1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện công tác quản lý Ngân sách huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh

82 621 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoàn thiện công tác quản lý ngân sách huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản lý ngân sách
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Thành phố Bắc Ninh
Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 436 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm qua xã hội, nền kinh tế nước ta đã có những chuyển biến lớn để hội nhập cùng với kinh tế quốc tế; đời sống của nhân dân ta cũng đã có nhiều tiến bộ hơn trước

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I: QUẢN LÝ VÀ HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH QUẬN – HUYỆN 3

1.1 Khái quát NSNN, tổ chức hệ thống NSNN và phân cấp quản lý 3

1.1.1 Tổ chức hệ thống NSNN 3

1.1.2 Phân cấp ngân sách nhà nước 6

1.1.2.1 sự cần thiết và tác dụng của phân cấp NSNN 6

1.1.2.2 Nội dung phân cấp Ngân sách 7

1.1.2.3 Các nguyên tắc phân cấp ngân sách 8

1.2 Ngân sách Quận – Huyện và quản lý ngân sách Quận- Huyện 11

1.2.1 Ngân sách Quận- Huyện 11

1.2.1.1 Khái niệm và lịch sử hình thành 11

1.2.1.2 Vai trò của Ngân sách Quận- Huyện 13

1.2.1.3 Nội dung Ngân sách Quận, Huyện 15

1.2.2 Quản lý ngân sách Quận, Huyện 25

1.2.2.1 Tính tất yếu của công tác quản lý Ngân sách Quận, Huyện 25

1.2.2.2 Nội dung quản lý ngân sách Quận- Huyện 26

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGÂN SÁCH HUYỆN QUẾ VÕ - TỈNH BẮC NINH 34

2.1 Một số đặc trưng về kinh tế, văn hóa, xã hội huyện Quế Võ 34

2.2 Thực trạng quản lý Ngân sách huyện Quế Võ 40

2.2.1 Công tác lập dự toán ngân sách của huyện Quế Võ 40

2.2.2 Chấp hành dự toán ngân sách huyện Quế Võ 41

2.2.2.1 Công tác thu ngân sách 42

2.2.2.2 Công tác chi ngân sách 50

2.2.3 Quyết toán Ngân sách huyện Quế Võ 55

2.3 Đánh giá về công tác quản lý Ngân sách Huyện Quế Võ 57

Trang 2

2.3.1 Những thành tựu 57

2.3.2 Hạn chế 61

2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 64

CHƯƠNG III: BIỆN PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGÂN SÁCH HUYỆN QUẾ VÕ 67

3.1 Định hướng chung 67

3.2 Một số giải pháp 69

3.2.1 Xây dựng, lập dự toán Ngân sách phải chính xác chi tiết, tránh thâm hụt 69

3.2.2 Không ngừng tăng cường kiểm tra, kiểm soát lại tất cả các nguồn thu 70

3.2.3 Tạo dựng, khai thác, phát triển nguồn thu mới 72

3.2.4 Tổ chức quản lý thu một cách khoa học, chính xác, đơn giản dễ hiểu 72

3.2.5 Tăng cường hiệu quả chi Ngân sách Huyện, giám sát, giảm thiểu những khoản chi lãng phí, vô ích Chấp hành đúng dự toán 73

3.2.6 Phòng chống, khắc phục triệt để các sai phạm trong các đơn vị hành chính sự nghiệp của Huyện 73

3.2.7 Nâng cao vai trò kiểm soát chi qua Chi cục Kho bạc 74

3.2.8 Hoàn thiện một số vấn đề chủ yếu trong cơ chế quản lý Ngân sách xã, phường 75

3.2.9 Nâng cao chất lượng cán bộ nhân viên, không ngừng đào tạo mới và đào tạo lại nguồn nhân lực 76

3.3 Kiến nghị 77

3.3.1 Kiến nghị với Nhà nước, Quốc hội và Chính phủ 78

3.3.2 kiến nghị với các cơ quan Tài chính cấp trên 79

KẾT LUẬN 80

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Đất nước ta đã bước sang năm thứ ba kể từ khi nước ta chính thức ranhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO ( ngày 07/11/2006) Trong nhữngnăm qua xã hội, nền kinh tế nước ta đã có những chuyển biến lớn để hội nhậpcùng với kinh tế quốc tế; đời sống của nhân dân ta cũng đã có nhiều tiến bộhơn trước

Trong những năm tới đây, nhiệm vụ phát triển kinh tế vẫn được đặt lênhàng đầu Chúng ta đang đẩy mạnh cải cách, phát triển tài chính nhằm tạodựng nền tài chính quốc gia vững mạnh, cơ chế tài chính phù hợp với điềukiện kinh tế thị trường và hội nhập mở cửa

Ngân sách nhà nước với đặc thù là nội lực tài chính để phát triển trongthời gian qua đã thể hiện được vai trò của mình đối với toàn bộ nền kinh tếquốc dân, nguồn vốn đầu tư vào nền kinh tế hàng năm lên đến hàng nghìn tỷđồng

Trên tinh thần phát triển kinh tế của Đại hội Đảng X ngân sách Nhànước hơn lúc nào hết thể hiện rõ trách nhiệm, vai trò của mình trong tình hìnhmới, là động lực của sự phát triển

Với chủ trương phát triển toàn diện của Đảng, cấp ngân sách Huyện đang ngày càng thể hiện rõ chức năng, vai trò, nhiệm vụ của mình trênđịa bàn quận, huyện

Quận-Trong thời gian thực tập tại Phòng Tài chính Kế hoạch huyện Quế Võ,được sự giúp đỡ của các cô, các bác trong phòng và đặc biệt là sự hướng dẫn

nhiệt tình của PGS, TS Nguyễn Thị Bất, em đã chọn đề tài " Hoàn thiện công tác quản lý Ngân sách huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh" cho luận văn tôt

Trang 4

Luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1: Quản lý và hiệu quả quản lý ngân sách

Chương 2: Thực trạng công tác quản lý ngân sách huyện Quế Võ- tỉnh

Em hi vọng rằng, những ý kiến đề xuất nhỏ bé của mình nêu trong đề tàiphần nào giúp cho các cơ quan chức năng trong quá trình kiện toàn Ngân sáchNhà nước, Ngân sách Quận- Huyện

Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của PGS, TS NguyễnThị Bất; sự giúp đỡ chỉ bảo nhiệt tình của các cô, các bác và các anh chị tạiphòng Tài Chính- Kế hoạch huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh đã giúp em hoànthành đề tài này

Mặc dù đã cố gắng nỗ lực hết sức nhưng trong đề tài vẫn không thể tránhkhỏi những sai xót Em mong nhận được sự đóng góp, chỉ bảo tận tình của côgiáo và các cán bộ trong trong phòng

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 5

CHƯƠNG I: QUẢN LÝ VÀ HIỆU QUẢ QUẢN LÝ

NGÂN SÁCH QUẬN – HUYỆN 1.1 Khái quát NSNN, tổ chức hệ thống NSNN và phân cấp quản lý

Trong thời kì mở cửa hội nhập cùng kinh tế quốc tế ở nước ta như hiệnnay không những đòi hỏi sự chuyển đổi về thể chế và cơ cấu kinh tế nóichung mà còn đòi hỏi những chuyển biến cần thiết về cả nhận thức và thể chếtài chính, ngân sách Do đó việc nhận thức đúng đắn bản chất, chức năngNSNN sẽ giúp cho chúng ta sử dụng nhạy bén công cụ NSNN trong điềuhành chính sách kinh tế vĩ mô

Ở Việt Nam chúng ta cũng có rất nhiều quan điểm khác nhau về NSNNtuy nhiên theo luật Ngân sách Nhà nước Việt Nam thì: “Ngân sách Nhà nước

là toàn bộ các khoản thu- chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quanNhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảmbảo thực các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”

Như vậy, Ngân sách nhà nước phản ánh các mối quan hệ kinh tế giữamột bên là Nhà nước với một bên là các chủ thể khác trong xã hội Các quan

hệ kinh tế này phát sinh trong quá trình Nhà nước tham gia phân phối cácnguồn tài chính quốc gia phục vụ cho việc thực hiện các chức năng của mình.Các quan hệ đó biểu hiện thông qua các nội dung thu- chi của Ngân sách nhànước, phù hợp với các điều kiện kinh tế xã hội và nhiệm vụ của Nhà nướctrong mỗi thời kì tương ứng

1.1.1 Tổ chức hệ thống NSNN

Hệ thống NSNN là tổng thể các cấp Ngân sách gắn bó hữu cơ với nhautrong quá trình thực hiện nhiệm vụ thu, chi của mỗi cấp ngân sách Cấp ngân

Trang 6

sách được hình thành trên cơ sở cấp chính quyền nhưng phải đảm bảo haiđiều kiện cơ bản là:

- Nhiệm vụ của cấp chính quyền được giao phó tương đối toàn diệnnghĩa là chính quyền cấp đó không chỉ có nhiệm vụ phát triển nhanh chínhsách xã hội mà còn có nhiệm vụ tổ chức quản lý và phát triển kinh tế trênvùng lãnh thổ và cấp chính quyền đó

- Khả năng nguồn thu trên vùng lãnh thổ và chính quyền đó quản lý cóthể đáp ứng được phần lớn nhu cầu chi tiêu của chính quyền cấp đó

Như vậy để có một cấp Ngân sách trước hết phải có một chính quyền vớinhững nhiệm vụ phát triển toàn diện, đồng thời phải có khả năng nhất định vềnguồn thu trên vùng lãnh thổ đó

Nguyên tắc tổ chức hệ thống Ngân sách ở mỗi nước có sự khác biệtriêng nhưng đều có những nét chung cơ bản là:

- Tính tập trung, thống nhất: bắt nguồn từ yêu cầu của việc tổ chức hệthống chính quyền

- Tính tự chủ, chịu trách nhiệm của mỗi cấp Ngân sách xuất phát từ yêucầu nâng cao trách nhiệm của các cấp chính quyền trong việc thực hiện cácnhiệm vụ chung của quốc gia

Trang 7

Sơ đồ hệ thống ngân sách nhà nước

Tổ chức hệ thống ngân sách ở nước ta là hệ thống các cấp ngân sách cómối liên hệ hữu cơ gắn bó với nhau thông qua việc thực hiện nhiệm vụ thu,chi Ở nước ta, việc tổ chức hệ thống Ngân sách Nhà nước gắn bó với việc tổchức bộ máy Nhà nước và vai trò, vị trí của bộ máy đó trong quá trình pháttriển của đất nước

Như vậy NSNN bao gồm: Ngân sách Trung ương và Ngân sách các cấpchính quyền địa phương

Ngân sách các cấp chính quyền địa phương bao gồm:

- Ngân sách cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ( gọi chung làngân sách cấp tỉnh)

- Ngân sách cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh ( gọi chung làngân sách cấp huyện)

- Ngân sách cấp xã, phường, thị trấn ( gọi chung là ngân sách xã)

Ngân sách địa phương

Ngân sách cấp tỉnh

Ngân sách Nhà nước

Ngân sách huyện

Ngân sách xãNgân sách cấp huyện

Trang 8

Ngân sách Trung ương: phản ánh nhiệm vụ thu, chi theo ngành, tậptrung các nguồn lực cơ bản để đảm bảo thực hiện các mục tiêu trọng yếu trênphạm vi cả nước và giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống Ngân sách nhà nước.Ngân sách địa phương: Phản ánh nhiệm vụ thu, chi theo lãnh thổ, bảođảm thực hiện các nhiệm vụ tổ chức quản lý toàn diện kinh tế, xã hội củachính quyền cấp tỉnh, thành phố

Ngân sách cấp huyện: Phản ánh nhiệm vụ thu, chi theo lãnh thổ bảo đảmthực hiện các nhiệm vụ tổ chức quản lý toàn diện kinh tế xã hội của chínhquyền cấp huyện

Ngân sách cấp xã: Nhằm đảm bảo điều kiện tài chính để chính quyền xãchủ động khai thác các thế mạnh đất đai, lao động phát triển kinh tế, xã hộiđặc biệt là xây dựng, phát triển nông thôn mới, thực hiện các chính sách xãhội giữ gìn an ninh trật tự địa phương

1.1.2 Phân cấp ngân sách nhà nước

1.1.2.1 sự cần thiết và tác dụng của phân cấp NSNN

Ngân sách Nhà nước được phân cấp quản lý giữa Chính phủ và các cấpchính quyền địa phương là một tất yếu khách quan khi tổ chức hệ thống ngânsách nhà nước bao gồm nhiều cấp Mỗi cấp chính quyền đều có nhiệm vụphát triển kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng nên cần phải có nguồn tàichính nhất định

Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước là xác định phạm vi trách nhiệm

và quyền hạn của chính quyền nhà nước các cấp trong việc quản lý, điều hànhthực hiện nhiệm vụ thu, chi của ngân sách Phân cấp quản lý ngân sách làcách tốt nhất để gắn các hoạt động của NSNN với các hoạt động kinh tế - xãhội một cách cụ thể và thực sự nhằm tập trung đầy đủ, kịp thời, đúng chính

Trang 9

sách chế độ các nguồn tài chính quốc gia và phân phối, sử dụng chúng côngbằng, hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả cao phục vụ các mục tiêu, nhiệm vụphát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước đúng đắn và hợp lý không chỉ đảmbảo phương tiện tài chính cho việc duy trì, phát triển hoạt động của các cấpchính quyền nhà nước từ Trung ương đến các địa phương mà còn tạo điềukiện phát huy được các lợi thế nhiều mặt của từng vùng, từng địa phươngtrong cả nước và điều tiết vĩ mô nền kinh tế Nó cho phép quản lý và kế hoạchhoá ngân sách nhà nước được tốt hơn, điều chỉnh mối quan hệ giữa các cấpchính quyền cũng như mối quan hệ giữa các cấp ngân sách được tốt hơn đểphát huy vai trò là công cụ điều chỉnh vĩ mô của ngân sách nhà nước Đồngthời, phân cấp quản lý ngân sách còn có tác động thúc đẩy phân cấp quản lýkinh tế - xã hội ngày càng hoàn thiện hơn

1.1.2.2 Nội dung phân cấp Ngân sách

Phân cấp NSNN chính là giải quyết mối quan hệ giữa các cấp chínhquyền trong việc sử dụng NSNN Trong quá trình quản lý và sử dụng NSNNgiữa các cấp chính quyền thường nảy sinh các mối quan hệ quyền lực và quan

hệ vật chất… Giải quyết mối quan hệ đó được coi là nội dung của phân cấpngân sách Cụ thể phân cấp ngân sách bao gồm các nội dung sau:

- Giải quyết mối quan hệ quyền lực giữa các cấp chính quyền trong việcban hành các chính sách chế độ thu- chi, quản lý ngân sách Đây là nội dungcốt yếu của phân cấp NSNN Qua phân cấp phải xác định rõ quyền hạn vàtrách nhiệm ban hành các chính sách, chế độ tiêu chuẩn thuộc về ai; phạm vi,mức độ quyền hạn của mỗi cấp trong việc ban hành chính sách chế độ Cónhư vậy, việc quản lý và điều hành NSNN mới đảm bảo tính ổn định, tínhpháp lý, tránh được tư tưởng cục bộ địa phương

Trang 10

- Giải quyết mối quan hệ vật chất trong quá trình phân giao nhiệm vụthu, chi và cân đối ngân sách.Đây là mối quan hệ phức tạp trong phân cấpNSNN vì đây là mối quan hệ lợi ích Để giải quyết mối quan hệ này trongphân cấp ngân sách cần phải xác định rõ ràng nhiệm vụ kinh tế, chính trị củamỗi cấp chính quyền địa phương; khả năng tạo ra nguồn thu trên từng địabàn mà chính quyền đó quản lý, đồng thời nghiên cứu các biện pháp có thể ápdụng để điều hòa được mối quan hệ này.

- Giải quyết mối quan hệ trong quá trình thực hiện chu trình ngân sách,chu trình ngân sách chính là chu trình lập, chấp hành và quyết toán ngân sách.Phân cấp NSNN phải xác định rõ trách nhiệm và quyền hạn của các cấp chínhquyền trong việc lập, chấp hành và quyết toán ngân sách và kiểm tra ngânsách sao cho vừa nâng cao được trách nhiệm của chính quyền Trung ương,vừa phát huy được tính năng động sáng tạo của chính quyền địa phương, cơsở

1.1.2.3 Các nguyên tắc phân cấp ngân sách

Luật ngân sách năm 2002 quy định chế độ phân cấp quản lý ngân sáchrất cụ thể, giao quyền chủ động cho các cấp chính quyền địa phương Trungương chỉ thực hiện phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi cho ngân sách Trungương và ngân sách địa phương, việc phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi chocác cấp ngân sách địa phương do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định nhưngphải đảm bảo tốt các nguyên tắc sau:

a Nguyên tắc phân cấp quản lý ngân sách phải phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế - xã hội của đất nước.

Phân cấp quản lý ngân sách phải phù hợp với phân cấp kinh tế - xã hội.Phân cấp quản lý ngân sách của các cấp chính quyền không tách rời phân cấpquản lý kinh tế - xã hội.Quán triệt nguyên tắc này tạo cơ sở cho việc giải

Trang 11

quyết mối quan hệ vật chất giữa các cấp chính quyền bằng việc xác định rõnguồn thu và nhiệm vụ chi của các cấp Mặt khác, nguyên tắc này còn là điềukiện đảm bảo tính độc lập tương đối trong quản lý ngân sách nhà nước ta.

b Nguyên tắc ngân sách Trung ương giữ vai trò chủ đạo, tập trung các nguồn lực cơ bản để đảm bảo thực hiện các mục tiêu trọng yếu trên phạm vi cả nước.

