí nhất định để đảm bảo hoạt động phân phối lại mang tính hiệu quả cao
c Ổn định nền kinh tế vĩ mô
Các chính sách chi tiêu của Chính phủ giữ vai trò thiết yếu trong việc đạt được cácmục tiêu kinh tế vĩ mô như cải thiện cán cân thanh toán, nâng cao tốc độ tăng trưởng dàihạn của nền kinh tế
Chính sách kinh tế vĩ mô nhằm ổn định và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bao gồmcác chính sách tài khoá (thuế và chi tiêu của Chính phủ) và chính sách tiền tệ (mức cungtiền, lãi suất, tín dụng) Bằng việc sử dụng một cách cẩn thận hai công cụ chính sách này,Chính phủ có thể tác động tới tổng chi tiêu của xã hội, tốc độ tăng trưởng kinh tế, tổngsản lượng, tỷ lệ người lao động có việc làm, mức giá cũng như tỷ lệ lạm phát của nềnkinh tế
1.3 Vị trí, vai trò của huyện đảo Lý Sơn đối với Việt Nam
1.3.1 Tổng quan về huyện đảo Lý Sơn
Trang 6Việt Nam có diện tích hơn 330.000 km² bao gồm khoảng 327.480 km² đất liền vàhơn 4.200 km² biển nội thuỷ, có 3.260 km bờ biển của 28 tỉnh; hơn 4.000 hòn đảo, 12huyện đảo, bãi đá ngầm lớn nhỏ, gần và xa bờ, có vùng nội thuỷ, lãnh hải, vùng đặcquyền kinh tế và thềm lục địa xác định khoảng trên 1 triệu km² gần gấp ba lần diện tíchđất liền Tiến ra biển Đông sẽ là con đường phát triển của đất nước ta trong những nămsắp đến Việt Nam là quốc gia có 3 mặt giáp biển, đặc biệt trong đó Biển Đông đóng vaitrò sống còn, đây là một trong 6 biển lớn nhất của tế giới, nối hai đại dương là Thái BìnhDương và Ấn Độ Dương, có 9 quốc gia bao bọc: Việt Nam, Trung Quốc, Philippines,Indonesia, Brunei, Malaysia, Singapore, Thái Lan và Campuchia Đây cũng là con đườngchiến lược của giao thương quốc tế, có 5/10 tuyến đường hàng hải lớn nhất của hành tinh
đi qua
Đảo Lý Sơn nằm trong Quy hoạch phát triển kinh tế đảo Việt Nam đến năm 2020 đãđược Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 568/QĐ-TTg ngày 28/4/2010 vớimục tiêu phát triển của Quy hoạch phát triển kinh tế đảo Việt Nam đến năm 2020 nhằmphát triển nhanh, hiệu quả và bền vững kinh tế của hệ thống các đảo để có bước đột phá
về phát triển kinh tế biển, đảo và ven biển của nước ta, đồng thời xây dựng hệ thống đảotrở thành tuyến phòng thủ vững chắc bảo vệ chủ quyền quốc gia các vùng biển, đảo của
tổ quốc Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về chiến lược biển Việt Nam đếnnăm 2020 phải xây dựng cơ bản về kết cấu hạ tầng thiết yếu gồm: Cầu cảng, hệ thốnggiao thông, cấp điện, cấp nước, thông tin và hạ tầng xã hội… tạo điều kiện cần thiết đểphát triển kinh tế, kết nối các đảo với đất liền và bảo vệ vững chắc vùng biển của tổ quốc
