Mâu thuẫn biện chứng trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Trang 1phần A: lời nói đầu
Là một sinh viên năm đầu tiên của trờng Đại học kinh tế quốc dân, cha
đi vào chuyên ngành kinh tế, song tôi vẫn mạnh dạn tìm hiểu những vấn đề vềkinh tế của Việt Nam thời kỳ trớc đây cũng nh sau này khi mở cửa đổi mới, và
từ đó để tìm ra nghiên cứu mâu thuẫn đã và đang xảy ra trong nền kinh tế thịtrờng, tìm những biện pháp hạn chế, khắc phục những nhợc điểm, phát huynhững thế mạnh hay những u điểm của nó
Trong sự nghiệp đổi mới của nớc ta do Đảng khởi xớng và lãnh đạo đãdành đợc những thắng lợi bớc đầu mang tính quyết định, quan trọng trong việcchuyển nền kinh tế từ cơ chế quản lí tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chếthị trờng có sự quản lí của nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa Trongnhững chuyển biến đó đã đạt đợc nhiều thành công to lớn, nhng trong nhữngthành công đó luôn tồn tại những vấn đề mâu thuẫn làm kìm hãm sự phát triểncủa công cuộc đổi mới Đòi hỏi phải đợc giải quyết, và những vấn đề ấy nếu
đợc giải quyết sẽ thúc đẩy cho sự phát triển nền kinh tế
Mâu thuẫn là một hiện tợng phổ biến có trong tất cả các lĩnh vực tựnhiên, xã hội và t duy của con ngời Trong kinh tế, mâu thuẫn cũng là mộthiện tợng hiển nhiên, không tránh khỏi, chẳng hạn nh cung – cầu, tích luỹ vàtiêu dùng… với mong muốn tìm hiểu thêm những vấn đề của nền kinh tế, với mong muốn tìm hiểu thêm những vấn đề của nền kinh tế,quan điểm lí luận cũng nh vớng mắc trong giải pháp, quy trình xử lý các vấn
đề … với mong muốn tìm hiểu thêm những vấn đề của nền kinh tế,, tôi đã chọn đề tài : Mâu thuẫn biện chứng trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam ”
Vì thời gian có hạn, kiến thức còn hạn chế nên trong tập tiểu luận nàychỉ xem xét đánh giá một vài mâu thuẫn tiêu biểu
-Đổi mới về kinh tế – chính trị
-Lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất
-Các hình thức sở hữu trớc đây và trong thời kỳ quá độ sang KTTT ởViệt Nam
- Mâu thuẫn giữa KTTT với xây dựng con ngời xã hội chủ nghĩa
Trang 2phần B: nội dung
Mọi sự vật, hiện tợng đang tồn tại đều là một hệ thống nhất đợc cấuthành bởi các mặt, các khuynh hớng các thuộc tính phát triển ngợc chiềunhau, đối lập nhau… với mong muốn tìm hiểu thêm những vấn đề của nền kinh tế, ở đây chúng ta chia làm hai phần
1 Sự đấu tranh của các mặt đối lập trong một thể thống nhất.
Trong phép biện chứng duy vật khái niệm mặt đối lập là sự khái quátnhững thuộc tính, những khuynh hớng, phát triển ngợc chiều nhau tồn tạitrong cùng một sự vật hiện tợng, tạo lên sự vật hiện tợng đó Do đó cần phảiphân biệt rằng bất kỳ hai mặt đối lập nào cũng tạo thành mâu thuẫn Bởi vìtrong các sự vật hiện tợng của thế giới khách quan không phải chỉ tồn tại trong
đó hai mặt đối lập Trong cùng một thời điểm ở mỗi sự vật có thể cùng tồn tạinhiều mặt đối lập Chỉ có những mặt đối lập là tồn tại thống nhất trong cùngmột sự vật nh chỉnh thể, nhng có khuynh hớng phát triển ngợc chiều nhau, bàitrừ phủ định và chuyển hoá lẫn nhau (sự chuyển hoá này tạo thành nguồn gốc
động lực, đồng thời quy định các bản chất, khuynh hớng phát triển của sự vật)thì hai mặt đối lập nh vậy mới gọi là hai mặt đối lập tạo thành mâu thuẫn “thống nhất” của các mặt đối lập đợc hiểu với ý nghĩa không phải chúng đứngbên cạnh nhau mà là nơng tựa vào nhau, tạo ra sự phù hợp, cân bằng nh liên
hệ phụ thuộc, quy định mà ràng buộc lẫn nhau Mặt đối lập này lấy mặt đốilập kia làm tiền đề cho sự tồn tại của chính mình và ngợc lại Nếu thiếu mộttrong hai mặt đối lập chính tạo thành sự vật thì nhất định không có sự tồn tạicủa sự vật Bởi vì sự thống nhất của các mặt đối lập là điều kiện không thểthiếu đợc cho sự tồn tạo của bất kỳ sự vật hiện tợng nào
+Sự thống nhất này do những đặc điểm riêng có của bản thân sự vật tạonên
ví dụ: nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp và nền kinh tế thị trờng là
điều kiện cho sự tồn tại và phát triển của công cuộc đổi mới nền kinh tế ở ViệtNam, hai nền kinh tế hoàn toàn khác nhau về bản chất và những biểu hiện của
nó nhng nó lại hết sức quan trọng Vì nó có sự thống nhất, sự thống nhất đó lạitạo lên quá trình đổi mới kinh tế ở Việt Nam Thiếu sự thống nhất này nềnKTTT ở Việt Nam không thể tồn tại với ý nghĩa là chính nó
Ví dụ: lực lợng sản xuất – quan hệ sản xuất trong phơng thức sản xuất.Khi lực lợng sản xuất phát triển thì cùng với nó quan hệ sản xuất cũng pháttriển hai hình thức này chính là điều kiện để cho sự phát triển của phơng thức
Trang 3sản xuất Nhng quan hệ của lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất phải thoảmãn một số yêu cầu sau:
-Thứ nhất: đó phải là một khái niệm chung nhất đợc khái quát từ cácmặt phù hợp khác nhau phản ánh đợc baen chất của sự phù hợp của quan hệsản xuất với lực lợng sản xuất
Thứ hai: đó phải là một khái niệm “động” phản ánh đợc trạng thái biến
đổi thờng xuyên của sự vận động, phát triển quan hệ của quan hệ sản xuất vớilực lợng sản xuất
-Thứ ba: đó phải là một khái niệm có ý nghĩa thực tiễn Ngoài ý nghĩanhận thức, khái niệm về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với lực lợng sản xuất
đợc coi là thoả đáng phải có tác dụng định hớng, chỉ dẫn cho việc xây dựngquan hệ sản xuất sao cho những quan hệ sản xuất có khả năng phù hợp caonhất với lực lợng sản xuất
Tuy nhiên khái niệm thống nhất này cũng chỉ là tơng đối Bản thân nộidung khái niệm cũng đã nói lên tính chất tơng đối của nó: thống nhất của cái
đối lập, trong thống nhất đã bao hàm và chứa đựng trong nó sự đối lập
Đấu tranh các mặt đối lập
Sự thống nhất của các mặt đối lập trong cùng một sự vật không tách rời,
đấu tranh chuyển hoá giữa chúng Bởi vì các mặt đối lập cùng tồn tại trong sựthống nhất nh một chỉnh thể chọn vẹn nhng không nằm yên bên nhau màchỉnh chuyển hoá lẫn nhau tạo thành động lực phát triển của bản thân sự vật
Sự đấu tranh chuyển hoá và phủ định lẫn nhau giữa các mặt trong thế giớikhách quan thể hiện dới nhiều dạng khác nhau
Ví dụ lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất trong giai cấp có đối khángmâu thuẫn giữa lực lợng sản xuất tiên tiến với quan hệ sản xuất lạc hậu kìmhãm nó diễn ra rất gay gắt và quyết liệt Chỉ có thông qua các cuộc cáchmạng xã hội bằng nhiều hình thức kể cả bạo lực mới có thể giải quyết đợcmâu thuẫn một cách căn bản
Sự đấu tranh của các mặt đối lập đợc chia ra làm nhiều giai đoạn.Thông thờng, khi mới xuất hiện hai mặt đối lập đợc cha thể hiện rõ sự xungkhắc gay gắt ngời ta gọi đó là giai đoạn khác nhau Tất nhiên không phải bất
kỳ sự khác nhau nào cũng đợc gọi là mâu thuẫn Chỉ có những mặt khác nhautồn tại trong một sự vật nhng liên hệ hữu cơ với nhau, phát triển ngợc chiềunhau, tạo thành động lực bên trong của sự phát triển, thì hai mặt đối lập ấymới hình thành bớc đầu của mâu thuẫn Khi hai mặt đối lập của mâu thuẫn
Trang 4phát triển đến giai đoạn xung đột gay gắt, nó biến thành độc lập Nếu hội đủcác mặt cần thiết hai mặt đối lập sẽ chuyển hoá lẫn nhau Sự vật cũ đã mất đi
sự vật mới đợc hình thành Sau khi mâu thuẫn đợc giải quyết sự thống nhấtcủa hai mặt đối lập cũ đợc thay thế bằng sự thống nhất của hai mặt đối lậpmới, hai mặt đối lập mới đấu tranh chuyển hoá tạo thành mâu thuẫn Cứ nhthế, đấu tranh giữa các mặt đối lập làm cho sự vật biến đổi không ngừng từthấp lên cao chính vì vậy, Lênin khẳng định “sự phát triển là một cuộc đấutranh giữa các mặt đối lập”
Khi bàn về mối quan hệ giữa thống nhất và đấu tranh của các mặt đốilập, Lênin chỉ ra rằng: mặc dù thống nhất chỉ là điều kiện để sự vật tồn tại với
ý nghĩa nó chính là nó – nhờ có sự thống nhất của các mặt đối lập mà chúng
ta nhận biết đợc sự vật, hiện tợng tồn tại trong thế giới khách quan Song bảnthân của sự thống nhất chỉ là tơng đối và tạm thời Đấu tranh giữa các mặt đốilập mới là tuyệt đối Nó diễn ra thờng xuyên liên tục trong suốt quá trình tồntại của sự vật Kể cả trong trạng thái sự vật ổn định, cũng nh khi chuyển hoánhảy vọt về chất Lênin viết “sự thống nhất (phù hợp, đồng nhất, tác dụngngang nhau) của các mặt đối lập là có điều kiện tạm thời, thoáng qua tơng đối
Sự đấu tranh của các mặt đối lập bài trừ lẫn nhau là tuyệt đối cũng nh sự pháttriển, sự vận động là tuyệt đối”
2.Chuyển hoá của các mặt đối lập
Không phải bất kỳ sự đấu tranh nào của các mặt đều dẫn đến sự chuyểnhoá hơn giữa chúng Chỉ có sự đấu tranh của các mặt đối lập phát triển đếnmột trình độ nhất định, hội các điều kiện cần thiết mới dẫn đến chuyển hoá,bài trừ và phủ định lẫn nhau Trong giới tự nhiên chuyển hoá của các mặt đốilập thờng diễn ra thông qua hoạt động có ý thức của con ngời Chuyển hoá củacác mặt đối lập chính là lúc mâu thuẫn đợc giải quyết, sự vật cũ mất đi, sự vậtmới ta đời đó chính là quá trình diễn biến rất phức tạp vời nhiều hình thứcphong phú khác nhau
Do đó, không nên hiểu sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các mặt đối lập chỉ
là sự hoàn đổi vị trí một cách đơn giản, máy móc Thông thờng thì mâu thuẫnchuyển hoá theo hai phơng thức
+Phơng thức thứ nhất : mặt đối lập này chuyển hoá thành mặt đối lậpkia nhng ở trình độ cao hơn xét về phơng diện chất của sự vật
Ví dụ lực lợng sản xuất và quan hệ trong xã hội phong kiến đấu tranhchuyển hoá lẫn nhau để hình thành quan hệ sản xuất mới, quan hệ sản xuất tbản chủ nghĩa và lực lợng sản xuất mới ở trình độ cao hơn
Trang 5Từ những mâu thuẫn trên cho ta thấy trong thế giới hiện thực, bất kỳ sựvật hiện tợng nào cũng chứa đựng trong bản thân nó những mặt, những thuộctính có khuynh hớng phát triển ngợc chiều nhau Sự đấu tranh chuyển hoá củacác hiện tợng khách quan phổ biến của thế giới Mâu thuẫn đợc giải quyết, sựvật cũng mất đi, sự vật mới hình thành Sự vật mới nảy sinh các mặt đối lập vàmâu thuẫn mới.
Các mặt đối lập này lại đấu tranh chuyển hoá và phủ định lẫn nhau đểtạo thành sự vật mới hơn Cứ nh vậy mà các sự vật, hiện tợng trong ttg kháchquan thờng xuyên phát triển và biến đổi không ngừng Vì vậy, mâu thuẫn lànguồn gốc và động lực của mọi quá trình phát triển
ii Mâu thuẫn biện chứng trong quá trình xây dựngnền kinh tế thị trờng
2.Thực chất kinh tế thị trờng ở Việt Nam
+Một số đặc điểm chung của kinh tế thị trờng ở nớc ta:
Sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam theo định hớng xã hội chủ nghĩa là mộttất yếu lịch sử nó nhằm tới những mụctiêu rất cụ thể và mang tính cách mạng
Nó thay cũ đối mới hàng loạt vấn đề lý luận và thực tiễn , cả về kinh tế vàchính trị xã hội, nó bảo vệ phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, t tởng Hồ ChíMinh trong hoàn cảnh điều kiện mới
Nh chúng ta đã biết, từ khi chủ nghĩa xã hội đợc xây dựng, tất cả các
n-ớc xã hội chủ nghĩa đều thực hiện nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, cơ chếvận hành và quản lí kinh tế này đợc duy trì trong một thời gian khá dài và xem
nh là đặc trng riêng biệt của CNXH, là cái đối lập với cơ chế thị trờng củaCNTB Sự thực thì không phải hoàn toàn nh vậy nền kinh tế tập trung khôngchỉ là sản phẩm riêng biệt của CNXH, cũng nh nền kinh tế thị trờng khôngphải duy nhất đợc thiết lập trung CNTB… với mong muốn tìm hiểu thêm những vấn đề của nền kinh tế, Nền kinh tế tập trung đã đợc các n-
ớc t bản áp dụng từ trớc khi nhiều nớc xác lập chế độ xã hội chủ nghĩa Nhngcác nớc TBCN đã xoá bỏ cơ chế thị trờng sau khi chiến tranh kết thúc và đã
đạt đợc những thành tựu rất lớn về kinh tế, xã hội Nhng công bằng mà nói,
Trang 6nền kinh tế thị trờng cũng cha phải là cái duy nhất bảo đảm cho sự tăng trởng
và phát triển của xã hội
Trong thời kỳ quá độ lên CNXH thì sự tồn tại của nền sản xuất hànghoá, nền kinh tế thị trờng – bớc phát triển cao của nền sản xuất hàng hoá - là
lẽ đơng nhiên Nh vậy, có thể nói rằng nền kinh tế thị trờng cũng nh nền kinh
tế tập trung không phải là thuộc tính đặc thù cố hữu của riêng một chế độ xãhội phù hợp để dành lại hiệu quả cao nhất Chúng ta đang trong giai đoạn quá
độ lên chủ nghĩa xã hội, bởi thế việc phát triển nền kinh tế thị trờng là một tấtyếu khách quan Mới chỉ có hơn chục năm đổi mới vừa qua, với việc chuyểnsang nền kinh tế thị trờng Việt Nam đã cho nhân dân thế giới ngỡ ngàng Từchỗ chúng ta còn xa lạ, nay đã hội nhập đợc với các nền kinh tế tiên tiến, hiện
đại Tất cả những thành tựu kinh tế mà chúng ta đã đạt đợc khi chuyển sangnền kinh tế thị trờng đã nói nên công cuộc đổi mới ở nớc ta là một cuộc cáchmạng thực sự
ở Việt Nam có đặc điểm là bảo vệ, tận dụng và phát triển sáng tạo chủnghĩa Mac Lênin, t tởng Hồ Chí Minh là mục tiêu, nhiệm vụ không kém phầnquan trọng làm sáng tỏ thêm ý nghĩa và vai trò cách mạng của công cuộc đổimới hiện nay ở nớc ta
Trong công cuộc đổi mới hiện nay, Đảng ta một lần nữa khẳng địnhnhững giá trị khoa học bền vững của chủ nghĩa Mác Lê nin và t tởng Hồ ChíMinh, đồng thời, tuyên bố với chủ nghĩa Mác Lê nin và t tởng Hồ Chí Minhlàm kim chỉ nam cho mọi hành động
+Một số đặc điểm của nekt thị trờng ở Việt Nam nhìn từ góc độ triếthọc
Thực tiễn vận động của kinh tế thế giới những năm gần đây cho thấy,mô hình phát triển theo xu hớng thị trờng có sự điều tiết vĩ mô từ trung tâm,trong bối cảnh của thời đại ngày nay, mô hình hợp lý hơn cả, về đại thể, đápứng đợc những cách thức của sự phát triển
ở nớc ta, việc thực hiện mô hình này, trong thực tế, chẳng những là nộidung của công cuộc đổi mới mà hơn thế nữa, còn là công cụ, là phơng thức đểnớc ta đi tới mục tiêu xây dựng CNXH
Nền kinh tế nớc ta hiện nay, có thể nói đang ở trong giai đoạn quá độ,chuyển tiếp từ nền kinh tế tập trung, hành chính, bao cấp sang nền kinh tế thịtrờng có sự quản lí của nhà nớc, theo định hớng xã hội chủ nghĩa
Trang 7Do vậy, những đặc điểm của giai đoạn quá độ trong nền kinh tế nớc ta,
đơng nhiên là một vấn đề có ý nghĩa, rất cần đợc nghiên cứu, xem xét Nhậnthức đợc những đặc điểm phức tạp của giai đoạn quá độ, chi phối những đặc
điểm đó, chúng ta sẽ tránh đợc những sai lầm chủ quan, nóng vội, duy ý chí,hoặc những khuynh hớng cực đoan, máy móc, sao chép, nhận nguyên bảnkinh tế thị trờng từ bên ngoài vào
Vậy từ phơng diện triết học thì những đặc điểm của nền kinh tế qúa độcủa nớc ta hiện nay là gì? nhng chúng ta đã biết, trong nền kinh tế tập trung– bao cấp, mọi chức năng kinh tế – xã hội của nền kinh tế đều đợc triểnkhai trong quá trình kế hoạch hoá ở cấp quốc gia Tính bao cấp của nhà nớc
đối với các hoạt động của sản xuất, lu thông, phân phối… với mong muốn tìm hiểu thêm những vấn đề của nền kinh tế, khá nặng nền ở
n-ớc ta trn-ớc đây, chế độ hạch toán, trên thực tế, còn nặng nề về hình thức Lợiích kinh tế, đặc biệt là lợi ích cá nhân ngời lao động, một động lực trực tiếpcủa hoạt động xã hội cha đợc quan dung đúng mực Vì thế sự vận động củanền kinh tế nhìn chung là chậm chạp, kém năng động
Kể từ Đại hội lần thứ VI của Đảng (12-1986) đến nay, theo đờng lối đổimới, đất nớc ta đã từng bớc chuyển sang nền kinh tế thị trờng với định hớngxã hội chủ nghĩa Và điều đó có ý nghĩa là, chúng ta đã đạt đợc những thànhtựu hết sức quan trọng, những thành tựu cho phép chúng ta “điều chỉnh và bổsung nhận thức, làm cho quan niệm về CNXH ngày càng cụ thể, đờng lối, chủtrơng, chính sách ngày càng đồng bộ, căn cứ khoa học và thực tiễn có căn cứ” Những thành tựu đó, trong một chừng mực nhất định, cũng gián tiếp khả năngcủa kinh tế thị trờng trong việc năng động hoá nền kinh tế đất nớc
Kinh tế thị trờng, nh chúng ta đã biết là một kiểu quan hệ kinh tế- xãhội mà trong đó, sản xuất và tái sản xuất xã hội gắn chặt với thị trờng, tức làgắn chặt với quan hệ hàng hoá - tiền tệ, với quan hệ cung cầu… với mong muốn tìm hiểu thêm những vấn đề của nền kinh tế,Trong nềnkinh tế thị trờng, nét biểu hiện có tính chất bề mặt của đời sống xã hội quan hệhàng hoá : mọi hoạt động của xã hội phải tính đến quan hệ hàng hoá, hay ítnhất thì cũng phải sử dụng các quan hệ hàng hoá nh là một khâu trung gian
Thành tựu của những năm đối mới vừa qua ở nớc ta đã có tác dụng làmcho chúng quen dần với các quan hệ hàng hoá Hàm lợng kinh tế trong cáchoạt động xã hội ngày càng đợc chú ý Những hoạt động xã hội bất chấp kinh
tế hoặc phi kinh tế giảm đáng kể, bớc chuyển sang cơ chế thị trờng đơngnhiên không tránh khỏi có những mặt tiêu cực của nó, nhng dẫu sao nó cũngnói lên sức sống và khả năng tác động của các quan hệ thị trờng Về thực chấtcủa bớc chuyển này, một số cho rằng “ở Việt Nam dù nền kinh tế thị trờng
Trang 8mới vừa đợc thành lập, còn đang trong những bớc chập chững ban đầu và đợc
điều tiết một cách có ý thức theo định hớng xã hội chủ nghĩa, song cũng tác
động khá rõ đến mọi mặt của đời sống xã hội và để lại ở đó những dấu ấn củamình về mặt văn hoá… với mong muốn tìm hiểu thêm những vấn đề của nền kinh tế,” tác động đáng quan tâm nhất của cơ chế thị trờng là
nó đã tạo ra ở Việt Nam những quan niệm thị trờng không thuần khiết –những quan hệ mà ở đó vừa có màu sắc thị trờng lại vừa cha phải là quan hệthị trờng Sự đan xen, chi phối mãnh liệt của các nhân tố khác của đời sống xãhội trong bối cảnh của một xã hội vừa ra khỏi cơ chế hành chính – bao cấp
đã làm cho cơ chế thị trờng “khúc xạ” theo nhiều chiều hớng khác nhau
Một trong những nguyên nhân của tình hình nói trên, đúng nh một ýkiến đã chỉ ra, trớc hết thuộc về sự đối mới các quan hệ sở hữu Nếu nh trớc
đây, nền kinh tế nớc ta chỉ có một kiểu sở hữu tơng đối thuần nhất với 2 thànhphần tập thể và quốc doanh, thì hiện nay, cùng với thành phần chủ đạo là sởhữu nhà nớc, còn tồn tại nhiều thành phần sở hữu khác nhau Những hìnhthức sở hữu đó, trong thực tế vận hành của nền kinh tế, không hẳn đã đồng bộvới nhau Song về tổng thể, chúng là những bộ phận khách quan của nền kinh
tế, có khả năng đáp ứng những đòi hỏi đa dạng và năng động của kinh tế thịtrờng
Thực ra, trong quan niệm hiện nay của chúng ta về CNXH đã chứa
đựng những t tởng mới về quy luật của sự phù hợp khách quan giữa quan hệsản xuất với trình độ phát triển của lực lợng sản xuất Cái có ý nghĩa quyết
định trong quy luật này là trình độ phát triển của lực lợng sản xuất Do vậy, sựphù hợp với trình độ phát triển của năng lực sản xuất, sự tồn tại của các thànhphần sở hữu đa dạng ở một nền kinh tế theo định hớng XHCN là hoàn toàn cócơ sở của nó Hơn thế nữa, vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nớc, trên thực tế,không chỉ là chủ đạo thuần tuý về tỷ trọng GDP Theo quan điểm hiện đại về
sử lý kinh tế vĩ mô thì khả năng điều tiết, chỉ đạo của kinh tế nhà nớc đối vớicác thành phần kinh tế khác đợc thể hiện trên nhiều mặt: kinh tế nhà nớc cóthể là lực lợng nắm bắt các yết hầu kinh tế Cũng có thể nói lực lợng chi phốicác vị trí đặc biệt nhng kém sinh lời trong nền kinh tế Cùng với việc nắm bắtcác ngành kinh tế quốc phòng, thông tin, cơ sở hạ tầng… với mong muốn tìm hiểu thêm những vấn đề của nền kinh tế, kinh tế nhà nớc
đảm bảo những t liệu sản xuất chủ yếu phải thuộc về xã hội, phục vụ cho lợiích của cộng đồng
Vai trò của nhà nớc và của nền kinh tế nhà nớc trong một nền kinh tếhớng tới thị trờng theo định hớng xã hội chủ nghĩa là những điều không phảibàn cãi Nhà nớc, ngoài việc phải trực tiếp quyết định vấn đề của bản thânnền kinh tế còn phải đóng vai trò là nhân vật trung gian giữa các vấn đề kinh
Trang 9tế và các vấn đề xã hội Nhà nớc với các chính sách, luật lệ của mình, mộtmặt có khả năng làm cho nền kinh tế đạt tới một sự tăng trởng có hiệu quả,nhng mặt khác nó cũng lại chính là ngời phải lo giải quyết những vấn đề dochính sách tăng trởng đó tạo ra Về đại thể, chìa khoá để đáp ứng những nhucầu phức tạp và trái ngợc nhau của những xã hội nằm trong tay bộ máy quản lí
vĩ mô của xã hội Mà trớc hết, đó là nhà nớc Tuy nhiên, ở nớc ta hiện nay,nhà nớc và kinh tế nhà nớc còn có nhiều vấn đề phải đợc tháo gỡ để có thể đ-
ơng đợc trọng trách to lớn của mình Trên thực tế, bộ máy quản lí vĩ mô củanhà nớc đối với nền kinh tế còn khá cồng kềnh và kém hiệu quả Hầu hết cácdoanh nghiệp kinh tế nhà nớc đều hoạt động thiếu năng động và quá ỷ lại nhànớc Trong một số trờng hợp, thậm chí kinh tế nhà nớc còn vô tình hoặc cố ý
bỏ rơi trận địa mà mình chiếm lĩnh, tiếp tay cho những phần tử tham nhũng,tiêu cực
Điều đó có ý nghĩa đối với việc xác định đặc điểm của nền kinh tế quá
độ đến thị trờng ở nớc ta hiện nay có lẽ vẫn là sự thừa nhận xu hớng chủ yếutrong sự vận động của nó Tiếp tục đổi mới vào hoạt động có hiệu quả kinh tếnhà nớc, để kinh tế nhà nớc thực sự giữ vai trò chủ đạo, làm đòn bẩy thúc
đầy và điều chỉnh toàn bộ các hoạt động của nền kinh tế Trên cơ sở đó, giảiquyết ngay các vấn đề xã hội ở tầm vĩ mô, sao cho tăng trởng kinh tế khôngtrở lên mâu thuẫn gay gắt với trật tự bình thờng của đời sống xã hội
Thực ra, các vấn đề xã hội của nền kinh tế thị trờng còn sơ khai, quá độ,lại có mức tăng trởng nhanh, là điều rất khó tránh Vấn đề chỉ là ở chỗ, chúng
ta phải chấp nhận mặt trái của kinh tế thị trờng đến mức nào Để từng bớcnâng cao chất lợng hiệu quả của nền sản xuất xã hội, chúng ta đã có nhữngchính sách và biện pháp nhất định đối với một số lĩnh vực kinh tế – xã hội.Chẳng hạn, lĩnh vực giáo dục và đào tạo, lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ cộng
đồng, lĩnh vực bảo vệ môi trờng … với mong muốn tìm hiểu thêm những vấn đề của nền kinh tế, Tuy nhiên, cũng có nhiều lĩnh vực thuộc
về các vấn đề xã hội còn cha thực sự có đối sách hoặc còn quá bị động Chẳnghạn, vấn đề phân hoá giầu nghèo, vấn đề gia tăng tệ nạn xã hội, vấn đề xuốngcấp đạo đức… với mong muốn tìm hiểu thêm những vấn đề của nền kinh tế, ơng nhiên, đây là những bài toán không thể có thể đợc giả Đquyết ngay trong một sớm một chiều
Cũng phải thừa nhận rằng, các vấn đề nói trên dù ít dù nhiều, cũng làcác vấn đề của bản thân cơ chế quản lí Trong nền kinh tế hiện nay, cơ chếquản lí đang ở giai đoạn hình thành nên thờng là không đồng bộ, thiếu hụ.Chúng ta cha thực sự tạo ra môi trờng an toàn cho sản xuất và kinh doanh Cơ
sở pháp lý của các hoạt động kinh tế còn có nhiều điều bất cập Các hoạt độngtài chính, ngân hàng, phân cấp quản lí … với mong muốn tìm hiểu thêm những vấn đề của nền kinh tế, còn nhiều điều bất hợp lý Do vậy,
Trang 10trong một số vụ án kinh tế, cơ chế quản lí đôi khi vừa là thủ phạm lại vừa lànạn nhân của kinh tế thị trờng Ttính chất không rõ ràng, thiếu xác định cảtrên phơng diện kinh tế –xã hội dờng nh đang là một cái gì đó rất phổ biến,rất đặc trng cho các quan hệ trong nền kinh tế nớc ta Cần thiết phải lu ý rằng,khác với cơ chế hành chính – bao cấp, cơ chế thị trờng với các quy mô kháchquan khó nắm bắt của mình, thờng biểu hiện ra nh là một cơ chế tự phát hơn,
tự nhiên hơn và nằm xa sự chi phối của con ngời hơn Trên thực tế, điều nàykhông nói lên những giới hạn có thể có của sức mạnh con ngời, mà nó chỉ chobiết một đặc trng của cơ chế thị trờng Đặc trng này đòi hỏi quản lí phải hiểubiết sâu sắc hơn về tính khách quan của các quy luật thị trờng, về khả năngcủa mỗi chủ thể trong mỗi hoàn cảnh cụ thể Đơng nhiên đòi hỏi này không
hề giản đơn, nhất là trong giai đoạn quá độ, có sự tồn tạo đan xen giữa các cơchế ở nớc ta hiện nay Vấn đề này là ở chỗ, bản thân cơ chế thị trờng đã dờng
nh tự phát hơn khi đó nó lại đợc hoạt động ở một điều kiện mà yếu tố tự phát
có khả năng tác động mạnh hơn Bao giờ cũng vậy, trong các giai đoạn quá
độ, chuyển tiếp yếu tố tự phát thể hiện vai trò của mình hơn yếu tố tự giác Bởivậy, trong nền kinh tế ở nớc ta hiện nay, việc nắm đợc các yếu tố tự giác và tựphát của nền kinh tế, hiểu đợc phơng thức hoặc tìm ra đợc phơng pháp kiểmsoát thích hợp đối với chúng ta điều hết sức có ý nghĩa.Thực tế những năm đổimới vừa qua chứng tỏ rằng, trong một số quá trình kinh tế – xã hội nhất định,chúng ta thực sự làm chủ những tác động tự giác cũng nh các tác động tự phátcủa cơ chế thị trờng Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có nhiều hiện tợng và quátrình mà chúng ta còn buông lỏng sự kiểm soát hoặc cha thực sự có khả năngkiểm soát vận động của chúng ta
Trên con đờng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Việc chúng ta bớc đầu sửdụng thị trờng nh là một công cụ một phơng thức trên thực tế đã đem lạinhững kết quả cả về phơng diện thực tiễn và phơng diện nhận thức
Mỗi hành trang có ý nghĩa mà công cuộc đổi mới trang bị cho chúng ta.Sản xuất hàng hoá cùng với “Nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơchế thị trờng, hiện đã đợc chúng ta hiểu là không đối lập với CNXH Với tínhcách là sản phẩm của văn minh nhân loại, một “cơ hội để các cộng đồng mởcửa, tiếp xúc với bên ngoài” kinh tế thị trờng rõ ràng là cái khách quan và tấtyếu đối với công cuộc xây dựng CNXH ở nớc ta
Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở nớc ta Thị trờng vừa làcăn cứ, vừa là đối tợng của công tác kế hoạch hóa, việc điều tiết vĩ mô đối vớithị trờng, một mặt là cho nền kinh tế nớc ta thực sự là trở thành một thị trờngthống nhất trong cả nớc và thống nhất với thị trờng thế giới Mặt khác còn có
Trang 11tác dụng làm cho mỗi đơn vị kinh tế buộc phải khẳng định mình – khẳng
định khả năng và vai trò
Tuy nhiên, nhận ra sức mạnh của kinh tế thị trờng, chúng ta lại cũnghiểu rõ hơn bấy nhiêu mặt trái của nó đối với sự vận động của đời sống xã hội
Sự tăng trởng kinh tế đơng nhiên là một mục tiêu của phát triển kinh tế xã hội,
nó có khả năng tạo ra điều kiện để giải quyết các vấn đề xã hội Nhng tăng ởng kinh tế không nhất thiết đi liền với tiến bộ xã hội Do vậy, trong quanniệm của Đảng ta, để thực hiện sự nghiệp xã hội CNXH với mục tiêu dângiàu, nớc mạnh, xã hội công bằng văn minh, thì kinh tế thị trờng nhất thiếtphải có sự quản lí của nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa
tr-Quan hệ kinh tế là chính trị trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam tr-Quan
hệ giữa kinh tế và chính trị là một trong những vấn đề cơ bản của công cuộc
đổi mới ở Việt Nam Đây là vấn đề luôn đợc đặt ra và đợc giải quyết trongsuốt quá trình đổi mới Những thanh tựu đạt đợc trong 10 năm đổi mới vừaqua không thể tách rời việc giải quyết một cách đúng đắn mối quan hệ giữakinh tế và chính trị Việc nhận thức về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trịcũng không ngừng phát triển, gắn liền với thực tiễn công cuộc đổi mới Bàiviết này tập trung phân tích sự phát triển nhận thức về mối quan hệ giữa kinh
tế và chính trị cũng không ngừng phát triển, gắn liền với thực tiễn công cuộc
đổi mới
2 Những mâu thuẫn phát sinh trong quá trình xây dựng nền kinh
tế thị trờng ở Việt Nam.
+Mấy vấn đề lý luận chung của chủ nghĩa Mac Lê nin về quan hệ giữakinh tế và chính trị
Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác Lêni thì kinh tế quyết địnhchính trị, “ chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế” trong lịch sử pháttriển xã hội loài ngời không phải bao giờ cũng có vấn đề chính trị Xã hộinguyên thuỷ cha có giai cấp, cha có vấn đề chính trị Từ khi xã hội có giai cấp
và nhà nớc xuất hiện chính trị thì vấn đề chính trị mới xuất hiện Vấn đềchính trị là vấn đề thuộc về quan hệ giai cấp và đấu tranh giai cấp Trung tâmcủa vấn đề chính trị là vấn đề đấu tranh giữa các giai cấp, các lực l ợng xã hộinhằm dành, giữ chính quyền nhà nớc và sử dụng chính quyền đó làm công cụ
để sử dụng và bảo vệ chế độ xã hội phù hợp với lợi ích giai cấp cầm quyền.Bản thân vấn đề chính trị ra đời hoàn toàn là do kinh tế quyết định Chính trịkhông phải là mục đích, mà chỉ là phơng tiện để sử dụng mục đích kinh tế.Khi phê phán quan niệm của Đuyrinh cho rằng bạo lực chính trị quyết định
Trang 12kinh tế, F.Engen đã khảng định: “bạo lực chỉ là phơng tiện, còn lợi ích kinh tế,trái lại, là mục đích” Và trong tác phẩm “ Lutvich Pronhắc và sự cáo chungcủa triết học cổ điển Đức” F Engen đã chỉ rõ “ để thoả mãn những lợi íchkinh tế thì quyền lực chính trị chỉ đợc sử dụng làm một phơng tiện đơn thuần.
Quyền lực chính trị là công cụ mạnh mẽ nhất để bảo vệ chế độ xã hội
Sự thống trị về chính trị của một giai cấp nhất định là điều kiện đảm bảo chogiai cấp đó thực hiện đợc sự thống trị về kinh tế Đấu tranh giai cấp, về thựcchất là đấu tranh vì lợi ích kinh tế, đợc thực hiện thông qua đấu tranh chính trị.Theo E.Engen “bất cứ cuộc đấu tranh giai cấp nào cũn đều là đấu tranh chínhtrị xét đến cùng đều xoay quanh vấn đề giải phóng về kinh tế” Để nhấn mạnhvai trò của chính trị V.I Lê nin đã khẳng định: “chính trị không thể khôngchiếm vị trí hàng đầu so với kinh tế” Khẳng định đó V.I Lê nin không cónghĩa là phủ định vai trò quyết định của kinh tế đối với chính trị mà muốnnhấn mạnh tác động tích cực của chính trị đối với kinh tế Vấn đề kinh tếkhông thể tách rời vấn đề chính trị nhất định Giai cấp nào cầm quyền cũng h-ớng kinh tế phát triển theo lập trờng chính trị của giai cấp đó nhằm phục vụcho mục tiêu kinh tế – xã hội nhất định Và lập trờng chính trị đúng (hay sai)
sẽ thúc đẩy (hoặc kìm hãm) sự phát triển của nền kinh tế V.I Lê nin cònkhẳng định: “không có một lập trờng chính trị đúng nh một giai cấp nhất địnhnào đó, không thể nào giữ vững đợc sự thống nhất của chính mình và do đócũng không thể nào hoàn thành đợc nhiệm vụ của mình trong lĩnh vực sảnxuất” Khi thể chế chính trị không phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh
tế thì tất yếu kinh tế sẽ mở đờng đi Khi đó, việc thay đổi thể chế chính trị chophù hợp với yêu cầu phát triển của kinh tế là điều kiện kiên quyết để thúc đẩykinh tế phát triển Nh vậy, chúng ta có thể khẳng định rằng kinh tế và chính trịthống nhất biện chứng với nhau trên nền tảng quyết định của kinh tế Đây làcơ sở phơng pháp luận quan trọng trong việc nhận thức xã hội nói chung, nhậnthức công cuộc đổi mới ở Việt Nam nói riêng
Sự phát triển nhận thức về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị trongcông cuộc đổi mới ở Việt Nam
Có thể nói, từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (tháng 12/1986)của Đảng cộng sản Việt Nam, đất nớc ta chuyển sang một giai đoạn mới-giai
đoạn thực hiện công cuộc đổi mới Cho đến nay, công cuộc đổi mới đã tiếnhành đợc 10 năm Trong 10 năm qua, việc nhận thức về mối quan hệ giữa kinh
tế và chính trị cũng ngày càng chính xác hơn
Trang 13Khi bớc vào công cuộc đổi mới, Đảng ta đặc biệt nhấn mạnh đổi mới tduy nhất là đối với cán bộ lãnh đạo, coi đó là tiền đề đổi mới trong hiện thực.Nhất là đối với cán bộ lãnh đạo, coi đó là tiền đề để đổi mới trong hiện thực.Nhấn mạnh nh vậy là hết sức cần thiết đối với thực tiễn nớc ta để vợt ra khỏithói quen t duy cũ đang trói buộc chúng ta từ khi đó Tuy nhiên, nói nh vậykhông có nghĩa là đổi mới t duy có thể tách khỏi đối mới trong thực tiễn Bảnthân đổi mới t duy là phản ánh yêu cầu mới trong thực tiễn mà gắn liền vớithực tiễn của công cuộc đổi mới Chính vì vậy tổng kết thực tiễn công cuộc
đổi mới ở nớc ta là cơ sở chủ yếu nhất đê không ngừng đổi mới và phát triển tduy
Vào những năm đầu của công cuộc đổi mới ở nớc ta, khi mà Liên Xô vàcác nớc xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu vấp phải những thất bại nặng nề, khi màchúng ta giành đợc những thắng lợi bớc đầu, ở nớc ta đã có quan điểm chorằng nguyên nhân thất bại của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu là docác nớc đó đổi mới chính trị trớc đổi mới kinh tế sau: còn nguyên nhân thấtbại của công cuộc đổi mới ở nớc ta là đổi mới kinh tế trớc đổi mới chính chínhtrị sau Quan điểm này mới xem qua tởng là chính xác, nhng đi vào phân tích
sẽ thấy rằng nó không phù hợp với lý luận và thực tiễn
Theo quan điểm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác Lênin mà chúng
ta đã trình bày ở phần trên, mỗi khi chính trị không phù hợp với kinh tế thìthay đổi về chính trị là điều kiện kiên quyết để thay đổi kinh tế thúc đẩy kinh
tế phát triển cho nên không thê quy nguyên nhân thất bại trong đổi mới ở LiênXô và các nớc xã hội chủ nghĩa Đông Âu là đổi mới chính trị trớc đổi mớikinh tế sau Nguyên nhân thực sự dẫn đến sụp đổ chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô
và Đông Âu là do mâu thuẫn giữa kinh tế và chính trị không đợc phát hiện vàkhắc phục sớm đã dẫn đến khủng hoảng nghiêm trọng về chính trị làm mất vaitrò của Đảng Cộng sản
Khẳng định rằng ở nớc ta đổi mới kinh tế trớc, đổi mới chính trị saucũng không phù hợp với thực tiễn Sự thật là phải có đờng lối đổi mới do Đảng
ta đề ra, trên cơ sở đó hình thành chính sách mới, luật pháp mới… với mong muốn tìm hiểu thêm những vấn đề của nền kinh tế, thì có thể
đổi mới kinh tế Bản thân đờng lối đổi mới của Đảng cùng với chính sách luậtpháp của nhà nớc đều thuộc về chính trị Vấn đề là ở chỗ: lĩnh vực chính trị làlĩnh vực hết sức phức tạp, liên quan đến quyền thống trị của giai cấp, nó có ýnghĩa quyết định thành bại của công cuộc đổi mới nên phải tiến hành đổi mớitừng bớc và hết sức thận trọng Đổi mới chính trị phải trên cơ sở đổi kinh tế,gắn liền với đổi mới kinh tế và đáp ứng yêu cầu của đổi mới kinh tế
Trang 14Tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (tháng 6/1991), Đảng ta đãkhẳng định:
“Về quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, phải tập trungsức làm tốt để đổi mới kinh tế , đáp ứng những đòi hỏi cấp bạch của nhân dân
về đời sống, việc làm và các nhu cầu xã hội khác, xây dựng cơ sở vật chất –
kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, coi đó là điều kiện quan trọng để tiến hànhthuận lợi đổi mới trong lĩnh vực chính trị Đồng thời với đổi mới cơ chế kinh
tế, phải từng bớc đổi mới tổ chức và phơng thức hoạt động của hệ thống chínhtrị, phát huy ngày càng tốt quyền làm chủ và năng lực sáng tạo của nhân dântrên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội Vì chính trị đụng chạm
đến các mối quan hệ đặc biệt phức tạp và nhạy cảm trong xã hội, nên việc đổimới trong hệ thống chính trị nhất thiết phải trên cơ sở nghiên cứu và chuẩn bịrất nghiêm túc, không cho phép gây mất ổn định chính trị dẫn đến sự rối loạn
Nhng không vì vậy mà tiến hành chậm trễ đổi mới chính trị nhất là về
tổ chức bộ máy và các bộ, mối quan hệ giữa Đảng, nhà nớc và các đoàn thểnhân dân, bởi đó là điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội và thực hiệndân chủ Điều đó cho thấy Đảng ta đã không tách rời đổi mới kinh tế với đổimới chính trị, mà gắn đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị Đảng ta đã khẳng
định rằng phải tập trung sức làm tốt đổi mới kinh tế và đồng thời với đổi mớikinh tế phải tiến từng bớc đổi mới chính trị, nhng phải thận trọng không gâymất ổn định về chính trị
T tởng trên đã đợc tiếp phát triển một cách rõ ràng hơn ở Đại hội đạibiểu toàn quốc lần thứ VIII (tháng 6/1999) của Đảng ta khi tổng kết các bàihọc của 10 năm đổi mới Đảng ta đã khẳng định phải “kết hợp chặt chẽ ngay
từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị” Đây là một cách khái quát mới,hoàn toàn khoa học nó vừa phù hợp với lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin vừaphù hợp với công cuộc đổi mới ở nớc ta
Trong khi đề ra đổi mới chính trị, Đảng ta luôn nhấn mạnh phải ổn địnhchính trị giữ vững và tăng cờng sự lãnh đạo của Đảng Điều này tởng nh làmột nghịch lý nhng lại hoàn toàn có lý và khoa học
ổn định về chính trị, nói một cách khái quát, là giai cấp cầm quyềnphải tăng cờng quyền lực chính trị của mình: nhà nớc của giai cấp đó phảimạnh và có hiệu lực luật pháp phải nghiêm minh; chế độ xã hội đã xác lậpphải đợc giữ vững Đối với nớc ta hiện nay, ổn định về chính trị thực chất làgiữ vững và tăng cờng vai trò lãnh đạo của Đảng, tăng cờng vai trò của nhà n-
ớc XHCN, bảo vệ và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội
Trang 15Thực tiễn trên thế giới cho thấy ổn định chính trị là điều kiện hết sức cơbản để phát triển kinh tế Nó tạo ta môi trờng để thu hút nguồn vốn đầu t trongnớc và trên thế giới, tạo điều kiện phát triển sản xuất kinh doanh Những thànhtựu 10 năm đổi mới vừa qua ở nớc ta cũng đã khẳng định điều đó Nhữngthành tựu đó không thể tách rời việc chúng ta giữ đợc việc ổn định về chínhtrị.
ổn định về chính trị lại không tách rời đổi mới về chính trị Nhng đổimới chính trị không phải là đổi mới vô nguyên tắc, mà đổi mới là để giữ vững
ổn định về chính trị , giữ vững và tăng cờng vai trò lãnh đạo của Đảng, vai trò
tổ chức quản lí nhà nớc xã hội chủ nghĩa Đổi mới chính trị lại phải gắn liềnvới đổi mới kinh tế, phù hợp với yêu cầu phát triển của kinh tế thì mới có thểtăng cờng đợc vai trò lãnh đạo của Đảng và vai trò tổ chức quản lí của nhà n -
ớc xã hội chủ nghĩa, và nhờ đó mới giữ vững đợc sự ổn định về chính trị.Song, đổi mới kinh tế cũng không phải là đổi mới một cách tuỳ tiện, mà theomột định hớng chính trị nhất định Đó chính là chuyển từ nền kinh tế kếhoạch hoá tập trung sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hànhtheo cơ chế thị trờng (hay nói một cách ngắn gọn đó là nền kinh tế thị trờngtheo định hớng xã hội chủ nghĩa) Chuyển sang nền kinh tế t11 theo định hớngxã hội chủ nghĩa là nhằm thực hiện mục tiêu “dân giàu, nớc mạnh, xã hộicông bằng và văn minh” Và đó cũng là cơ sở kinh tế cho sự ổn định về chínhtrị
Tóm lại: ổn định và đổi mới về chính trị là hai mặt đối lập nhng thốngnhất biện chứng với nhau Có ổn định thì mới có đổi mới và đổi mới là điềukiện để ổn định Hai mặt đó tác động qua lại với nhau và gắn bó chặt chẽ với
đổi mới kinh tế, trên nền tảng của đổi mới kinh tế
Nh vậy, chúng ta thấy trong quá trình đổi mới ở nớc ta, đổi mới kinh tế
và đổi mới chính trị luôn gắn bó chặt chẽ với nhau, thống nhất với nhau, trong
đó đổi mới kinh tế là trọng tâm, đổi mới chính trị phải tiến hành từng b ớc phùhợp với đổi mới kinh tế, đáp ứng yêu cầu đổi mới kinh tế
Điều khẳng định đó là sự khái quát kinh nghiệm 10 năm đổi mới vừaqua và kết quả của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác Lcnmmn vào điềukiện cụ thể ở Việt Nam Khái quát đó là hoàn toàn khoa học và nó có giá trị
định hớng cho giai đoạn phát triển tiếp theo – giai đoạn đẩy mạnh côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc
+Mâu thuẫn giữa lực lợng sản xuất – quan hệ sản xuất
Trang 16Trong công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiềuthành phần, vận hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lí của nhà nớc, theo
định hớng xã hội chủ nghĩa ở nớc ta hiện nay, vấn đề lực lợng sản xuất –quan
hệ sản xuất là một vấn đề hết sức phức tạp mâu thuẫn giữa hai lực lợng này lànhững biểu hiện của nó xét trên phơng diện triết học và chủ nghĩa Mác Lênin,theo đó lực lợng sản xuất là nội dung của sự vật còn quan hệ sản xuất là ýthức của sự vận động luôn luôn thay đổi Khi lực lợng sản xuất phát triển đếnmột trình độ nhất định thì quan hệ sản xuất cũng không còn phù hợp nữa, trởthành yếu tố kìm hãm lực lợng sản xuất để mở đờng cho lực lợng sản xuấtphát triển cần phải thay thế quan hệ sản xuất cũ bằng một quan hệ sản xuấtmới phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lợng sản xuất Chínhquan hệ sản xuất tự phát triển để phù hợp với lực lợng sản xuất, quan hệ sảnxuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của đó là quy luật kinh tếchung cho sự phát triển xã hội
Trong quá trình mâu thuẫn giữa lực lợng sản xuất tiên tiến với quan hệsản xuất lạc hậu kìm hãm nó diễn ra gay gắt và quyết liệt và cần đợc giảiquyết Nhng nền kinh tế mà cuộc chuyển sang nkt thị trờng ở nớc ta là một ví
dụ Khi một mục tiêu, một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng thể hiện rõ tính chất,cách mạng của công cuộc đổi mới hiện nay ở Việt Nam là phấn đấu xây dựngnớc ta trở thành quốc gia công nghiệp hoá, hiện đại hoá “dân giàu, nớc mạnh,xã hội công bằng và văn minh”
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc là chủ trơng biện pháp vừamang tính cách mạng vừa mang tính khoa học để xây dựng chủ nghĩa xã hội.Nói đến công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc chính là nói đến nền sản xuấttiên tiến và đó chính là lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất, nói đến khoahọc đến sự anh minh trí tuệ, là nói đến một phơng thức tối u để thoát khỏi tìnhtrạng sản xuất nhỏ, nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu, nhằm tạo điều kiện và cơ
sở vật chất cho CNXH đợc xây dựng và phát triển Không thể ăn đói, mặc ráchvới cái cuốc trên vai cộng thêm tấm lòng cộng sản để kiến thiết CNXH,chuyển sang nền kinh tế thị trờng Khẳng định cải mới đúng đắn từ bản thân
nó đã bao gồm ý nghĩa phủ định, gạt bỏ quan niệm cũ sai lầm về điều kiện vàcách thức xã hội chủ nghĩa xã hội ở nớc ta Trớc đây chúng ta đã tỏ ra thiếuquan tâm đúng mức đến vai trò của trí tuệ: khoa học, đến việc tạo lập cơ sởkinh tế, vật chất của xã CNXH Bằng chứng là một thời chúng ta đã coi trọngkhông đúng mức tầng lớp trí thức và khoa học trong môi trờng tơng quan với
đội ngũ những ngời lao động khác Do thế hậu quả và càng không thể nói đếncông nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc