1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nguyên nhân của tình hình tội phạm ma tuý ở Việt Nam trong luận án thạc sĩ Luật học của Nguyễn Thị Tuyết Mai

12 4,9K 18
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nguyên nhân của tình hình tội phạm ma tuý ở Việt Nam
Tác giả Nguyễn Thị Tuyết Mai
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật học
Thể loại Luận án thạc sĩ
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 73,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về điều kiện tự nhiên và lịch sử: Ở những vùng núi cao phía Bắc, vấn đề về sinh sống,

Trang 1

I Tóm tắt các nguyên nhân của tình hình tội phạm ma tuý ở Việt Nam trong luận án thạc sĩ Luật học của Nguyễn Thị Tuyết Mai

1 Nguyên nhân và điều kiện về điều kiện tự nhiên, lịch sử, kinh tế và xã hội

- Về điều kiện tự nhiên và lịch sử: Ở những vùng núi cao phía Bắc, vấn đề về sinh sống, điều kiện tự nhiên và thổ nhưỡng phù hợp với việc canh tác cây anh túc Đời sống kinh tế khó khăn, thiếu hiểu biết về tác hại của ma tuý, thói quen sử dụng thuốc phiện khi đói, khi đau trở thành tập quán Đồng thời tàn dư của chính sách khuyến khích trồng cây thuốc phiện tạo điều kiện để cây thuốc phiện bám rễ ở Việt Nam Vào những năm 80, nhà nước cho trồng cây thuốc phiện để đáp ứng nhu cầu dược liệu trong nước, khiến cho việc trồng cây thuốc phiện trở thành thu nhập chính của đồng bào miền núi

Việt Nam nằm trong khu vực Đông Nam Á, gần khu vực Tam Giác Vàng ( 3 nước ĐNA: Myanma, Thái Lan, Lào) Và Trăng lưỡi liềm vàng ( Các nước Tây Nam Á: Thổ Nhĩ Kỳ, Apganistan, Pakistan và Iran) những điểm nóng về buôn bán, vận chuyển ma tuý ở Châu Á Bên cạnh đó, Việt Nam lại là một đất nước có đường biên giới dài, bao gồm 4667km đường biên giới đất liền với 37 của khẩu chính, địa hình phức tạp, thuộc nhiều nơi xa xôi, hẻo lánh, đi lại rất khó khăn, nhiều đường mòn, sông suối Đường biên giới biển đảo dài 3260km với hàng ngàn đảo, quần đảo, vũng sâu, bãi ngang thuận tiện cho tàu bè đi lại nhưng khó kiểm soát, quản

lý Chính những đặc điểm này tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của tội phạm

ma tuý ở Việt Nam

Sau khủng bố ở Mỹ 11/09/2001 và chiến sự ở Apganistan, khu vực Trăng lưỡi liềm vàng được thế giới kiểm soát chặt chẽ hơn Nhiều băng nhóm tội phạm xuyên quốc gia gia tăng hoạt động ở vùng Tam Giác Vàng kết hợp với sự kiện" vua ma tuý" Khunsa đầu hàng chính phủ Myanma và sự tan vỡ của tổ chức buôn lậu ma tuý do ông cầm đầu đã ảnh hưởng đến hoạt động trồng cây thuốc phiện và sản xuất thuốc phiện, hêrôin trong khu vực Tam Giác Vàng, ma tuý tổng hợp xuất hiện và gia tăng

Trang 2

ở các nước ASEAN, tuyến đường buôn ma tuý qua Thái Lan bị triệt phá Chính vì thế bọn tội phạm buôn bán ma tuý chuyển hướng tìm kiếm con đường khác để hoạt động và Việt Nam là nơi có điều kiện, địa hình thuận lợi để tiêu thụ và trung chuyển ma tuý của chúng

- Về điều kiện kinh tế, xã hội: Việt Nam mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế với những thành tựu mới về kinh tế, văn hoá, xã hội, làm nâng cao đời sống nhân dân cũng như mặt bằng dân trí tuy nhiên, kéo theo đó là sự phân hoá xã hội sâu sắc, lực lượng lao động tự nhiên tăng, mỗi năm khoảng 1,2 triệu người, thất nghiệp ngày càng gia tăng, kéo theo đó là bất ổn trong gia đinh, trong cộng đồng làm nhiều người mất phương hướng Tự do cá nhân mở rộng nhưng bên cạnh đó cũng tồn tại những nhận thức sai lệch về tự do, dân chủ của một bộ phận người dân Lối sống thực dụng, ích kỷ, nhu cầu hưởng thụ, khao khát kiếm tiền và lo làm giàu nhanh chóng được đề cao trong một bộ phân xã hội nhất là giới trẻ Cơ chế quản lý kinh tế chưa thực hiện tốt, dẫn đến nhiều thiếu xót như buông lỏng quản lý, coi thường pháp luật Tất cả các yếu tố đó đã đẩy con người lao vào con đường bất chính - điều kiện thuận lợi cho nhóm tội phạm ma tuý ở Việt Nam phát triển nhanh chóng Bên cạnh đó, chính sách " mở cửa " tạo điều kiện cho Việt Kiều về thăm quê hương, người nước ngoài vào đầu tư, du lịch ở Việt Nam dễ dàng hơn Đây cũng là một yếu tố để nhiều kẻ lợi dụng thực hiện hành vi phạm tội gây khó khăn cho công tác kiểm soát, điều tra

2 Nguyên nhân và điều kiện về giáo dục và tâm lý

- Yếu tố giáo dục:

+ Giáo dục ở gia đình: Gia đình là môi trường đầu tiên mà con người tiếp xúc, là yếu tố chủ đạo cho sự hình thành và phát triển những phẩm chất tâm lý, nhân cách con người Cấu trúc gia đình, phong cách làm cha mẹ, chất lượng mối quan hệ cha

mẹ - con cái, sự giám sát của cha mẹ có ảnh hưởng rất nhiều đến sự hình thành các đặc điểm tâm lý xấu và các hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội của con trẻ Gia

Trang 3

đình tan vỡ, các mối quan hệ trong gia đình suy yếu, tình trạng tội phạm và sử dụng ma tuý của cha mẹ, anh chị em ruột, sự buông lỏng quản lý, giám sát của cha

mẹ đối với con cái được xác định là yếu tố nghiêm trọng dẫn đến việc sử dụng ma tuý và tội phạm về ma tuý ở Việt Nam

+ Giáo dục ở nhà trường: Trên 50% quỹ thời gian của thế hệ trẻ hiện nay là dành cho học tập, sinh hoạt ở nhà trường Nhà trường đóng vai trò giáo dục tri thức và định hướng hành vi, ứng xử của học sinh, sinh viên, giúp các em phân biệt đúng sai, xấu tốt Hiện nay, tỷ lệ nghiện ma tuý trong học đường là rất cao, có thể điểm qua vài nguyên nhân sau:

Do yếu tố khách quan: sự thiếu thốn và xuống cấp của hệ thống cơ sở hạ tầng, thiết bị trong nhà trường dẫn đến khó khăn trong tổ chức và quản lý Việc thiếu thốn cơ sở vật chất khiến việc quản lý, giám sát khó khăn gây ra tình trạng đi học thất thường, học kém, nhiều em gia nhập đội quân lang thang đường phố, vì thế dễ tiếp xúc với các tệ nạn trong đó có ma tuý

Yếu tố chủ quan: Nhiều trường học tỏ ra chủ quan hoặc thiếu những biện pháp cương quyết trong tổ chức, thực hiện làm trong sạch môi trường học đường Nhà trường không đánh giá đúng tình hình học sinh, sinh viên nghiện hút để có các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn

+ Giáo dục ở mội trường văn hóa cộng đồng:

Thiếu môi trường vui chơi, giải trí lành mạnh cho giới trẻ

Thiếu định hướng cơ bản trước những chuyển đổi của cơ chế kinh tế, xã hội qua

sự hội nhập quốc tế

Những giá trị nhân văn truyền thống bị lu mờ, tạo điều kiện cho nếp sống đồi truỵ, thiếu lành mạnh thâm nhập vào mỗi cá nhân, tạo điều kiện cho sự xâm nhập của ma tuý

- Yếu tố tâm lý:

Trang 4

Những đặc điểm tâm lý cá nhân kết hợp với việc không được quan tâm, định hướng đúng đắn cũng là nguyên nhân cho việc xuất hiện những hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội trong đó có nghiện ma tuý và tội phạm về ma tuý Kết quả nghiên cứu cho thấy những người nghiện ma tuý là những người có lòng tự trọng thấp, tính tự kiếm chế kém (hung hăng, bốc đồng), thích phiêu lưu (ưa tìm cảm giác mạnh), thiếu bản lĩnh trong cuộc sống

Bên cạnh đó, tính ích kỷ, tâm lý thực dụng, hám lợi, chạy theo đồng tiền đã đẩy người ta lao vào con đường phạm tội, sứ hút ghê gớm của " Lợi nhuận siêu ngạch"

có được khi thực hiện tội phạm về ma tuy khiến người ta có thể bất chấp cả sự răn

đe của pháp luật và mức án tử hình có thể đến với họ

Đồng thời, tâm lý đầu hàng ma tuý của người nghiện và người đấu tranh phòng chống ma tuý khiến cho tỷ lệ nghiện ma tuý và tội phạm về ma tuý tăng cao gây khó khăn cho công tác đấu tranh, phòng chống ma tuý

3 Nguyên nhân và điều kiện liên quan đến các quy định của pháp luật

Trước hết là sự chậm trễ trong việc thể hiện và đổi mới chính sách Nhà nước về phòng, chống ma túy.

Ngay từ giữa thể kỷ XX, thế giới đã nhận thức được hiểm họa ma túy và sự cần thiết phải liên kết để đối phó với “thỏa họa” này Đành rằng chiến tranh kéo dài nhưng mãi tới 1/9/1997 Việt Nam mới tham gia 3 công ước Quốc tế của Liên hợp quốc về kiểm soát ma túy nên đã bỏ lỡ cơ hội chung sức với cộng đồng quốc tế trong cuộc chiến chống tệ nạn ma túy Đây cũng là thời gian hiểm họa ma túy tích lũy được cả về “lượng” và “chất” trong môi trường ở Việt Nam

Chính sách hình sự của Nhà nước ta về tội phạm ma túy cũng chậm đổi mới Trong

bộ luật hình sự năm 1985 tội phạm ma túy chỉ được ghi nhận tại điều 2003 Tới năm 1991- lần sửa đổi bổ sung thứ ba BLHS mới có tội danh qui định tại điều 96.a Trong lần sửa đổi bổ sung thứ 4 năm 1997, chương VIIa quy định thêm 8 hành vi phạm tội mới Tuy nhiên mãi đến năm 1999, BLHS mới thể hiện thái độ nghiêm

Trang 5

khắc và kiên quyết hơn trừng trị các tội phạm về ma túy Đến tận cuối năm 2000, chúng ta mới có một văn bản luật có hiệu lực pháp lý cao nhất là Luật phòng chống

ma túy

Những quy định của BLHS 1999 về tội phạm về ma túy cũng bộc lộ nhiều điểm

thiếu chặt chẽ và không hợp lý, thể hiện ở những điểm sau.

Trước hết là những quy định liên quan đến đối tượng của các tội phạm về ma túy.

Đối với các tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy, BLHS lấy căn cứ xác định TNHS của người thực hiện các tội phạm nêu trên là chất ma túy gì, có số lượng, trọng lượng bao nhiêu Vậy phải hiểu qui định trọng lượng trên áp dụng với dạng nào của cùng loại chất ma túy (heroin hàm lượng bao nhiêu, thuốc phiện sống hay chín?) Lợi dụng kẽ hở này, bọn tội phạm

về ma túy đã tìm ra nhiều thủ đoạn điều chế, cất giấu các chất ma túy với hàm lượng rất cao gây khó khăn cho việc phát hiện, điều tra và xử lý tội phạm Việc qui đổi tiền chất từ thể lỏng sang thể rắn, tỉ lệ quy đổi như thế nào còn chưa được quy định

Thứ hai, xung quanh qui định về dấu hiệu “đã bị xử phạt hành chính…” về hành vi phạm tội của người trồng cây thuốc phiện, cây cooca…còn nhiều hạn chế, bất cập

so với thực tế dẫn đến việc giáo dục và xử lý hành chính tỏ ra không có hiệu quả Đ.119 BLHS quy định tội sử dụng trái phép chất ma túy thực tế thì những người có

đủ dấu hiệu của tội này không bị xử lý hình sự mà chỉ áp dụng hình thức cai nghiện Thêm vào đó, hình phạt áp dụng là tù có thời hạn mà điều kiện hệ thống nhà tù, trại giam nước ta vốn đã quá tải Như vậy mục đích của điều luật không đạt được

Một số nội dung mới của BLHS 1999 về tội phạm ma túy còn chưa được hướng dẫn kịp thời vì vậy dẫn đến những hạn chế nhất định trong công tác áp dụng pháp

luật

Trang 6

BLHS 1999 có hiệu lực thi hành từ 1/7/2000 nhưng cho đến nay mới chỉ có một văn bản hướng dẫn một số quy định đó là nghị quyết 01/2001/NQ-HĐTP Song những nội dung hướng dẫn của Nghị quyết này chỉ ở góc độ hẹp và nhiều quy định khác của BLHS cũng cần có văn bản hướng dẫn giải thích

Hệ thống văn bản pháp luật hiện hành còn bộc lộ sự thiếu đồng bộ

Một số văn bản pháp luật được ban hành từ trước (đặc biệt là pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 1995) còn chậm sửa đổi hoặc bổ sung các quy định mới cho phù hợp với BLHS 1999 và luật phòng chống ma túy 2000 mới được ban hành

5 Nguyên nhân và điều kiện liên quan đến các hoạt động quản lý nhà nước khác

về phòng chống, ma tuý

a) Quản lý việc xoá bỏ trồng và tái trồng cây thuốc phiện.

Công tác quản lý việc xoá bỏ cây thuốc phiện và trồng cây thay thế của Nhà nước còn một số bất cập, hiệu quả quản lý không cao Chúng ta vận động đồng bào chuyển đổi cơ cấu sản xuất, nuôi trồng các loại cây có lợi nhưng hiệu quả của các hoạt động này không cao Các chương trình phát triển thay thế chưa được tiến hành đồng bộ và nhất quán Việc lựa chọn cơ sở tính toán mức kinh phí hỗ trợ còn không thống nhất giữa các đơn vị, địa phương và tỏ ra chưa hợp lý, sức khuyến khích còn thấp Vì vậy vẫn còn tình trạng lén lút trồng cây thuốc phiện

b) Quản lý cai nghiện và sau cai nghiện.

Việc phân công quản lý Nhà nước về cai nghiện ma tuý đã có những cải thiện nhất định song vẫn còn nhiều điểm bất cập dẫn đến bỏ trống địa bàn quản lý sau cai nghiện ở cơ sở Đội ngũ cán bộ còn thiếu, không có cán bộ hoạt động ở xã phường, nhiệm vụ chủ trì cai nghiện ma tuý và quản lý sau cai nghiện ở những địa phương này rất khó thực hiện Bên cạnh đó, cán bộ ngành, đặc biệt là lực lượng bảo vệ tại các trung tâm cai nghiện không có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, áp dụng các biện pháp cưỡng chế cần thiết để đưa người cai nghiện vào cơ sở cai nghiện bắt buộc cũng như để quản lý, giáo dục, chữa bệnh cho họ Mặt khác, năng

Trang 7

lực cai nghiện của nước ta còn rất thấp, chất lương cai nghiện tại các trung tâm cũng như tại cộng đồng chưa cao, các cơ sở cai nghiện quá nghèo nàn, thiếu chặt chẽ, chưa đủ môi trường cai và chưa bệnh

c)Quản lý xuất nhập khẩu các chất ma tuý, quản lý các thuốc độc dược có tính chất gây nghiện và các tiền chất.

Công tác quản lý các chất ma tuý và tiền chất hiện nay còn nhiều sơ hở như có khá nhiều cơ quan có thẩm quyền ký giấy phép nhập khẩu tiền chất nhưng chưa có cơ quan nào chịu trách nhiệm theo dõi, quản lý việc sử dụng tiền chất theo quy địnhcủa công ước quốc tế Thực trạng hoạt động của các ngành chức năng hiện nay còn thiếu sự kiểm tra hoặc kiểm tra chưa chặt chẽ các đơn vị, các cơ sở về nhu cầu cần thiết, điều kiện sản xuất, sử dụng các loại thuôc tân dược gây nghiện Do đó có tình trạng số lượng nhập khẩu và sản xuất các loại thuốc gây nghiện vượt quá nhu cầu cần thiết, thủ tục mua bán, lưu thông, kinh doanh thuốc gây nghiện trong các đơn vị cơ sở kinh tế bị vi phạm nghiêm trọng Một số cán bộ y dựoc trong các cơ quan nhà nước tuồn chất ma tuý ra thị trường tự do để kiếm lời

d)Hoạt động tuyên truyền, giáo dục phòng chống ma tuý.

Chúng ta chưa chú ý tới công tác tuyên truyền, giáo dục phòng chống ma tuý mộy cách thực chất và sâu rộng mà mới chỉ sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng Hầu hết công tác này được các ngành làm cho hết trách nhiệm, thiếu tích cực hoặc hình thức của cấp trên thì nhiều còn cụ thể ở cơ sở thì ít Hoạt động tuỷên truyền giáo dục đối với các đối tượng "trong cuộc" là những người nghiện ma tuý, người bị kết án về tội phạm ma tuý thì lai chưa được chú trọng đúng mức trong khi

họ là những người cần được tuyên truyền, giáo dục trước tiên và nhiều hơn cả Công tác tuyên truyền giáo dục về pháp luật, về tác hại của ma tuý đối với nhân dân ở vùng cao, vùng sâu có nhiều yếu kém nhất là việc kết hợp giáo dục với giúp

đỡ đồng bào để phát triển kinh tế và ổn định cuộc sống Việc tuyên truyền phòng chống ma tuý bằng việc làm đúng pháp luật, đúng đường lối chính sách còn thiếu

Trang 8

hiệu quả Những thiếu xót, sai phạm trong các hoạt động điều tra, xét xử tội phạm

về ma tuý làm cho niềm tin của quần chúng nhân dân bị lung lay, người dân thiếu nhiệt tình và kiên quyết trong việc cung cấp thông tin, tố giác tội phạm về ma tuý với cơ quan chức năng, bọn tội phạm về ma tuý " vin vào" các kẽ hở của pháp luật

và hoạt động áp dụng pháp luật để gia tăng hành vi phạm tội

6 Tóm tắt về các nguyên nhân và điều kiện liên quan đến hoạt động hợp tác quốc

tế trong đấu tranh phòng chống tội phạm về ma túy

Tội phạm về ma túy đã không chỉ còn là vấn đề riêng của một quốc gia mà trở thành một vấn đề được quan tâm hàng đầu thế giới và mang tính quốc tế, chính vì vậy, hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng chống ma túy là một tất yếu khách quan.Việt Nam rất coi trọng hợp tác song phương và đa phương với các nước và các tổ chức quốc tế trong phòng chống ma túy như UNDCP, INTERPOL…Tăng cường hợp tác với các nước có đường biên giới,và đã tổ chức tốt một số hội nghị quốc tế quan trọng như hội nghị kiểm soát tiểu vùng (MOU)…

Tuy nhiên một số hoạt động hợp tác quốc tế còn tỏ ra thiếu hiệu quả, dẫn đến những hạn chế trong hoạt động kiểm soát và đấu tranh phòng chống tội phạm về

ma túy ở Việt Nam

Sự phối kết hợp giữa Việt Nam và các nước chung đường biên giới về phòng chống ma túy mới chỉ dừng ở tầng hội nghị và mang tính chất văn bản Tiến độ thực hiện một số dự án còn chậm, thực hiện thỏa thuận hợp tác giữa các nước còn chưa được thường xuyên Sự phối kết hợp đấu tranh, kiểm soát ma túy chưa nhiều

và chưa có hiệu quả xứng đáng

Hiệu suất sử dụng thông tin quốc tế về ma túy và tội phạm ma túy còn thấp Công tác tổng kết, phổ biến kinh nghiệm, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ phòng chống tội phạm ma túy trong nước chưa được chú trọng làm hạn chế hiệu quả hợp tác quốc tế

Trang 9

II Nhận xét của nhóm về các nguyên nhân và điều kiện được nêu trong luận án.

1 Nhận xét chung

Nhóm chúng em đưa ra nhận xét tổng quan đầu tiên là: trong luận án, tác giả đề cập đến thuật ngữ “ nguyên nhân và điều kiện” Đây là thuật ngữ theo quan điểm của giáo trình Liên Xô cũ và tại thời điểm tác giả làm luận án quan điểm ấy vẫn được sử dụng nên tác giả dùng thuật ngữ “nguyên nhân và điều kiện” Nhưng theo quan điểm hiện nay thì không dùng thuật ngữ này nữa mà thay vào đó là thuật ngữ:

“Nguyên nhân” Và vì thế, trong phần nhận xét này, nhóm chúng em kiến nghị nên dùng thuật ngữ “Nguyên nhân” thay cho thuật ngữ “Nguyên nhân và điều kiện”.

* Ưu điểm:

* Hạn chế:

2 Nhận xét về nguyên nhân liên quan đến các quy định của pháp luật

Phần trình bày về nguyên nhân thứ nhất: sự chậm trễ trong việc thực hiện và đổi

mới chính sách nhà nước về phòng, chống ma túy Tác giả đã khái quát được quá trình sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật về tội phạm ma túy, thêm nữa tác giả đã vạch ra được sự chậm trễ trong việc quy định về loại tội phạm này Tuy nhiên, khi đề cập đến Luật phòng, chống ma túy năm 2000 tác giả đã không nêu rõ

sự tiến bộ cũng như các thay đổi cụ thể so với những quy định trước đó Phần trình bày này phải chăng là hơi sơ sài, thiếu cân xứng với bố cục phần này trong khi lại khá thiên về việc trình bày sự đổi mới của BLHS

Ở phần trình bày thứ 2, tác giả đã nêu ra khá cụ thể và chi tiết những điểm thiếu

chặt chẽ và không hợp lí tại một số điều luật trong BLHS 1999 Mặc dù vậy, tác giả vẫn chưa nêu hết được các thiếu sót tại từng điều luật, như thế là quá ít khi mà BLHS 1999 có một chương riêng quy định về loại tội phạm này

Phần trình bày tiếp theo của tác giả, tuy đã nói được những hạn chế trong việc ban

hành các văn bản hướng dẫn áp dụng các quy định của BLHS, nhưng tác giả nên

Trang 10

đưa thêm phần ảnh hưởng, những hậu quả của viêc thiếu sót này Chẳng hạn như hậu quả của việc thiếu văn bản hướng dẫn áp dụng gây khó khăn như thế nào cho công tác xét xử, công tác áp dụng pháp luật vào đời sống…

Cùng với hạn chế ở phần trên, tới phần trình bày hệ thống văn bản pháp luật hiện

hành còn bộc lộ sự thiếu đồng bộ, tác giả vẫn chưa nêu được sự thiếu đồng bộ đó ảnh hưởng như thế nào tới những hoạt động có liên quan khác

Ngoài những hạn chế nêu trên, những số liệu để minh chứng cho từng phần lập

luận của tác giả chưa thật đầy đủ, số liệu đưa vào còn hạn chế Theo chúng em, tác giả nên đưa thêm bảng, biểu đồ thống kê cụ thể để nội dung trình bày có sức thuyết phục hơn

4 Nguyên nhân liên quan đến hoạt động áp dụng pháp luật

* Về bố cục trình bày:

Khi phân tích về nguyên nhân liên quan đến hoạt động áp dụng pháp luật tác giả phân tích dưới hai phương diện, đó là hoạt động phát hiện, điều tra và khám phá tội phạm ma tuý và hoạt động xét xử tội phạm về ma tuý Theo nhóm chúng tôi bố cục phần trình bày như vậy là hợp lý, cũng như đã thể hiện được đầy đủ nội dung của hoạt động pháp luật

* Về nội dung:

- Hoạt động phát hiện, điều tra và khám phá tội phạm ma tuý:

Tác giả đã trình bày tương đối đầy đủ những điểm hạn chế, tồn tại trong hoạt động phát hiện, điều tra và khám phá tội phạm ma tuý đóng vai trò là nguyên nhân của tội phạm ma tuý ở nước ta Đó là những hạn chế về bộ máy chuyên trách đấu tranh phòng chống tội phạm về ma tuý; lực lượng đấu tranh với tội phạm ma tuý còn quá mỏng, còn thiếu kinh nghiệm, kỹ năng nghiệp vụ

Khi đưa ra mỗi nguyên nhân tác giả đều có sự lập luận thông qua những số liệu cụ thể, ví dụ điển hình và cả bảng so sánh rất có sức thuyết phục người đọc

- Hoạt động xét xử tội phạm về ma tuý

Mở đầu là tác giả đưa ra những số liệu cụ thể thể hiện thực trạng của hoạt động xét

xử của Toà án trong những năm gần đây Thực trạng đó đã được tác giả lý giải bằng những nguyên nhân mà theo nhóm chúng tôi là khá đầy đủ, thuyết phục Đó là: Những thiếu sót, sai phạm liên quan đến trình độ và đạo đức của đội ngũ cán bộ làm công tác xét xử; việc chậm hướng dẫn của các ngành trung ương đối với những quy định mới rồi những nguyên nhân tiêu cực trong công tác điều tra, truy

Ngày đăng: 10/04/2013, 11:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w