Cơ sở của nguyên tắc này xuất phát từ vi trí quan trọng của nhà nướcTrung ương trong quản lý kinh tế - xã hội của cả nước cũng như điều tiết vĩ

mô nền kinh tế mà hiến pháp đã quy định và từ tính chất xã hội hoá của cácnguồn lực tài chính quốc gia

Nguyên tắc này được thể hiện

Thứ nhất mọi chính sách, chế độ quản lý ngân sách nhà nước được banhành thống nhất và dựa vào chủ yếu trên cơ sở quản lý ngân sách Trung ương.Chính phủ ban hành định mức phân bổ ngân sách cho các đơn vị sử dụngngân sách Trung ương và ngân sách địa phương, định mức phân bổ ngân sáchcho các cấp ngân sách địa phương do Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành

Thứ hai ngân sách Trung ương chi phối và quản lý các khoản thu, chilớn trong nền kinh tế và trong xã hội Các khoản thu chủ yếu, có tỷ trọng lớnphải được tập trung vào ngân sách Trung ương, các khoản chi có tác động đếnquá trình, phát triển kinh tế - xã hội của cả nước phải do ngân sách Trungương đảm nhiệm

Ngân sách Trung ương chi phối hoạt động của ngân sách các địaphương, điều hoà hoạt động ngân sách địa phương, đảm bảo tính công bằnggiữa các địa phương

Trang 12

Trong khi khuyến khích chính quyền địa phương phát huy tính độc lập,

tự chủ trong quản lý ngân sách của cấp mình, luôn luôn phải đảm bảo vai tròchủ đạo của ngân sách Trung ương Trong bất kỳ trường hợp nào,kết quảphân cấp quản lý ngân sách không được làm suy yếu vai trò chủ đạo của ngânsách Trung ương trong hệ thống ngân sách nhà nước thống nhất

c Nguyên tắc phân định rõ nhiệm vụ thu, chi giữa các cấp

Phân cấp quản lý ngân sách phải phân định rõ nhiệm vụ thu, chi giữa cáccấp và ổn định tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu, số bổ sung từngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới từ 3 đến 5 năm Hàng năm chỉxem xét điều chỉnh số bổ sung một phần khi có trượt giá và một phần theo tốc

độ tăng trưởng kinh tế

Chế độ phân cấp ngân sách nhà nước ta xác định rõ khoản nào ngân sáchđịa phương được thu, khoản nào ngân sách địa phương phải chi Có như vậymới tạo điều kiện nâng cao tính chủ động cho các địa phương trong bố trí kếhoạch kinh tế - xã hội Đồng thời là điều kiện để xác định rõ trách nhiệm củađịa phương và Trung ương trong quản lý ngân sách nhà nước, tránh sự co kéotrong quá trình xây dựng kế hoạch ngân sách như trước đây, cũng như tưtưởng trông chờ, ỷ lại ngân sách cấp trên

d Nguyên tắc đảm bảo công bằng trong phân cấp quản lý ngân sách.

Phân cấp ngân sách phải căn cứ vào yêu cầu cân đối chung của cả nước,nhưng phải cố gắng hạn chế thấp nhất sự chênh lệch về kinh tế, văn hoá xãhội giữa các vùng lãnh thổ, ưu tiên ngân sách cho các tỉnh vùng sâu, vùng xa

để có điều kiện phát triển kinh tế - xã hội

Như vậy phân cấp NSNN là một tất yếu khách quan, nó bắt nguồn từ sựphân cấp kinh tế và hệ thống tổ chức hành chính của Nhà nước Phân cấp

Trang 13

ngân sách trước hết là xác định quyền lực của các cấp chính quyền trong việcban hành các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức liên quan đến ngânsách; Phân cấp ngân sách còn là việc giải quyết mối quan hệ vật chất giữa cáccấp chính quyền, đồng thời xác định quyền lợi và nghĩa vụ của các cấp chínhquyền trong việc thực hiện chu trình ngân sách.

1.2 Ngân sách Quận – Huyện và quản lý ngân sách Quận- Huyện

1.2.1 Ngân sách Quận- Huyện

1.2.1.1 Khái niệm và lịch sử hình thành

Trong thời kì kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp, NSNN của nước ta

tổ chức thành hai cấp: Ngân sách Trung ương và Ngân sách tỉnh, thành phố.Việc phân cấp là phù hợp vơi nhiệm vụ của mỗi cấp chính quyền trong việchuy động tối đa nguồn lực tài chính Ở thời kì này ngân sách quận, huyện chỉđóng vai trò là một cấp dự toán

Ngày 15/05/1978, với chủ trương xây dựng quận, huyện thành một cấp

có cơ cấu hoàn chỉnh, có tư cách là một đơn vị kinh tế công nông nghiệp pháttriển toàn diện, Hội đồng Chính phủ đã ra Nghị quyết 108/CP xác định quyềnhạn và trách nhiệm của chính quyền địa phương cấp Quận, huyện về quản lýtài chính, ngân sách Nghị quyết có quy định khoản thu, chi ngân sách Quận-Huyện Tiếp đó đến ngày 19/11/1983 Hội đồng bộ trưởng ra Nghị quyết số138/HĐBT về việc cải tiến ngân sách địa phương, nói rõ hơn về quyền hạn vàtrách nhiệm của Ngân sách Quận, Huyện

Sau Đại hội Đảng lần thứ VI nền kinh tế nước ta chuyển đổi sang nềnkinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, định hướng XHCN Cùng với

sự đổi mới của nền kinh tế đất nước, Ngân sách Quận, Huyện cũng được xácđịnh lại vai trò, nhiệm vụ của mình Cụ thể là ngày 27/11/1989 Hội đồng bộ

Trang 14

trưởng đã ra Nghị quyết số 186/ HĐBT về phân cấp quản lý ngân sách địaphương trong đó có ngân sách Quận, Huyện Ngày 16/02/1992 Hội đồng bộtrưởng ban hành Nghị quyết số 186/HĐBT sửa đổi bổ sung cho Nghị quyết186/HĐBT ngày 27/11/1989.

Kỳ họp Quốc hội khóa IX đã khẳng định: “ Quận, Huyện là một cấpchính quyền có Ngân sách, ngân sách Quận- Huyện là một bộ phận hợp thànhngân sách địa phương thuộc hệ thống NSNN “

Như vậy ngân sách Quận- Huyện là một cấp ngân sách thực hiện vai tròchức năng, nhiệm vụ của NSNN trên phạm vi địa bàn Quận, Huyện

Tìm hiểu qua trình hình thành ngân sách Quận- Huyện ta có thể thấyngân sách Quận- Huyện từ một cấp dự toán đã trở thành một cấp ngân sách cónguồn thu và nhiệm vụ chi riêng Đó là một hướng đi đúng đắn trong quátrình phát triển nền tài chính quốc gia Trước tiên nó giúp ngân sách cấp tỉnh,Trung ương giảm được khối lượng công việc, bên cạnh đó nó cũng giúp cáccấp chính quyền có thể nắm bắt được tình hình kinh tế nói chung và tài chínnói riêng từ cơ sở

Ngân sách Quận- Huyện mang bản chất của NSNN, đó là mối quan hệgiữa ngân sách Quận- huyện với các tổ chức, cá nhân trên địa bàn quận,huyện trong quá trình phân bổ sử dụng các nguồn lực kinh tế của Quận,Huyện Mối quan hệ đó được điều chỉnh, điều tiết sao cho phù hợp với bảnchất Nhà nước XHCN Đó là nhà nước của dân, do dân và vì dân dưới sự lãnhđạo của Đảng cộng sản Việt Nam Nhà nước Việt Nam là nhà nước của côngnhân và nhân dân lao động- bộ phận chiếm tuyệt đối đại đa số trong xã hội

Do vậy lợi ích của Nhà nước XHCN Việt Nam không có gì hơn ngoài mongmuốn được phục vụ tổ quốc, phục vụ nhân dân

Trang 15

Có thể nói việc ngân sách Quận – Huyện trở thành một cấp ngân sách đãlàm cho bộ mặt NSNN mang một diện mạo, sắc thái mới, nền tài chính quốcgia trở nên lành mạnh hơn Thực tế đã chứng minh trong những năm qua, xét

ở cấp độ Quận, Huyện tình hình kinh tế- kinh tế tài chính có những bước tiếnđáng kể Ngoài ra, Ngân sách Quận- Huyện còn thể hiện bản chất chính trịcủa Nhà nước ta thông qua việc thực hiện đúng đắn, hiệu quả, có sáng tạo cácchủ trương chính sách cảu Đảng và Nhà nước Tuy nhiên bên cạnh nhữngđiểm đã phát huy được là một loạt những hạn chế cần khắc phục kịp thời, đòihỏi sự quan tâm, tâm huyết của các cá nhân, ban, ngành phối hợp cùng giảiquyết

1.2.1.2 Vai trò của Ngân sách Quận- Huyện

Ngân sách Quận- Huyện có vai trò đảm bảo chức năng Nhà nước anninh- quốc phòng, thúc đẩy phát triển ổn định kinh tế xã hội, bù đắp nhữngkhiếm khuyết của thị trường, giữ vững ổn định công bằng xã hội và bảo vệmôi trường

a/ Ngân sách Quận- Huyện bảo đảm thực hiện chức năng Nhà nước, bảo vệ an ninh trật tự cấp Quận- Huyện.

Cấp chính quyền Quận, Huyện cũng tổ chức ra cho mình một hệ thốngcác cơ quan, đoàn thể hành chính nhằm thực hiện các chức năng của Nhànước Điều đó cũng có nghĩa là để cho các cơ quan đoàn thể đó hoạt động cầnphải có một quỹ tài chính tập trung cho nó- Đó chính là Ngân sách Quận-huyện Mặc dù không lớn mạnh như ngân sách Trung ương nhưng ngân sáchQuận- huyện cũng tạo cho mình một vị thế nhất định nhằm chủ động trongviệc chủ động trong việc thực hiện chức năng Nhà nước ở địa phương Tùytheo phạm vi địa lý, tình hình kinh tế xã hội trên từng Quận, Huyện mà nhucầu được đảm bảo là khác nhau

Trang 16

Hiện nay trên nước ta có trên 1 triệu công chức đang làm việc trong bộmáy Nhà nước Điều đó có nghĩa là để duy trì hoạt động của bộ máy này phảitốn một khoản ngân sách khổng lồ Mặc dù vậy trong khi Nhà nước đang chắtchiu trong chi tiêu và sử dụng và NSNN thì ở một số đơn vị việc sử dụngngân sách vẫn lãng phí và còn tồn tại rất nhiều sai phạm bất cập Do vậy, đòihỏi Ngân sách Quận, Huyện với tư cách là Ngân sách của các đơn vị cơ sởcần phải quản lý chặt trẽ, cấp phát đúng chính sách, đúng chế độ và hạn mứcgiúp cho bộ máy Nhà nước hoạt động tốt mà vẫn tiết kiệm, hiệu quả.

Trong các chức năng của Nhà Nước, chức năng đảm bảo an ninh trật tự,quốc phòng đóng vai trò đặc biệt quan trọng Đây là công cụ quyền lực củaNhà nước nhằm bảo vệ ý chí của Nhà nước, tạo điều kiện an toàn để Quận,Huyện phát triển mọi mặt Do vậy để có thể đảm bảo được chức năng này,Ngân sách Quận- Huyện cần phải có kế hoạch cụ thể, chi tiết, có các khoản

Quận, Huyện phải xây dựng cho mình một tiềm lực kinh tế riêng Đó làcác doanh nghiệp Nhà nước do cấp Quận, Huyện quản lý Loại hình doanh

Trang 17

nghiệp này đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế Quận, Huyện và cũng giúpQuận, huyện chủ động trong việc xây dựng và phát triển kinh tế.

c/ Ngân sách Quận, Huyện- Phương tiện bù đắp khiếm quyết thị trường đảm bảo công bằng xã hội và các vấn đề môi trường.

Đây là vai trò không thể thiếu đối với Ngân sách mỗi quốc gia Nó có tácdụng xoa dịu nền kinh tế thị trường Như chúng ta đã biết, kinh tế thị trường

là chạy theo lợi nhuận Do vậy mà để lại một loạt các hậu quả như: Thấtnghiệp, phân cấp giàu nghèo, các vấn đề xã hội, đời sống của nhân dân khôngđược quan tâm, môi trường bị ô nhiễm … Những điều đó tạo ra cho nền kinhtế- xã hội một vực thẳm phía trước Cấp Quận, Huyện theo dõi các báo cáotổng hợp từ cấp xã, phường phải có biện pháp quản lý giải quyết cụ thể

Ngoài việc quan tâm đến đời sống vật chất của người lao động, Quận vàHuyện phải thường xuyên quan tâm đến đời sống văn hóa, tinh thần của quầnchúng nhân dân, xây dựng và cải tạo các khu vui chơi, giải trí lành mạnh tiến

bộ phục vụ cho nhân dân; các dịch vụ công cộng như giáo dục, y tế phải giảmđược chi phí cho người dân giúp cho đời sống của nhân dân ngày càng đượcđảm bảo và nâng cao

1.2.1.3 Nội dung Ngân sách Quận, Huyện

Trong nội dung của Ngân sách Quận, Huyện bao gồm có hai nội dung

cơ bản đó là Thu ngân sách và chi ngân sách

a/ Nội dung thu ngân sách Quận, Huyện

Đây chính là quá trình tạo lập, hình thành ngân sách Quận, Huyện đóngvai trò quan trọng quyết định đến khâu sau ( chi ngân sách) Để đảm bảonguồn thu cho ngân sách cần phải có chính sách thu hợp lý, hiệu quả

Trang 18

Chính sách thu ngân sách là tập hợp các biện pháp, chủ trương nhằm huyđộng nguồn thu vào cho NSNN

a.1/ Vị trí của chính sách thu ngân sách

Thứ nhất, chính sách thu Ngân sách là một bộ phận trong quản lý kinh tếnói chung và tài chính nói riêng Việc tăng hay giảm ở một lĩnh vực nào đóđược thực hiện theo chiến lược phát triển kinh tế, chính vĩ mô Một khi chínhsách thu ngân sách thay đổi thì lập tức cơ cấu kinh tế dù ít hay nhiều cũng có

sự chuyển dịch Do đối tượng thu của Ngân sách là rất đa dạng, rộng lớnphong phú và đặt biệt nhạy cảm với các chính sách thu ( thuế, phí, lệ phí…)Thứ hai, các chính sách thu của ngân sách có tác động đến các chínhsách quản lý kinh tế, tài chính khác Dường như vị trí này trùng lặp với vị trítrên nhưng nó hoàn toàn khác Các chính sách kinh tế, tài chính khác ở đây làthuộc các lĩnh vực ngoài Ngân sách (kinh tế, tài chính của các tổ chức, doanhnghiệp nên NSNN có thể can thiệp sâu vào doanh nghiệp

a.2/ Các quan điểm cần quán triệt khi xây dựng và thực hiện các chính sách thu Ngân sách

Một là, các chính sách thu phải góp phần vào khuyến khích và phát triểnsản xuất kinh doanh, mở rộng lưu thông hàng hóa và thúc đẩy cạnh tranh lànhmạnh giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế Việc đánh thuế cónhững tác động rất nhạy cảm đến các đối tượng trong nền kinh tế Và việc thuthuế là có giới hạn nghĩa là thu từ thuế chỉ đạt được hết hiệu quả tối đa tại mộtđiểm thuế suất nào đó Khi chính phủ cứ tăng thuế để tăng nguồn thu thì sẽ cónhững tác động rất tiêu cực làm trì trệ tình hình sản xuất, bên cạnh đó còn cóxuất hiện hiện tượng trốn thuế, tiêu cực thuế…

Trang 19

Hai là, chính sách phải đảm bảo tập trung quản lý vốn hợp lý nguồn thucho ngân sách, đồng thời bảo đảm mức sống hợp lý cho các đối tượng dân cưdưới tác động của chính sách thu.

Theo quy định của Nhà nước ta thì tất cả các khoản thu đều được tậptrung vào kho bạc Nhà nước cùng với sự phối hợp của Ban Tài chính cơ quanThuế và Hải Quan

Ba là, chính sách thu phải đảm bảo công bằng xã hội công bằng cho cáctầng lớp dân cư Ở đây bao gồm cả công bằng theo chiều dọc và công bằngtheo chiều ngang

Công bằng theo chiều dọc nghĩa là đối tượng nào có khả năng nộp thuếnhiều hơn sẽ phải nộp nhiều hơn Còn công bằng theo chiều ngang nghĩa làcác đối tượng có khả năng nộp thuế như nhau sẽ phải nộp thuế như nhau Bốn là, chính sách thu phải đảm bảo tính quần chúng Do trình độ củacác đối tượng nộp thuế là khác nhau, thậm chí chênh lệch nhau rất lớn nhưngviệc đưa các chính sách thuế vào áp dụng phải có được tính quần chúng cónghĩa là các chính sách thu phải thật đơn giản, dễ hiểu, dễ dàng thực hiệnđược thực hiện

a.3/ Các khoản thu của Ngân sách Quận- Huyện

Theo quy định của Pháp luật nước ta hiện nay, Ngân sách Quận- Huyện

có các những nguồn thu như sau:

Trang 20

- Thuế phát sinh thu từ các doanh nghiệp giết mổ gia trên địa bànphường.

- Các khoản phí và lệ phí từ các hoạt động do cơ quan thuộc cấp Huyện quản lý

Quận Tiền thu từ hoạt động sự nghiệp của các đơn vị do cấp QuậnQuận huyệnquản lý

- Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức, cá nhân từ nước ngoài cho cấpQuận , Huyện theo quy định của Pháp luật

- Đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân cho Ngân sách huyện

Quận Thu từ xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực thu từ hoạt động chốngbuôn lậu và kinh doanh trái pháp luật theo phân cấp của tỉnh

- Thu kết dư ngân sách cấp huyện

- Bổ sung từ ngân sách cấp tỉnh

- Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật

*/ Các khoản thu được phân chia theo tỉ lệ phần trăm giữa ngân sách cấp tỉnh và ngân sách Quận- Huyện và Ngân sách xã, phường, thị trấn:

- Thuế chuyển quyền sử dụng đất

- Thuế nhà đất

- Tiền sử dụng đất

- Các khoản thu phân chia theo tỉ lệ phần trăm giữa ngân sách cấp tỉnh

và ngân sách Trung ương, do tỉnh quy định trong phạm vi được phân cấp

Trang 21

- Các khoản thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế tài nguyên, lệ phí trước

bạ nhà đất, thuế tiêu thụ đặc biệt hàng sản xuất trong nước thu vào mặt hàngthuốc lá vàng mã, hàng mã và các dịch vụ kinh doanh vũ trường, mát- xa,karaoke, kinh doanh gôn, kinh doanh casino…

Riêng đối với thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh: Được phân chia thêmmột phần theo tỉ lệ với lệ phí trước bạ không kể lệ phí trước bạ nhà đất phátsinh nộp trên địa bàn và được tiến hành lập quỹ đầu tư theo quy định củaChính phủ

b/ Nội dung chi của Ngân sách Quận- Huyện

Nếu như thu ngân sách là quá trình tạo lập hình thành Ngân sách thì chingân sách lại là quá trình sử dụng ngân sách Nó không hoàn toàn ngược lạivới quá trình thu nhưng lại chịu sự điều khiển của quá trình thu tức là khôngthể chi nhiều trong khi thu ít và ngược lại, đồng thời tạo thêm nguồn thu nhờviệc chi vào đầu tư ngân sách nhàn rỗi vào sản xuất kinh doanh

Chi ngân sách là quá trình sử dụng quỹ NSNN theo nguyên tắc khônghoàn trả trực tiếp nhằm thực hiện các nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội củaNhà nước

b.1/ Đặc điểm chi Ngân sách Quận- Huyện

Với tư cách là một quá trình sử dụng quỹ NSNN chi ngân sách có cácđặc điểm sau:

Một là, chi tiêu ngân sách luôn gắn liền với nhiệm vụ kinh tế, chính trị,

xã hội mà Nhà nước đảm nhiệm trong mỗi thời kì Đặc điểm này có thể nhìn

ra từ vai trò của Ngân sách và bản chất NSNN Ngân sách nhà nước mang bảnchất chính trị, duy trì hoạt động của bộ máy Nhà nước, ổn định phát triển kinh

tế, đảm bảo xã hội ổn định, phát triển

Trang 22

Hai là, tác dụng của các khoản chi ngân sách bao giờ cũng được xem xét

ở tầm vĩ mô bởi vì thông thường những khoản chi ngân sách sẽ phát huy tácdụng trong phạm vi nhất định Việc chi tiêu ngân sách Quận- Huyện phải pháthuy được tác dụng trong phạm vi Quận, Huyện

Ba là, tính hiệu quả của các khoản chi được thể hiện toàn diện trên cácmặt kinh tế, chính trị, xã hội Đặc điểm này biểu hiện mối quan hệ giữa tàichính với kinh tế, chính trị, xã hội

b.2/ Một số yêu cầu cần đạt được trong quá trình chi Ngân sách

Thứ nhất, khi xem xét, đánh giá tính hiệu quả của chi Ngân sách, chúng

ta phải xây dựng một loạt các chỉ tiêu, chỉ số bao gồm cả định tính và địnhlượng Điều đó sẽ giúp cho các nhà phân tích có thể đưa ra các nhận định,đánh giá đúng đắn hơn, chính xác hơn hiệu quả của chi Ngân sách

Thứ hai,trong khi thực hiện chi ngân sách vừa phải đảm bảo đúng dựtoán vừa đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả

b.3/ Nhiệm vụ chi của Ngân sách Quận- Huyện

*/ Chi thường xuyên về:

- Các hoạt động sự nghiệp Giáo dục- Đào tạo, Y tế thực hiện theo phâncấp của tỉnh

- Các hoạt động sự nghiệp văn hóa, thông tin, thể dục thể thao, xã hội vàcác hoạt động xã hội khác do cơ quan cấp huyện quản lý

- Các hoạt động sự nghiệp kinh tế do cơ quan cấp huyện quản lý:

+ Nông nghiệp, ngư nghiệp, lâm nghiệp thủy lợi

+ Giao thông

+ Sự nghiệp hành chính

Trang 23

+ Các sự nghiệp kinh tế khác.

+ Quốc phòng, an ninh trật tự và an toàn xã hội

- Hoạt động của các cơ quan Nhà nước cấp huyện

- Hoạt động của cơ quan cấp Huyện của Đảng cộng sản Việt Nam

- Hoạt động của cơ quan cấp Huyện, của mặt trận tổ quốc Việt Nam,Đoàn TN CSHCM, Hội LHPN VN, Hội nông dân Việt Nam

- Tài trợ cho các tổ chức xã hội, xã hội nghề nghiệp cấp Quận, Huyệntheo quy định của pháp luật

- Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật

*/ Chi đầu tư phát triển

- Chi bổ sung cho ngân sách cấp dưới

b.4/ Cấp phát kinh phí, các khoản chi của Ngân sách Quận, Huyện

Căn cứ vào dự toán chi NSNN năm được giao và dự toán Ngân sáchtừng quý; căn cứ vào yêu cầu thực hiện nhiệm chi, phòng Tài chính tiến hànhcấp phát kinh phí theo nguyên tắc cấp trực tiếp đến các đơn vị sử dụng Ngânsách và thanh toán trực tiếp từ kho bạc Nhà nước cho người được hưởng.Các hình thức cấp phát kinh phí

Trang 24

- Cấp phát bằng hạn mức kinh phí

Đối tượng cấp phát theo hạn mức kinh phí là các khoản chi thườngxuyên của các đơn vị dự toán NSNN bao gồm: các cơ quan hành chính nhànước; các đơn vị sự nghiệp hoạt động dưới hình thức thu đủ, chi đủ hoặc gầnthu- bù chi; các tổ chức chính trị- xã hội, tổ chức xã hội và tổ chức xã hộinghề nghiệp thường xuyên được NSNN cấp kinh phí

- Cấp bằng hình thức lệnh chi tiền

Áp dụng với các đối tượng là các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế- xãhội không có quan hệ thường xuyên với ngân sách, các khoản giao dịch củaChính phủ với các tổ chức và cá nhân nước ngoài; các khoản bổ sung từ ngânsách cấp trên cho ngân sách cấp dưới và một số khoản chi đặc biệt khác theoquyết định của thủ trưởng của cơ quan tài chính

- Cấp phát và cho vay vốn đầu tư xây dựng cơ bản: Thực hiện theo quytrình, quy định của Chính phủ, Bộ Tài chính sẽ có những văn bản hướng dẫnthêm

- Cấp phát kinh phí ủy quyền

Trong trường hợp cơ quan quản lý Nhà nước ủy quyền cho cơ quan quản

lý Nhà nước cấp dưới thực hiện nhiệm vụ thuộc chức năng của mình thì phảichuyển kinh phí từ cấp trên cho cấp dưới để thực hiện nhiệm vụ đó Hình thứcchuyển kinh phí chủ yếu bằng hạn mức kinh phí.Đối với các khoản kinh phínhỏ, nội dung chi đã xác định rõ thì có thể chuyển kinh phí bằng hình thứclệnh chi tiền

- Cấp phát cho các tổ chức chính trị- xã hội và tổ chức xã hội nghềnghiệp:

Trang 25

+ Đối với các tổ chức chính trị xã hội: Được ngân sách đảm bảo cân đốichi phí hoạt động theo quy định Sau khi được giao nhiệm vụ chi Ngân sách,từng tổ chức chính trị- xã hội thực hiện phân bổ dự toán ngân sách ( phầnđược NSNN cấp) chi tiết theo mục lục NSNN hiện hành.

+ Đối với các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp thuộc đối tượngđược Nhà nước tài trợ theo quy định: Cấp phát theo hình thức hạn mức kinhphí như các tổ chức chính trị- xã hội nếu là tài trợ thường xuyên; cấp pháttheo hình thức ghi lệnh chi tiền nếu được tài trợ đột xuất theo mục tiêu cụ thể

c/ Cân đối Ngân sách Quận, Huyện

Cân đối ngân sách là phương hướng xuyên suốt trong toàn bộ quá trìnhtạo lập và sử dụng ngân sách Căn cứ vào dự toán thu, cơ chế quản lý Ngânsách mới có thể đưa ra được dự toán chi

Tuy nhiên để an toàn, các nhà hoạch định chính sách thường đảm bảotổng thu lớn hơn tổng chi một lượng hợp lý để đề phòng những rủi ro cónhững khoản chi đột biến Điều 8 mục 3 luật NSNN có quy định : “Ngân sáchđịa phương được cân đối theo nguyên tắc tổng chi không được vượt quá tổngthu” Quy định này nhằm đảm bảo tính ổn định cho Ngân sách địa phương.Với tư cách là một Ngân sách địa phương, Ngân sách Quận- Huyện cũngphải tuân thủ những quy định vể cân đối Ngân sách Hầu hết các Quận,Huyện đều có xu hướng khai thác tối đa các nguồn thu trên địa bàn nhằm tạocho ngấn sách Quận, Huyện đủ mạnh để đáp ứng nhu cầu phát triển địaphương Để có thể cân đối được Ngân sách chúng ta phải tìm cách khai tháccác nguồn thu do pháp luật quy định thậm chí có thể đi vay

Số dư Ngân sách của Quận, Huyện = Tổng số thu ngân sách Quận,Huyện – Tổng chi ngân sách Quận, Huyện

Trang 26

+ Ngân sách bội thu khi số dư ngân sách Quận, Huyện > 0, tức là tổngthu lớn hơn tổng chi.

+ Ngân sách bội chi khi số dư ngân sách Quận, Huyện < 0, tức là tổngthu nhỏ hơn tổng chi

Trong trường hợp bội chi ngân sách sẽ tác động xấu đến nền kinh tế vàảnh hưởng tới cả các năm tiếp theo Thông thường thâm hụt ngân sách xảy ra

do các nguyên nhân sau:

Một là, do Quận, Huyện thực hiện một số chủ trương, chính sách trongviệc quản lý kinh tế, quản lý tài chính Mặc dù đã dự toán nhưng do Quận,Huyện không khảo sát hết các khoản chi nên khi thực hiện chính sách xuấthiện các khoản chi vượt dự toán Nguyên nhân này xuất phát từ khâu lập dựtoán

Hai là, do sự yếu kém trong quản lý và điều hành ngân sách Nguyênnhân này là một bức xúc hiện nay- cải cách hành chính Bộ máy hành chínhcồng kềnh, công tác thu chi đều phải trải qua nhiều cửa, cán bộ quản lý yếukém, biến chất, cơ sở vật chất nghèo nàn, lạc hậu

Ba là, do tác động của các yếu tố điều kiện tự nhiên Đó là sự tăng chicho khắc phục những thiên tai bất thường như lũ lụt,hạn hán… Để khắc phụcnguyên nhân này cần có các khoản dự phòng ngân sách cho các vấn đề thiêntai

Bốn là, do diễn biến của chu kì kinh doanh, thông thường chi ngân sáchvận động ngược chiều với chu kì kinh doanh Khi chu kì kinh doanh ở giaiđoạn tăng trưởng thì chi ngân sách lại ít, khi chu kì kinh doanh đang suy thoáithì chi ngân sách tăng vì phải bơm thêm vốn vào nền kinh tế

Trang 27

Như vậy, với hai nguyên nhân đầu mang tính chủ quan, xuất phát từ việcquản lý ngân sách Do vậy, chúng ta cần phải lập dự toán thật chi tiết từ cơ sở,không ngừng nâng cao trình độ, năng lực cán bộ quản lý, cải cách hành chính,cải tạo cơ sở hạ tầng Đối với nguyên nhân thứ ba và thứ tư, chúng ta phảiluôn luôn theo dõi diễn biến, phân tích để có thể đưa ra những biện phápphòng chống, khắc phục.

1.2.2 Quản lý ngân sách Quận, Huyện

1.2.2.1 Tính tất yếu của công tác quản lý Ngân sách Quận, Huyện

Trong các phần đã nghiên cứu về Ngân sách Quận - Huyện, về vai trò,chức năng, nội dung của Ngân sách Quận -Huyện Qua đó ta có thể hiểu rõđược tầm quan trọng, tính phức tạp của Ngân sách Quận -Huyện

Ngân sách Quận - Huyện là thuộc về chính quyền Quận - Huyện, nó thểhiện tiềm lực tài chính của chính quyền Quận - Huyện Thế nhưng tiềm lực đóphải tương xứng với nền kinh tế của Quận - Huyện, có nghĩa là phải đủ mạnh,

đủ lớn để có thể đáp ứng được các yêu cầu kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hộicủa Quận - Huyện Vậy làm cách nào có thể tạo dựng được một Ngân sáchQuận -Huyện đủ lớn mạnh để đáp ứng những yêu cầu trên? Không còn cáchnào khác là phải quản lý Ngân sách Quận -Huyện và không ngừng nâng caohiệu quả quản lý Ngân sách Quận -Huyện

Cho nên quản lý Ngân sách Quận -Huyện là tất yếu bởi:

Thứ nhất, không có một doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân nào tự nguyệnnộp thuế cho Nhà nước Các đối tượng nộp thuế, phí luôn luôn tìm cách trốnthuế, tránh thuế, lách thuế, thậm chí còn “rút ruột thuế” Như chúng ta đã biếtbiết, trong những năm qua, việc áp dụng thuế giá trị gia tăng khuyến khíchxuất khẩu đã tạo ra những “lỗ hổng”, tạo điều kiện cho kẻ xấu lợi dụng chính

Trang 28

nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nếu như chúng ta để cho các đối tượngnộp tự nguyện nộp thuế thì Ngân sách sẽ rỗng không Lý do này xuất phát từđặc điểm “không hoàn trả trực tiếp” của thuế Khác với phí và lệ phi, thuếkhông mang tính hoàn trả trực tiếp: Nếu như các đối tượng nộp phí, lệ phí thì

họ sẽ được hưởng trực tiếp các hàng hoá, dịch vụ mà nhà nước cung cấp cònthuế thì không, các đối tượng phải nộp thuế mà không thu được bất cứ hànghoá dịch vụ nào

Thứ hai, các đối tượng được Ngân sách cấp phát chi sẽ ra sức “rút ruột”Ngân sách để phục vụ cho tổ chức, cá nhân mình mà không nghĩ đến tổ chức

cá nhân khác Đây là hiện tượng làm lãng phí, thất thoát Ngân sách

Chính vì vậy, chúng ta phải quản lý Ngân sách: quản lý từ các nguồn thuđến các khoản chi

1.2.2.2 Nội dung quản lý ngân sách Quận- Huyện

Ở phần trên chúng ta đã nghiên cứu nội dung Ngân sách Quận- Huyệngồm có: Thu, chi và cân đối ngân sách Tuy nhiên ở dưới góc độ quản lý thìNgân sách Quận- Huyện bao gồm các khâu sau:

- Lập dự toán ngân sách Quận- Huyện

- Chấp hành ngân sách Quận- Huyện

- Kế toán và quyết toán ngân sách Quận- Huyện

Quản lý ngân sách Quận- Huyện là quá trình quản lý hệ thống các quan

hệ kinh tế phát sinh trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệcủa chính quyền Nhà nước cấp Quận- Huyện; quản lý các khoản thu, chi củaQuận- Huyện đã dự toán bởi UBND tỉnh, thành phố và được thực hiện trongmột năm để đảm bảo thực hiện các chức năng nhiệm vụ của cấp trên giao vàQuận- Huyện đề ra

Trang 29

a/ Lập dự toán ngân sách Quận- Huyện

a.1/ Căn cứ lập dự toán Ngân sách Quận -Huyện

Một là, nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội và đảm bảo quốc phòng anninh; chỉ tiêu nhiệm vụ của năm kế hoạch và những chỉ tiêu phản ánh quy mô,nhiệm vụ, đặc điểm hoạt động, điều kiện kinh tế -xã hội và tự nhiên

Hai là, các luật, pháp lệnh thuế chế độ thu; chế độ, tiêu chuẩn định mức

do cấp có thẩm quyền quyết định; các chế độ chính sách hiện hành làm cơ sởlập dự toán chi Ngân sách Trường hợp cần sửa đổi, bổ sung phải được nghiêncứu và ban hành trước thời điểm lập dự toán Ngân sách

Ba là, những quy định về phân cấp quản lý kinh tế - xã hội, phân cấpquản lý Ngân sách

Bốn là, tỷ lệ phần trăm phân chia các khoản thu và mức bổ xung từ Ngânsách cấp trên

Năm là, chỉ thị của Thủ tướng CP về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội

và dự toán Ngân sách năm sau; Thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính về lập

dự toán Ngân sách và văn bản hướng dẫn của các Bộ

Sáu là, số kiểm tra về dự toán Ngân sách do cơ quan có thẩm quyềnthông báo

Bảy là, tình hình thực hiện dự toán các năm trước

a.2/ Nhiệm vụ, quyền hạn của phòng Tài chính trong việc lập dự toán Ngân sách Quận -Huyện

Tổ chức làm việc với UBND cấp dưới, các cơ quan đơn vị cùng cấp về

dự toán Ngân sách; có quyền yêu cầu bố trí lại các khoản thu, chi trong dựtoán chưa đúng chế độ, tiêu chuẩn chưa hợp lý, chưa tiết kiệm, chưa phù hợp

Trang 30

Trong quá trình thảo luận để tổng hợp và lập dự toán Ngân sách, nếucòn có ý kiến khác nhau, cơ quan tài chính ở cấp địa phương phải báo ngayUBND cùng cấp quyết định

Chủ trì phối hợp với cơ quan kế hoạch và đầu tư, các cơ quan, đơn vịkhác liên quan trong việc tổng hợp lập dự toán Ngân sách và phương án phân

bổ dự toán Ngân sách của cấp mình

Phối hợp với cơ quan kế hoạch đầu tư cùng cấp trong việc lập và phân

bổ dự toán chi đầu tư xây dựng cơ bản tập trung cho từng đơn vị, từng dự án,công trình

Phối hợp với cơ quan quản lý chương trình quốc gia trong việc lậpphương án phân bổ dự toán chi chương trình quốc gia

Đề xuất các phương án cân đối Ngân sách và các biện pháp nhằm thựchiện chính sách tăng thu, tiết kiệm chi Ngân sách

Phòng Tài chính xem xét dự toán Ngân sách của các đơn vị thuộc Quận Huyện, dự toán thu do cơ quan thuế lập; dự toán thu, chi Ngân sách của các

-xã, phường; lập dự toán thu NSNN trên địa bàn, dự toán thu, chi Ngân sáchQuận -Huyện (gồm dự toán Ngân sách cấp xã và dự toán Ngân sách Quận -Huyện), dự toán các khoản kinh phí uỷ quyền trình UBND Quận - Huyện đểbáo cáo thường trực HĐND xem xét báo cáo UBND tỉnh, đồng gửi Sở Tàichính , Sở Kế hoạch -Đầu tư (phần dự toán Ngân sách theo lĩnh vực, dự toánchi đầu tư XDCB), Sở quản lý ngành, lĩnh vực, cơ quan quản lý chương trìnhquốc gia của tỉnh (phần dự toán chi chương trình quốc gia)

a.3/ Phân bổ, giao Ngân sách Quận -Huyện

Sau khi Quận - Huyện nhận được quyết định giao nhiệm vụ thu, chiNgân sách của UBND Tỉnh, Thành Phố, Phòng tài chính có trách nhiệm giúp

Trang 31

UBND Quận Huyện trình HĐND Quận- Huyện quyết định dự toán thu, chiNgân sách Quận -Huyện, phương án phân bổ Ngân sách cấp Quận -Huyện;UBND Quận - Huyện có tránh nhiệm báo cáo UBND tỉnh, Sở tài chính - vậtgiá dự toán ngân sách Quận - Huyện và dự toán phân bổ Ngân sách Quận -Huyện đã được HĐND Quận - Huyện quyết định.

Căn cứ vào Nghị quyết của HĐND Quận - Huyện, UBND Quận - Huyệnquyết định giao nhiệm vụ thu, chi Ngân sách cho từng cơ quan, đơn vị trựcthuộc Quận - Huyện; nhiệm vụ thu, chi và mức bổ sung Ngân sách cho từng

xã, phường

a.4/ Điều chỉnh dự toán Ngân sách

Khi có một số đơn vị dự toán phải điều chỉnh, các đơn vị này phải điềuchỉnh dự toán Ngân sách của mình (chủ động hoặc theo yêu cầu của cơ quantài chính cùng cấp hay cơ quan tài chính cấp trên), lập dự toán Ngân sách điềuchỉnh gửi cơ quan tài chính cấp trên hoặc cùng cấp, cơ quan kế hoạch và đầu

tư Cơ quan tài chính có trách nhiệm báo cáo UBND

b/ Chấp hành Ngân sách Quận Huyện

b.1/ Tổ chức thu Ngân sách Quận -Huyện

Căn cứ và tờ khai thuế và các khoản phải nộp NSNN của các tổ chức cánhân có nghĩa vụ phải nộp Ngân sách, cơ quan thu kiểm tra, xác định số thuế

và các khoản phải nộp Ngân sách và ra thông báo thu Ngân sách gửi đốitượng nộp

Nếu hết thời hạn nộp tiền trong thông báo thu Ngân sách mà tổ chức, cánhân vẫn chưa thực hiện nghĩa vụ nộp thì cơ quan thu được quyền yêu cầuNgân Hàng hoặc Kho Bạc Nhà nước trích số tiền phải nộp từ tài khoản của tổ

Trang 32

chức, cá nhân đó để nộp Ngân sách hoặc áp dụng các biện pháp tài chính khác

để thu Ngân sách

Phương thức thu NSNN: Toàn bộ các khoản thu của NSNN phải nộptrực tiếp vào Kho bạc Nhà nước trừ các khoản dưới đây do cơ quan thu có thểthu trực tiếp song phải định kỳ nộp vào Kho bạc Nhà nước trong thời hạn quyđịnh:

- Thu phí, lệ phí

- Thu thuế Hộ kinh doanh không cố định

- Các khoản thu ở địa bàn xã, nơi không có điểm thu của Kho bạc Nhànước

b.2/ Tổ chức chi ngân sách ngân sách Quận- Huyện

Chi ngân sách Huyện là quá trình sử dụng Ngân sách của Huyện theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp nhằm thực hiện các nhiệm vụkinh tế, chính trị, xã hội của Quận- Huyện và thực hiện các nhiệm vụ cấp trêngiao

Quận-Căn cứ vào nhiệm vụ chi đã được giao và tình hình thực tiễn trên địa bànQuận- Huyện thì nhiệm vụ chi Ngân sách của Quận- Huyện được thực hiện.Các nội dung chi chủ yếu như sau:

*/ Chi thường xuyên

- Các hoạt động sự nghiệp Giáo dục- Đào tạo, Y tế thực hiện theo phâncấp của tỉnh

- Các hoạt động sự nghiệp văn hóa, thông tin, thể dục thể thao, xã hội vàcác hoạt động xã hội khác do cơ quan cấp huyện quản lý

- Các hoạt động sự nghiệp kinh tế do cơ quan cấp huyện quản lý:

Trang 33

+ Nông nghiệp, ngư nghiệp, lâm nghiệp thủy lợi

+ Giao thông

+ Sự nghiệp hành chính

+ Các sự nghiệp kinh tế khác

+ Quốc phòng, an ninh trật tự và an toàn xã hội

- Hoạt động của các cơ quan Nhà nước cấp huyện

- Hoạt động của cơ quan cấp Huyện của Đảng cộng sản Việt Nam

- Hoạt động của cơ quan cấp Huyện, của mặt trận tổ quốc Việt Nam,Đoàn TN CSHCM, Hội LHPN VN, Hội nông dân Việt Nam

- Tài trợ cho các tổ chức xã hội, xã hội nghề nghiệp cấp Quận, Huyệntheo quy định của pháp luật

- Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật

*/ Chi đầu tư phát triển

- Chi bổ sung cho ngân sách cấp dưới

Trang 34

c/ Kế toán và quyết toán Ngân sách Quận -Huyện

Các cơ quan quản lý Ngân sách Quận -Huyện, các đơn vị dự toán cótrách nhiệm tổ chức thực hiện công tác kế toán Ngân sách thuộc phạm vi quản

lý, lập quyết toán thu chi Ngân sách, tổng hợp báo cáo quyết toán Ngân sách

c.1/ Tổ chức bộ máy kế toán Ngân sách

Đơn vị dự toán và cấp chính quyền, phải tổ chức bộ máy kế toán Ngânsách Những cán bộ làm công tác kế toán phải được bố trí theo đúng chứcdanh tiêu chuẩn quy định của Nhà nước và được bảo đảm quyền độc lập vềchuyên môn nghiệp vụ

Khi thay đổi cán bộ kế toán phải thực hiện bàn giao giữa cán bộ kế toán

cũ với cán bộ kế toán mới, cán bộ kế toán cũ vẫn phải chịu trách nhiệm vềcông việc của mình đã làm kể từ ngày bàn giao về trước, cán bộ kế toán mớiphải chịu trách nhiệm về công việc của mình kể từ ngày nhận bàn giao

Khi giải thể, sát nhập hoặc chia tách đơn vị kế toán, thủ trưởng và kếtoán trưởng hoặc người phụ trách công tác kế toán phải hoàn thành việcquyết toán của đơn vị cũ đến thời điểm đó

c.2/ Báo cáo kế toán thu, chi Ngân sách

Các đơn vị dự toán các cấp phải báo cáo kế toán theo chế độ kế toánhành chính sự nghiệp và các Thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính

Cơ quan kho bạc Nhà nước tổ chức hạch toán và kế toán xuất, nhập quỹNSNN theo chế độ kế toán Kho bạc Nhà nước

Cơ quan tài chính phải tổ chức hạch toán kế toán và báo cáo kế toán thu,chi NSNN theo chế độ kế toán NSNN hiện hành Hàng tháng, lập báo cáo thuNSNN, chi Ngân sách địa phương gửi UBND và cơ quan tài chính cấp trên

Trang 35

c.3/ Quyết toán Ngân sách

Nguyên tắc lập báo cáo quyết toán Ngân sách

- Số liệu trong báo cáo quyết toán phải chính xác trung thực Nội dungbáo cáo quyết toán Ngân sách phải theo đúng các nội dung ghi trong dự toánđược duyệt và phải báo cáo quyết toán chi tiết theo Mục lục NSNN

- Báo cáo quyết toán năm của đơn vị dự toán gửi cơ quan tài chính phảigửi kèm các báo cáo sau đây:

+ Bảng cân đối tài khoản cuối ngày 31/12

+ Báo cáo thuyết minh quyết toán năm

(Báo cáo quyết toán năm phải có xác nhận của Kho bạc Nhà nước`)

- Báo cáo quyết toán Ngân sách của các đơn vị dự toán và của các cấpchính quyền không được quyết toán chi lớn hơn thu

- Cấp dưới không được quyết toán các khoản kinh phí uỷ quyền củaNgân sách cấp trên vào báo cáo quyết toán Ngân sách cấp mình

Phòng Tài chính có trách nhiệm thẩm tra báo cáo quyết toán thu, chiNgân sách cấp Quận - Huyện; tổng hợp báo cáo thu NSNN trên địa bàn;quyết toán thu, chi Ngân sách Quận -Huyện trình UBND Quận - Huyện đểgửi Sở tài chính - Vật giá và HĐND Quận - Huyện phê chuẩn Trường hợpbáo cáo quyết toán năm do HĐND Quận - Huyện phê chuẩn có thay đổi sovới quyết toán năm do UBND Quận - Huyện đã gửi Sở tài chính - Vật giá thìUBND Quận - Huyện phải báo cáo bổ sung, điều chỉnh gửi Sở tài chính - Vậtgiá

Trang 36

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGÂN

SÁCH HUYỆN QUẾ VÕ - TỈNH BẮC NINH

2.1 Một số đặc trưng về kinh tế, văn hóa, xã hội huyện Quế Võ

Quế Võ là một huyện được thành lập năm 1961, thuộc tỉnh Bắc Ninh.Huyện lỵ là thị trấn Phố Mới

Huyện Quế Võ ở phía Tây giáp huyện Tiên Du và thành phố Bắc Ninh.Phía Nam của huyện là sông Đuống; qua sông là các huyện Thuận Thành vàGia Bình Phía Bắc huyện là sông Cầu; qua bên kia sông là các huyện ViệtYên và Yên Dũng của tỉnh Bắc Giang Ở phía Đông giáp huyện Chí Linhthuộc tỉnh Hải Dương

Địa hình cơ bản của Quế Võ là đồng bằng Có một số đồi xót Huyện cómột diện tích nhỏ rừng trồng

Quế Võ có 21 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm:

● Thị trấn Phố Mới

● 20 xã: Bằng An, Bồng Lai, Cách Bi, Chi Lăng, Đức Long, ChâuPhong, Đào Viên, Đại Xuân, Hán Quảng, Mộ Đạo, Nhân Hoà, Ngọc Xá,Phượng Mao, Phương Liễu, Phù Lãng, Phù Lương, Quế Tân, Việt Hùng, ViệtThống và Yên Giả

Ngành kinh tế mũi nhọn chủ yếu của huyện Quế Võ là nông nghiệp vàtiểu thủ công nghiệp;

Quế võ là huyện nông nghiệp, nằm ở cửa ngõ phía bắc thủ đô Hà Nội.Với diện tích đất tự nhiên rộng 170,74 km2, được bao bọc bởi 2 con sông đãtạo cho Quế Võ những lợi thế trong phát triển nông nghiệp Hơn nữa, Quế Võ

Trang 37

còn là một miền đất giàu truyền thống văn hiến, khoa cử với những sắc tháiriêng đã tạo nên những nét văn hoá truyền thống của vùng Kinh Bắc địa linhnhân kiệt xưa kia

Con người Quế Võ cần cù chịu khó, khéo léo trong sản xuất Vì thế,dưới đôi bàn tay tài hoa của người dân Quế Võ, nhiều sản phẩm truyền thốngnhư: sành sứ và gốm mỹ nghệ Phù Lăng, mộc dân dụng đã trở nên nổi tiếng

và được nhiều người biết đến Đây chính là nguồn sức mạnh tiềm ẩn giúp chongười dân Quế Võ đạt được nhiều thành tích trong phát triển kinh tế - xã hội Diện tích tự nhiên: 170,74 km2

Dân số: trên 150 nghìn người

Đơn vị hành chính: có 20 xã và 1 thị trấn

Tốc độ tăng trưởng kinh tế: 12%/năm

Lương thực bình quân: 611kg/người/năm

Thành công từ sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp

Trong những năm qua, cùng với sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ(10,5%/năm), cơ cấu kinh tế huyện Quế Võ nói chung, cơ cấu sản xuất nôngnghiệp nói riêng đã có những chuyển biến tích cực Sản xuất nông nghiệpphát triển theo hướng toàn diện, đa dạng hoá sản phẩm và từng bước gắn vớinhu cầu của thị trường Trong ngành trồng trọt, cơ cấu giống cây trồng đượcthay đổi mạnh mẽ Các giống lúa cũ, thoái hoá được thay thế bắng các giốnglúa có năng suất cao như: Khang Dân, Q5, DV108, Xi23… Cơ cấu trà vụcũng được bố trí hợp lý hơn; việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào việc chămsóc và phòng trừ sâu bệnh được chú trọng Do vậy, đến hết năm 2001, năngsuất lúa bình quân tăng gần 50%, sản lượng lương thực quy thóc tăng 48,6%,bình quân lương thực tăng 1,6 lần so với năm 1996 Nhiều địa phương đã

Trang 38

hình thành vùng sản xuất lúa giống và lúa hàng hoá như Mộ Đạo, Cách Bi,Việt Hùng; sản xuất lúa Tám Thơm ở Quế Võ (Chi Lăng) Ngoài sản xuất lúa,

ở nhiều cơ sở đã đưa những cây có giá trị kinh tế cao vào sản xuất như: trồngdưa chuột xuất khẩu ở Việt Hùng, Phượng Mao, Phương Liễu, Bằng An; cây

cà chua ở Hàn Quảng, Phương Liễu; cây ớt xuất khẩu ở Mộ Đạo, PhươngLiễu; khoai tây ở Việt Hùng, Quế Tân

Cùng với sự lớn mạnh của ngành trồng trọt, chăn nuôi cũng từng bướcphát triển Trong năm 2001, đàn bò có 11,92 nghìn con, tăng 4%; đàn lợn có72,3 nghìn con, tăng 1% so với năm 2000 Đặc biệt, chương trình nuôi bò laiSind ở Đào Viên, Chi Lăng; lợn hướng nạc ở Nhân Hoà, Việt Thống, ViệtHùng, Quế Tân đang được đẩy mạnh và nhân rộng Phong trào nuôi cá giống,

cá thịt, ngan Pháp, vịt siêu trứng tiếp tục được mở rộng Nhiều hộ gia đình đãđầu tư chăn nuôi, cải tạo ruộng trũng để thả cá đem lại hiệu quả kinh tế cao.Chương trình trồng rừng theo dự án 327 được duy trì đều đặn qua từngnăm, nâng tổng diện tích che phủ rừng toàn huyện lên gần 350ha Nhiều môhình vườn đồi và hộ làm kinh tế giỏi xuất hiện ở Châu Phong và Phù Lãng.Tuy nhiên, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở Quế Võ còn chậm,chưa phát huy hết tiềm năng đất đai, lao động, một bộ phận cán bộ nhân dâncòn giữ nếp nghĩ, cách làm cũ Đây chính là những lực cản, ảnh hưởng khôngnhỏ đến hiệu quả của chương trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệphuyện Quế Võ

Trang 39

Bảng 1: Tăng trưởng nông nghiệp huyện Quế Võ

1 Trồng trọt

- Tổng diện tích gieo trồng

(ha)

+ Trong đó, diện tích lúa (ha)

- Năng suất lúa (tạ/ha)

11.0006.00055.000

20.03216.01441,770.815

10.5535.72766.843

20.28416.31545,774.629

10.9795.76668.848

21.19016.96751,887.917

11.2225.70870.900

20.64017.33452,591.725

11.9205.70072.300

(Nguồn: Huyện Quế Võ)

Khu công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, nhân tố quan trọng trong pháttriển kinh tế

Với thế mạnh là sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến gỗ và sản xuất đồmộc, chế biến hàng lương thực - thực phẩm, CN , TTCN Quế Võ trong nhữngnăm qua vẫn được duy trì và phát triển Giá trị sản lượng giai đoạn 2006 -

2007 tăng bình quân 15,5%/năm Riêng năm 2007 đạt 37,07 tỷ đồng, tăng17,4% so với năm 2006 Trong đó khu vực hợp tác xã đạt 484 triệu đồng, hộ

cá thể 36,191 tỷ đồng và doanh nghiệp hỗn hợp là 215 triệu đồng Nhằm pháthuy thế mạnh từ những sản phẩm truyền thống, huyện Quế Võ đã và đang tiếnhành quy hoạch và xây dựng 4 cụm tiểu thủ công nghiệp là Phố Mới, BôngLai, Đông Du và Đại Xuân với mục đích đưa các ngành nghề này đi vào hoạtđộng tập trung và hướng tới sản xuất hàng hoá

Trang 40

Cùng với việc quy hoạch các làng nghề thành những cụm tiểu thủ côngnghiệp, được Bộ Xây dựng phê duyệt, KCN Quế Võ đã hình thành vào tháng7/ 2001 và đến nay thu hút được 14 nhà đầu tư đăng ký hoạt động Trong đó

có 3 dự án đầu tư nước ngoài là Kính nổi Việt Nhật, Nhà máy Lắp ráp Xemáy Piaggo và Nhà máy Phân vi sinh của Trung Quốc Đến nay các cụmcông nhiêp Phương Liễu-Nhân Hoà,Châu Phong -Ngọc Xá ….cũng đã đượchình thành và đi vào hoạt động Có thể nói, việc hình thành các cụm tiểu thủcông nghiệp và khu công nghiệp đã tạo cho kinh tế Quế Võ một nhân tố mớicho sự phát triển nhanh mạnh trong thời gian tới

Kết quả hoạt động của các ngành kinh tế khác

Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành kinh tế phát triển, cơ sở hạtầng đang từng bước được củng cố và tăng cường Hệ thống giao thông nôngthôn với 500km đường liên xã, liên thôn , xóm đã được hoàn thành Mạnglưới bưu điện , thông tin liên lạc có những bước phát triển rộng khắp và đadạng về loại hình dịch vụ Hiện toàn huyện Quế Võ có 20/21 xã, thị trấn cóđiểm bưu điện văn hoá xã, bình quân 100 người dân có 2 máy điện thoại.Hoà nhịp với sự phát triển của nền kinh tế, hoạt động của ngân hàng, khobạc đã đáp ứng yêu cầu lưu thông tiền tệ, phục vụ phát triển kinh tế, xoá đóigiảm nghèo Các hộ vay vốn sản xuất kinh doanh đều đạt hiệu quả cao Tổng

dư nợ tín dụng quá hạn năm 2001 là 43 triệu đồng, trong đó có 34 triệu đồngdành cho 7.580 hộ vay để kinh doanh và phát triển sản xuất, góp phần tíchcực trong chương trình xoá đói, giảm nghèo Thương mại - dịch vụ phát triển

đa dạng với nhiều thành phần tham gia, thị trường mở rộng đến các thôn, xãtrong huyện Tổng mức bán lẻ năm 2001 đạt 85 tỷ đồng, trong đó ngoài quốcdoanh chiếm 80%

Ngày đăng: 10/04/2013, 11:03

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ hệ thống ngân sách nhà nước - Hoàn thiện công tác quản lý Ngân sách huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh
Sơ đồ h ệ thống ngân sách nhà nước (Trang 8)
Bảng 1: Tăng trưởng nụng nghiệp huyện Quế Vừ - Hoàn thiện công tác quản lý Ngân sách huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh
Bảng 1 Tăng trưởng nụng nghiệp huyện Quế Vừ (Trang 40)
Bảng 2: Kết quả thu - chi ngõn sỏch của huyện Quế Vừ tỉnh Bắc Ninh - Hoàn thiện công tác quản lý Ngân sách huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh
Bảng 2 Kết quả thu - chi ngõn sỏch của huyện Quế Vừ tỉnh Bắc Ninh (Trang 44)
Bảng 3: Cơ cấu thu Ngõn sỏch trờn địa bàn Huyện Quế Vừ - Hoàn thiện công tác quản lý Ngân sách huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh
Bảng 3 Cơ cấu thu Ngõn sỏch trờn địa bàn Huyện Quế Vừ (Trang 45)
Bảng 3: Cơ cấu chi NSNN trên địa bàn Huyện giai đoạn 2004- 2007 - Hoàn thiện công tác quản lý Ngân sách huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh
Bảng 3 Cơ cấu chi NSNN trên địa bàn Huyện giai đoạn 2004- 2007 (Trang 53)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w