Bất động sản đầu tư: là những bất động sản gồm: quyền sử dụng đất, nhà hoặc một phần của nhà hoặc cả nhà và đất, cơ sở hạ tầng do người chủ sở hữu hoặc người đi thuê tài sản theo hợp đồn
Trang 1CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÀI SẢN VÀ HIỆU QUẢ CHƯƠNG 1.
SỬ DỤNG TÀI SẢN CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Tổng quan về tài sản trong doanh nghiệp
Khái niệm về tài sản doanh nghiệp
1.1.1.
Doanh nghiệp được coi như một tế bào trong nền kinh tế quốc dân với nhiệm vụ chính là thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm tạo ra sản phẩm, hàng hoá dịch vụ cung ứng cho xã hội Bất kì hoạt động sản xuất kinh doanh nào cũng cần có một nguồn tiền để duy trì, đó được gọi chung là tài sản Một doanh nghiệp muốn nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản thì trước hết phải hiểu rõ khái niệm tài sản của doanh nghiệp Khái niệm tài sản theo Bộ luật dân sự 2005 đã mở rộng hơn Bộ luật dân sự 1995
về những đối tượng nào được coi là tài sản, theo đó, không chỉ những “vật có thực” mới được gọi là tài sản mà cả những vật được hình thành trong tương lai cũng được gọi là tài sản Khái niệm tài sản lần đầu tiên được quy định trong Bộ luật dân sự năm
1995, theo đó tại Điều 172 Bộ luật Dân sự năm 1995 quy định “Tài sản bao gồm vật
có thực, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và các quyền tài sản” Tiếp đó, Điều 163
Bộ luật dân sự 2005 (Bộ luật dân sự hiện hành) quy định: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản” Đã có rất nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề
này Sau đây là một số quan điểm chủ yếu:
Theo chuẩn mực Kế toán Quốc tế (IAS/IFRS) do Hội đồng chuẩn mực Kế toán
Quốc tế (IASC) đưa ra và được Hội đồng chú giải chuẩn mực (SIC) giải thích: “Tài sản là nguồn lực do doanh nghiệp kiểm soát, là kết quả của những hoạt động trong quá khứ, mà từ đó một số lợi ích kinh tế trong tương lai có thể dự kiến trước một cách hợp lý”
Theo chuẩn mực Kế toán Việt Nam (VAS) được Bộ tài chính ban hành theo Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC vào ngày 31/12/2011 và được hướng dẫn lại theo
Thông tư 161/2007/TT-BTC ban hành vào năm 2007 cho rằng: “Tài sản là nguồn lực
do doanh nghiệp kiểm soát được và mang lại lợi ích kinh tế cho doanh nghiệp trong tương lai”
Tài sản của doanh nghiệp có thể là vật chất có sẵn trong tự nhiên như đất đai, khoáng sản,… hoặc có thể là những của cải có lợi ích kinh tế trong tương lai do con người tạo ra và tích lũy qua thời gian bao gồm tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản trị giá được bằng tiền Từ những tài sản có sẵn, doanh nghiệp có thể bán hoặc trao đổi lấy tài sản khác, thanh toán các khoản nợ hoặc để kết hợp với các tài sản khác để sản xuất sản phẩm Tóm lại, tài sản là một bộ phận không thể tách rời trong mọi HĐSXKD, là yếu tố quan trọng và không thể thiếu của mọi doanh nghiệp
Trang 2Phân loại tài sản doanh nghiệp
1.1.2.1 Theo thời hạn sử dụng của tài sản
Dựa theo thời gian luân chuyển của tài sản và thời hạn sử dụng, ta có thể chia tài sản thành hai loại: Tài sản ngắn hạn và Tài sản dài hạn
Tài sản ngắn hạn: Tài sản ngắn hạn là những tài sản mà thời gian sử dụng, thu
hồi vốn luân chuyển trong khoảng thời gian 12 tháng hoặc một chu kì kinh doanh của doanh nghiệp Căn cứ vào các khoản mục trong bảng cân đối kế toán, TSNH bao gồm: tiền và các khoản tương đương tiền, tài sản tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu ngắn hạn, hàng tồn kho và tài sản ngắn hạn khác
Tiền và các khoản tương đương tiền: phản ánh toàn bộ số tiền hiện có của doanh
nghiệp tại thời điểm báo cáo, gồm tiền mặt, tiền gửi ngân hàng và tiền đang chuyển, chứng khoán dễ thanh khoản Các khoản tương đương tiền là các khoản đầu tư ngắn hạn có thời hạn thu hồi hoặc đáo hạn không quá 3 tháng có khả năng chuyển đổi dễ dàng thành một lượng tiền xác định và không có nhiều rủi ro trong chuyển đổi thành tiền kể từ ngày mua khoản đầu tư đó tại thời điểm báo cáo Việc trữ lượng tiền và các khoản tương đương tiền hợp lý sẽ giúp cho doanh nghiệp dễ dàng kiểm soát khả năng thanh toán tức thời
Tài sản tài chính ngắn hạn: Bao gồm các khoản đầu tư chứng khoán có thời hạn
thu hồi dưới một năm hoặc trong một chu kỳ kinh doanh như: tín phiếu kho bạc, kỳ phiếu ngân hàng,… hoặc chứng khoán mua vào bán ra (cổ phiếu, trái phiếu) để kiếm lời và các loại đầu tư tài chính khác không quá một năm Đây là khoản vừa có tính thanh khoản cao, vừa có khả năng sinh lời Khi có nhu cầu thanh toán mà tiền không đáp ứng đủ thì doanh nghiệp sẽ bán các chứng khoán này
Các khoản phải thu ngắn hạn: Là các khoản phải thu ngắn hạn của khách hàng,
phải thu nội bộ ngắn hạn và các khoản phải thu ngắn hạn khác có thời hạn thu hồi hoặc thanh toán trong vòng một năm Đây là một loại tài sản quan trọng đặc biệt là trong các doanh nghiệp thương mại Doanh nghiệp muốn mở rộng mạng lưới tiêu thụ và giữ các mối quan hệ với các bạn hàng thân thiết thì sẽ phát sinh ra các khoản tín dụng thương mại Các khoản này có thể giúp doanh nghiệp nâng cao doanh số, từ đó thúc
Trang 3đẩy doanh thu nhưng cũng có thể đẩy doanh nghiệp vào tình trạng khó khăn khi doanh nghiệp không thể hoặc khó thu hồi nợ từ khách hàng
Hàng tồn kho: Hàng tồn kho là một loại tài sản thường chiếm tỷ trọng lớn trong
cơ cấu tài sản lưu động của doanh nghiệp, bao gồm vật tư, hàng hoá, sản phẩm, sản phẩm dở dang lưu trong kho bãi, hàng gửi bán, hàng mua đi đường Hàng tồn kho trong doanh nghiệp thường gồm nhiều loại và có vai trò khác nhau trong quá trình sản xuất kinh doanh Hơn nữa, công tác tổ chức quản lý hàng tồn kho cũng có những đặc thù riêng Do đó, đòi hỏi công tác tổ chức, quản lý và hạch toán hàng tồn kho phải rõ ràng và chính xác Việc quản lý và sử dụng có hiệu quả hàng tồn kho có ảnh hưởng lớn đến việc nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Tài sản ngắn hạn khác: bao gồm các khoản tạm ứng, chi phí trả trước ngắn hạn,
thuế giá trị gia tăng được khấu trừ, thuế và các khoản khác phải thu Nhà nước, tài sản ngắn hạn khác Cụ thể, các khoản tạm ứng là tiền hoặc vật tư do doanh nghiệp giao cho người nhận tạm ứng để thực hiện hoạt động kinh doanh nào đó Chi phí trả trước ngắn hạn là các khoản chi phí thực tế đã phát sinh nhưng có tác động đến kết quả hoạt động của nhiều kì thanh toán
Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp thường được phân bổ ở khắp giai đoạn của quá trình sản xuất thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau Do vậy, để nâng cao hiệu quả kinh doanh cần phải thường xuyên phân tích từ đó đưa ra các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn
Tài sản dài hạn: Tài sản dài hạn là những tài sản thường có giá trị lớn và thời
gian sử dụng dài, thời gian sử dụng thường phụ thuộc vào chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp Đối với doanh nghiệp có chu kỳ kinh doanh bình thường trong vòng 12 tháng thì những tài sản có khả năng thu hồi vốn hay thanh toán sau 12 tháng kể từ khi kết thúc năm kế toán được coi là tài sản dài hạn Đối với doanh nghiệp có chu kỳ kinh doanh dài hơn 12 tháng thì những tài sản có khả năng thu hồi vốn hay thanh toán sau một chu kỳ kinh doanh kể từ khi kết thúc năm kế toán được coi là tài sản dài hạn Tài sản dài hạn của doanh nghiệp bao gồm:
Các khoản phải thu dài hạn: là các khoản phải thu dài hạn của khách hàng, phải
thu nội bộ dài hạn và các khoản phải thu dài hạn khác có thời hạn thu hồi hoặc thanh toán trên một năm Các khoản phải thu dài hạn này có ảnh hưởng khá lớn tới kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp quản lý khoản phải thu dài hạn không tốt sẽ dẫn tới tình trạng không thu hồi được nợ, gây khó khăn trong việc luân chuyển vốn kinh doanh
Trang 4Bất động sản đầu tư: là những bất động sản gồm: quyền sử dụng đất, nhà hoặc
một phần của nhà hoặc cả nhà và đất, cơ sở hạ tầng do người chủ sở hữu hoặc người đi thuê tài sản theo hợp đồng thuê tài chính nắm giữ nhằm mục đích thu lợi từ việc cho thuê hoặc chờ tăng giá mà không phải để sử dụng trong sản xuất, cung cấp hàng hoá, dịch vụ hay cho các mục đích quản lý hoặc bán trong kỳ hoạt động kinh doanh thông thường Một bất động sản đầu tư được ghi nhận là tài sản phải thoả mãn đồng thời hai điều kiện sau: Doanh nghiệp chắc chắn có thể thu được lợi ích kinh tế từ khoản bất động sản đầu tư trong tương lai Đồng thời, nguyên giá của bất động sản đầu tư phải được xác định rõ ràng và cụ thể nhất; nguyên giá của bất động sản đầu tư bao gồm giá mua và các chi phí liên quan trực tiếp, như: phí dịch vụ tư vấn luật pháp liên quan, thuế trước bạ và các chi phí giao dịch liên quan khác
Tài sản cố định: Trong doanh nghiệp hầu như tài sản cố định thường chiếm tỉ
trọng cao trong tổng tài sản dài hạn Các tài sản dài hạn của doanh nghiệp đều được mua sắm, xây dựng hay lắp đặt chi trả bằng tiền và được đầu tư từ nguồn vốn ổn định Nguồn vốn ổn định của doanh nghiệp thường bao gồm nguồn vốn chủ sở hữu, vay dài hạn Số vốn này doanh nghiệp kinh doanh có lãi sẽ thu hồi lại sau các chu kỳ kinh doanh Theo điều 3 của Thông tư 45/2013/TT-BTC, tài sản cố định là những tài sản có giá trị lớn, có thời gian sử dụng dài cho các hoạt động của doanh nghiệp và phải thỏa mãn đồng thời tất cả các tiêu chuẩn sau: Chắc chắn phải thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản; Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách tin cậy; Có thời gian sử dụng từ 1 năm trở lên; Có giá trị từ 30.000.000 đồng trở lên
Về lợi ích thu được có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp Lợi ích trực tiếp xác định khi những tài sản được sử dụng trực tiếp trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Những tài sản mặc dù không tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhưng đó là những tài sản cần thiết cho doanh nghiệp để đảm bảo điều kiện hoạt động kinh doanh tốt hơn của doanh nghiệp, hoặc đạt được lợi ích kinh tế nhiều hơn từ các tài sản khác, khi đó việc sử dụng những tài sản này sẽ mang lại lợi ích gián tiếp của doanh nghiệp Sự chắc chắn đối với việc thu được lợi ích trong tương lai là việc xác định tại thời điểm ghi nhận tài sản cố định, mục đích sử dụng của tài sản cố định được xác định rõ ràng mà không tính đến các rủi ro tiềm tàng
có thể có trong quá trình sử dụng tài sản
Trong điều kiện hiện nay, tài sản cố định được xem như là yếu tố quyết định năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Vì vậy, việc đầu tư đổi mới tài sản cố định đặc biệt là đối với thiết bị, công nghệ là một trong các yếu tố quyết định đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, bởi vì:
Trang 5Nhờ đổi mới tài sản cố định mới có được năng suất cao, chất lượng sản phẩm tốt, chi phí tạo ra sản phẩm thấp tạo điều kiện đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm, tăng doanh thu
và do đó doanh nghiệp mới có đủ sức cạnh tranh trên thị trường Xét trên góc độ này, đầu tư đổi mới tài sản cố định kịp thời, hợp lý trở thành vấn đề sống còn đối với mỗi doanh nghiệp
Tài sản tài chính dài hạn: Là các khoản đầu tư vào việc mua bán các chứng
khoán có thời hạn thu hồi trên một năm hoặc góp vốn liên doanh bằng tiền, bằng hiện vật, mua cổ phiếu có thời hạn thu hồi vốn trong thời gian trên một năm và các loại đầu
tư khác trên một năm Có thể nói tài sản tài chính dài hạn là các khoản vốn mà doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực kinh doanh, ngoài hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong thời hạn trên một năm nhằm tạo ra nguồn lợi tức lâu dài cho doanh nghiệp
Tài sản dài hạn khác: Bao gồm chi phí trả trước dài hạn, tài sản thuế thu nhập
hoãn lại, tài sản dài hạn khác
1.1.2.2 Theo tính luân chuyển của tài sản
Khi phân loại tài sản theo tính luân chuyển ta chia tài sản thành hai loại chính: Tài sản lưu động và tài sản cố định
Tài sản cố định: thường là cơ sở vật chất kỹ thuật chủ yếu của doanh nghiệp thể
hiện năng lực sản xuất hiện có, trình độ tiến bộ khoa học kỹ thuật Trong tổng giá trị tài sản cố định thì máy móc thiết bị sản xuất là điều kiện quan trọng và cần thiết để tăng sản lượng và năng suất lao động, giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm Tài sản cố định được phân theo nhiều tiêu thức khác nhau như theo hình thái biểu hiện, theo quyền sở hữu, theo tình hình sử dụng… mỗi một cách phân loại sẽ đáp ứng những nhu cầu quản lý nhất định và có những tác dụng riêng của nó
Theo hình thái biểu hiện:
Tài sản cố định là những tư liệu lao động chủ yếu có hình thái vật chất, có giá trị lớn và thời gian sử dụng lâu dài, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh nhưng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu Những tài sản được phân loại theo hình thái biểu hiện gồm có:
Nhà cửa vật kiến trúc: bao gồm các công trình xây dựng cơ bản như: nhà cửa, vật kiến trúc, hàng rào, các công trình cơ sở hạ tầng như đường sá, cầu cống, đường sắt… phục vụ cho hạch toán sản xuất kinh doanh;
Máy móc thiết bị: bao gồm các loại máy móc thiết bị dùng trong sản xuất kinh doanh như máy móc chuyên dùng, máy móc thiết bị công tác, dây chuyền thiết bị công nghệ; Thiết bị phương tiện vận tải truyền dẫn: là các phương tiện dùng để vận chuyển như các loại đầu máy, đường ống và phương tiện khác( ô tô, máy kéo, xe tải, ống dẫn…);
Trang 6Thiết bị, dụng cụ dùng cho quản lý: bao gồm các thiết bị dụng cụ phục vụ cho quản lý như dụng cụ đo lường, máy tính, máy điều hoà…;
Cây lâu năm, súc vật làm việc và cho sản phẩm: bao gồm các loại cây lâu năm(
cà phê, chè, cao su…) súc vật nuôi để lấy sản phẩm ( bò sữa, súc vật sinh sản…); Tài sản cố định khác: bao gồm những tài sản cố định mà chưa được qui định phản ánh vào các loai nói trên (tác phẩm nghệ thuật, sách chuyên môn kỹ thuật…) Phương thức phân loại theo hình thái biểu hiện có tác dụng giúp doanh nghiệp nắm được những tư liệu lao động hiện có với gía trị và thời gian sử dụng bao nhiệu, để
từ đó có phương hướng sử dụng tài sản cố định có hiệu quả
Theo quyền sở hữu: Theo cách này toàn bộ tài sản cố định của doanh nghiệp
được phân thành tài sản cố định tự có và thuê ngoài
Tài sản cố định tự có: là những tài sản cố định xây dựng, mua sắm hoặc chế tạo bằng nguồn vốn của doanh nghiệp do ngân sách cấp, do đi vay của ngân hàng, bằng nguồn vốn tự bổ sung, nguồn vố liên doanh…;
Tài sản cố định đi thuê: là những tài sản mà doanh nghiệp thuê ngoài để phục vụ cho yêu cầu sản xuất kinh doanh
Với cách phân loại này giúp doanh nghiệp nắm được những tài sản cố định nào
mà mình hiện có và những tài sản cố định nào mà mình phải đi thuê, để có hướng sử dụng và mua sắm thêm tài sản cố định phục vụ cho sản xuất kinh doanh
Theo nguồn hình thành: Theo cách phân loại này tài sản cố định được phân thành:
TSCĐ mua sắm, xây dựng bằng nguồn vốn được ngân sách cấp hay cấp trên cấp; TSCĐ mua sắm, xây dựng bằng nguồn vốn tự bổ sung của doanh nghiệp (quĩ phát triển sản xuất , quĩ phúc lợi…);
TSCĐ nhận vốn góp liên doanh
Phân loại TSCĐ theo nguồn hình thành, cung cấp được các thông tin về cơ cấu nguồn vốn hình thành TSCĐ Từ đó có phương hướng sử dụng nguồn vốn khấu hao TSCĐ một cách hiệu quả và hợp lý
Theo tình hình sử dụng: TSCĐ được phân thành các loại sau:
TSCĐ đang sử dụng: đó là những TSCĐ đang trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, hay đang sử dụng với những mục đích khác nhau của những doanh nghiệp khác nhau;
TSCĐ chờ xử lý: bao gồm các TSCĐ không cần dùng, chưa cần dùng vì thừa so với nhu cầu sử dụng hoặc vì không còn phù hợp với việc sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, hoặc TSCĐ tranh chấp chờ giải quyết Những TSCĐ này cần xử lý nhanh chóng để thu hồi vốn sử dụng cho việc đầu tư đổi mới TSCĐ
Trang 7Tài sản lưu động: Tài sản lưu động là những tài sản ngắn hạn và thường xuyên
luân chuyển trong quá trình kinh doanh Trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp, tài sản lưu động được thể hiện ở các bộ phận tiền mặt, các chứng khoán thanh khoản cao, phải thu và dự trữ tồn kho Giá trị các loại TSLĐ của doanh nghiệp kinh doanh, sản xuất thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị tài sản của chúng Quản lý sử dụng hợp lý các loại TSLĐ có ảnh hưởng rất quan trọng đối với việc hoàn thành nhiệm
vụ chung của doanh nghiệp Tài sản lưu động được chia thành hai loại: Tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông
Tài sản lưu động sản xuất: gồm những vật tư dự trữ để chuẩn bị cho quá trình
sản xuất được liên tục, vật tư đang nằm trong quá trình sản xuất chế biến và những tư liệu lao động không đủ tiêu chuẩn là tài sản cố định Thuộc về TSLĐ sản xuất gồm: Nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, sản phẩm dở dang, công cụ lao động nhỏ
Tài sản lưu động lưu thông: gồm sản phẩm hàng hoá chưa tiêu thụ, vốn bằng
tiền, vốn trong thanh toán
Quá trình sản xuất của doanh nghiệp luôn gắn liền với quá trình lưu thông Trong quá trình tham gia vào các hoạt động sản xuất kinh doanh tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông luôn chuyển hoá lẫn nhau, vận động không ngừng làm cho quá trình sản xuất kinh doanh được liên tục Để hình thành nên tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông doanh nghiệp cần phải có một số vốn tương ứng để đầu tư vào các tài sản ấy, số tiền ứng trước về những tài sản ấy được gọi là tài sản lưu động của doanh nghiệp
Tài sản lưu động của doanh nghiệp không ngừng vận động qua các giai đoạn của chu kỳ kinh doanh: dự trữ - sản xuất - lưu thông, quá trình này được gọi là quá trình tuần hoàn và chu chuyển của tài sản lưu động Qua mỗi giai đoạn của chu kỳ kinh doanh tài sản lưu động lại thay đổi hình thái biểu hiện Tài sản lưu động chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất mà không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, giá trị của
nó được chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm Như vậy, sau mỗi chu kỳ kinh doanh thì tài sản lưu động hoàn thành một vòng chu chuyển Tài sản lưu động theo một vòng tuần hoàn, từ hình thái này sang hình thái khác rồi trở về hình thái ban đầu với một giá trị lớn hơn giá trị ban đầu
1.1.2.3 Theo hình thức biểu hiện của tài sản
Phân loại theo hình thức biểu hiện của tài sản được chia làm hai loại: Tài sản hữu hình và tài sản vô hình
Trang 8Tài sản hữu hình: Theo Thông tư số 45/2013/TT-BTC ban hành ngày 25 tháng
4 năm 2013 cho biết: Tài sản cố định hữu hình là những tư liệu lao động chủ yếu có hình thái vật chất thoả mãn các tiêu chuẩn của tài sản cố định hữu hình, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh nhưng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu như nhà cửa, vật kiến trúc, máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải Khi nói đến tài sản hữu hình bắt buộc chúng phải có một số đặc tính riêng như: Thuộc sở hữu của ai đó; có đặc tính vật lý; có thể trao đổi được; có thể mang giá trị tinh thần hoặc vật chất Là những thứ đã tồn tại (tài sản trước kia), đang tồn tại và có thể có trong tương lai
Tài sản vô hình: Cũng theo Thông tư số 45/2013/TT-BTC ban hành ngày 25
tháng 4 năm 2013, tài sản cố định vô hình là những tài sản không có hình thái vật chất, thể hiện một lượng giá trị đã được đầu tư thoả mãn các tiêu chuẩn của tài sản cố định
vô hình, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh, như một số chi phí liên quan trực tiếp tới đất sử dụng; chi phí về quyền phát hành, bằng phát minh, bằng sáng chế, bản quyền tác giả
Tài sản vô hình có những đặc điểm chủ yếu như: có hình thái vật chất không rõ ràng; có tính mới, là một kỹ thuật mới, sáng chế mới, một sáng tác mới hoặc một tác phẩm mới; việc xác định giá trị rất phức tạp; tồn tại sự hao mòn vô hình; thời gian sử dụng hữu ích của một tài sản vô hình thường là một đại lượng biến đổi, không cố định,
có thể dài ngắn khác nhau nhưng không phải là vô hạn định
Vai trò của tài sản trong doanh nghiệp
1.1.3.
Về mặt pháp lý
Theo quy định của Nhà nước, mỗi doanh nghiệp khi muốn thành lập thì điều kiện đầu tiên là phải có một lượng tài sản hay lượng vốn tối thiểu bằng lượng vốn pháp định, khi đó địa vị pháp lý của doanh nghiệp mới được xác lập Các doanh nghiệp cùng hoạt động và cạnh tranh trong môi trường pháp lý của nhà nước nên phải thực hiện đầy đủ các thủ tục, yêu cầu của Nhà nước ban hành Nếu trong hoạt động sản xuất kinh doanh, lượng tài sản xuống dưới mức quy định của Nhà nước thì doanh nghiệp đó buộc phải chấm dứt hoạt động và chờ xử lý Như vậy, tài sản hay vốn được xem là một
cơ sở quan trọng để đảm bảo sự tồn tại tư cách pháp nhân của một doanh nghiệp trước pháp luật
Về mặt kinh tế
Trong nền kinh tế thị trường, xu thế cạnh tranh là tất yếu: “Sản xuất cái gì? Sản xuất cho ai? Sản xuất như thế nào?” là những câu hỏi luôn được đặt ra đòi hỏi các doanh nghiệp phải tìm ra được lời giải đáp thoả đáng nhất Muốn vậy doanh nghiệp phải điều tra nắm bắt thị trường, từ đó lựa chọn quy trình công nghệ phù hợp tạo ra cơ
sở vật chất hiện đại nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng Để đạt
Trang 9được mục tiêu lớn thì cần phải làm tốt các bước nhỏ ngay từ đầu, cụ thể là tìm hiểu về vai trò của nguồn vốn và tài sản doanh nghiệp Tài sản là yếu tố quan trọng quyết định năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và xác lập vị thế của doanh nghiệp trên thương trường Điều này càng thể hiện rõ trong nền kinh tế hiện nay khi sự cạnh tranh ngày càng gay gắt đòi hỏi các doanh nghiệp không ngừng cải tiến, hiện đại hoá công nghệ và có chiến lược đầu tư, sử dụng tài sản hợp lý Thêm vào đó, việc đảm bảo khả năng mua sắm máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ, hình thành nên các tài sản
sẽ phục vụ cho quá trình sản xuất và đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh được diễn ra thường xuyên, liên tục, đạt hiệu quả theo mục tiêu của mỗi doanh nghiệp Việc nhận thức được vai trò quan trọng của tài sản sẽ giúp cho doanh nghiệp sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả, đầu tư đúng lúc, phù hợp và luôn tìm cách nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản, giúp nâng cao năng lực cạnh tranh, tăng cường sự phát triển doanh nghiệp
1.2 Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp
Khái niệm hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp
1.2.1.
Hiệu quả là thuật ngữ dùng để chỉ mối quan hệ giữa kết quả thực hiện các mục tiêu của chủ thể và chi phí mà chủ thể bỏ ra để có kết quả đó trong điều kiện nhất định Hiệu quả được xem xét trong bối cảnh hay điều kiện nhất định, đồng thời cũng được xem xét dưới quan điểm đánh giá của chủ thể nghiên cứu
Mục tiêu chung của bất kỳ doanh nghiệp nào là tối đa hoá lợi nhuận và tối thiểu hoá chi phí Do vậy, một doanh nghiệp để có thể tồn tại và phát triển được thì phải quan tâm tới hiệu quả kinh tế Hiệu quả kinh tế được hiểu là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp để đạt được các mục tiêu xác định trong quá trình sản xuất – kinh doanh Hiệu quả kinh tế là kết quả tổng hợp của một loạt các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của các bộ phận
Để thực hiện được mục tiêu đó, các doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao trình độ quản lý sản xuất kinh doanh, trong đó có công tác quản lý và sử dụng tài sản
vì đây là những bộ phận quan trọng quyết định đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Trong đó hiệu quả sử dụng tài sản gắn liền với lợi ích của doanh nghiệp cũng như hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Do đó các doanh nghiệp cần tìm mọi biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản
Khi phân tích hiệu quả sử dụng tài sản, cần phải nghiên cứu một cách toàn diện
cả về thời gian, không gian, môi trường kinh doanh và đồng thời đặt nó trong mối quan hệ với sự biến động giá cả của các yếu tố sản xuất Việc trước hết là phải xây dựng được hệ thống các chỉ tiêu tài chính tổng hợp và chi tiết phù hợp với đặc điểm của từng nhóm tài sản trong các doanh nghiệp, sau đó phải biết vận dụng thích hợp Việc phân tích phải tiến hành trên cơ sở phân tích từng chỉ tiêu sau đó tổng hợp lại, từ
Trang 10đó đưa ra các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản, nhằm khai thác hết công suất các tài sản đã đầu tư
Tóm lại, hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp phản ánh trình độ, năng lực khai thác và sử dụng tài sản của doanh nghiệp sao cho quá trình sản xuất kinh doanh tiến hành bình thường với hiệu quả kinh tế cao nhất
Các chỉ tiêu đánh giá về hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp
1.2.2.
1.2.2.1 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tổng tài sản
Đánh giá hiệu quả sử dụng tổng tài sản giúp doanh nghiệp nắm bắt mức độ sử dụng tổng tài sản, xu hướng và các nhân tố ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp tới quá trình sử dụng Việc đánh giá bất kì một vấn đề nào đều cần hệ thống chỉ tiêu riêng và phù hợp với đối tượng nghiên cứu Theo giáo trình “Phân tích báo cáo tài chính” của PGS.TS Nguyễn Năng Phúc, các chỉ tiêu thường được sử dụng để đánh giá hiệu quả sử dụng tổng tài sản gồm:
Tỷ suất sinh lời của tài sản (ROA)
Tỷ suất sinh lời của tổng tài sản = Lợi nhuận sau thuế
Tổng tài sản bình quân trong kỳ
Tỷ suất sinh lời của tổng tài sản cho biết trong một kỳ phân tích, doanh nghiệp đầu tư 100 đồng tài sản thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ khoản mục đầu tư vào tài sản cao, nguồn lực từ tài sản được doanh nghiệp khai thác tốt, hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp càng tốt và ngược lại; chỉ số của chỉ tiêu càng thấp mức sinh lời từ tài sản thấp, hiệu quả kinh tế thấp Từ kết quả tính toán, doanh nghiệp có thể tính toán khả năng mở rộng đầu tư thiết bị máy móc, phân xưởng… tăng quy mô thị trường hay cắt bỏ nhằm thu hồi vốn
Số vòng quay của tài sản
Số vòng quay của tài sản = Tổng doanh thu thuần
Tài sản bình quân
Số vòng quay của tài sản cho biết trong một kỳ phân tích các tài sản quay được bao nhiêu vòng, tức mỗi đồng tài sản doanh nghiệp đầu tư thu được bao nhiêu đồng doanh thu thuần Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ các tài sản vận động nhanh, góp phần tăng doanh thu và là điều kiện nâng cao lợi nhuận cho doanh nghiệp Nếu chỉ tiêu này thấp, chứng tỏ các tài sản vận động chậm hoặc hàng tồn kho và sản phẩm dở dang nhiều khiến cho doanh thu của doanh nghiệp giảm Tuy nhiên, chỉ tiêu này phụ thuộc vào đặc điểm ngành nghề kinh doanh, đặc điểm cụ thể của tài sản trong các doanh nghiệp
Trang 11Hiệu suất sử dụng tổng tài sản
Hiệu suất sử dụng tổng tài sản = Doanh thu thuần
Tổng tài sản bình quân trong kỳ Trong đó: Tổng tài sản bình quân trong kỳ là bình quân số học của tổng tài sản ở đầu kỳ và cuối kỳ
Chỉ tiêu này cho biết một đơn vị tài sản tạo ra được bao nhiêu đơn vị doanh thu thuần Chỉ tiêu này càng lớn, hiệu quả sử dụng tài sản càng cao, nếu tỷ lệ này thấp cho thấy nguồn vốn doanh nghiệp đang sử dụng không hiệu quả, có thể là doanh nghiệp thừa hàng tồn kho, khoản phải thu, đầu tư tài sản nhàn rỗi hoặc tiền mặt dự trữ vượt quá nhu cầu
Suất hao phí của tài sản so với doanh thu thuần
Khả năng tạo ra doanh thu thuần của tài sản là một chỉ tiêu kinh tế cơ bản để dự kiến vốn đầu tư khi doanh nghiệp muốn một mức doanh thu thuần như dự kiến, chỉ tiêu này thường được xác định như sau:
Suất hao phí của tài sản so với doanh thu thuần = Tài sản bình quân
Doanh thu thuần Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích, doanh nghiệp thu được 1 đồng doanh thu thuần từ bán hàng và cung cấp dịch vụ thì cần bao nhiêu đồng tài sản đầu tư sản bình quân Suất hao phí của tài sản so với doanh thu thuần càng cao chứng tỏ doanh nghiệp đang phải mất rất nhiều chi phí từ đầu tư tài sản cho hoạt động kinh doanh trên thị trường hoặc đang gặp vấn đề trong công tác kiểm soát chi phí phát sinh, lợi nhuận thu được không cao Ngược lại, chỉ tiêu này càng thấp thì hiệu quả sử dụng tài sản càng tốt, góp phần tiết kiệm tài sản và nâng cao doanh thu thuần trong kỳ của doanh nghiệp
Suất hao phí của tài sản so với lợi nhuận sau thuế
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng tạo ra lợi nhuận sau thuế của các tài sản mà doanh nghiệp đang sử dụng cho hoạt động kinh doanh, chỉ tiêu này thường được xác định như sau:
Suất hao phí của tài sản so với lợi nhuận sau thuế = Tài sản bình quân
Lợi nhuận sau thuế TNDNChỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích, doanh nghiệp thu được 1 đồng lợi nhuận sau thuế TNDN thì cần bao nhiêu đồng tài sản Tương tự như chỉ tiêu suất hao phí của tài sản so với doanh thu thuần, chỉ tiêu này càng thấp hiệu quả sử dụng tài sản càng cao
Trang 121.2.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn
Quá trình vận động của tài sản ngắn hạn bắt đầu từ giai đoạn cung cấp, dùng tiền
để mua nguyên vật liệu dự trữ quá trình sản xuất, sau đó tiến hành tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Muốn cho quá trình sản xuất liên tục, doanh nghiệp cần có một lượng vốn nhất định để đầu tư vào từng giai đoạn của quá trình sản xuất Quản lý chặt chẽ tài sản ngắn hạn sẽ góp phần giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm và nâng cao lợi nhuận cho doanh nghiệp Để phân tích hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn ta thường sử dụng các chỉ tiêu sau:
Nhóm chỉ tiêu hoạt động:Là các hệ số đo lường khả năng hoạt động của doanh
nghiệp Hệ số hoạt động còn được gọi là hệ số hiệu quả hay hệ số luân chuyển
Tỷ suất sinh lời của tài sản ngắn hạn:
Tỷ suất sinh lời của TSNH =
Lợi nhuận sau thuế Tài sản ngắn hạn bình quân Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích doanh nghiệp đầu tư 100 đồng TSNH thì tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế Chỉ tiêu này càng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn càng tốt, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp Hiệu quả của việc sử dụng TSNH thể hiện ở lợi nhuận của doanh nghiệp, đây chính là kết quả cuối cùng mà doanh nghiệp đạt được Kết quả này phản ánh hiệu quả HĐSXKD nói chung và hiệu quả sử dụng TSNH nói riêng Với công thức trên ta thấy nếu TSNH trong kỳ thấp mà lợi nhuận sau thuế cao thì hiệu quả sử dụng TSNH cao
Tài sản ngắn hạn bình quân được tính tuỳ theo mục đích của việc phân tích tháng, quý, năm, có thể tính như sau:
TSNH bình quân = TSNH đầu kỳ + TSNH cuối kỳ
2
Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn
Hiệu suất sử dụng TSNH = Doanh thu thuần
TSNH bình quân trong kỳ Chỉ tiêu này đánh giá hiệu quả sử dụng TSNH trên mối quan hệ so sánh giữa doanh thu thuần và số TSNH bỏ ra trong một kỳ Nói cách khác, chỉ tiêu hiệu suất sử dụng TSNH cho biết trong một năm TSNH của doanh nghiệp luân chuyển được bao nhiêu vòng hay một đồng TSNH tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ hiệu quả sử dụng TSNH càng cao, đó là nhân tố góp phần nâng cao lợi nhuận
Trang 13Thời gian luân chuyển tài sản ngắn hạn
Thời gian luân chuyển TSNH =
365 Vòng quay tài sản ngắn hạn trong kỳ Vòng quay tài sản ngắn hạn trong kỳ là chỉ tiêu phản ánh số lần quay của tài sản ngắn hạn trong một kỳ nhất định Chỉ tiêu này đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trên mối quan hệ so sánh giữa doanh thu thuần và số tài sản ngắn hạn bỏ ra trong
kỳ Chỉ tiêu này cho biết trong một năm tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp luân chuyển được bao nhiêu vòng hay một đồng tài sản ngắn hạn mang lại bao nhiêu đồng doanh thu Số vòng quay càng cao, chứng tỏ tài sản ngắn hạn vận động càng nhanh, góp phần nâng cao doanh thu và lợi nhuận cho doanh nghiệp
Suất hao phí của TSNH so với doanh thu thuần
Chỉ tiêu này được xác định như sau:
Suất hao phí của TSNH so với DTT = Tài sản ắ ạ bình quân
Doanh thu thuần trong kỳChỉ tiêu này cho biết doanh nghiệp muốn có một đồng doanh thu thuần trong kỳ thì cần bao nhiêu đồng giá trị tài sản ngắn hạn Khi phân tích chỉ tiêu này, doanh nghiệp có thể có được căn cứ để đầu tư tài sản ngắn hạn sao cho phù hợp và đạt được hiệu quả cao nhất Chỉ tiêu này càng thấp, chứng tỏ doanh nghiệp đầu tư vào tài sản ngắn hạn không nhiều nhưng lại đạt được hiệu quả lớn từ đó cho thấy hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn cao
Suất hao phí của TSNH so với lợi nhuận sau thuế:
Suất hao phí của TSNH so với lợi nhuận sau thuế = Tài sản ắ ạ bình quân
Lợi nhuận sau thuế TNDN
Ý nghĩa của chỉ tiêu như sau: Để có 1 đồng lợi nhuận sau thuế thì cần bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn bình quân Chỉ tiêu này là căn cứ để các doanh nghiệp xây dựng