1.3.2 Vị trí và vai trò của huyện đảo Lý Sơn đối với Việt Nam.
Với vị trí địa lý đã được nêu ở trên, Lý Sơn được xem là một “lá chắn” chiến lược quantrọng trong thế trận phòng thủ quốc phòng từ hướng biển Đông
Huyện đảo Lý Sơn được tách ra từ huyện Bình Sơn của tỉnh Quảng Ngãi vào năm
1993 theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ Huyện đảo có diện tích tự nhiên gần
10,32 km 2, gồm đảo Lớn, đảo Bé và hòn Mù Cu Huyện được chia làm 3 xã: An Vĩnh,
An Hải và An Bình Hòn đảo là vết tích còn lại của một núi lửa đã tắt từ thời tiền sử,nhân dân trên đảo sống chủ yếu nhờ vào đánh bắt hải sản và trồng hành, tỏi Tổng chiềudài đường bờ biển trên 25km và nằm ở vị trí tiền tiêu cuả Tổ quốc nên đảo Lý Sơn có vịtrí rất quan trọng trong việc bảo vệ chủ quyền an ninh biển đảo, giữ vững toàn vẹn lãnhthổ đất liền và trên biển
Lý Sơn là đảo được hình thành từ hoạt động của núi lửa và rạn san hô tạo thành, nên
có nhiều cảnh quan, hang động, bãi biển đẹp… là tiềm năng để phát triển du lịch và du lịch
hệ sinh thái biển Ngoài ra, Lý Sơn còn có mối liên hệ gần gũi và chặt chẽ với các khu vựctrọng điểm phát triển kinh tế của tỉnh như: Khu kinh tế Dung Quất, thành phố Quảng Ngãi,
Trang 7khu du lịch Mỹ Khê, khu du lịch Sa Huỳnh… Vì vậy, Lý Sơn có nhiều cơ hội để kết nối,hình thành tuyến du lịch đặc sắc, thu hút được sự quan tâm của du khách.
Xuất phát từ vị trí địa lý, lịch sử hình thành, tiềm năng phát triển kinh tế truyền thống
và du lịch hiện có, chúng ta hoàn toàn có cơ sở để khẳng định chủ trương tập trung mọinguồn lực, kể cả nguồn lực quốc phòng, xây dựng huyện đảo Lý Sơn mạnh về kinh tế - xãhội, vững chắc về quốc phòng - an ninh là đúng đắn và rất cần thiết, phù hợp với chiến lượcphát triển kinh tế biển, đảo đến năm 2020
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN HUYỆN ĐẢO
LÝ SƠN 2.1 Thực trạng phát triển huyện đảo Lý Sơn
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên của huyện đảo Lý Sơn
o Đối với đất lâm nghiệp, hiện có khoảng 165 ha dùng cho việc phát triểnlâm nghiệp, chiếm khoảng 15,99% tổng diện tích của huyện, ngoài ra còn có 28,33 ha đấtđồi núi chưa sử dụng và 67 ha đất núi đá chưa được trồng cây Trong những năm qua,huyện đã tích cực chỉ đạo công tác trồng rừng, tuy nhiên đến nay độ che phủ rừng chỉ đạt19,14% Công tác trồng, chăm sóc và bảo vệ cây vẫn còn nhiều yếu kém
o Nhóm đất chưa sử dụng còn khoảng 212 ha, chiếm 20,54% tổng diện tíchđất tự nhiên toàn huyện, chủ yếu là đất đồi núi trọc, có khả năng phát triển rừng, xâydựng một số công trình thủy lợi và mở rộng các công trình công cộng, phúc lợi
b Về dân cư
• Dân số
Dân số toàn huyện năm 2013 có 21.587 người/5.575 hộ gia đình Mật độ dân sốtrung bình của huyện là 2.091 người /km2, được phân bố tại các xã như sau:
Trang 8• Nguồn nhân lực
Theo số liệu thống kê, năm 2013 thì số người đang làm việc trong các ngành kinh
tế quốc dân là 10.953 người bằng 88,65% số người trong độ tuổi lao động có khả nănglao động Nhìn chung cơ cấu lao động bắt đầu có sự chuyển dịch, cụ thể:
o Lao động ngành nông - lâm - ngư nghiệp chiếm chủ yếu và giảm từ 80,06%năm 2005, đến năm 2013 còn 72,62%;
o Lao động trong ngành công nghiệp - xây dựng chiếm một phần rất nhỏ vàbiến động không đều: Năm 2005 chiếm 6,75% tổng số lao động trong các ngành kinh tếquốc dân của huyện và tăng lên 8,17% cuối năm 2013;
o Lao động dịch vụ tăng tương đối nhanh từ 13,19% năm 2005, đến năm
2013 chiếm khoảng 19,20% tổng số lao động trong các ngành kinh tế quốc dân củahuyện
Đây là một yếu tố thuận lợi cho quá trình phát triển kinh tế xã hội của huyện bởivấn đề lao động tại chỗ cơ bản được giải quyết Bình quân hàng năm huyện giải quyết
200 việc làm mới cho lao động và giải quyết việc làm ổn định cho 1729 lao động Tuynhiên, chất lượng nguồn lao động cũng là vấn đề lớn đặt ra với huyện
c Kinh tế
• Tổng giá trị sản xuất (GTSX) năm 2013
Tổng GTSX (theo giá cố định năm 1994) của huyện đảo Lý Sơn đạt 651.722 triệuđồng, tăng 17,1% so với năm 2012 và bằng 100,5% kế hoạch năm, trong đó:
+ Nông, lâm và thủy sản 284.777 triệu đồng;
+ Công nghiệp – xây dựng 47.321 triệu đồng;
+ Dịch vụ 319.624 triệu đồng;
Tổng GTSX tính theo giá hiện hành: 1.488,2 tỷ đồng, trong đó:
Trang 9+ GTSX nông lâm thủy sản: 1.033,8 tỷ đồng
+ GTSX công nghiệp-xây dựng: 134,8 tỷ đồng
+ GTSX thương mại, dịch vụ: 319,6 tỷ đồng
• Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế
Tốc độ tăng trưởng GTSX bình quân giai đoạn 2010-2013 đạt 16,03%, trong đó:+ Nông lâm và thủy sản tăng 9,7%/năm;
+ Công nghiệp - xây dựng tăng 20,44%/năm;
+ Dịch vụ tăng 21,45 %/năm
Thu nhập bình quân đầu người năm 2013 đạt 15,6 triệu đồng/người, tăng 5,2 triệuđồng so với năm 2010
• Cơ cấu kinh tế
Nhìn chung do có những đặc thù riêng của mình nên quá trình chuyển dịch cơ cấukinh tế của Lý Sơn còn chậm Ngành nông nghiệp chiếm tỷ trọng 69,47%, trong đó thủysản chiếm tỷ trọng lớn nhất chiếm 53,89% vào năm 2013 Ngành nông nghiệp với sảnphẩm cây hành, tỏi Đến năm 2013 tỷ trọng của ngành trồng trọt và chăn nuôi chiếm15,58% tổng giá trị sản xuất toàn huyện
Ngành công nghiệp - xây dựng bước đầu nâng cao tỷ trọng trong cơ cấu chungnhưng không đáng kể; khối ngành dịch vụ chủ yếu phục vụ dân sinh nên chưa có nhiềubiến động Phần dịch vụ du lịch, dịch vụ sản xuất vẫn còn chưa phát triển
Trong các năm qua, cơ cấu kinh tế của huyện chuyển dịch theo hướng tăng tỷtrọng của ngành nông nghiệp (do ngành thủy sản tăng cao so với tỷ trọng ngành chănnuôi và trồng trọt giảm), tỷ trọng ngành thương mại – dịch vụ; giảm tỷ trọng ngành côngnghiệp Đến năm 2013, tỷ trọng của ngành thủy sản là 53,89 %, chiếm tỷ trọng cao nhấtcủa nền kinh tế của huyện đảo Lý Sơn
Bảng 1 Cơ cấu kinh tế đến năm 2013
(Theo thống kê của huyện Lý Sơn năm 2013)
nuôi đạt 15,58%
Trang 103 Dịch vụ 21,47 %
2.1.2 Hiện trạng phát triển nền kinh tế và kết cấu hạ tầng của huyện đảo Lý Sơn
2.1.2.1 Hiện trạng phát triển các ngành kinh tế
• Ngành nông nghiệp và thủy sản
Đánh bắt thuỷ hải sản và trồng tỏi, hành là những thế mạnh trong nông nghiệp củahuyện Do vậy, chuyển dịch cơ cấu sản xuất theo hướng phát triển nhanh ngành thuỷ sản
đã phát huy được lợi thế, đem lại nhiều kết quả tích cực trong việc nâng cao giá trị sảnxuất của ngành nông nghiệp, góp phần chủ yếu vào cải thiện đời sống nhân dân, tăngnguồn thu ngân sách và giải quyết các vấn đề xã hội Tuy nhiên, quy mô phát triển chưatương xứng với tiềm năng hiện có, sản xuất phụ thuộc chủ yếu vào điều kiện tự nhiên.Tăng trưởng GTSX của ngành nông nghiệp, thủy sản trong giai đoạn 2010-2013 bìnhquân đạt 9,7%/năm, trong đó Nông nghiệp tăng 7%, thuỷ sản tăng 11,41%/năm;
Số lượng phương tiện đánh bắt hải sản tăng từ 226 phương tiện năm 2000 lên 427phương tiện năm 2013, với tổng công suất 47.245CV, sản lượng khai thác đến năm 2013
là 37.300 tấn Tuy nhiên, hầu hết các phương tiện đánh bắt của huyện mới chỉ có côngsuất dưới 100CV và thiếu trang thiết bị hiện đại để vươn ra khơi đánh bắt dài ngày trênbiển
Các dịch vụ hậu cần nghề cá, sơ chế hải sản được duy trì và có bước phát triểnnhất định Trong giai đoạn vừa qua đã thực hiện 3 dự án sản xuất chế biến nước mắm cóhiệu quả, tác động tích cực đến đầu tư sản xuất nước mắm trong nhân dân, chấm dứt tìnhtrạng là huyện đảo nhưng phải cung cấp nước mắm từ đất liền
Hiện nay, ngành thủy sản được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn của huyện,song trong giai đoạn vừa qua vẫn còn nhiều hạn chế, phát triển chưa đồng bộ, chủ yếumới tập trung đẩy mạnh khai thác, đánh bắt hải sản Các dịch vụ hậu cần nghề cá và chếbiến hải sản phát triển chậm chưa đáp ứng được nhu cầu, riêng lĩnh vực nuôi trồng thủyhải sản chưa thực hiện được trong khi huyện được đánh giá là có tiềm năng để phát triển
• Du lịch - dịch vụ - thương mại
Về du lịch: Lý Sơn là huyện có nhiều tiềm năng phát triển dịch vụ du lịch như: Dulịch nghỉ dưỡng, tắm biển; du lịch sinh thái; ngoài ra trên địa bàn huyện còn một số ditích lịch sử và các lễ hội dân tộc độc đáo có khả năng thu hút khách du lịch đến thamquan, tìm hiểu Gần đây có nhiều du khách đến tham quan, tìm hiểu về văn hóa, lịch sửHoàng Sa, Trường Sa và các danh lam thắng cảnh trên địa bàn huyện Trong năm 2013
có 28.854 lượt khách du lịch đến huyện tham quan Tuy nhiên, ngành du lịch vẫn chưa
Trang 11được quan tâm đầu tư đúng mức và chưa phát triển tương xứng với tiềm năng.
Nhìn chung, những năm vừa qua ngành dịch vụ của huyện đảo Lý Sơn vẫn chưa
có điều kiện phát triển, chủ yếu chỉ dừng lại ở mức phục vụ nhu cầu sinh hoạt của nhândân trên đảo, vì vậy GTSX của ngành thương mại, dịch vụ du lịch chiếm tỷ trọng trongtổng GTSX đạt thấp Tốc độ tăng trưởng GTSX bình quân ngành du lịch, thương mại giaiđoạn 2010-2013 đạt mức bình quân 21,45%/năm
Đến nay, trên địa bàn huyện có trên 811 cơ sở kinh doanh hoạt động trong lĩnhvực thương mại, dịch vụ với khoảng trên 1.130 lao động; 04 chợ với tổng diện tích đấtxây dựng là 69.200 m2
Dịch vụ vận tải biển có nhiều tiến bộ với việc hình thành tuyến tàu cao tốc Sa Kỳ
-Lý Sơn (04 chiếc) cùng với các tàu vận tải truyền thống đã từng bước đáp ứng được nhucầu đi lại của nhân dân và khách du lịch, tham quan, nhưng chưa đáp ứng được nhu cầukhẩn cấp hoặc cấp cứu đưa vào đất liền
Km đường xã và thôn xóm: 17 km, chiếm 43,14% Còn lại là các tuyến đường đất cólòng đường từ 1 m đến 2 m, chưa được nâng cấp mở rộng
Giao thông đường thủy: đóng vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình phát
triển KT-XH huyện Lý Sơn, gắn liền sự phát triển của đảo với đất liền Hiện nay có 03tuyến giao thông chính:
+ Lý Sơn – Sa Kỳ dài 15 Hải lý;
+ Lý Sơn – Phú Thọ dài 25 Hải lý;
+ Lý Sơn – Sa Cần dài 25 Hải lý;
Hạ tầng giao thông đường thủy:
+ Vũng neo đậu tàu thuyền và trú bão Lý Sơn: Đã được xây dựng tại xã AnHải (đã hoàn thành giai đoạn 1, đang thực hiện giai đoạn 2, với luồng tàu dài 250 m đảm
Trang 12bảo cho tàu có công suất 400CV ra vào;
+ Cảng Lý sơn: Được đầu tư xây dựng năm 1997 tại xã An Vĩnh phục vụ chotàu cá, tàu hàng và tàu hành khách Hiện nay, cảng đã được tu sửa hoàn thành và đưa vào
sử dụng với thiết kế cho phép tàu thuyền cập bến trong điều kiện sóng cấp 4–5;
+ Bến neo đậu tàu thuyền đảo Bé (xã An Bình): Hiện nay chỉ neo đậu cácthuyền có công suất nhỏ vì luồng tàu không sâu Thời gian qua đã được sửa chữa, nângcấp và mở rộng thêm 150 m2 bến cập tàu bằng nguồn vốn Chương trình Biển Đông hảiđảo
+ Ngoài ra, trên địa bàn huyện còn có 03 bãi đỗ tàu thuyền có công suất nhỏcho ngư dân, song đều là bãi ngang
• Cấp điện
Từ trước năm 2014 Lý Sơn chưa có mạng lưới điện quốc gia Vì vậy, nguồn điệncung cấp cho sinh hoạt và sản xuất từ nhà máy phát điện diezen với tổng công suất3.130KW, chỉ phục vụ cho 02 xã An Vĩnh, An Hải nhưng chỉ phát điện 06 giờ/ngày.Riêng tại xã An Bình (đảo Bé), nhân dân sử dụng điện từ hệ thống điện năng lượng mặttrời
Hiện tại, đang triển khai dự án Cấp điện từ hệ thống điện quốc gia cho huyện đảo
Lý Sơn bằng cáp ngầm, dự kiến hoàn thành vào cuối năm 2014 Thời gian tới sẽ tiếp tụcđầu tư xây dựng Tuyến cáp ngầm từ đảo Lớn sang đảo Bé (xã An Bình) đảm bảo nhu cầuđiện sinh hoạt, sản xuất và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của nhân dân trên huyệnđảo
2.1.2.3 Văn hóa – Xã hội
Giáo dục - Đào tạo: Hiện nay có 01 Trường THPT với 21 phòng học, trong đó
có 01 phòng học đa năng, 02 phòng học tạm với 21 lớp học; 02 Trường THCS tại 02 xã:
An Vĩnh và An Hải (đảo lớn), với 43 lớp, riêng xã An Bình nằm trên đảo Bé chưa cótrường THCS; 04 Trường tiểu học (xã An Vĩnh 02 trường, xã An Hải 01 trường và xã AnBình 01 trường) với 48 lớp; cấp học mầm non có 03 trường ở xã An Vĩnh, An Hải, với 37lớp Đến nay, huyện đã đạt phổ cập giáo dục bậc trung học cơ sở và phổ cập giáo dục tiểuhọc đúng độ tuổi và có 01 trường đạt chuẩn quốc gia; tổng số học sinh các cấp là 5.413học sinh (trong đó: mẫu giáo 1.102 học sinh, tiểu học 1.839 học sinh, trung học cơ sở1.359 học sinh, phổ thông trung học 827HS, Trung tâm dạy nghề - Giáo dục thườngxuyên và hướng nghiệp 286 học viên), tổng số cán bộ giáo viên, nhân viên của các cấphọc là 344 người
Y tế: Hệ thống y tế hiện nay của huyện gồm có 01 Bệnh viện quân dân y vớicông suất thiết kế 50 giường bệnh và 02 Trạm y tế xã (An Bình, An Hải)
Trang 13 Nền văn hóa xã hội:
- Đảo Lý Sơn được khai phá cách đây khoảng 400 năm, dưới thời các
Chúa Nguyễn nên có tiềm năng văn hóa vô cùng phong phú, là một bảo tàng sống độngrất đáng ngạc nhiên của kho tàng truyền thuyết, chuyện kể, dân ca, lễ hội đua thuyền tứlinh đầu năm, lễ khao lề thế lính Hoàng Sa vào tháng 2 và tháng 3 (âm lịch), lễ khao lềthế lính Hoàng Sa đã được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia , các tínngưỡng dân gian theo mùa, tục thờ cá Ông… Đặc biệt, nơi đây còn lưu giữ nhiều tư liệuquan trọng để chứng minh quần đảo Hoàng Sa là của Việt Nam
- Có nhiều cảnh quan, các hang động, các bãi biển phục vụ cho việc pháttriển du lịch trên đảo, cụ thể: Quần cảnh Mù Cu; Hang câu Thạch động; Mũi đèn; hệthống các miệng núi lửa; hệ thống các bãi san hô quanh đảo nằm trong Khu bảo tồn biểnnhư: từ khu vực Mũi đèn đến hang Câu; bãi biển phía Nam xã An Hải; bãi biển phía Nam
xã An Vĩnh; bãi Hang (phía Bắc đảo Bé)
2.1.2.4 Các công trình quốc phòng
Trong những năm qua, tình hình quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội đượcgiữ vững, ổn định Công tác bảo vệ quốc phòng, an ninh vùng biển được tăng cường, cáclực lượng vũ trang đã chủ động nắm bắt diễn biến tình hình, xử lý kịp thời và có hiệu quảcác vụ việc xảy ra, bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới biển Ngoài các công trình dotỉnh và Quân khu V đã đầu tư như: Doanh trại BCH quân sự huyện, các doanh trại Bộđội, Bộ đội biên phòng và các công trình phòng thủ khác trên đảo, tỉnh và TW đã cho đầu
tư Đường cơ động phía Đông Nam đảo Lý Sơn với chiều dài gần 6 km kết hợp với kèchống xói lở bờ biển bằng nguồn vốn từ Chương trình Biển Đông hải đảo để phục vụphát triển KT – XH của huyện cũng như sử dụng cho nhu cầu của quân sự khi cần thiết
Dự kiến sẽ hoàn thành trong năm 2014
2.2 Định hướng phát triển huyện đảo Lý Sơn gắn với chiến lược phát triển kinh tế 2.2.1 Mục tiêu phát triển chung cho nền kinh tế và xã hội
Nhà nước huy động mọi nguồn lực để xây dựng huyện đảo Lý Sơn phát triểnmạnh mẽ về kinh tế, hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, đảm bảo vững chắc về quốcphòng an ninh, bền vững về môi trường, đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế -
xã hội tỉnh Quảng Ngãi
a Phát triển kinh tế
* Giai đoạn 2012 - 2015
- Đóng góp của huyện vào GTSX của tỉnh tăng từ 1,63% năm 2010 lên1,9% vào năm 2015 và đạt 2,1% vào năm 2020
Trang 14- GTSX bình quân đầu người của huyện (theo giá so sánh năm 1994) đếnnăm 2015 bằng 90% GTSX bình quân đầu nguời của tỉnh.
- Giai đoạn 2012-2015, tốc độ tăng trưởng GTSX bình quân hàng năm đạt mức16,5%/năm, trong đó: Nông lâm thủy sản đạt 17,8% (ngành thủy sản đạt tốc độ trungbình là 18,6%/năm, nông nghiệp đạt 17,1%/năm); khu vực dịch vụ đạt 13,6%/năm; vàcông nghiệp, xây dựng đạt 7,3%/năm đến năm 2015, GDP bình quân đầu người đạtkhoảng 69,2 triệu đồng/người
- Cơ cấu kinh tế đến năm 2015 như sau: Nông lâm thủy sản chiếm 66,5%(trong đó: Thủy sản chiếm 54,4%, nông nghiệp chiếm: 12,1%), dịch vụ chiếm: 25%,công nghiệp chiếm: 8,5%
- Cơ cấu kinh tế năm 2020 như sau: Nông lâm thủy sản chiếm 57,9% (trongđó: Thủy sản chiếm 45,6%, nông nghiệp chiếm: 12,3%), dịch vụ chiếm: 30,1%,công nghiệp chiếm: 12,0%
b Phát triển xã hội
* Giai đoạn 2012-2015
- Nâng cao chất lượng nguồn lao động, giải quyết việc làm bình quân hàngnăm khoảng 500-1.000 lao động và giải quyết việc làm ổn định cho khoảng 2.500-3.000 lao động Chuyển dịch cơ cấu lao động xã hội theo hướng giảm tỷ trọng laođộng trong khu vực nông nghiệp, thủy sản; đến năm 2015 lao động trong khu vựcnông nghiệp, thủy sản còn khoảng 75%, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt khoảng 20-25%, tỷ lệ thời gian sử dụng lao động là 95%
- Phấn đấu đến năm 2015 hoàn thành phổ cập giáo dục bậc trung học Tăngcường chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân, nâng cao thể lực, tăng tuổi thọ, giảm tỷ
lệ mắc bệnh của nhân dân Hạ tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới5 tuổi xuống dưới15% vào năm 2015
- Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống vật thể và phi vật thể;đẩy mạnh phong trào thể dục thể thao quần chúng, thể thao thành tích cao
* Giai đoạn 2016-2020
- Giải quyết việc làm bình quân hàng năm khoảng 1.500-2.000 lao động và giải