1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CHIẾN LƯỢC XUẤT KHẨU TRỰC TIẾP SẢN PHẨM THỦ CÔNG MỸ NGHỆ TỪ DỪA SANG NHẬT CỦA CƠ SỞ THỦ CÔNG MỸ NGHỆ TRƯỜNG NGÂN

22 1,3K 7
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chiến lược xuất khẩu trực tiếp sản phẩm thủ công mỹ nghệ từ dừa sang Nhật của cơ sở thủ công mỹ nghệ Trường Ngân
Tác giả Trần Dương Huy Bình, Nguyễn Thị Hiển, Nguyễn Thị Như Huệ, Lưu Thị Hằng Nga, Phạm Ngọc Thanh Tùng
Người hướng dẫn Phạm Tố Mai
Trường học Khoa Kinh Tế - ĐHQG Tp.HCM
Chuyên ngành Kinh Tế Đối Ngoại
Thể loại Đề tài
Năm xuất bản 2009
Thành phố Tp.HCM
Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 645 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghề thủ công mỹ nghệ Việt Nam có truyền thống hàng trăm hàng ngàn năm, gắn liền với tên những làng nghề phố nghề, được biểu hiện qua những sản phẩm độc đáo - tinh xảo - hoàn mỹ

Trang 1

GVHD: Phạm Tố Mai SVTH:

Trần Dương Huy Bình K074020157 Nguyễn Thị Hiển K074020177 Nguyễn Thị Như Huệ K074020182 Lưu Thị Hằng Nga K074020211 Phạm Ngọc Thanh Tùng K074020265

Trang 2

Tháng 11/2009

Trang 3

-MỤC LỤC

CHƯƠNG I: LỜI MỞ ĐẦU – CẢM ƠN 2

CHƯƠNG II: GIỚI THIỆU CƠ SỞ SẢN XUẤT THỦ CÔNG MỸ NGHỆ TRƯỜNG NGÂN & LÝ DO CHUYỂN SANG PHƯƠNG THỨC XUẤT KHẨU TRỰC TIẾP 3

2.1 Giới thiệu cơ sở sản xuất thủ công mỹ nghệ Trường Ngân 3

2.2 Tình hình xuất khẩu gián tiếp hiện tại & lý do chuyển sang phương thức xuất khẩu trực tiếp 3 2.3 Sản phẩm dự kiến thâm nhập thị trường – đặc tính sản phẩm: 3

2.4 Lý do chọn thị trường Nhật làm thị trường mục tiêu ban đầu 4

CHƯƠNG III: GIỚI THIỆU THÔNG TIN THỊ TRƯỜNG 5

3.1 CÁC YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG CHUNG 5

3.1.1 Điều kiện kinh tế 5

3.1.2 Điều kiện chính trị 5

3.1.3 Điều kiện pháp lý 5

2.1.3 Điều kiện văn hóa 6

2 2 CÁC YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG KINH DOANH CỤ THỂ CHO SẢN PHẨM THỦ CÔNG MỸ NGHỆ TỪ DỪA 6

2.2.1 Mức độ phù hợp của sản phẩm 6

2.2.2 Quy mô & tiềm năng thị trường 7

2.2.3 Môi trường cạnh tranh 7

CHƯƠNG IV: PHÂN TÍCH SWOT 9

4.1 Strengths 9

4.2 Weakness 9

4.3 Opportunities 10

4.4 Threats 11

CHƯƠNG V: CHIẾN LƯỢC XUẤT KHẨU TRỰC TIẾP 12

5.1 KẾ HOẠCH CHIẾN LƯỢC 12

5.1.1 Mục tiêu – kế hoạch lịch trình chiến lược 12

5.1.2 Cơ cấu lại tổ chức theo định hướng xuất khẩu trực tiếp 13

5.2 CHIẾN LƯỢC CỤ THỂ 14

5.2.1 Chiến lược sản phẩm 14

5.2.1 Chiến lược giá 15

5.2.1 Chiến lược xúc tiến 15

5.2.1 Chiến lược phân phối 16

KẾT LUẬN 19

Trang 4

CHƯƠNG I: LỜI MỞ ĐẦU – CẢM ƠN

Nghề thủ công mỹ nghệ Việt Nam có truyền thống hàng trăm hàng ngàn năm, gắn liền với tênnhững làng nghề phố nghề, được biểu hiện qua những sản phẩm độc đáo - tinh xảo - hoàn mỹ.Ngành thủ công mỹ nghệ đang giữ vai trò quan trọng trong cán cân xuất khẩu của Việt Nam gópphần giải quyết công ăn việc làm, nâng cao thu nhập thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đấtnước

Mặc dù giá trị xuất khẩu của ngành thủ công mỹ nghệ là rất to lớn Tuy nhiên, thực trạng hiện naycho thấy chúng ta vẫn chưa khai thác hiệu quả ngành thủ công mỹ nghệ và đặc biệt là các sảnphẩm làm từ dừa Đa số các doanh nghiệp sản xuất đều lựa chọn hình thức xuất khẩu gián tiếpthông qua một trung gian thứ ba khiến cho lợi nhuận thực tế của doanh nghiệp giảm đáng kể, vàmất luôn cả thương hiệu của doanh nghiệp Mặc dù xuất khẩu gián tiếp cũng có những ưu điểmriêng như hạn chế thủ tục rườm ra, tránh đối thủ cạnh tranh… nhưng nếu xét trên tiềm năng thịtrường Nhật thì xuất khẩu trực tiếp sẽ là hướng đi phù hợp Bên cạnh đó, Việt Nam có rất ít cácdoanh nghiệp sản xuất thủ công mỹ ngệ từ dừa có khả năng xuất khẩu trực tiếp

Do đó, nhóm chúng tôi quyết định nghiên cứu và ứng dụng các phân tích, nhận định, đánh giálogic để khảo sát tiềm năng xuất khẩu trực tiếp sản phẩm thủ công mỹ nghệ làm từ dừa sang thịtrường Nhật Bản, đồng thời đưa ra những chiến lược thâm nhập thị trường phù hợp, với mô hìnhcủa cơ sở thủ công mỹ nghệ Trường Ngân, một cơ sở điển hình sản xuất thủ công mỹ nghệ củatỉnh Bến Tre Nếu mô hình thành công, thì Trường Ngân sẽ là cơ sở đầu tiên mạnh dạn làm ngườitiên phong xuất khẩu trực tiếp sản phẩm thủ công mỹ nghệ của tỉnh

Đề tài “chiến lược xuất khẩu trực tiếp của hàng thủ công mỹ nghệ từ dừa sang Nhật” của cơ sởTrường Ngân là công sức, tâm huyết của nhóm chúng tôi Trong quá trình thực hiện có những khókhăn, thuận lợi nhất định, nên qua đây nhóm xin chân thành cảm ơn cơ sở Trường Ngân, đặc biệt

là chủ cơ sở, bác Phạm Văn Thanh, đã tạo điều kiện thuận lợi để nhóm có thể hoàn thành bàinghiên cứu này Xin gửi lời cảm ơn đến Ths Phạm Tố Mai đã tận tình hướng dẫn để nhóm có thểhoàn thành tốt đề tài này, và tất cả các bạn quan tâm đến và lắng nghe đề tài này

Tất nhiên, đề tài cũng không tránh khỏi những thiếu sót cả về hình thức lẫn nội dung Chúng tôimong sẽ nhận được sự thông cảm, cũng như những lời góp ý chân thành và quý báu từ các bạn

Trang 5

CHƯƠNG II: GIỚI THIỆU CƠ SỞ SẢN XUẤT THỦ CÔNG MỸ NGHỆ TRƯỜNG NGÂN

& LÝ DO CHUYỂN SANG PHƯƠNG THỨC XUẤT KHẨU TRỰC TIẾP

2.1 Giới thiệu cơ sở sản xuất thủ công mỹ nghệ Trường Ngân

Thêm địa chỉ cụ thể của cơ sở vào

Trường Ngân là một cơ sở điển hình của tỉnh Bến Tre trong việc xản xuất và xuất khẩu gián tiếpcác mặt hàng thủ công mỹ nghệ từ dừa Chủ cơ sở là nghệ nhân Phạm Văn Thanh, được mệnh

danh là “người mê phế phẩm cây dừa”, “người thổi hồn vào dừa” Cơ sở ngụ tại số 19 Nguyễn

Huệ, phường 1, thị xã Bến Tre – tỉnh Bến Tre, với hơn 200 lao động , cùng hàng chục cơ sở vệtinh ở các huyện, thị và hàng ngàn lao động Là một cơ sở hoạt động thành công trong lĩnh vực sảnxuất hàng thủ công mỹ nghệ với trị giá xuất khẩu mỗi năm hơn 200.000 USD Đến nay số lượng

các loại sản phẩm từ dừa đã vượt hơn 500 loại sản phẩm độc đá, bao gồm: đũa, muỗng, nĩa, đĩa,

bình, ly, tách, hộp đựng thuốc, gạt tàn thuốc, gương, lược, túi xách tay, đồi mồi, lồng đèn, lẵnghoa 30% số sản phẩm này được tiêu thụ nội dịa, 70% tiêu thụ nước ngoài Thị trường chính baogồm: Mỹ, Pháp, Nhật, Na Uy

12/1996, Cục Sở hữu trí tuệ cấp chứng nhận độc quyền kiểu dáng công nghiệp cho giỏ xách cọng

lá dừa Giấy chứng nhận Kiểu dáng công nghiệp (số 3490) cho cơ sở Trường Ngân Đồng thời, cơ

sở cũng đạt được nhiều giải thưởng và bằng khen khác Trong hội thi “Nghệ nhân bàn tay vàng”khu vực Đồng bằng sông Cửu Long do Hiệp hội làng nghề Việt Nam tổ chức vào tháng 4-2006,tác phẩm bình trà làm từ gỗ dừa của cơ sở Trường Ngân đã đoạt giải nhì Tổ chức hợp tác quốc tếNhật Bản – Việt Nam JICA tặng giải thưởng “Sản phẩm được ưa chuộng nhất”, được Bộ Côngnghiệp cấp bằng khen đối với sản phẩm giỏ xách cọng lá dừa

2.2 Tình hình xuất khẩu gián tiếp hiện tại & lý do chuyển sang phương thức xuất khẩu

trực tiếp

Cơ sở Trường Ngân hiện nay chủ yếu xuất khẩu qua sự đặt hàng của các nhà xuất khẩu trung gian.Các nhà xuất khẩu này mua sản phẩm của cơ sở, cơ sở phải chụi thuế 30% đến 40 % tùy theo mặthàng trong khi đó bên nhà xuất khẩu sang bên thị trường nhật sẽ không bị đóng thuế nữa Phầnthuế này khiến cho dù giá cả xuất đi cao hơn trong nước của Trường Ngân nhưng lợi nhuận so vớisản phẩm trong nước thì không chênh lệch bao nhiêu

Một hạn chế nữa là sản phẩm của chúng ta khi được mua bởi các nhà xuất khẩu là các nhà xuấtkhẩu này không để thương hiệu của cơ sở Điều này là một thiệt hại lớn đối với cơ sở về việc bảnquyền sáng tác và thương hiệu để định vị trên thị trường nhật Do đó, không một người Nhập nào

có thế biết đến thương hiêu của cơ sở, đây là một tổn hại có thể nói là lớn nhất

Trong khi đó, cơ sở lại có nhiều mặt mạnh nổi trội, hoàn toàn có thể tự tin theo con đường xuấtkhẩu Chẳng hạn, những mặt hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống của cơ sở được làm tỷ mỷ bằngtay nên rất đẹp và độc đáo khiến các sản phẩm thủ công của Trung Quốc, Thái Lan đã không thểcạnh tranh được vì họ làm nhiều chi tiết bằng máy Đây là thế mạnh của chúng ta khi phải cạnhtranh với những sản phẩm đã xuất hiện từ lâu trên thị trường Hơn nữa mặt hàng này hầu nhưkhông phải chịu những rào cản về thương mại so với những mặt hàng khác Cơ sở sẽ thu về chomình lợi nhuận cao Để khắc phục những bất lợi nêu trên do xuất khẩu gián tiếp gây ra, đồng thờitận dụng, phát huy thế mạnh, cơ hội của mình, thì con đường duy nhất là chuyển từ xuất khẩu giántiếp sang xuất khẩu trực tiếp

Trang 6

2.3 Sản phẩm dự kiến thâm nhập thị trường – đặc tính sản phẩm:

Sản phẩm dự kiến mở rộng thị trường là các sản phẩm thủ công mỹ nghệ làm bằng dừa có kiểudáng đẹp, chất lượng và hội tụ đủ ba yếu tố là giá trị sử dụng, giá trị nghệ thuật và văn hóa truyềnthống, bao gồm: đũa, muỗng, nĩa, đĩa, bình, ly, tách

Đặc tính sản phẩm: đây là những sản phẩm gia dụng cần thiết trong mỗi gia đình tuy nhiên cũng cóthể dùng để trưng bày, trang trí hoặc làm quà tặng Sản phẩm được làm bằng gỗ dừa với phươngpháp thủ công nên sản phẩm mang đậm tính nghệ thuật cũng như thể hiện sự thân thiện với môitrường

2.4 Lý do chọn thị trường Nhật làm thị trường mục tiêu ban đầu

2.4.1 Thị trường xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ tiềm năng nhưng thiếu cung

Thị trường Nhật Bản luôn là thị trường xuất khẩu chủ lực của mặt hàng thủ công mỹ nghệ nước ta,chiếm tỷ trọng từ 10-29% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ cả nước, tuy nhiên,con số này, theo nhiều chuyên gia và nhà kinh tế nhận định, vẫn chưa xứng với tiềm năng sẵn có

và chưa đáp ứng hết nhu cầu của người tiêu dùng Nhật Bản, tức thị trường vẫn còn đang thiếucung

Mỗi năm Nhật Bản nhập khẩu khoảng 2,9 tỉ USD, nhưng Việt Nam chỉ khiêm tốn chiếm 1,7% kimngạch NK đó Trong khi đó, hiện nay, hàng thủ công mỹ nghệ nói chung và hàng thủ công mỹnghệ làm từ dừa nói riêng được xếp vào nhóm 10 mặt hàng có tiềm năng xuất khẩu lớn của ViệtNam Do đó, với một thị trường tiềm năng nhưng thiếu cung như vậy, chắc chắn nếu ta thâm nhậpthành công, thì cơ hội phát triển rất cao, ít cạnh tranh khốc liệt

2.4.2 Đáp ứng yêu cầu cao của người Nhật về sản phẩm thủ công mỹ nghệ, lợi thế nổi trội so với các đối thủ cạnh tranh:

Khi mua một món hàng, người Nhật mong muốn hiểu biết những nét văn hóa của các nền văn hóatrên từng sản phẩm Họ yêu cầu mỗi sản phẩm phải kết hợp được giá trị sử dụng, giá trị nghệ thuật

và văn hóa truyền thống Trong đó, yếu tố thứ 3 là quan trọng nhất, được người Nhật đặc biệt quantâm, bởi họ luôn đòi hỏi sản phẩm làm ra phải có “hồn”, thể hiện tâm tư, tình cảm của người laođộng và mang nét độc đáo riêng

Sản phẩm thủ công mỹ nghệ từ dừa của cơ sở sản xuất Trường Ngân hội đủ ba yếu tố trên, các nhàđơn vị mua hàng của Trường Ngân từ trước đến nay vẫn rất hài lòng về ba điểm này, và bằngchứng rõ nhất là các đơn đặt hàng ngày càng tăng Đặc biệt, với yếu tố thứ ba, cơ sở sản xuấtTrường Ngân chắc chắn nổi trội hơn so với các đối thủ vì quan điểm sản xuất là “người thợ phảibiết thổi vào sản phẩm của mình “cái hồn”” và chính chủ cơ sở, nghệ nhân Trường Ngân, nổi tiếngvới danh “người thổi hồn vào dừa” Do đó, ban đầu, với đặc điểm này, dự đoán Trường Ngân có

Trang 7

lợi thế vượt bậc so với các đối thủ khác Mức độ khả quan thâm nhập thị trường Nhật thành công

vì thế cũng cao hơn

Trang 8

CHƯƠNG III: GIỚI THIỆU THÔNG TIN THỊ TRƯỜNG 3.1 CÁC YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG CHUNG

3.1.1 Điều kiện kinh tế

Mức sống: Tuy dân số chỉ có gần 100 triệu người tuy nhiên thu nhập bình quân đầu người NhậtBản hiện vào khoảng 40.000 USD

GDP: Nhật bản là nền kinh tế đứng thứ hai trên thế giới với GDP ( 2008) là 4.900 tỷ USD, theoGDP(ppp) 6,4% Dự trữ ngoại tệ thứ hai thế giới Đó là những minh chứng cho chúng ta thấy rằngNhật bản là một nền kinh tế phát triển ổn định và hoàn thiện, cơ sở hạ tầng và dịch vụ hỗ trợ kinhdoanh phát triển vượt bậc Do đó khi đến kinh doanh ở Nhật người ta hoàn toàn không phải bậntâm đến việc phải tốn thêm chi phí để xây dựng cơ sở hạ tầng hay phát triển nguồn cung ứngnguyên vật liệu phục vụ cho việc sản xuất cũng như kinh doanh của mình

Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới tuy đã ảnh hưởng đến nền kinh tế Nhật nhưng hiện nay Nhậtđang có những dấu hiệu phục hồi kinh tế

3.1.2 Điều kiện chính trị

Tình trạng tham nhũng ở Nhật: Ở Nhật rất chú trọng việc giáo dục đạo đức cho công chức và xâydựng đội ngũ công chức trong sạch, liêm khiết Để ngăn chặn sự hoành hành của nạn tham nhũng,chính phủ Nhật kiên quyết thực hiện nguyên tắc công khai, minh bạch trong tuyển dụng côngchức; giải quyết thủ tục hành chính; mua sắm tài sản công; báo cáo về tài sản, các khoản nợ và quàbiếu của công chức Nhật Bản đã lập các ban điều tra đặc biệt trong văn phòng công tố viên tạinhững thành phố lớn ; trang bị cho các cơ quan bảo vệ pháp luật những công cụ điều tra đặc biệtnhằm phát hiện ra bằng chứng của tham nhũng Cơ quan chống tham nhũng ở Nhật Bản đượcquyền truy cập tài khoản ngân hàng của công chức để kiểm tra những hoạt động nghi vấn.Bêncạnh đó, Nhật Bản trả lương cao để công chức bảo đảm cuộc sống mà “không cần tham nhũng”.Chính những lý dó đó mà các nhà Kinh doanh nước ngoài tại Nhật không phải lo phần “chiphí phụ gia bôi trơn” cho hoạt động kinh doanh

3.1.3 Điều kiện pháp lý

Các nhà xuất khẩu cần có các giấy tờ chứng minh đã có kinh nghiệm sản xuất cũng như xuất khẩu

Hầu hết các hàng hoá được tự do nhập khẩu và không phải chịu một yêu cầu nào về giấy phépnhập khẩu Luật pháp Nhật Bản đòi hỏi phải có sự chấp nhận xuất nhập khẩu, hạn ngạch nhậpkhẩu, kiểm tra chất lượng sản phẩm trước khi nhập khẩu để đảm bảo an toàn và y tế cho ngườidân Với sản phẩm thủ công mỹ nghệ nói chung và sản phẩm từ dừa nói riêng Nhật Bản không

có quy định hạn chế gì đặc biệt đối với loại hàng này Nhưng đây là loại hàng có nhiều chủng loạimặt hàng với mục đích sử dụng khác nhau và được làm từ nhiều loại nguyên liệu khác khác nhaunên theo nguyên tắc cơ bản thì tuỳ thuộc loại nguyên liệu và mục đích sử dụng sẽ áp dụng nhữngLuật riêng, như Luật Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm

Trang 9

Ngoài ra, việc đáp ứng những tiêu chuẩn của Nhật, như tiêu chuẩn công nghiệp Nhật Bản JIS, dấuchứng nhận sản phẩm không hại đến sinh thái Ecomark, sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc xuấtkhẩu của các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm thủ công mỹ nghệ.

Ngoài những quy định trên, khi xuất khẩu, người xuất khẩu còn phải chú ý đến nhiều yếu tố khác

và tuỳ trường hợp phải thông báo ngay cho người nhập khẩu biết về quy trình sản xuất, tình trạng

và vật liệu dùng để làm bao bì, tên thuốc khử trùng… để người nhập khẩu có đủ tài liệu cung cấpcho cơ quan kiểm dịch khi nhập khẩu

2.1.3 Điều kiện văn hóa

Người Nhật quan niệm “hàng rẻ là hàng kém chất lượng” và rất ưa chuộng những sản phẩm thủcông mỹ nghệ có nguyên vật liệu tự nhiên, các sản phẩm nhỏ gọn nhưng chất lượng Ở Nhật Bản,các tháng 3, 6, 9 và 12 được coi là thời điểm bán chạy hàng gia dụng và quà tặng Một đặc điểmchú ý về cách giao hàng đó là phải giao hàng đúng hạn, các nhà bán lẻ không bao giờ nhập trựctiếp hàng hóa của nước ngoài Và thương nhân Nhật Bản có phương thức thanh toán rất đặc biệt: ítkhi nhập hàng hoá mà trả tiền ngay Thông thường, họ nhận hàng hoá theo kiểu ký gửi rồi hàngtháng chỉ trả khoản tiền của phần hàng hoá đã bán được trong tháng Đây là những điều kiện vănhóa cụ thể ảnh hưởng đến việc xuất khẩu trực tiếp sang nước ngoài

2 2 CÁC YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG KINH DOANH CỤ THỂ CHO SẢN PHẨM THỦ CÔNG MỸ NGHỆ TỪ DỪA

2.2.1 Mức độ phù hợp của sản phẩm

Việc sản phẩm hiện có của doanh nghiệp có thể dữ giữ nguyên hay điều chỉnh và mức độ cần điềuchỉnh nhiều hay ít để có thể bán được ở thị trường mới là một yếu tố quan trọng cần xem xét.Nhật Bản được coi là một trong những thị trường đòi hỏi cao về chất lượng sản phẩm Thị hiếutiêu dùng của người Nhật bắt nguồn từ truyền thống văn hoá và điều kiện kinh tế Nhìn chung họ

có óc thẩm mỹ cao, tinh tế do có cơ hội tiếp xúc với nhiều loại hàng hoá dịch vụ trong và ngoàinước Do đó, để biết được mức độ phù hợp của sản phẩm thì cơ sở sản xuất phải xem xét, đánhgiá, điều chỉnh, thay đổi sản phẩm củ mình cho phù hợp Cần chú trọng đặc điểm sau:

Đòi hỏi cao về chất lượng: xét về mặt chất lượng, người tiêu dùng Nhật Bản có yêu cầu khắt khe

nhất Ở trong môi trường có mức sống cao nên người tiêu dùng Nhật Bản đặt ra những tiêu chuẩnđặc biệt chính xác về chất lượng, độ bền, độ tin cậy và sự tiện dụng của sản phẩm Trong khi đócác sản phẩm của cở sở chưa có chất lượng đồng đều còn phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu và khảnăng áp dụng máy móc Do đó cơ sở sản xuất phải ngày càng nâng cao chất lượng và công dụngcủa sản phẩm

Nhạy cảm với giá cả tiêu dùng hàng ngày: Người tiêu dùng Nhật Bản không chỉ yêu cầu hàng

chất lượng cao, bao bì đảm bảo, dịch vụ bán hàng và dịch vụ sau bán hàng tốt mà còn muốn muahàng với giá cả hợp lý Tuy nhiên, họ vẫn có thể trả tiền cho những sản phẩm sáng tạo, chất lượngtốt mang tính thời thượng hay loại hàng được gọi là “hàng xịn” Hiện tai cở sở chưa xác định đượcgiá cụ thể để xâm nhập sang thị trường này Do đó, cơ sở sản xuất phải nâng cao chất lượng sảnphẩm tốt đáp ứng được yêu cầu của người Nhật Bản, sau đó tùy vào chất lượng sản phẩm cơ sơ sảnxuất định giá thành cho hợp lý với chi phí và lợi nhuận của mình

Thời trang và thị hiếu về màu sắc : Ở các gia đình truyền thống, người ta thích mầu nâu đất của

nệm rơm và sàn nhà Đối với hầu hết gia đình trẻ hiện đại, màu sắc thay đổi tuỳ thuộc sở thích và

Trang 10

cách thiết kế của ngôi nhà mà họ mua những dụng cụ với màu sắc khác nhau Do đó, ngoài sảnphẩm có màu sắc phù hợp với thị hiếu của người Nhật Bản như màu nâu đất, rêu, màu tím sẫm thìsản phẩm cơ sở phải tăng lượng màu lên ho phù hợp như màu đỏ, vàng,… Nhưng chất lượng vẫntốt.

Ưa chuộng sự đa dạng của sản phẩm: Hàng hoá có mẫu mã đa dạng phong phú thu hút được

người tiêu dùng Nhật Bản Vào một siêu thị của Nhật Bản mới hình dung được tính đa dạng củasản phẩm đã phổ biến đến mức nào Ví dụ với một mặt hàng dầu gội đầu nhưng bạn sẽ không thểđếm xuể được các chủng loại: khác nhau do thành phần, màu sắc, hương thơm Bởi vậy, nhãn hiệuhàng có kèm theo những thông tin hướng dẫn tiêu dùng là rất quan trọng để đưa hàng của bạn tớingười tiêu dùng Tuy vậy, người Nhật lại thường chỉ mua sản phẩm với số lượng ít vì không gianchỗ ở của họ tương đối nhỏ và còn để tiện thay đổi cho phù hợp mẫu mã mới Vì vậy, quy mô các

lô hàng nhập khẩu nhỏ, nhưng chủng loại lại phải phong phú hơn Hiện tại sản phẩm của cơ sởchưa kèm theo những thông tin hướng dẫn bảo quản, cách sử dụng Cho nên cở sở sản xuất phảiluôn cải tiến về mẫu mã và đặc biệt là phải phù hợp với truyền thống văn hóa, thói quen của ngườicủa người nhật

Quan tâm đến môi trường sinh thái: gần đây, ý thức bảo vệ môi trường của người tiêu dùng

Nhật Bản ngày càng được nâng cao Các vỏ sản phẩm được thu hồi và tái chế, các sản phẩm dùngmột lần ngày càng ít được ưa chuộng Đây là điểm mạnh của sản phẩm vì sản phẩm của chúng ta

là tận dụng vỏ dừa là thứ bở đi sau khi lấy ruột dừa, và sản phẩm bằng dừa sau khi dùng bị hư cóthể xay ra là làm lại các sản phẩm bằng dừa khác

2.2.2 Quy mô & tiềm năng thị trường

Khách hàng trực tiếp: Khách hàng trực tiếp của Trường Ngân là các nhà nhập khẩu Nhật, các đại

lý, các nhà phân phố Những nhà nhập khẩu này luôn đòi hỏi nhập với một số lượng lớn nhằmgiảm thiếu chi phí cũng như đáp ứng nhu cầu lớn của thị trường đòi hỏi trường Ngân phải mở rộngsản xuất, tăng năng xuất thì mới có thể cạnh tranh với đối thủ

Khách hàng gián tiếp: Khách hàng gián tiếp của Trường Ngân chính là người Nhật

Thị trường Nhật, xét trên góc độ dân số có khoảng 127.417.244 người quy mô nhỏ, nhưng thunhập bình quân đầu người của Nhật cao khoảng 38000 USD/ người Do đó chỉ số tiêu dùng củangười dân cao, đây là một thị trường hết sức tiềm năng Mặc khác, tặng quà là một phần trung tâmtrong văn hoá kinh doanh của người Nhật, đặc biệt là những món quà thủ công mỹ nghệ độc đáo,tinh xảo, hội tụ đủ ba yếu tố Chính điều này làm nhu cầu nhập khẩu hàng thủ công mỹ nghệ củanhật khoảng 2,9 tỷ USD/năm, trong đó hàng từ Việt Nam năm 2005 mới chỉ chiếm 1,7% kimngạch nhập khẩu của nước này Do đó, đây là môi trường tiềm năng cho cơ sở sản xuất sản xuất ranhiều sản phẩm Ngoài ra, với sự vực dậy sau cuộc khủng hoảng kinh tế vừa qua, nhu cầu tiêudùng của người Nhật sẽ dần tăng, song song với đó cũng là nhu cầu tăng cao đối với hàng thủ công

mỹ nghệ, do đó, đây thực sự là môi trường vừa có quy mô lớn, vừa rất tiềm năng

Chính nhu cầu cao của người Nhật này sẽ kích thích các nhà xuất khẩu (khách hàng trực tiếp củachúng ta) nhập khẩu sản phẩm thủ công mỹ nghệ nhiều hơn Do đó, từ hai hướng khách hàng – nhàphân phối, Trường Ngân nếu nắm bắt được cơ hội, thì khả năng thâm nhập thị trường sẽ khá khảquan

2.2.3 Môi trường cạnh tranh

Trang 11

Cạnh tranh với các doanh nghiệp xuất khẩu trong nước: Trên địa bàn tỉnh Bến Tre hiện có trên

47 doanh nghiệp và cơ sở sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ Trong đó, có khoảng 37 DN và cơ sở

có mặt hàng TCMN được làm từ các thứ liệu của cây dừa Các DN và cơ sở này nằm tập trungnhiều ở thị xã và các huyện như: Châu Thành, Mỏ Cày, Giồng Trôm Sản phẩm của nhiều DN và

cơ sở không chỉ được tiêu thụ trong nước mà còn xuất khẩu đi các nước mà thị trường Nhật kháđược các DN chú ý đến bởi tâm lý ưa chuộng những giá trị truyền thống của người Nhật Do đónguy cơ 37 doanh nghiệp này sẽ trở thành đối thủ cạnh tranh của Trường Ngân tại thị trường Nhật

là điều hoàn toàn có thể xảy ra Tuy nhiên về chủng lọai sản phẩm cũng như yếu tố nghệ thuật thìsản phẩm của Trường Ngân được đánh giá cao khi bán cho một số du khách Nhật Bản khi đến vớiViệt Nam Rõ ràng, nếu các đối thủ này vẫn duy trì chiến lược cũ khi xuất khẩu sang thị trườngNhật thì chắc chắn đây không phải là đối thủ nặng kí của chúng ta

Ngoài ra Trường Ngân còn phải cạnh tranh với các doanh nghiệp xuất khẩu có tên tuổi như Hợptác xã mây tre lá Ba Nhật, tổng công ty thương mại Hà Nội (Hapro), Artex…

Cạnh tranh với sản phẩm các quốc gia khác: như Indonesia, Singapore, Trung Quốc, Tây Ban

Nha, Bồ Đào Nha, cũng đang “đổ bộ” vào Nhật Bản Đối thủ nặng ký của Trường Ngân phải nóiđến là Trung Quốc bởi vì đồ mỹ nghệ gia dụng của Trung Quốc hiện đang tràn ngập thị trườngNhật bởi mẫu mã đẹp, lượng hàng lớn, giá thành sản phẩm thấp

Cạnh tranh với các sản phẩm thay thế: Nhật Bản có một nền văn hóa lâu đời về thủ công mỹ

nghệ như đúc đồng, gốm sứ…cộng với sự hiểu biết rõ về văn hóa cũng như nhu cầu của người dânbản xứ cho nên Trường Ngân sẽ gặp đối thủ nặng kí này khi thâm nhập thị trường Nhật

Chẳng hạn, hàng châu Âu được biết đến với chất lượng và mẫu mã tuyệt vời, thường được bántrong các bách hoá tổng hợp hoặc các cửa hàng chuyên dụng ở Nhật Bản Phần lớn hàng châu Âu

có nhãn mác nổi tiếng và được người tiêu dùng Nhật ưa chuộng Các chén tách, bộ đựng nước sốt,đĩa đựng bánh kẹo của châu Âu, những thứ giờ đây đã trở thành lối sống Nhật Bản

Người Nhật Bản dùng sản phẩm gốm sứ nhà bếp làm theo kiểu truyền thống của Nhật và theo kiểuphương Tây Trên thị trường đã bắt đầu xuất hiện hàng theo kiểu phương Tây nhưng lại mang cảnét đặc trưng của Nhật, có hình con thoi hay hình quả bầu dùng cho các mục đích khác nhau, từdùng để ăn mì ống đến cơm cari và cả món ăn Trung Quốc Hiện nay thì những mặt hàng cao cấpcủa Châu Âu cũng đã xác lập được chỗ đứng vững chắc trên thị trường Nhật Bản Đây thực sự làmột thách thức không nhỏ đối với sản phẩm thủ công mỹ nghệ làm từ dừa của Trường Ngân Không những chúng ta phải cạnh tranh với hàng thủ công mỹ nghệ, các mặt hàng thay thế từ cácquốc gia khác, mà còn phải cạnh tranh với ngay chính sản phẩm thủ công mỹ nghệ từ VN đưa quanữa Điển hình nhất là sự thành công các mặt hàng thủ công ấm chén tích bình của gốm sứ HảiDương rất thành công tại thị trường Nhật Nói đến gốm sứ Hải Dương hầu như người Nhật ai cũngbiết đến Ngoài ra còn có một số tên tuổi nổi tiếng khác như gốm sứ Vính Long, Bát Tràng…Tuy lượng đối thủ khá dồi giàu tuy nhiên hiện nay tại thị trường Nhật những sản phẩm này vẫnchưa đáp ứng được nhu cầu cũng như mong mỏi của người Nhật, sự kết hợp nhuần nhuyễn 3 giá trị

sử dụng, nghệ thuật và truyền thống văn hóa nên vẫn còn một lỗ hỏng thị trường khá lớn đểTrường Ngân thâm nhập Tuy đây là một môi trường kinh doanh có quá nhiều đối thủ tuy nhiên sẽkhông quá liều lĩnh khi xâm nhập vào thị trường này

Ngày đăng: 10/04/2013, 11:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w