dự toán về nhu cầu tài sản ngắn hạn khi muốn có mức lợi nhuận mong muốn Chỉ tiêu này càng thấp càng chứng tỏ doanh nghiệp đang sử dụng TSNH hiệu quả Việc phân tích suất hao phí của TSNH so với lợi nhuận sau thuế góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh, từ đó doanh nghiệp phải tìm mọi biện pháp thích hợp nhằm làm giảm suất hao phí vốn chủ sở hữu trên lợi nhuận sau thuế Điều này buộc các nhà quản lý phải xác định được một cấu trúc tài chính hợp lý, vừa bảo đảm vốn cho kinh doanh, vừa bảo đảm an ninh tài chính lại vừa có hiệu quả nhất
Trang 14Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán
Trong kinh doanh, vấn đề làm cho mỗi doanh nghiệp lo ngại đó là các khoản nợ khó đòi hay các khoản phải trả mà không có khả năng thanh toán Căn cứ vào luật doanh nghiệp Việt Nam, doanh nghiệp có khả năng bị buộc tuyên bố phá sản nếu không có khả năng thanh toán các khoản nợ phải trả Vì vậy, mỗi doanh nghiệp luôn phải duy trì một mức tài sản luân chuyển hợp lý để đáp ứng kịp thời các khoản nợ ngắn hạn, duy trì các loại hàng tồn kho để đảm bảo quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh thuận lợi Do đó, các chỉ tiêu sau đây thường được sử dụng để phân tích khả năng thanh toán của một doanh nghiệp:
Hệ số khả năng thanh toán hiện hành
Khả năng thanh toán hiện hành =
Tài sản ngắn hạn
Nợ ngắn hạn bình quân
Hệ số khả năng thanh toán hiện hành là một trong những thước đo cơ bản để đánh giá khả năng thanh toán của một doanh nghiệp, dùng để đo lường khả năng trả các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp và các khoản phải trả bằng các tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp như tiền mặt, các khoản phải thu…Hệ số này phản ánh một đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo bằng bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn Nếu hệ số thanh toán hiện hành giảm (<1) cho thấy khả năng thanh toán giảm, đó là dấu hiệu báo trước những khó khăn về tài chính, rủi ro thanh khoản Nếu hệ số này cao (>1), điều
đó có nghĩa là doanh nghiệp luôn sẵn sàng thanh toán các khoản nợ Song nếu hệ số này quá cao, chứng tỏ nguồn tài sản lưu động đang bị tồn đọng quá lớn, không sinh lời dẫn đến hiệu quả kinh doanh giảm Tuy nhiên, hệ số này chỉ phản ánh một cách tạm thời tình hình thanh toán của doanh nghiệp vì tài sản ngắn hạn bao gồm cả các khoản phải thu và hàng tồn kho Chính vì vậy để đánh giá chính xác hơn về khả năng thanh toán của doanh nghiệp, ta cần xét thêm một số chỉ tiêu khác nữa
Hệ số khả năng thanh toán nhanh:
Khả năng thanh toán nhanh =
Tài sản ngắn hạn – Hàng tồn kho
Nợ ngắn hạn bình quân Khả năng thanh toán nhanh là chỉ tiêu thể hiện khả năng trả nợ ngắn hạn bằng các tài sản có khả năng chuyển thành tiền một cách nhanh nhất không tính đến hàng tồn kho, tức là một đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo bằng bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản cao Đây là chỉ tiêu được đối tác doanh nghiệp quan tâm do có thể đánh giá được tại thời điểm phân tích doanh nghiệp có khả năng thanh toán ngay các khoản nợ ngắn hạn hay không Ngoài khả năng thanh toán nhanh ta còn cần phải xem xét đến hệ số khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp
Trang 15Hệ số khả năng thanh toán tức thời:
Khả năng thanh toán tức thời =
Tiền và các khoản tương đương tiền
Nợ ngắn hạn bình quân Đây là chỉ tiêu đánh giá sát hơn khả năng thanh toán của doanh nghiệp Tiền bao gồm: tiền mặt, tiền gửi và tiền đang chuyển Tương đương tiền là các khoản đầu tư ngắn hạn và có thể chuyển đổi thành tiền bất cứ lúc nào
Hệ số khả năng thanh toán tức thời phản ánh rằng với lượng tiền và tương đương tiền hiện có doanh nghiệp có đủ khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn bất kỳ lúc nào, đặc biệt là nợ ngắn hạn đến hạn Khi trị số của chỉ tiêu này lớn hơn 1, doanh nghiệp bảo đảm và thừa khả năng thanh toán tức thời và ngược lại Trong thời gian ba tháng, trị số của chỉ tiêu khả năng thanh toán tức thời có giá trị cảnh báo cao, nếu doanh nghiệp không đảm bảo đủ khả năng thanh toán tức thời, nhà quản trị doanh nghiệp sẽ phải áp dụng ngay các biện pháp tài chính khẩn cấp để tránh cho doanh nghiệp không bị lâm vào tình trạng phá sản
Nhóm chỉ tiêu về khả năng quay vòng của tiền
Vòng luân chuyển hàng tồn kho
Vòng luân chuyển hàng tồn kho =
Giá vốn hàng bán Hàng tồn kho bình quân Chỉ tiêu này cho biết, trong kỳ phân tích vốn đầu tư, hàng tồn kho quay được bao nhiêu vòng Chỉ tiêu vòng quay hàng tồn kho càng cao càng cho thấy doanh nghiệp bán hàng càng nhanh và hàng tồn kho không bị ứ đọng nhiều Đây là nhân tố giúp tăng doanh thu và lợi nhuận cho doanh nghiệp Tuy nhiên, nếu chỉ tiêu này quá cao thì doanh nghiệp dễ gặp phải một số vấn đề như dự trữ nguyên vật liệu đầu vào cho các khâu sản xuất không đủ có thể khiến dây chuyền sản xuất bị ngưng trệ, nhu cầu thị trường tăng đột ngột thì rất có khả năng doanh nghiệp bị mất khách hàng v v Vì vậy,
hệ số vòng quay hàng tồn kho cần phải đủ lớn để đảm bảo mức độ sản xuất và đáp ứng được nhu cầu khách hàng
Hàng tồn kho bình quân được tính theo công thức như sau:
Hàng tồn kho bình quân =
HTK đầu kỳ + HTK cuối kỳ
2
Thời gian quay vòng hàng tồn kho
Thời gian quay vòng HTK =
365
Số vòng quay của HTK
Trang 16Chỉ tiêu này cho biết vòng quay của hàng tồn kho mất bao nhiêu lâu, chỉ tiêu này càng thấp chứng tỏ hàng tồn kho vận động nhanh Doanh nghiệp mất ít thời gian quay vòng hàng tồn kho, tạo ra doanh thu cho doanh nghiệp Việc tăng tốc độ luân chuyển hàng tồn kho đồng nghĩa với thời gian hàng hoá lưu tại kho giảm Đồng thời, tăng tốc
độ luân chuyển hàng tồn kho còn giúp doanh nghiệp giảm chi phí, giảm giá thành sản phẩm tạo điều kiện cho việc thoả mãn nhu cầu sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh doanh
Hệ số đảm nhiệm hàng tồn kho
Hệ số đảm nhiệm hàng tồn kho cho biết doanh nghiệp muốn có một đồng doanh thu thuần thì cần bao nhiêu đồng vốn đầu tư cho hàng tồn kho, chỉ tiêu này càng thấp thì hiệu quả sử dụng vốn đầu tư cho hàng tồn kho càng cao Thông qua chỉ tiêu này, doanh nghiệp sẽ lên được kế hoạch cụ thể về dự trữ, thu mua, sử dụng hàng hoá, thành phần một cách hợp lý
Hệ số đảm nhiệm HTK =
Hàng tồn kho bình quân Doanh thu thuần Mục đích của việc phân tích tình hình luân chuyển của hàng tồn kho là lên được
kế hoạch sử dụng và đưa ra các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư cho hàng tồn kho Tăng tốc độ luân chuyển hàng tồn kho là rút ngắn thời gian hàng tồn kho nằm trong các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh Đồng thời là điều kiện quan trọng để phát triển sản xuất kinh doanh, từ đó doanh nghiệp có thêm điều kiện mở rộng quy mô của quá trình sản xuất mà không cần tăng thêm vốn đầu tư
Vòng quay các khoản phải thu
Vòng quay các khoản phải thu =
Doanh thu thuần Các khoản phải thu bình quân Vòng quay các khoản phải thu được sử dụng để xem xét cẩn thận việc khách hàng thanh toán các khoản nợ cho doanh nghiệp Khi khách hàng thanh toán các khoản
nợ đã đến hạn thì lúc đó các khoản phải thu đã quay được một vòng Chỉ tiêu này cho biết khả năng thu nợ của doanh nghiệp trong kỳ phân tích doanh nghiệp đă thu được bao nhiêu nợ và số nợ còn tồn đọng chưa thu được là bao nhiêu Chỉ số vòng quay càng lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi các khoản phải thu là cao Theo dõi số vòng quay khoản phải thu sẽ cho biết chính sách bán hàng trả chậm của doanh nghiệp hay tình hình thu hồi nợ của doanh nghiêp Ngoài việc so sánh chỉ tiêu này qua các năm, người phân tích cần xem xét từng khoản thu để phát hiện nợ đến hạn, nợ quá hạn để đưa ra biện pháp xử lý đồng thời có thể tính toán thời gian thu tiền bình quân
Trang 17Thời gian thu tiền trung bình
Thời gian thu tiền trung bình =
365 Vòng quay các khoản phải thu Đây là chỉ tiêu đánh giá khả năng thu hồi vốn của doanh nghiệp, nó phản ánh thời gian cần thiết để thu hồi các khoản phải thu Vòng quay các khoản phải thu càng lớn thì kỳ thu tiền bình quân càng nhỏ và ngược lại Thời gian thu nợ bình quân cao hay thấp phụ thuộc vào chính sách bán chịu của doanh nghiệp
Vòng quay các khoản phải trả
Chỉ số vòng quay các khoản phải trả phản ánh khả năng chiếm dụng vốn của doanh nghiệp đối với nhà cung cấp Chỉ số vòng quay các khoản phải trả quá thấp có thể ảnh hưởng không tốt đến xếp hạng tín dụng của doanh nghiệp Công thức tính chỉ
số vòng quay các khoản phải trả như sau:
Vòng quay khoản phải trả =
Giá vốn hàng bán Các khoản phải trả bình quân Chỉ tiêu vòng quay các khoản phải trả năm nay nhỏ hơn năm trước chứng tỏ doanh nghiệp chiếm dụng vốn và thanh toán chậm hơn năm trước Ngược lại, nếu chỉ
số năm nay lớn hơn năm trước chứng tỏ doanh nghiệp chiếm dụng vốn và thanh toán nhanh hơn năm trước
Nếu chỉ số vòng quay các khoản phải trả quá nhỏ (các khoản phải trả lớn), sẽ tiềm ẩn rủi ro về khả năng thanh khoản Tuy nhiên, cũng cần lưu ý việc chiếm dụng khoản vốn này có thể sẽ giúp doanh nghiệp giảm được chi phí về vốn, đồng thời thể hiện uy tín về quan hệ thanh toán đối với nhà cung cấp và chất lượng sản phẩm đối với khách hàng
Kỳ chuyển đổi khoản phải trả
Đây là chỉ tiêu thể hiện số ngày trung bình mà doanh nghiệp cần để trả tiền cho nhà cung cấp Hệ số này thế hiện mối quan hệ giữa doanh nghiệp và người bán Hệ số
kỳ chuyển đổi các khoản phải trả cao nghĩa là doanh nghiệp có quan hệ tốt với nhà cung cấp và có khả năng kéo giãn thời gian trả tiền cho người bán Ngược lại hệ số thấp nghĩa là doanh nghiệp phải trả tiền cho người bán trong thời gian ngắn sau khi nhận hàng
Kỳ trả nợ bình quân =
365 Vòng quay các khoản phải trả
Trang 181.2.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn
Tài sản dài hạn của doanh nghiệp gồm nhiều loại và có vai trò và vị trí khác nhau trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, chúng thường xuyên biến động về quy
mô, kết cấu và tình trạng kỹ thuật Do vậy, phân tích hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn với mục đích để đầu tư tài sản dài hạn hợp lý góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Khi phân tích hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn ta thường tập trung phân tích các chỉ tiêu sau:
Tỷ suất sinh lời của tài sản dài hạn
Tỷ suất sinh lời của tài sản dài hạn =
Lợi nhuận sau thuế Tài sản dài hạn bình quân
Tỷ suất sinh lời của TSDH cho biết cứ 100 đồng giá trị TSDH bình quân sử dụng trong kỳ thì tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả
sử dụng TSDH của doanh nghiệp là tốt, đây cũng là yếu tố thu hút đầu tư từ các đối tác bên ngoài doanh nghiệp
Hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn:
Hiệu suất sử dụng TSDH =
Doanh thu thuần TSDH bình quân trong kỳ Trong đó: Tài sản dài hạn bình quân trong kỳ là bình quân số học của tài sản dài hạn có ở đầu kỳ và cuối kỳ
Chỉ tiêu này cho biết mỗi đơn vị giá trị tài sản dài hạn sử dụng trong kỳ tạo ra bao nhiêu đơn vị doanh thu thuần Chỉ tiêu này thể hiện sự vận động của tài sản dài hạn trong kỳ, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ tài sản dài hạn vận động càng nhanh Tài sản dài hạn được khai thác hợp lý và hiệu quả Đây cũng là chỉ tiêu quan trọng thúc đầy hiệu quả sử dụng tổng tài sản nói riêng và nâng cao hiệu quả kinh doanh nói chung
Suất hao phí của tài sản dài hạn so với doanh thu thuần
Chỉ tiêu này cho biết doanh nghiệp muốn có 1 đồng doanh thu trong kỳ thì cần bao nhiêu đồng giá trị tài sản dài hạn Đây là căn cứ để nhà quản trị doanh nghiệp quyết định sử dụng tài sản dài hạn sao cho phù hợp:
Suất hao phí của TSDH so với doanh thu =
TSDH bình quân trong kỳ Doanh thu thuần trong kỳ Suất hao phí của TSDH còn là căn cứ để xác định nhu cầu vốn dài hạn của doanh nghiệp khi muốn đạt được mức doanh thu như mong muốn Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ doanh thu thuần không đảm bảo khả năng hoàn vốn cho tài sản dài hạn, chi
Trang 19phí trong doanh nghiệp chưa được kiểm soát và quản lý có hiệu quả gây lãng phí trong quá trình sản xuất kinh doanh
Suất hao phí của tài sản dài hạn so với lợi nhuận sau thuế
Chỉ tiêu này được xác định như sau:
Suất hao phí của TSDH so với lợi nhuận =
TSDH bình quân trong kỳ Lợi nhuận sau thuế TNDN Trong đó, nếu doanh nghiệp muốn có 1 đồng lợi nhuận sau thuế TNDN trong kỳ thì cần bao nhiêu đồng giá trị tài sản dài hạn Chỉ tiêu này càng thấp càng tốt, đồng thời doanh nghiệp sẽ xác định nhu cầu vốn dài hạn nhất định khi muốn đạt được lợi nhuận như mong muốn
1.3 Sự cần thiết của việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp
Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản là một trong những vấn đề được các nhà quản trị doanh nghiệp quan tâm hàng đầu hiện nay Tính hiệu quả của việc sử dụng tài sản được thể hiện qua việc tăng lợi nhuận mà không làm tăng vốn hoặc đầu tư vốn hợp lý nhằm mở rộng quy mô sản xuất để tăng doanh thu nhưng vẫn đảm bảo tốc độ tăng lợi nhuận lớn hơn tốc độ tăng tài sản
Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản chính là nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu
tư Khi hiệu quả sử dụng tài sản cao thì có nghĩa là doanh nghiệp đã làm cho đồng vốn đầu tư sử dụng có hiệu quả và sẽ tạo cho doanh nghiệp một uy tín tốt để huy động vốn Bên cạnh đó khi hiệu quả sử dụng tài sản cao thì nhu cầu vốn sẽ giảm đi, do đó sẽ cần
ít vốn hơn để đáp ứng nhu cầu kinh doanh nhất định, từ đó sẽ làm giảm chi phí cho sử dụng nguồn vốn, tăng lợi thế cạnh tranh về chi phí
Tài sản được sử dụng hiệu quả (đặc biệt là TSCĐ) sẽ giúp cho doanh nghiệp bảo toàn và phát huy vốn tốt nhất do tận dụng được công suất máy móc, sắp xếp dây chuyền sản xuất hợp lý hơn, vấn đề khấu hao TSCĐ, trích lập quỹ khấu hao được tiến hành đúng đắn, chính xác
Nói tóm lại, việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản là một tất yếu trong cơ chế thị trường cạnh tranh gay gắt, có ý nghĩa quan trọng không những giúp cho doanh nghiệp tăng được lợi nhuận (là mục tiêu hàng đầu của doanh nghiệp) mà còn giúp doanh nghiệp bảo toàn và phát triển nguồn vốn, tăng sức mạnh tài chính, giúp doanh nghiệp đổi mới, đẩy nhanh tốc độ hoạt động, phát huy tối đa năng lục sản xuất kinh doanh góp phần tăng trưởng kinh tế xã hội
Trang 201.4 Nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp
Để có thể nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp, trước hết ta phải xác định rõ ràng các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp Đây là việc nhận thức một cách đúng đắn những yếu tố tác động đến kết quả nhất định trong việc phân tích kinh doanh Doanh nghiệp cần xác định rõ ràng, chính xác sức ảnh hưởng của từng nhân tố đến với doanh nghiệp
Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp luôn chịu sự tác động từ nhiều phía, cả môi trường bên ngoài và môi trường bên trong doanh nghiệp Do vậy để đạt hiệu quả tối ưu, doanh nghiệp cần phân tích đánh giá và biết kết hợp hài hòa giữa các yếu tố này
để đưa ra các chiến lược và kế hoạch phù hợp trong từng giai đoạn góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản cho doanh nghiệp mình Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả
sử dụng tài sản doanh nghiệp được chia làm hai loại: nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan
Việc ban hành hệ thống luật pháp chặt chẽ sẽ tạo ra môi trường kinh doanh bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp, đồng thời đảm bảo quyền lợi của
cả nhà sản xuất và người tiêu dùng Các chính sách đầu tư, chính sách phát triển kinh
tế, chính sách cơ cấu… sẽ tạo ra sự ưu tiên hay kìm hãm sự phát triển của từng ngành, từng vùng kinh tế cụ thể, do đó tác động trực tiếp đến kết quả và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp thuộc các ngành, vùng kinh tế nhất định
Môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế có vai trò lớn, tác động mạnh tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Sự phát triển của doanh nghiệp luôn phụ thuộc với trạng thái phát triển của nền kinh tế: tăng trưởng, ổn định hay suy thoái Sự tăng trưởng kinh tế sẽ quyết định đến nhu cầu sản phẩm cũng như khả năng phát triển các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp
Hệ thống tài chính tiền tệ, lạm phát, thất nghiệp, các chính sách tài khoá của nhà nước có tác động lớn tới quá trình ra quyết định của nhà quản trị doanh nghiệp Nền kinh tế quốc dân ổn định thì các hoạt động kinh doanh cũng giữ ở mức ổn định Khi nền kinh tế quốc dân suy thoái sẽ tác động theo hướng tiêu cực đối với các doanh nghiệp
Trang 21Tỉ lệ lạm phát, mức độ thất nghiệp cũng ảnh hưởng đến cả mặt sản xuất và tiêu dùng Nếu tỉ lệ lạm phát cao sẽ khiến cho cầu hàng hoá giảm, lượng hàng sản xuất giảm Ngoài ra, chính sách tài chính tiền tệ cũng tác động không nhỏ đến hoạt động huy động vốn của doanh nghiệp Sự mất giá của cả nội tệ và ngoại tệ sẽ khiến cho hiệu
quả sử dụng tài sản thực của doanh nghiệp không cao
Trong điều kiện nền kinh tế mở cửa, doanh nghiệp còn chịu tác động của thị trường quốc tế Sự thay đổi chính sách thương mại của các nước, sự bất ổn của nền kinh tế các nước tác động trực tiếp đến thị trường đầu vào và đầu ra của doanh nghiệp Tóm lại, Môi trường kinh tế tạo ra cho doanh nghiệp những thuận lợi đồng thời
cả những khó khăn Doanh nghiệp phải luôn luôn quan sát, đánh giá và dự báo những bước tiến mới của nền kinh tế nhằm nắm bắt các cơ hội, hạn chế tiêu cực từ nền kinh tế chung
Khoa học – Kỹ thuật – Công nghệ
Khoa học, kỹ thuật, công nghệ là một yếu tố không kém phần quan trọng, nó đóng quyết định trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Với trình độ khoa học công nghệ như hiện nay ở nước ta thì hiệu quả của các hoạt động ứng dụng, chuyển giao công nghệ đã, đang và sẽ ảnh hưởng trực tiếp và mạnh
mẽ tới các doanh nghiệp Xu thế hội nhập buộc các doanh nghiệp ở nước ta phải tìm mọi biện pháp để tăng khả năng cạnh tranh là giá cả, doanh nghiệp đạt được điều này nhờ việc giảm chi phí trong đó yếu tố công nghệ đóng vai trò rất quan trọng Vì vậy, các doanh nghiệp phải chú ý nâng cao nhanh chóng khả năng nghiên cứu và phát triển, không chỉ chuyên giao, làm chủ công nghệ ngoai nhập mà phải có khả năng sáng tạo được kỹ thuật công nghệ tiên tiến
Đồng thời, sự phát triển công nghệ hiện nay gắn liền với sự phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin Một doanh nghiệp không áp dụng được công nghệ thông tin vào bộ máy quản lý và sản xuất sẽ là một thiệt thòi rất lớn Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào lĩnh vực quản lý sẽ góp phần nâng cao khả năng tiếp cận và cập nhật thông tin, đặc biệt là những thông tin về thị trường Xóa bỏ các hạn chế về không gian, tăng năng suất lao động
Tuy nhiên, tiến bộ khoa học – công nghệ cũng có thể làm cho tài sản của doanh nghiệp bị hao mòn vô hình nhanh hơn Vì thế, việc theo dõi cập nhật sự phát triển của khoa học – công nghệ là hết sức cần thiết đối với doanh nghiệp khi lựa chọn dự án đầu
tư để có thể đạt được hiệu quả cao nhất
Trang 22Thị trường
Nhắc tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thì phải nhắc tới thị trường Khi thị trường đầu vào biến động, sẽ khiến cho giá cả nguyên vật liệu đầu vào tăng lên, doanh nghiệp muốn đảm bảo lợi nhuận thì phải tăng giá bán Điều này gây ảnh hưởng không nhỏ tới sức tiêu thụ sản phẩm Nếu thị trường đầu ra sôi động, nhu cầu lớn kết hợp với sản phẩm của doanh nghiệp có chất lượng cao, giá bán hợp lý, khối lượng đáp ứng nhu cầu thị trường thì sẽ làm tăng doanh thu và lợi nhuận cho doanh nghiệp
Thị trường tài chính là kênh phân phối vốn từ nơi thừa vốn đến nơi có nhu cầu Thị trường tài chính bao gồm thị trường tiền và thị trường vốn Thị trường tiền là thị trường tài chính trong đó các công cụ ngắn hạn được mua bán, còn thị trường vốn là thị trường cung cấp vốn trung và dài hạn Thị trường tài chính có vai trò quan trọng trong việc huy động vốn, mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Đối thủ cạnh tranh
Để tồn tại được thì các doanh nghiệp luôn có sự cạnh tranh lẫn nhau Cùng là các doanh nghiệp sản xuất ra một loại sản phẩm nhưng doanh nghiệp nào sản xuất ra sản phẩm có mẫu mã đẹp hơn, chất lượng tốt hơn và giá thành rẻ hơn thì sẽ thu hút được lượng người mua nhiều hơn Doanh nghiệp cần phải đẩy mạnh tốc độ tiêu thụ, tăng doanh thu, tổ chức bộ máy lao động phù hợp để tạo sức cạnh tranh về giá cả, chất lượng, chủng loại cũng như mẫu mã…nhằm mục tiêu nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Tuy nhiên, việc xuất hiện càng nhiều đối thủ cạnh tranh thì việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp càng trở nên khó khăn Do vậy, yếu tố đối thủ cạnh tranh có thể thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp nhưng đồng thời cũng mang lại nhiều thách thức khó khăn cần doanh nghiệp vượt qua
Nhân tố chủ quan
1.4.2.
Các nhân tố mang tính chất chủ quan là các nhân tố xuất phát từ nội bộ bên trong của doanh nghiệp, có thể kể đến các yếu tố chính sau:
Khả năng huy động vốn và cơ cấu vốn của doanh nghiệp
Vốn là điều kiện không thể thiếu kể từ khi bắt đầu thành lập doanh nghiệp cho đến từng hoạt động sản xuất kinh doanh Yếu tố vốn là yếu tố quyết định quy mô của doanh nghiệp, đồng thời là nguồn hình thành nên tài sản Vì vậy, khả năng huy động vốn cũng như vấn đề cơ cấu vốn sẽ phản ánh sự phát triển của doanh nghiệp và có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp
Nếu doanh nghiệp có khả năng huy động lượng vốn lớn sẽ là cơ hội để mở rộng quy mô sản xuất – kinh doanh, mở rộng thị trường làm tăng doanh thu từ đó tăng hiệu suất sử dụng tài sản Bên cạnh đó, nếu doanh nghiệp duy trì được cơ cấu vốn hợp lý thì
Trang 23chi phí vốn sẽ giảm, góp phần giảm chi phí, tăng lợi nhuận, hệ số sinh lợi tổng tài sản
sẽ tăng
Bộ máy quản lý doanh nghiệp
Nhà quản trị doanh nghiệp được ví như đầu tầu của doanh nghiệp Đây là bộ phận quản lý cấp cao, nắm quyền ra quyết định của doanh nghiệp trong tay Với một
cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị hợp lý không những giúp cho điều hành hoạt động kinh doanh tốt góp phần nâng cao lợi nhuận mà còn làm giảm tối thiểu các chi phí quản lý
và xây dựng một cơ cấu lao động tối ưu Nhân tố này giúp các nhà lãnh đạo doanh nghiệp đưa ra các quyết định kịp thời, chính xác và đúng đắn, phù hợp với tình hình doanh nghiệp và tình hình thị trường hiện nay Ngược lại, nếu khả năng quản lý, ra quyết định kém thì doanh nghiệp có thể dẫn đến thua lỗ, phá sản do tài sản không được
sử dụng một cách hiệu quả
Nói tóm lại, công tác quản trị doanh nghiệp được tiến hành tốt sẽ giúp doanh nghiệp có một hướng đi đúng đắn, định hướng đúng chiến lược lâu dài và mục tiêu kinh doanh, mang lại hiệu quả cao cho doanh nghiệp
Yếu tố con người
Trong các yếu tố, yếu tố con người là yếu tố quan trọng nhất Mọi nỗ lực đưa khoa học kỹ thuật trang thiết bị máy móc hiện đại vào sản xuất để nâng cao hiệu quả kinh doanh đều do con người tạo ra và thực hiện chúng Tuy vậy, đây cũng là một yếu
tố khó nắm bắt Đội ngũ nhân viên lao động cần phải có một lượng kiến thức chuyên môn vững vàng, tay nghề cao, có khả năng tiếp thu công nghệ mới thì mới có thể sử dụng tài sản đạt hiệu quả tối đa Đồng thời đội ngũ cán bộ công nhân viên cần có tính sáng tạo, tự chủ trong công việc, có khả năng làm việc nhóm, có ý thức giữ gìn bảo quản tài sản, đặc biệt là tài sản cố định của doanh nghiệp
Năng lực quản lý tài sản của doanh nghiệp
Quản lý tài sản một cách khoa học, chặt chẽ sẽ góp phần làm tăng hiệu quả sử dụng tài sản doanh nghiệp Quản lý tài sản của doanh nghiệp được thể hiện chủ yếu trong các nội dung sau:
Quản lý tiền mặt:
Đối với các doanh nghiệp, hiểu được tầm quan trọng của việc quản lý tiền mặt là điều cốt yếu cho sự sống còn của doanh nghiệp Các cuộc khảo sát doanh nghiệp kinh doanh thất bại cho thấy hầu hết các doanh nghiệp (đến 60%) cho biết sự thất bại của
họ toàn bộ hay phần lớn đều do gặp phải vấn đề về luồng tiền mặt trong doanh nghiệp Quản lý tốt luồng tiền mặt sẽ giúp doanh nghiệp vượt qua giai đoạn khó khăn Ngoài
ra, việc này còn tạo cho doanh nghiệp một cơ hội để đầu tư chiến lược hoặc giảm thiểu
Trang 24chi phí và giảm các rủi ro tài chính Các doanh nghiệp cần chú ý đến nguyên tắc quản
lý luồng tiền mặt tự do để thành lập một khoảng an toàn về tiền mặt
Đồng thời doanh nghiệp có thể đưa ra các biện pháp thích hợp đầu tư những khoản tiền nhàn rỗi nhằm thu lợi nhuận như đầu tư vào hoạt động tài chính, tham gia vào thị trường chứng khoán, đầu tư vào thị trường vàng và bất động sản…Nâng cao quản lý tiền mặt cũng góp một phần không hề nhỏ trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản doanh nghiệp
Quản lý hàng tồn kho:
Trong quá trình luân chuyển vốn ngắn hạn phục vụ cho sản xuất kinh doanh thì hàng hóa dự trữ, tồn kho có ý nghĩa rất lớn cho hoạt động của doanh nghiệp Tồn kho hình thành mối liên hệ giữa sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Các doanh nghiệp sản xuất – kinh doanh thường tồn tại ba loại hàng tồn kho: tồn kho nguyên vật liệu, tồn kho sản phẩm dở dang và tồn kho thành phẩm Dự trữ hàng tồn kho giúp cho công việc sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được hoạt động liên tục và không bị gián đoạn Tuy nhiên, nếu dự trữ quá nhiều sẽ làm tăng chi phí lưu kho, chi phí bảo quản và gây ứ đọng vốn Vì vậy, căn cứ vào kế hoạch sản xuất kinh doanh, khả năng cung ứng của nhà cung cấp cùng với những dự đoán biến động của thị trường, doanh nghiệp cần xác định một mức tồn kho hợp lý trong từng thời điểm nhất định
Quản lý các khoản phải thu:
Khoản phải thu là số tiền khách hàng nợ doanh nghiệp do mua chịu hàng hóa hoặc dịch vụ Không có doanh nghiệp nào lại ko tồn tại khoản phải thu, các khoản này tồn tại ở một mức nhất định Các khoản này thường được gọi là các khoản tín dụng thương mại Tín dụng thương mại giúp cho doanh nghiệp thu hút khách hàng, duy trì lượng khách hàng trung thành hàng năm, đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sản phẩm, mở rộng thị trường kéo theo sự gia tăng về doanh thu và lợi nhuận cũng như góp phần giảm lượng hàng tồn kho Tuy nhiên, nếu khoản phải thu quá lớn, đến mức doanh nghiệp không thể kiểm soát được sẽ gây ra một số rủi ro về tài chính Nếu bán chịu hàng hóa quá nhiều thì sẽ làm tăng chi phí quản lý, chi phí đòi nợ, chi phí bù đắp cho vốn thiếu hụt, và nguy cơ phát sinh các khoản nợ khó đòi, do đó, rủi ro không thu hồi được nợ cũng gia tăng Vì vậy doanh nghiệp cần có chính sách bán chịu và chính sách quản lý các khoản phải thu phù hợp để đảm bảo hiệu quả cao nhất
Quản lý các khoản đầu tư tài chính dài hạn:
Đặc điểm của đầu tư dài hạn của doanh nghiệp là phải ứng trước một lượng vốn tiền tệ ban đầu tương đối lớn và được sử dụng có tính chất dài hạn trong tương lai, do
đó đầu tư dài hạn luôn gắn liền với rủi ro Lợi nhuận lớn là mục đích chính của đầu tư tài chính dài hạn Rủi ro càng cao thì lợi nhuận càng lớn
Trang 25Để phân tích về hiệu quả các khoản đầu tư tài chính dài hạn đem lại, doanh nghiệp cần xem xét các yếu tố như: Tổng doanh thu hoạt động đầu tư tài chính dài hạn, mức chi phí để tạo ra một đồng doanh thu từ các hoạt động đầu tư tài chính dài hạn, mức lợi nhuận được tạo từ một đồng chi phí hoạt động đầu tư tài chính dài hạn
Quyết định đầu tư dài hạn là một trong những quyết định tài chính quan trọng nhất ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển trong dài hạn của mỗi doanh nghiệp Do
đó, trước khi thực hiện đầu tư, doanh nghiệp cần thực hiện tốt hoạt động thẩm định, nhất là công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư nhằm thực sự lựa chọn được những
dự án đầu tư hiệu quả, góp phần gia tăng giá trị doanh nghiệp
Quản lý tài sản cố định
Về mặt giá trị bằng tiền, vốn cố định phản ánh tiềm lực của doanh nghiệp Còn
về mặt hiện vật, vốn cố định thể hiện vai trò của mình qua tài sản cố định
Tài sản cố định là những tư liệu lao động chủ yếu tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nó gắn liền với doanh nghiệp trong suốt quá trình tồn tại Doanh nghiệp có tài sản cố định có thể không lớn về mặt giá trị nhưng tầm quan trọng của nó lại không nhỏ chút nào
Quản lý tài sản cố định là một mảng quan trọng trong quản lý tài sản chung Để đạt được các chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng tài sản cố định, doanh nghiệp phải xác định quy mô và chủng loại tài sản cần thiết cho quá trình sản xuất – kinh doanh Doanh nghiệp phải tính toán và dự trù được lượng tài sản cố định cần thiết và phù hợp để phục vụ sản xuất kinh doanh, tránh rơi vào tình trạng mua nhiều mà không sử dụng hết
sẽ gây ra lãng phí, tuy nhiên nếu lượng tài sản cố định không đủ so với lực lượng lao động thì sẽ làm giảm hiệu quả sử dụng tài sản hay hiệu quả sản xuất kinh doanh Đồng thời, doanh nghiệp phải tận dụng tối đa thời gian, hiệu suất của máy móc, trang thiết bị nhằm tránh lãng phí tài sản Tuy nhiên, tài sản cố định sẽ giảm dần giá trị theo thời gian như một quy luật tất yếu Đó được gọi là hao mòn tài sản cố định, gồm hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình Do vậy, doanh nghiệp cần tạo lập quỹ để thu hồi, tái đầu tư vào tài sản mới, doanh nghiệp cần trích khấu hao cho tài sản cố định Việc lựa chọn được phượng pháp tính khấu hao tài sản cố định thích hợp là biện pháp quan trọng để bảo toàn vốn cố định và cũng là một căn cứ quan trọng để xác định thời gian hoàn vốn đầu tư vào tài sản cố định từ các nguồn tài trợ dài hạn
Trang 26KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Các doanh nghiệp hiện nay luôn luôn ý thức được rằng, để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh thì trước hết phải nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản Do tài sản luôn chiếm phần lớn trong cơ cấu tài sản – nguồn vốn của doanh nghiệp Để sử dụng hiệu quả tài sản thì trước hết ta phải nắm rõ các khái niệm và cơ sở lý luận về tài sản Chương 1 đã trình bày khái quát về nội dung tài sản, tài sản ngắn hạn, tài sản dài hạn, hiệu quả sử dụng tài sản và các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp
Cơ sở lý luận trên là tiền đề để tiến hành nghiên cứu, phân tích thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại Doanh nghiệp TNHH Thương mại Xuất nhập khẩu TTTK ở Chương 2 dưới đây
Trang 27CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN CỦA
CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN THƯƠNG MẠI
XUẤT NHẬP KHẨU TTTK 2.1 Giới thiệu chung về Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Xuất nhập khẩu TTTK
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Trách nhiệm hữu hạn
Thương mại Xuất nhập khẩu TTTK
Tên Công ty: Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Xuất nhập khẩu TTTK Địa chỉ trụ sở chính: Tổ 12 – Phường Đức Giang – Quận Long Biên – Hà Nội
Lĩnh vực kinh doanh: Kinh doanh xuất nhập khẩu ván gỗ dán
Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Xuất nhập khẩu TTTK trực thuộc TTTK Group – Công ty TNHH TTTK Công ty TNHH TTTK là Công ty sản xuất gỗ
có địa chỉ tại Thôn Cống Thôn - xã Yên Viên - Gia Lâm - Hà Nội
Nhà máy gỗ dán TTTK là một trong những đơn vị đi đầu trong hoạt động sản xuất, phân phối và xuất khẩu các sản phẩm Gỗ dán, Ván độn, Ván mặt, Gỗ xẻ, Pallet trên thị trường Việt Nam hiện nay Dưới đây là quá trình hình thành và phát triển của Công ty TNHH TTTK nói chung và Công ty TNHH Thương mại Xuất nhập khẩu TTTK nói riêng:
Năm 1997 – 1998: TTTK bắt đầu thành lập xưởng gỗ dán chuyên sản xuất các sản phẩm gỗ dán phục vụ dân dụng, xây dựng
Năm 1998: TTTK mở rộng cung cấp các sản phẩm gỗ dán cho các Công ty liên doanh của Nhật Bản dùng đóng đồ nội thất cho thị trường Nhật Bản
Năm 2002: TTTK chính thức thành lập Công ty TNHH Thương mại Xuất nhập khẩu TTTK đồng thời tiến hành xây dựng thêm xưởng chế biến veneer ván mặt, ván độn Nửa cuối năm 2002, Công ty lên kế hoạch, khảo sát thị trường và tiến hành thâm nhập vào thị trường Hàn Quốc Thêm vào đó, Công ty bắt đầu nhận được các hợp đồng cung cấp gỗ dán đi khắp các tỉnh thành phía Nam Việt Nam
Trang 28Năm 2003: Sau khi thành công tiến vào hai thị trường lớn là Nhật Bản và Hàn Quốc, Công ty tiếp tục tìm kiếm các đối tác ở Đài Loan Đây cũng là lần đầu TTTK xuất khẩu các sản phẩm của mình sang Đài Loan – một thị trường khá rộng lớn
Năm 2004: Công ty bắt đầu đưa các sản phẩm của mình đi khắp các tỉnh thành của Việt Nam Đồng thời đẩy mạnh việc xuất khẩu hàng sang hai nước láng giềng Lào
Năm 2009: Công ty TNHH Thương mại Xuất nhập khẩu TTTK mở rộng thị trường Châu Á, Châu Âu, Châu Phi
Năm 2010: TTTK chủ động đầu tư cải tiến công nghệ, thay đổi máy móc mới, nhập khẩu nhiều máy móc hiện đại nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo uy tín với khách hàng
Năm 2011: Nhờ các chiến lược nghiên cứu thị trường rõ ràng, Công ty đã xuất khẩu được mặt hàng mới, đó là veneer ván mặt và thâm nhập thành công thị trường Châu Mỹ
Năm 2012: Ban giám đốc lên kế hoach xúc tiến việc xây dựng Văn phòng đại diện của TTTK tại Nhật Bản
Năm 2013: Để tăng năng suất và hiệu quả lao động, Công ty tập trung nâng cấp nhà máy, đầu tư máy móc thiết bị hiện đại Công ty chủ trương thay đổi toàn bộ quy trình sản xuất nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng hoá sản phẩm Đồng thời, tăng sản lượng của nhà máy lên 250
Bằng việc liên tục thực hiện nhiều cải tiến về tổ chức sản xuất, cải tiến về công nghệ - kỹ thuật, đào tạo tay nghề cho công nhân, TTTK đã gặt hái được nhiều thành tựu đáng kể về doanh số, thị phần, chất lượng sản phẩm….Hiện nay, TTTK tự hào trở thành một trong những đơn vị hàng đầu trong lĩnh vực cung cấp tất các sản phẩm gỗ dán cho thị trường Việt Nam, cũng như xuất khẩu đi nhiều nước trên thế giới
Trang 292.1.2 Bộ máy tổ chức của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại
Xuất nhập khẩu TTTK
Công ty TNHH Thương mại Xuất nhập khẩu TTTK là Công ty trực thuộc Công
ty TNHH TTTK, có nhiệm vụ chuyên xuất khẩu các sản phẩm gỗ, ván ép… được hoàn thành từ xưởng sản xuất Công ty TNHH TTTK ra các quốc gia khác và ngược lại Thêm vào đó, Công ty cũng có các đại lý bán lẻ trong nước nhằm phân phối sản phẩm đến các tỉnh thành Vì vậy, cơ cấu tổ chức của Công ty TNHH Thương mại Xuất nhập khẩu khá đơn giản và được tổ chức theo mô hình quản lý chức năng như sau:
Sơ đồ 2.1 Bộ máy tổ chức của Công ty TNHH Thương mại XNK TTTK
(Nguồn: Phòng Hành chính – Nhân sự)
Chức năng và nhiệm vụ cụ thể của từng bộ phận:
Giám đốc Công ty: Giám đốc là nguời chịu trách nhiệm trước pháp luật và Công
ty về toàn bộ công tác quản lý, điều hành sản xuất kinh doanh của Công ty, ngoài ra còn là chủ tài khoản, quyết định về tài chính trong giới hạn cho phép, ký các hợp đồng kinh tế, các phiếu chi, thanh quyết toán Việc phụ trách công tác thị trường, công tác kinh doanh, đối ngoại sau đó chỉ đạo công tác đầu tư, xây dựng cơ bản và phụ trách công tác nội chính, tổ chức cán bộ, lao động tiền lương cũng sẽ do Giám đốc đảm
Giám đốc Doanh nghiệp
Phòng Tài chính –
Kế toán
Phòng Marketing
& XNK
Phòng
Kỹ thuật
Kho hàng
Trang 30nhiệm Ngoài ra, giám đốc còn có nhiệm vụ tổ chức, kiểm soát và điều chỉnh các phòng ban, kho bãi theo quy mô của Công ty
Phó giám đốc Công ty: Phó giám đốc có nhiệm vụ thay mặt cho Giám đốc trong
quản lý điều hành các hoạt động của Công ty theo sự phân công của Giám đốc Phó giám đốc thừa lệnh và triển khai các công việc, nhiệm vụ trực tiếp từ Giám đốc, đồng thời chịu toàn bộ trách nhiệm trước Giám đốc Công ty về kết quả của các nhiệm vụ được giao
Ban tư vấn: Các thành viên của ban tư vấn sẽ kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp,
tính trung thực và mức độ cẩn trọng trong quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh, trong tổ chức công tác kế toán, thống kê và lập báo cáo tài chính Đồng thời, đưa ra các kiến nghị cần thiết khi Công ty gặp phải sự cố
Phòng Hành chính – Nhân sự: Phòng hành chính – nhân sự tổ chức bộ máy
nhân sự các cấp trong Công ty, tiếp quản, lưu trữ và quản lý hồ sơ cán bộ công nhân viên trong Công ty Kiểm tra chuyên cần, kế hoạch nghỉ lễ, công tác thi đua, khen thưởng, kỉ luật, tình hình nhân sự các cấp Đồng thời, phòng sẽ kiêm nhiệm công tác văn thư, có trách nhiệm bảo quản các tài sản chung của Công ty
Phòng Kế hoạch – Kinh doanh: Nhiệm vụ chính của phòng kế hoach – kinh doanh là lên kế hoạch cho các dự án trong hiện tại và tương lai của Công ty Chịu trách
nhiệm thu mua, nhập khẩu nguyên vật liệu rồi chuyển cho nhà máy sản xuất sau đó tiến hành tìm kiếm khách hàng và phân phối sản phẩm Phối hợp với các phòng ban, đặc biệt là phòng Kế toán trong các nghiệp vụ thu tiền bán hàng hóa, thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ có liên quan đến tình hình hoạt động của Công ty
Đồng thời, Nghiên cứu thị trường, tìm kiếm các khách hàng tiềm năng, những thị trường tiêu thụ mới Tiếp tục đẩy mạnh việc xuất khẩu hàng ra nước ngoài Phòng Kế hoạch – Kinh doanh chịu trách nhiệm chính trong việc soạn thảo và theo dõi hợp đồng kinh doanh từ khi bắt đầu đến khi kết thúc nhằm giữ và tăng thị phần của Công ty
Phòng Tài chính – Kế toán: Nhân sự phòng tài chính – kế toán phải chịu trách
nhiệm toàn bộ thu chi tài chính của Công ty, đảm bảo đầy đủ chi phí cho các hoạt động lương, thưởng, mua máy móc, vật liệu,… và lập phiếu thu chi cho tất cả những chi phí phát sinh Lưu trữ đầy đủ và chính xác các số liệu về xuất, nhập theo quy định của Công ty Chịu trách nhiệm ghi chép, phản ánh chính xác, kịp thời, đầy đủ tình hình hiện có, lập chứng từ về sự vận động của các loại tài sản trong Công ty, thực hiện các chính sách, chế độ theo đúng quy định của Nhà nước Lập báo cáo kế toán hàng tháng, hàng quý, hàng năm để trình Ban Giám đốc Thực hiện trả lương, thưởng cho cán bộ công nhân viên theo đúng chế độ, đúng thời hạn Theo dõi quá trình chuyển tiền thanh
Trang 31toán của khách hàng qua hệ thống ngân hàng, chịu trách nhiệm quyết toán công nợ với khách hàng Mở sổ sách, lưu trữ các chứng từ có liên quan đến việc giao nhận
Phòng Marketing & Xuất nhập khẩu: Phòng Marketing thường có mối liên hệ
mật thiết với phòng kinh doanh nhằm thực hiện các chiến lược Marketing và quảng bá thương hiệu nhằm đưa tên Công ty TNHH Thương mại Xuất nhập khẩu TTTK ngày càng phát triển Sử dụng các công cụ như truyền thông, báo chí, quan hệ công chúng đồng thời xử lý khủng hoảng khi Công ty gặp vấn đề về mặt truyền thông
Phòng kỹ thuật: Phòng kỹ thuật có mối liên hệ trực tiếp với nhà máy sản xuất gỗ
TTTK Theo dõi, đôn đốc và tham mưu giúp Giám đốc về lĩnh vực quản lý, sử dụng phương tiện, máy móc, thiết bị, vật tư trong Công ty và chủ trì trong việc xây dựng kế hoạch bảo dưỡng, sửa chữa các thiết bị và công tác bảo hiểm cho phương tiện, thiết bị
Kho hàng: Đây là nơi có liên hệ trực tiếp với phòng Tài chính – Kế toán, kế toán
kho sẽ làm việc tại đây nhằm kiểm soát đơn hàng nhập về và đơn hàng xuất đi, đối chiếu số liệu và quản lý chặt chẽ hàng hoá
Nói tóm lại, giữa các phòng ban trong Công ty đều có mối liên hệ chặt chẽ với nhau và không thể tách rời Các bộ phận bổ sung và trợ giúp lẫn nhau giúp cho bộ máy hoạt động của Công ty trở nên trơn tru và khó gặp trở ngại Việc xây dựng bộ máy Công ty theo chuyên môn giúp việc hoạt động kinh doanh của Công ty hiệu quả hơn
2.1.3 Đặc điểm ngành nghề hoạt động sản xuất của Công ty Trách nhiệm hữu hạn
Thương mại Xuất nhập khẩu TTTK
Công ty TNHH Thương mại Xuất nhập khẩu TTTK là Công ty trực thuộc của Công ty TNHH TTTK – chuyên sản xuất gỗ ván ép các loại Công ty TNHH Thương mại Xuất nhập khẩu TTTK sẽ chịu trách nhiệm khâu xuất nhập khẩu hàng hoá và nguyên vật liệu, máy móc Một số sản phẩm chính được Công ty giới thiệu ra các quốc gia trên Thế Giới như sau:
- Gỗ dán bao gồm: Gỗ dán dân dụng, Cốt pha, Bao bì, LVL;
dễ dàng gia công, xử lý sau khi bán cho khách hàng Đối tượng khách hàng chủ yếu
Trang 32của Công ty TNHH Thương mại Xuất nhập khẩu TTTK là các Công ty sản xuất đồ gỗ tại các quốc gia chủ yếu như Nhật Bản và Trung Quốc Hai quốc gia này có thị trường rộng lớn về đồ gỗ gia dụng và nhu cầu về mặt hàng này khá ổn định Với phương châm vì sự thành công của khách hàng, Công ty xuất nhập khẩu TTTK luôn nỗ lực đem đến cho khách hàng những sản phẩm với chất lượng tốt nhất, giá cả cạnh tranh nhất và các dịch vụ đi kèm tốt nhất
2.1.4 Kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại
Xuất nhập khẩu TTTK năm 2011 – 2013
Kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty luôn được thể hiện rõ nhất trong hệ thống báo cáo tài chính cuối kì kinh doanh Báo cáo tài chính cung cấp những thông tin tổng quát về kinh tế - tài chính Những thông tin trên báo cáo tài chính là những căn cứ quan trọng trong việc phân tích, phát hiện những khả năng tiềm tàng về kinh tế Trên cơ sở đó, Công ty có thể biết được tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như xu hướng phát triển trong giai đoạn sắp tới Đó là những căn cứ quan trọng giúp cho việc đưa ra các quyết định cho quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của các nhà quản trị Công ty Dựa vào các chỉ tiêu và số liệu trên báo cáo tài chính, Công ty có thể phân tích chính xác các biến động về quy mô và cơ cấu tài sản, nguồn vốn, về tình hình thanh toán và khả năng thanh toán, tình hình phân phối lợi nhuận của Công ty
Trong hệ thống báo cáo tài chính, mỗi loại lại có vai trò cung cấp thông tin đối với việc phân tích dưới các góc độ khác nhau Để xem xét kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty trong một giai đoạn, nhà quản trị Công ty thường quan tâm chủ yếu đến báo cáo kết quả kinh doanh Trong đó, báo cáo sẽ cung cấp những thông tin về kết quả sản xuất kinh doanh trong kỳ Từ việc phân tích các số liệu trên báo cáo này, Công ty
có thể đánh giá được các thay đổi tiềm tàng về các nguồn lực kinh tế, đánh giá khả năng sinh lời của Công ty
Trang 33Bảng 2.1 Bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH Thương Mại XNK TTTK từ năm 2011 – 2013
Chi phí quản lý kinh doanh 1.350.351.437 628.252.288 1.213.294.349 722.099.149 114,94 (585.042.061) (48,21)
Lợi nhuận thuần từ hoạt
Trang 34Mức biến động về doanh thu thuần và chi phí giá vốn trong giai đoạn 2011 – 2013
Biểu đồ 2.1 Biểu đồ doanh thu và chi phí của Công ty TNHH Thương Mại XNK
TTTK trong giai đoạn 2011 – 2013
Đơn vị: Nghìn đồng
(Nguồn: Báo cáo tài chính Công ty giai đoạn 2011 - 2013)
Theo biểu đồ 2.1, doanh thu và chi phí có xu hướng tăng từ năm 2011 đến năm
2013 Tốc độ tăng doanh thu và chi phí tương đương nhau, bám sát nhau theo từng năm
Về doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ: Nhìn vào số liệu có thể thấy,
doanh thu năm 2012 tăng nhẹ so với năm 2011, chênh lệch 4.021.064.123 đồng tương ứng với 14,51% Tình hình kinh tế chung năm 2011 – 2012 không mấy khởi sắc, tuy nhiên kim ngạch xuất nhập khẩu gỗ và các sản phẩm từ gỗ vẫn có sự biến chuyển nhẹ khiến cho doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ hầu như không tăng nhiều so với năm trước đó Thế nhưng, sang năm 2013, doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của TTTK là 49.767.214.473 đồng tăng 56,82 so với năm 2012 tương ứng với 18,032,043,158 đồng Mức tăng mạnh về doanh thu này cho thấy Công ty đã có nhiều bước chuyển mình đáng kể, ngoài việc tập trung giữ mối quan hệ với các bạn hàng quen thuộc, TTTK còn mở rộng thị trường một số quốc gia khác với nhu cầu về hàng hoá phong phú hơn Hơn nữa, TTTK đã thay đổi toàn bộ quy trình sản xuất, đầu tư thêm một số máy móc hiện đại nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng hoá sản phẩm, mẫu mã Với những nỗ lực như vậy, TTTK đã gây được ấn tượng tốt đối với các đối tác, nâng cao uy tín Công ty và tăng sức cạnh tranh với các Công ty khác cùng ngành Đây chính là một trong những nguyên nhân chính khiến doanh thu tăng gấp nhiều lần so với năm trước đó
Trang 35Về các khoản giảm trừ doanh thu: Trong ba năm liên tiếp, Công ty không có
khoản giảm trừ doanh thu Từ đó có thể thấy rằng, Công ty đã thực hiện rất tốt các hợp đồng kí kết và không phải chịu các khoản chi phí phát sinh bên ngoài như chi phí vận chuyển, dỡ hàng…Đồng thời, TTTK luôn đảm cung cấp tới khách các sản phẩm với chất lượng tốt nhất, vì vậy sẽ không tồn tại việc giảm giá thành sản phẩm hay khuyến mại, hàng bán bị trả lại Giảm trừ doanh thu bằng 0 đồng nghĩa với việc tăng doanh thu chính là tăng doanh thu thuần cho Công ty
Về giá vốn hàng bán: Năm 2012, giá vốn của Công ty TNHH Thương mại Xuất
nhập khẩu TTTK là 30.949.542.368 đồng tăng so với năm 2011 là 4.067.562.937 đồng tương đương với 15,13%, xấp xỉ mức tăng của doanh thu Năm 2013 tăng 55,81 so với năm 2012, tương đương 17.274.363.416 đồng Chi phí tăng tỷ lệ thuận với doanh thu Năm 2013 là năm doanh thu tăng cao nhất đồng nghĩa với chi phí giá vốn cũng tăng cao nhất trong 3 năm Do hàng hoá tiêu thụ tốt đồng thời Công ty phải bỏ ra khoản chi phí tương đương cho việc sản xuất, nhập nguyên vật liệu Một nguyên nhân khác là do tác động của nền kinh tế, ngoại hối tăng, lạm phát cũng đẩy chi phí đầu vào lên cao hơn so với các năm trước Tuy nhiên mức tăng doanh thu vẫn cao hơn mức tăng chi phí cho thấy rằng Công ty cũng có những nỗ lực kiểm soát chặt chẽ về yếu tố chi phí đầu vào
Về doanh thu từ hoạt động tài chính: Năm 2011, Công ty TTTK có doanh thu
từ hoạt động tài chính ở mức khá cao 246.744.097 đồng, trong khi số liệu này tụt giảm sâu xuống còn 8.425.348 đồng khi bước sang năm 2012, giảm 96,59% so với năm
2011 Sang năm 2013, doanh thu hoạt động tài chính bắt đầu có khởi sắc khi tăng 126,2% so với năm 2012, tương đương mức tăng 10.631.906 đồng Doanh thu từ hoạt động tài chính bao gồm thu nhập từ các khoản tiền gửi ngân hàng, lãi cổ phiếu, lãi chênh lệch tỷ giá phát sinh do đánh giá lại số dư cuối năm của các khoản nợ dài hạn
Số liệu ba năm có sự biến động lên xuống thất thường Năm 2012 giảm mạnh so với năm 2011 là do Công ty không tận dụng các khoản trong hoạt động tài chính mà chủ yếu tập trung vào các hợp đồng ngắn hạn, bán thanh toán ngay Năm 2013, nhờ những điều chỉnh phù hợp về chi phí sử dụng vốn nên doanh thu từ hoạt động tài chính đã có bước tăng đáng kể Công ty nên chú ý đến khoản mục này hơn vì tăng doanh thu từ hoạt động tài chính cũng góp phần không nhỏ trong việc tăng doanh thu cho Công ty
Về chi phí tài chính: Chi phí tài chính bao gồm các khoản chi phí lãi vay phát
sinh, lỗ bán ngoại tệ, lỗ do việc đầu tư chứng khoán…Năm 2011 chi phí tài chính của Công ty là 24.000.125 đồng, trong đó bao gồm 4.292.943 đồng chi phí lãi vay Sang năm 2012, chi phí này tăng 51.498.422 đồng so với năm trước tương đương với 214,58% Nguyên nhân là do giai đoạn này Công ty đang có những kế hoạch đổi mới nhà xưởng, máy móc thiết bị và tập trung vào các kế hoạch nghiên cứu thị trường nên các chi phí phát sinh thêm chủ yếu dựa vào vốn vay ngân hàng khiến chi phí tài chính
Trang 36tăng Tuy vậy, nhờ sự kiểm soát chặt chẽ các khoản chi phí nên chi phí tài chính năm
2013 giảm 25.111.458 đồng tương đương với 33,26% Mặc dù đã có cải thiện, nhưng khoản chi phí tài chính này vẫn còn khá lớn, Công ty nên xem xét quản lý các khoản huy động vốn, từ đó làm giảm chi phí tăng lợi nhuận cho Công ty
Về chi phí quản lý kinh doanh: Là những khoản chi phí có liên quan chung đến
toàn bộ hoạt động của cả Công ty Chi phí quản lý kinh doanh bao gồm: chi phí nhân viên quản lý, chi phí vật liệu, công cụ dụng cụ, chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí dịch
vụ mua ngoài và các chi phí bằng tiền khác Năm 2011, chi phí quản lý kinh doanh của Công ty là 1.213.294.349 đồng, năm 2012 giảm mạnh còn 628.252.288 đồng tương đương 48,21 Năm 2013 con số này lại tăng về mức xấp xỉ năm 2011 là 1.350.351.437 đồng, tương đương tăng 114,94 so với năm 2012 Nguyên nhân là do tình hình lạm phát cao, một số khoản chi phí dịch vụ mua ngoài khác cũng tăng từ đó làm tăng chi phí quản lý của Công ty Ngoài ra, việc mở rộng quy mô Công ty cũng không tránh khỏi việc làm gia tăng chi phí Vì vậy, Công ty cần có kế hoạch nhằm cắt giảm bớt các khoản không cần thiết nhằm tăng lợi nhuận cho Công ty
Về lợi nhuận sau thuế thu nhập Công ty: Lợi nhuận luôn luôn là mục đích cuối
cùng mà Công ty mong muốn đạt được Năm 2011, lợi nhuận Công ty là (158.422.616) đồng Lợi nhuận Công ty 2011 âm là do tình hình kinh tế biến động mạnh các ngành kinh tế trong nước cũng như ngoài nước trì trệ, mất cân bằng khiến hàng hóa sản xuất ra không tiêu thụ được, thu không đủ bù chi Công ty bỏ quá nhiều chi phí vào chi phí quản lý kinh doanh, và chi phí tài chính, đồng thời không kiểm soát chặt chẽ chi phí vốn Sang năm 2012, nhờ rút kinh nghiệm từ năm trước, lợi nhuận đã tăng đáng kể thành 90.303.460 đồng, tương đương với mức tăng 157 (248.726.076 đồng) Con số này tiếp tục tăng trong năm 2013 với mức tăng 30.917.103 đồng, tương đương với 34,24% Xét về chủ quan, mối quan hệ của Công ty với các đối tác dần dần được hình thành qua các năm dẫn tới số lượng hợp đồng tăng làm khối lượng công việc tăng lên Ban lãnh đạo Công ty với những kinh nghiệm tích lũy được đã đưa Công ty đến quyết định sáng suốt hơn trong việc quản lý vốn, quản lý các khoản phải thu Về khách quan, đến năm 2013, tình hình kinh tế đang có dấu hiệu
ổn định hơn khắc phục tình trạng lợi nhuận âm năm 2011 Lợi nhuận tăng liên tục qua các năm chứng tỏ Công ty đang có các bước đi đúng đắn trong việc kiểm soát thu chi Nhìn chung, với nền kinh tế cạnh tranh khốc liệt hiện tại, vấp phải không ít khó khăn nhưng cán bộ công nhân viên Công ty TNHH Thương mại Xuất nhập khẩu TTTK vẫn đang không ngừng cố gắng, đưa ra các kế hoạch và biện pháp cụ thể giúp cho Công ty vượt qua khó khăn, từng bước kinh doanh có lãi
Trang 372.2 Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty Trách nhiệm
hữu hạn Thương mại Xuất nhập khẩu TTTK
2.2.1 Quy mô và cơ cấu tài sản của Công ty Trách nhiệm hữu hạn
Thương mại Xuất nhập khẩu TTTK
Song song với việc tổ chức, huy động vốn cho hoạt động kinh doanh, các Công
ty còn phải sử dụng vốn đã huy động một cách hợp lý và có hiệu quả Sử dụng hợp lý,
có hiệu quả số vốn đã huy động thể hiện trước hết ở việc số vốn đã huy động được đầu
tư vào lĩnh vực kinh doanh hay bộ phận tài sản nào Vì thế, việc phân tích cơ cấu tài
sản luôn được thực hiện đầu tiên trước khi phân tích tình hình sử dụng vốn Qua phân
tích cơ cấu tài sản, các nhà quản lý sẽ nắm được tình hình đầu tư (sử dụng) số vốn đã
huy động, biết được việc sử dụng vốn có phù hợp với lĩnh vực kinh doanh và có phục
vụ tích cực cho mục đích kinh doanh của Công ty hay không
Bảng 2.2 Tỷ trọng tài sản Công ty TNHH Thương Mại Xuất nhập khẩu TTTK
trong giai đoạn 2011 – 2013
TSNH 11.174.441 98,44 8.610.323 97,57 7.551.529 96,57 2.564.117 29,78 1.058.794 14,02
TSDH 176.708 1,56 214.482 2,43 268.102 3,43 (37.773) (17,61) (53.620) (20,00)
Tổng
TS 11.351.150 100 8.824.805 100 7.819.632 100 2.526.344 28,63 1.005.173 12,85
(Nguồn: Báo cáo tài chính Công ty giai đoạn 2011 – 2013)
Bảng cơ cấu tài sản của Công ty cho thấy tài sản qua các năm có sự
thay đổi như sau:
Năm 2011, tổng tài sản của Công ty TNHH Thương mại Xuất nhập khẩu TTTK
là 7.819.632.194 đồng, trong khi năm 2012 con số này tăng lên 8.824.805.988 đồng,
chênh lệch 1.005.173.794 đồng tương đương với 12,85% do tình hình kinh doanh
trong năm 2012 có nhiều biến chuyển và Công ty đang từng bước làm ăn có lãi nên đã
quyết định mở rộng đầu tư thêm vào các tài sản để phục vụ cho quá trình sản xuất và
cung cấp sản phẩm hàng hóa cho khách hàng Sang năm 2013, con số này tiếp tục tăng
lên thành 11.351.150.224 đồng, tăng 28,63% so với năm 2012 tương đương
2.526.344.236 đồng Có thể thấy rằng, TTTK đang từng bước chuyển mình, thu hút
Trang 38nhiều khách hàng hơn, hàng hoá tiêu thụ tốt hơn Vì vậy việc đầu tư cho tài sản càng được chú trọng hơn bao giờ hết
Cơ cấu của tài sản cũng có sự thay đổi rõ rệt, nhưng có một điểm chung đó là tỷ trọng của tài sản ngắn hạn luôn luôn lớn hơn tỷ trọng của tài sản dài hạn chứng tỏ tài sản ngắn hạn là phần tài sản chủ yếu và quan trọng của Công ty Tốc độ tăng của tài sản ngắn hạn luôn tỷ lệ nghịch với tài sản dài hạn Trong khi tài sản ngắn hạn tăng đều qua các năm thì tài sản dài hạn lại ngược lại Năm 2011, cơ cấu tài sản ngắn hạn là 96,57 tăng lên thành 97,57 ở năm 2012 và đạt mức 98,44% ở năm 2013 Nguyên nhân của việc gia tăng cơ cấu tài sản ngắn hạn là do sự tăng lên của tiền và các khoản tương đương tiền, theo đó là sự tăng lên mạnh mẽ của các khoản phải thu ngắn hạn trong năm 2013 Đối với cơ cấu tài sản dài hạn, có thể thấy năm 2011 tài sản dài hạn chiếm 3,43 cơ cấu tài sản chung của Công ty Con số này tiếp tục giảm xuống còn 1.56 trong năm 2013 Cơ cấu tài sản dài hạn ngày càng nhỏ so với cơ cấu tài sản ngắn hạn Nguyên nhân là do Công ty mở rộng sản xuất, mở rộng thị trường nên tập trung chủ yếu mở rộng quy mô tài sản ngắn hạn Thêm vào đó TTTK cũng tập đầu tư thêm vào tài sản cố định, nhưng giá trị hao mòn của tài sản cố định lớn dẫn đến sự thay đổi trong tỷ trọng tài sản ngắn hạn với tài sản dài hạn
Việc xem xét kĩ lưỡng về tình hình tài sản tại một thời điểm cho phép đánh giá tổng quan về quy mô của tài sản nói riêng và của cả Công ty nói chung Từ đó có thể thấy được tình hình tài chính và năng lực sản xuất của Công ty Đánh giá chính xác quy mô và cơ cấu tài sản giúp Công ty tìm ra những vấn đề, khó khăn trong công tác
sử dụng tài sản từ đó tìm cách khắc phục nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản Ngoài ra, việc này còn giúp tăng cường khả năng quản lý nguồn tài nguyên và kiểm soát chi phí cho Công ty
2.2.1.1 Thực trạng tài sản ngắn hạn của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Xuất
nhập khẩu TTTK
Tài sản ngắn hạn là một bộ phận quan trọng và có sự biến đổi nhanh chóng trong tổng tài sản của Công ty Quy mô và cơ cấu trong tài sản ngắn hạn còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố và nó có tác động lớn đến kết quả kinh doanh nói chung và hiệu quả sử dụng tài sản nói riêng của Công ty
Trong giai đoạn 2011 – 2013, tài sản ngắn hạn của Công ty đã có nhiều thay đổi, được thể hiện qua bảng sau: