Bên cạnh đó quản lý hoạt động khai thác than gắn liền với bảo vệ môi trường cũng chính là cơ hội cho các ngành liên quan đến sử dụng nguồn năng lượng này cũng như tỉnh Quảng Ninh và cả n
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-o0o -
ĐẶNG NGỌC SAN
Qu¶n lý khai th¸c than
vµ b¶o vÖ m«I tr-êng T¹i tØnh Qu¶ng Ninh
LuËn v¨n th¹c sÜ Qu¶n lý kinh tÕ
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH
Hà Nội - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-o0o -
ĐẶNG NGỌC SAN
Qu¶n lý khai th¸c than
vµ b¶o vÖ m«I tr-êng T¹i tØnh Qu¶ng Ninh
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Trang 3MỤC LỤC
Danh mục chữ viêt tăt i
Danh mục hình ii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ KHAI THÁC TÀI NGUYÊN GẮN VỚI BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 8
1.1 Một số khái niệm cơ bản về khai thác tài nguyên gắn với bảo vệ môi trường 8
1.1.1 Tài nguyên 8
1.1.2 Môi trường 9
1.1.3 Khai thác tài nguyên gắn với bảo vệ môi trường 10
1.2 Nội dung quản lý khai thác tài nguyên gắn với bảo vệ môi trường 11 1.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước 11
1.2.2 Chủ thể quản lý khai thác tài nguyên gắn với bảo vệ môi trường 11
1.2.3 Nội dung quản lý khai thác tài nguyên gắn với bảo vệ môi trường 12
1.2.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến khai thác tài nguyên gắn với bảo vệ môi trường 16
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ KHAI THÁC GẮN VỚI BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG KHAI THÁC THAN Ở QUẢNG NINH 22
2.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên – xã hội của Quảng Ninh 22
2.2 Thực trạng môi trường khai thác than 24
2.2.1 Tình hình chung 24
2.2.2 Thực trạng quản lý khai thác than gắn với bảo vệ môi trường 39
2.3 Đánh giá thực trạng quản lý khai thác than gắn với bảo vệ môi trường 50 2.3.1 Thành công 50
2.3.2 Hạn chế 53
2.3.3 Nguyên nhân 55
Trang 4Chương 3: NHỮNG GIẢI PHÁP VỀ QUẢN LÝ KHAI THÁC THAN
GẮN VỚI BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 57
3.1 Những quan điểm về quản lý khai thác than gắn với bảo vệ môi trường 57 3.1.1 Quan điểm kinh tế - tài nguyên môi trường 57
3.1.2 Khai thác tài nguyên không chỉ trên lĩnh vực kinh tế mà phải là phát triển bền vững 58
3.2 Những giải pháp nâng cao công tác quản lý 58
3.2.1 Giải pháp về nhân tố con người trong quản lý khai thác than và bảo vệ môi trường 58
3.2.2 Giải pháp về quản lý trong sự phối kết hợp giữa các cấp các ngành 59 3.2.3 Giải pháp về đổi mới công nghệ 62
3.2.4 Hoàn thiện hệ thống quản lý khai thác than gắn với bảo vệ môi trường 64 3.2.5 Giải pháp ngay cho những tồn tại về ô nhiễm 66
3.2.6 Giải pháp cho chiến lược lâu dài 71
KẾT LUẬN 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 6Danh mục hình
Nguyên lý cơ bản của hoạt động khai thác than-Đại học Mỏ địa chất-1992)
28
Nguyên lý cơ bản của hoạt động khai thác than-Đại học Mỏ địa chất-1992)
31
Nguyên lý cơ bản của hoạt động khai thác than-Đại học Mỏ địa chất-1992)
31
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1/ Tính cấp thiết
Khai thác tài nguyên là cần thiết và có ý nghĩa lớn đối với phát triển nhất là ở giai đoạn đầu của sự phát triển Tuy nhiên, khai thác, sử dụng tài nguyên không chỉ quan hệ với các nguồn lực kinh tế mà còn quan hệ với các cấu phần quyết định cấu thành nên môi trường sống
Bởi vậy, ở đây mối quan hệ giữa kinh tế và môi trường đã thành một quan hệ cơ bản chi phối đến sự tồn tại và phát triển Nó đang trở thành một đối tượng nghiên cứu trong quản lý
Thực tế phát triển của thế giới và của Việt Nam, việc khai thác tài nguyên đã dẫn đến sự suy kiệt và tổn thương nặng nề môi trường Sự tổn thương này đã làm giảm nghiêm trọng hiệu quả kinh tế trong việc khai thác,
sử dụng nguồn tài nguyên hôm nay Nghiêm trọng hơn, nó đã phá vỡ sự cân bằng môi trường và dẫn đến khủng hoảng môi trường
Trong nền kinh tế nước ta, khai thác than luôn giữ một vị trí rất quan trọng trong sự phát triển của toàn nên kinh tế vì là nguồn năng lượng đầu vào không thể thiếu cho những ngành kinh tế trọng điểm khác như cung cấp nhiên liệu cho hoạt động của các ngành công nghiệp Điện, Giấy, Xi măng, Thép, Phân bón… và đảm bảo an ninh năng lượng cho quốc gia
Các dự án và hoạt động khai thác mà ngành than thực hiện đều cần lượng vốn đầu tư lớn, hoạt động khai thác thì luôn được thực hiện trên qui
mô rộng, phải tác động trực tiếp và cả gián tiếp đến môi trường tự nhiên và môi trường xã hội Những tác động xấu từ ô nhiễm môi trường do khai thác
là không thể tránh khỏi và nếu không có một phương pháp quản lý dựa trên một kế hoạch, một chiến lược và một tầm nhìn cụ thể thì những hậu quả do
ô nhiễm môi trường gây ra là không thể khắc phục được Trong hoạt động khai thác than, việc quản lý hoạt động khai thác gắn với bảo vệ môi trường
Trang 8là những nội chính trong chiến lược quản lý từ trung ương đến các địa phương và đặc biệt là tỉnh Quảng Ninh nơi có trữ lượng và hoạt động khai thác lớn nhất cả nước, nhằm đảm bảo cho sự phát triển chung của toàn nền kinh tế Bên cạnh đó quản lý hoạt động khai thác than gắn liền với bảo vệ môi trường cũng chính là cơ hội cho các ngành liên quan đến sử dụng nguồn năng lượng này cũng như tỉnh Quảng Ninh và cả nước cùng phát triển trên tất cả các mặt kinh tế, xã hội, môi trường và an ninh năng lượng
Xét trên mặt tổng thể, hoạt động khai thác than luôn có những nguy cơ trực tiếp và nguy cơ tiềm ẩn về suy thoái môi trường Chỉ nêu ra một số đặc điểm cơ bản về suy thoái môi trường mà tỉnh Quảng Ninh đang phải gánh chịu trong hoạt động khai thác than thì bên cạnh những thành quả đạt được trên lĩnh vực kinh tế thì mặt trái của nó là những suy thoái về môi trường tự nhiên, môi trường sống dẫn đến những tác động xấu cho sức khỏe con người
và biểu hiện rõ nhất đó là ô nhiễm bụi, ô nhiễm khí độc, ô nhiễm tiếng ồn, ô nhiễm nước thải mỏ, ô nhiễm chất thải rắn, ô nhiễm đất, ô nhiễm biển…
Từ những cơ sở thực tế như đã nêu như trên, chúng ta cần phải làm
gì, làm như thế nào để tạo lập mối quan hệ hài hoà giữa lợi ích kinh tế trong việc khai thác than tại tỉnh Quảng Ninh và bảo vệ môi trường đã trở thành câu hỏi lớn và là nội dung nghiên cứu chính của đề tài Nghiên cứu phương pháp quản lý, một phương pháp dựa trên cơ sở pháp lý và cơ sở khoa học cũng như tăng cường công tác giáo dục, truyền thông đang là vấn đề cấp thiết cho các nhà quản lý từ tầm vi mô đến tầm vĩ mô nhằm kiểm soát hoạt động khai thác than và bảo vệ môi trường, giảm thất thoát tài nguyên, giảm thiểu ô nhiễm môi trường và hơn thế nữa cần phải có thêm nghiên cứu về một phương pháp quản lý kinh tế môi trường cho hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản nói chung và tài nguyên than nói riêng, một cơ chế quản
lý kinh tế môi trường chuẩn mực, cụ thể trên góc độ tổn thất tài nguyên
Trang 9khoỏng sản, chi phớ và thu nhập liờn quan đến mụi trường của hoạt động khai thỏc chớnh là đỏp ỏn cho việc giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa khai thỏc than và bảo vệ mụi trường
2/ Tỡnh hỡnh nghiờn cứu
Luận văn được nghiờn cứu trong khoảng thời gian kể từ khi thành lập ngành khai thỏc than cho đến nay và phương phỏp quản lý cũng như hành lang phỏp lý cho chiến lược phỏt triển bền vững ngành khai thỏc than – khoỏng sản đến năm 2030 Trong giai đoạn này cũng đó cú rất nhiều cụng trỡnh khoa học cũng như cỏc đề tài nghiờn cứu về vấn đề khai thỏc than và
bảo vệ mụi trường như:
1 Đề tài “Nhân tố con ng-ời trong quản lý nhà n-ớc đối với tài nguyên môi trường” Của tác giả Lê Thị Thanh H-ơng (2006), NXB Khoa học xã hội Nội dung của đề tài là tập trung vào nghiên cứu sự tỏc động đến mụi trường từ nhân tố con ng-ời trên góc độ quản lý các hoạt động kinh tế xã hội, trong đó có các hoạt động khai thác khoáng sản
2 Đề tài “Khai thác, chế biến than gắn với bảo vệ môi trường” Của PGS.TS Nguyễn Cảnh Nam - Tập đoàn CN Than khoỏng sản VN – 2013
Đề tài đó tập trung nghiên cứu, phân tích và xõy dựng mụ hỡnh bố trớ cỏc khu cụng nghiệp khai thác than, đặc biệt là cỏc tuyến đường vận chuyển than từ nơi khai thỏc đến cỏc nơi tập kết sao cho ụ nhiễm bụi, tiếng ồn
khụng ảnh hưởng đến đời sống người dõn
3 Đề tài "Phỏt triển bền vững và bảo vệ mụi trường khai thỏc khoỏng sản" của TS Vừ Kim Chi-Giảng viờn ĐHKHXH & NV, ĐHQGTPHCM Đề tài đó làm rừ hoạt động khai thỏc khoỏng sản phải dựa trờn nền tàng của sự phỏt triển bền vững như kinh tế phỏt triển đồng hành với đời sống xó hội và mụi trường tự nhiờn cựng phỏt triển khụng được đỏnh đổi một trong những điều kiện trờn
Trang 10than-4 Đề tài "Bàn về giải phỏp khai thỏc than và bảo vệ mụi trường tại Quảng Ninh" của PGS.TS Nguyễn Cảnh Nam - Tập đoàn Cụng nghiệp
Than khoỏng sản Việt Nam - 2006 Đề tài đó đi sõu vào việc phải xõy dựng
một cơ chế quản lý, một cơ chế chớnh sỏch cho hoạt động khai thỏc than để cho những hoạt động khai thỏc luụn nằm trong tầm kiểm soỏt của cỏc nhà quản lý Khụng cho cỏc hoạt động khai thỏc trộm phỏt triển và mụi trường
khụng bị hủy hoại nhanh chúng do cỏc hoạt động này gõy ra
5 Đề tài "Chuyển húa và sử dụng than" Của TS Trần Kim Tiến và
TS Lờ Thị Thu Hà - 2008 Đề tài đó đi sõu nghiờn cứu cỏch chuyển húa và
sử dụng nguồn tài nguyờn thật tiết kiệm, khụng gõy lóng phớ tài nguyờn, giảm thiểu tối đa sự tiờu thụ nguồn tài nguyờn than của xó hội gúp phần bảo
vệ mụi trường tự nhiờn
6 Đề tài “Một số vấn đề bảo vệ môi tr-ờng với phát triển kinh tế ở
nước ta hiện nay” Của tác giả Nguyễn Văn Ngừng (2004), NXB Chính
trị quốc gia Đề tài đó phõn tớch một thực trạng về môi tr-ờng trong xu thế phát triển kinh tế xã hội với khai thác, sử dụng và bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên
7 Đề tài "Sản xuất than hướng đến ngành cụng nghiệp xanh" của PGS.TS Nguyễn Cảnh Nam - Tập đoàn CN Than khoỏng sản VN - 2013
Đề tài đó nghiờn cứu để ỏp dụng cỏc cụng nghệ tiờn tiến của thế giới vào ngành khai thỏc than tại Việt Nam sao cho phự hợp Bờn cạnh đú cũng hướng ngành cụng nghiệp này phỏt triển theo hướng thõn thiện mụi trường
Trờn đõy là một số đề tài trong số rất nhiều đề tài nghiờn cứu về khai thỏc than và bảo vệ mụi trường trong những năm gần đõy Điểm nổi bật của cỏc đề tài này là đó phõn tớch rất rừ những thành tựu từ hoạt động khai thỏc than và những cụng tỏc bảo vệ mụi trường đang thực hiện, những hạn chế
Trang 11và những thiệt hại cho môi trường từ hoạt động này gây ra cũng như những giải pháp để khắc phục tình trạng này
Nhưng một thực tế vẫn còn tồn tại đó là ô nhiễm môi trường tại khu vực khai thác vẫn ngày một xấu đi Công tác quản lý, khắc phục và bảo vệ môi trường vẫn chưa thực sự hiệu quả cho dù xét trên một số chỉ tiêu so với trước đây thì đã có chuyển biến Bên cạnh đó một cơ chế quản lý kinh tế môi trường cụ thể cho hoạt động khai thác gắn với bảo vệ môi trường vẫn chưa được làm rõ Cụ thể, như ngoài những công cụ quản lý là hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách trong đó có thuế, phí tài nguyên, quĩ môi trường… thì cần phải xây dựng một cơ chế quản lý tổng mức chi phí tài nguyên than, phù hợp với mức độ tổn thất tài nguyên, mức độ ô nhiễm môi trường, chi phí liên quan tới hoạt động bảo vệ môi trường của tỉnh Quảng Ninh và phải nằm trong giá thành sản phẩm để toàn xã hội cùng chung sức
và có trách nhiệm bảo tồn, khắc phục những suy thoái môi trường do khai thác than gây ra
3/ Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là mối quan hệ giữa Quản lý khai thác than và bảo vệ môi trường tại tỉnh Quảng Ninh trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước
Cụ thể là nghiên cứu, phân tích, đánh giá về thực trạng hoạt động khai thác than đang diễn ra tại Quảng Ninh, những tác động xấu đến môi trường sinh thái và mức độ ô nhiễm của môi trường sinh thái do khai thác than gây ra
Bên cạnh đó là đưa ra những giải pháp về thực trạng công tác quản lý hoạt động khai thác than trong mối quan hệ với bảo vệ môi trường của ba cấp là cấp nhà nước, cấp địa phương (tỉnh Quảng Ninh) và cấp ngành (Tập đoàn công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam)
Trang 124/ Mục tiờu, nhiệm vụ nghiờn cứu
Mục tiờu: Phân tích, đỏnh giỏ thực trạng hoạt động quản lý việc khai thỏc than tại Quảng Ninh trong mối quan hệ với bảo vệ mụi trường và đ-a
ra những giải pháp cụ thể về công tác quản lý thớch hợp nhằm nõng cao hiệu quả khai thỏc và bảo vệ mụi trường
Nhiệm vụ: Làm rừ cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý lĩnh vực khai thỏc than, trong mục tiờu nõng cao hiệu quả khai thỏc than và bảo vệ mụi trường
Làm rừ thực trạng khai thỏc than, thực trạng mụi trường và hoạt động quản lý khai thỏc than trong quan hệ với việc bảo vệ mụi trường
Những vấn đề đặt ra trong hoạt động quản lý khai thỏc than và bảo vệ mụi trường
Đề xuất những giải phỏp tăng cường và nõng cao năng lực quản lý khai thỏc than và bảo vệ mụi trường
5/ Phương phỏp nghiờn cứu
Vận dụng cỏc phương phỏp chuyờn mụn như: Lý thuyết hệ thống, phương phỏp khảo sỏt, thống kờ, phõn tớch lụ gớc, phõn tớch định lượng, so sỏnh, phõn tớch cỏc tài liệu cú liờn quan đến hoạt động khai thỏc than và bảo
vệ mụi trường tại tỉnh Quảng Ninh, cỏc bài bỏo, cỏc tỏc phẩm nghiờn cứu của cỏc nhà khoa học trong nước, nước ngoài đó được cụng bố, tham khảo cỏc chuyờn gia, …
6/ Những đúng gúp của luận văn
Nội dung chớnh của luận văn là gúp phần làm rừ mối quan hệ giữa Kinh tế và Mụi trường, giữa khai thỏc than và bảo vệ mụi trường tại tỉnh Quảng Ninh Bờn cạnh đú luận văn cũng đề ra những giải phỏp để giải quyết mối quan hệ này theo hướng phỏt triển bền vững
Trang 13Luận văn cũng làm rõ thêm vai trò của Quản lý trong việc giải quyết những mâu thuẫn, xung đột giữa khai thác than và bảo vệ môi trường ở tỉnh Quảng Ninh cũng như những giải pháp để giải quyết về vấn đề này
7/ Kết cấu luận văn
+ Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo
+ Chương 1: Những cơ sở Lý luận - Thực tiễn của Quản lý khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường
+ Chương 2: Thực trạng Quản lý khai thác và bảo vệ tài nguyên môi trường trong hoạt động khai thác than ở Quảng Ninh
+ Chương 3: Những giải pháp nâng cao năng lực quản lý hoạt động khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường
+ Danh mục tài liệu tham khảo
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ
KHAI THÁC TÀI NGUYÊN GẮN VỚI BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
1.1 Một số khái niệm cơ bản về khai thác tài nguyên gắn với bảo vệ môi trường
* Những khái niệm
1.1.1 Tài nguyên
* Tài nguyên
“Tài nguyên là tất cả các dạng vật chất, tri thức được sử dụng để tạo
ra của cải vật chất hoặc tạo ra giá trị sử dụng mới của con người” [12,tr15] Tài nguyên bao gồm: Tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên xã hội tài nguyên tái tạo, tài nguyên không tái tạo, tài nguyên nước, tài nguyên đất, tài nguyên rừng, tài nguyên biển, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên năng lượng, tài nguyên khí hậu cảnh quan
Khoáng sản được hiểu bao gồm các tài nguyên trong lòng đất, trên mặt đất dưới dạng những tích tụ tự nhiên khoáng vật, khoáng chất có ích ở thể rắn, thể lỏng, thể khí, hiện tại hoặc sau này có thể khai thác Khoáng vật, khoáng chất ở bãi thải của mỏ mà sau này có thể được khai thác lại, cũng là khoáng sản
Trang 15Và văn bản pháp luật gần đây nhất là Luật khoáng sản 2010 được Quốc hội thông qua ngảy 17 tháng 11 năm 2010 cũng một lần nữa khẳng định lại “Khoáng sản là khoáng vật, khoáng chất có ích được tích tụ tự nhiên ở thể rắn, thể lỏng, thể khí tồn tại trong lòng đất, trên mặt, bao gồm cả khoáng vật, khoáng chất ở bãi thải của mỏ”[7,tr.8]
1.1.2 Môi trường
* Môi trường
“Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, làm cơ sở tồn tại của con người và có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất và phát triển của con người” [8,tr.1] Thành phần môi trường
là các yếu tố vật chất tự nhiên tạo thành môi trường như đất, nước, không khí, ánh sáng, sinh vật, hệ sinh thái và các hình thái vật chất khác
* Ô nhiễm và tổn thương môi trường
Ô nhiễm môi trường là tình trạng môi trường bị ô nhiễm bởi các chất hóa học, sinh học, bức xạ, tiếng ồn, bụi gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người và các cơ thể sống khác Ô nhiễm môi trường xảy ra do nhiều yếu tố trong đó có yếu tố sản xuất, các hoạt động kinh tế và hoạt động xã hội Ô nhiễm môi trường thường thể hiện qua các hình thái như ô nhiễm đất, ô nhiễm nước và ô nhiễm không khí “Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật” [8,tr.1]
* Bảo vệ môi trường
“Là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp, phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường, khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường, khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học” [8,tr.1]
Trang 16Bảo vệ môi trường được hiểu là bao gồm những hoạt động, những việc làm trực tiếp, tạo điều kiện giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp, cải thiện điều kiện vật chất, cải thiện điều kiện sống của con người, sinh vật
ở trong đó, làm sức sống tốt hơn, duy trì cân bằng sinh thái, tăng đa dạng sinh học Bảo vệ môi trường gồm hệ thống pháp luật, các chính sách chủ trương, các chỉ thị… nhằm ngăn chặn hậu quả xấu từ tác động của con người đối với môi trường, các sự cố môi trường do con người và thiên nhiên gây ra Bảo vệ môi trường bao hàm cả ý nghĩa khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên
1.1.3 Khai thác tài nguyên gắn với bảo vệ môi trường
Khai thác tài nguyên gắn với bảo vệ môi trường là áp dụng một cơ chế vận hành tức là cơ chế quản lý như hệ thống pháp luật, chính sách, biện pháp tổ chức, tâm lý xã hội để đạt được mục tiêu bảo vệ môi trường trong quá trình khai thác tài nguyên
* Nhân tố quyết định đến nguồn lực quản lý khai thác than và bảo vệ môi trường
Nhân tố quan trọng và có tính quyết định chính là con người Do đó
để quản lý và sử dụng tối đa hiệu quả các nguồn lực thì cần phải xây dựng
và hoàn thiện cơ chế chính sách phù hợp trong lĩnh vực quản lý hoạt động khai thác than nhằm điều kiện đầy đủ cho con người thực hiện
Trang 17Bên cạnh đó cũng cần nõng cao chất lượng của đội ngũ làm cụng tỏc quản lý, cỏc doanh nghiệp khai thỏc và toàn dõn bằng cỏc phương phỏp như giỏo dục tư tưởng chớnh trị, trỡnh độ chuyờn mụn, ý thức nghề nghiệp để đỏp ứng được những yờu cầu chung của toàn xã hội về quản lý hoạt động khai thác than và bảo vệ môi tr-ờng
1.2 Nội dung quản lý khai thỏc tài nguyờn gắn với bảo vệ mụi trường
1.2.1 Khỏi niệm quản lý nhà nước
Quản lý Nhà nước là sự tỏc động cú tổ chức và bằng quyền lực của Nhà nước lờn đối tượng quản lý để phối hợp sử dụng cú hiệu quả nhất cỏc nguồn lực nhằm thực hiện mục tiờu đất nước đặt ra trong điều kiện mụi trường biến đổi
Quản lý Nhà nước sẽ thực hiện bốn chức năng cơ bản sau:
- Chức năng hoạch định
- Chức năng tổ chức
- Chức năng lónh đạo
- Chức năng kiểm tra
1.2.2 Chủ thể quản lý khai thỏc tài nguyờn gắn với bảo vệ mụi trường
Chủ thể quản lý là chớnh phủ và giao cho hai bộ trực tiếp quản lý là
Bộ Tài nguyờn và Mụi trường (Vụ Phỏp chế, Vụ Khoa học - Cụng nghệ),
Bộ Cụng Thương (Vụ Cụng nghiệp nặng),
Chủ thể quản lý thực hiện cụng tỏc hướng dẫn, theo dừi, kiểm tra và điều hành việc thực hiện cơ chế chớnh sỏch của nhà nước về hoạt động khai thỏc tài nguyờn gắn với bảo vệ mụi trường, việc chấp hành phỏp luật trong quỏ trỡnh khai thỏc”
Chủ động xử lý và bỏo cỏo Chớnh phủ, cỏc cơ quan liờn quan để kịp thời xử lý những vướng mắc nẩy sinh vượt quỏ thẩm quyền “Xõy dựng và
đề xuất lờn Chớnh phủ những giải phỏp, những kế hoạch, những chiến lược
Trang 18và tầm nhìn khoa học cho việc phát triển hoạt động khai thác tài nguyên quốc gia gắn với bảo vệ môi trường sinh thái tự nhiên” [19]
1.2.3 Nội dung quản lý khai thác tài nguyên gắn với bảo vệ môi trường 1.2.3.1 Xây dựng và hoạch định cơ chế quản lý về khai thác tài nguyên gắn với bảo vệ môi trường
Cần tiếp tục nghiên cứu xây dựng một cơ chế quản lý cấp nhà nước trên cơ sở luật pháp về khai thác khoáng sản gắn với bảo vệ môi trường do suy thoái môi trường từ hoạt động khai thác gây ra Đây là một nội dung quan trọng nhất trong công tác quản lý khai thác tài nguyên gắn với bảo vệ môi trường thông qua các mục tiêu, các phương hướng và việc triển khai các nguồn lực để thực hiện
Không riêng gì Việt Nam mà ở hầu hết các nước trên thế giới đã có một thời gian rất dài nhất là sau cuộc cách mạng công nghiệp, việc phát triển kinh tế bằng con đường khai thác tài nguyên được đặt lên hàng đầu, lấn át tất cả những yếu tố khác của sự phát triển đặc biệt là yếu tố môi trường Phát triển khai thác tài nguyên tự phát đã trở nên phổ biến và gây ra hậu quả hết sức tai hại cho cả môi trường khoáng sản tự nhiên lẫn môi trường xã hội, văn hoá
Ngay cả trong thời điểm hiện tại, khi mà cuộc chạy đua phát triển giữa các quốc gia, giữa các khu vực kinh tế của thế giới đang diễn ra gay gắt, trong bối cảnh đó người ta dễ có khuynh hướng công khai hoặc bí mật
hi sinh môi trường cho phát triển kinh tế Hậu quả là môi trường khoáng sản
tự nhiên cạn kiệt và suy thoái môi trường trầm trọng làm cho cơ sở phát triển kinh tế bị thu hẹp Tài nguyên của môi trường bị giảm sút về số lượng
và chất lượng Thậm trí trong những năm gần đây, con người đã phải chứng kiến “sự phản kháng tức giận” [12,tr57] của môi trường tự nhiên cho đời sống con người như lũ lụt, hạn hán, sụt lở đất, động đất, nước biển dâng,
Trang 19bão từ…Tất cả đều do hoạt động khai thác tài nguyên ở mức độ hủy diệt của con người gây ra và chịu hậu quả cũng chính là con người
1.2.3.2 Tổ chức thực hiện cơ chế quản lý về khai thác tài nguyên gắn với bảo vệ môi trường
Để tổ chức thực hiện được cơ chế quản lý về khai thác tài nguyên gắn với bảo vệ môi trường cần thiết lập một cơ chế tổ chức phù hợp với các mục tiêu trong công tác quản lý như xác định rõ chức năng, nhiệm vụ quyền hạn giữa các cấp quản lý, giữa ngành khai thác khoáng sản với địa phương
và thiết lập mối quan hệ trong khuôn khổ pháp lý được nhà nước qui định
“Trong phạm vi một quốc gia, cũng như trên toàn thế giới, luôn luôn tồn tại hai hệ thống: Hệ thống kinh tế - xã hội và Hệ thống môi trường” [12,tr98] Hệ thống kinh tế - xã hội cấu thành bởi các khâu sản xuất, lưu thông phân phối, tiêu thụ, tạo nên một dòng luân chuyển nguyên liệu, năng lượng, hàng hóa, phế thải giữa các phần tử của hệ thống Hệ thống môi trường với các thành phần thiên nhiên và xã hội cùng tồn tại trên một địa bàn với hệ thống kinh tế - xã hội Mối quan hệ này hay mâu thuẫn và đều được biểu hiện rất rõ ràng
Hệ thống kinh tế lấy nguyên liệu, năng lượng từ hệ thống môi trường Đây là một chức năng của môi trường cung cấp nguyên, nhiên liệu cho cuộc sống con người Nếu vì phát triển kinh tế mà khai thác cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên không tái tạo được hoặc khai thác quá khả năng phục hồi đối với tài nguyên tái tạo được thì sẽ dẫn tới không còn nguyên liệu, năng lượng, từ đó phải đình chỉ sản xuất, giảm sút hoặc triệt tiêu hệ thống kinh
tế Điều đó có nghĩa bất cứ một sự biến đổi nào của môi trường cũng kéo theo sự biến đổi của kinh tế
Chất thải từ khai thác tài nguyên là thứ mà con người thải ra môi trường nhiều nhất, hầu hết các chất thải đều độc hại đối với sức khỏe con
Trang 20người và môi trường sinh thái, những tác động xấu đến không khí, nước, đất, các nhân tố môi trường và tài nguyên thiên nhiên khác Những chất độc hại đó làm tổn hại chất lượng môi trường khiến cho hệ thống kinh tế không thể hoạt động một cách bình thường được thậm chí là diệt vong
1.2.3.3 Lãnh đạo thực hiện cơ chế quản lý khai thác tài nguyên gắn với bảo
vệ môi trường
Việc nhất quán trong công tác lãnh đạo giữa các cấp các ngành trong thực hiện cơ chế quản lý khai thác tài nguyên gắn với bảo vệ môi trường là rất quan trọng vì đây là nội dung quyết định sự thành công hay thất bại một
cơ chế quản lý
Để cho sự phát triển đất nước được bền vững, việc quản lý phát triển kinh tế bằng khai thác tài nguyên đòi hỏi phải có tính toán, phải căn cứ vào tình hình tài nguyên và trình độ phát triển của đất nước mà định ra chiến lược chung của quốc gia Môi trường và phát triển kinh tế - xã hội có mối quan hệ khăng khít bền chặt và bao hàm cả mâu thuẫn gay gắt Vấn đề quan trọng là phải giải quyết được mâu thuẫn đó qua điều hành cơ chế quản lý một cách hợp lý và hiệu quả nhất
Phát triển kinh tế bằng khai thác tài nguyên gắn với bảo vệ môi trường không nên nhìn nhận là hai vấn đề đối kháng và mâu thuẫn nhau theo kiểu loại trừ mà nó phải được nhìn nhận qua phân tích, nghiên cứu trên góc độ bổ sung, hỗ trợ với nhau, dựa vào nhau thông qua sự vận hành cơ chế quản lý Phát triển kinh tế bắt buộc phải gắn với bảo vệ môi trường đó mới chính là nội dung cơ bản của hiệu quả trong quản lý
Trong những năm đầu của thế kỷ XX khi mà ô nhiễm môi trường và nguy cơ khủng hoảng sinh thái môi trường đã trở nên trầm trọng, vấn đề phát triển kinh tế bằng khai thác tài nguyên gắn với bảo vệ môi trường đã trở thành đối tượng nghiên cứu cấp bách của thế giới Cụ thể như vào
Trang 21những năm 1990 của thế kỷ XX, nhiều nghiên cứu đã không dừng lại ở vấn
đề tài nguyên môi trường đơn thuần và mang tính cục bộ Tính gắn kết của
sự phát triển kinh tế trong khai thác tài nguyên và môi trường đã được xem xét, nghiên cứu ở những nguyên nhân sâu xa trong phương thức sản xuất phát triển kinh tế, trong vấn đề xã hội của sự phát triển và ở tầm toàn cầu
Đến năm 2002, Hội nghị thượng đỉnh của Liên hợp quốc về môi trường và phát triển kinh tế đã được các nước trên thế giới thống nhất xác định đó là cùng chung tay bảo vệ môi trường, gắn kết hoạt động khai thác
và sử dụng hiệu quả tài nguyên với bảo vệ môi trường tự nhiên, bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường sống trong lành, an toàn Bảo đảm mối quan hệ hài hoà giữa con người, xã hội và môi trường tự nhiên Đây chính
là nội dung nền tảng mà toàn thế giới luôn hướng tới và thực thi nó
Còn với nước ta, hoạt động khai thác tài nguyên và cụ thể là khai thác than gắn với bảo vệ môi trường từ lâu đã được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm và đề ra tầm nhìn, chiến lược và kế hoạch cụ thể với các nội dung sau:
“Hoạt động khai thác than phải trên cơ sở khai thác, chế biến, sử dụng tiết kiệm nguồn tài nguyên than của đất nước, nhằm phục vụ nhu cầu trong nước là chủ yếu” [1,tr5] Do vậy hoạt động khai thác than phải đóng góp tích cực, hiệu quả vào việc bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia và gắn với bảo vệ môi trường tự nhiên Đáp ứng tối đa nhu cầu than phục vụ
sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Bảo đảm việc xuất, nhập khẩu hợp lý theo hướng giảm dần xuất khẩu và chỉ xuất khẩu các chủng loại than trong nước chưa có nhu cầu sử dụng thông qua biện pháp quản lý bằng
kế hoạch và các biện pháp điều tiết khác phù hợp với cơ chế thị trường có
sự quản lý của Nhà nước và các cam kết quốc tế của Việt Nam
Trang 22Phát triển ngành than phải theo hướng bền vững, hiệu quả, đồng bộ, phù hợp với sự phát triển chung của các ngành kinh tế khác Phát huy tối đa nội lực (vốn, khả năng thiết kế, chế tạo thiết bị trong nước v.v…) Kết hợp
mở rộng hợp tác quốc tế, trước hết trong lĩnh vực nghiên cứu, triển khai, ứng dụng công nghệ tiến bộ trong thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng than Đầu tư thỏa đáng cho công tác bảo vệ môi trường, an toàn lao động, quản trị tài nguyên, quản trị rủi ro trong khai thác than
1.2.3.4 Kiểm tra việc thực hiện cơ chế quản lý khai thác tài nguyên gắn với bảo vệ môi trường
Trong quản lý khai thác tài nguyên gắn với bảo vệ môi trường không thể bỏ qua công tác kiểm tra giám sát Mục đích chính là xác định tính đúng hướng của công tác quản lý, kịp thời phát hiện ra các sai phạm trong quản
lý khai thác, tìm ra nguyên nhân để đưa ra các xử lý, điều chỉnh
Để khai thác gắn được với bảo vệ môi trường cần đẩy mạnh các hoạt động kiểm tra, điều tra cơ bản về quản lý khai thác đến hoạt động khai thác
đã chấp hành đúng các qui định về bảo vệ môi trương hay chưa Hoạt động thăm dò, đánh giá tác động môi trường có được thực hiện đúng không 1.2.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến khai thác tài nguyên gắn với bảo vệ môi trường
1.2.4.1 Trên góc độ quốc gia
* Kinh tế
Quản lý hoạt động khai thác tài nguyên gắn với bảo vệ môi trường được hình thành trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường và thực hiện điều tiết xã hội thông qua các công cụ kinh tế
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động phát triển và sản xuất của cải vật chất diễn ra dưới sức ép của sự trao đổi hàng hoá theo qui luật giá trị Loại hàng hoá có chất lượng tốt và giá thành rẻ sẽ được tiêu thụ nhanh
Trang 23Trong khi đó, loại hàng hoá kém chất lượng và đắt sẽ không có chỗ đứng
Vì vậy, dựa vào qui luật khách quan đó, chúng ta có thể chủ quan dùng các phương pháp và công cụ kinh tế để đánh giá và định hướng hoạt động quản
lý khai thác tài nguyên gắn được với bảo vệ môi trường
* Pháp luật
Cơ sở luật pháp của quản lý hoạt động khai thác tài nguyên gắn với bảo vệ môi trường là các văn bản của luật quốc tế và luật quốc gia về lĩnh vực khai thác và bảo vệ môi trường
Luật quốc tế về môi trường là tổng thể các nguyên tắc, quy phạm quốc tế điều chỉnh mối quan hệ giữa các quốc gia, giữa quốc gia và tổ chức quốc tế trong việc ngăn chặn, loại trừ thiệt hại gây ra cho môi trường của từng quốc gia và môi trường ngoài phạm vi tàn phá quốc gia Các văn bản luật quốc tế về môi trường được hình thành một cách chính thức từ thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, giữa các quốc gia châu Âu, châu Mỹ, châu Phi Từ hội nghị quốc tế về "Môi trường con người" [13,tr.12] tổ chức năm 1972 tại Thuỵ Ðiển và sau Hội nghị thượng đỉnh Rio de janero 1992 có rất nhiều văn bản về luật quốc tế được soạn thảo và ký kết Cho đến nay đã có hàng nghìn các văn bản luật quốc tế về môi trường, trong đó nhiều văn bản đã được chính phủ Việt Nam tham gia ký kết
Trong phạm vi quốc gia, vấn đề khai thác tài nguyên gắn với bảo vệ môi trường được đề cập trong nhiều bộ luật, trong đó Luật Bảo vệ Môi trường đầu tiên được quốc hội nước Việt Nam thông qua ngày 27/12/1993
là văn bản quan trọng nhất Chính phủ đã ban hành Nghị định 175/CP ngày 18/10/1994 về hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ Môi trường và Nghị định 26/CP ngày 26/4/1996 về Xử phạt vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường Bộ Luật hình sự, hàng loạt các thông tư, quy định, quyết định của các ngành chức năng về thực hiện luật môi trường đã được ban hành Một
Trang 24số tiêu chuẩn môi trường chủ yếu được soạn thảo và thông qua Nhiều khía cạnh bảo vệ môi trường được đề cập trong các văn bản khác như Luật Khoáng sản, Luật Dầu khí, Luật Hàng hải, Luật Lao động, Luật Ðất đai, Luật Phát triển và Bảo vệ rừng, Luật Bảo vệ sức khoẻ của nhân dân, Pháp lệnh về đê điều, Pháp lệnh về việc bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, Pháp luật bảo
vệ các công trình giao thông
Trong quá trình thực hiện, cho đến nay Luật Bảo vệ Môi trường đã nhiều lần được sửa đôi cho phù hợp thực tiễn và gần đây nhất là Luật Bảo
vệ Môi trường sửa đổi năm 2010 Cùng với luật là các pháp lệnh và các văn bản hướng dẫn thực hiện Căn cứ các văn bản của luật pháp quốc tế đã được nhà nước Việt Nam phê duyệt và hệ thông pháp luật Việt Nam làm cơ sở quan trọng cho việc thực hiện công tác quản lý nhà nước về khai thác than
Trang 25thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát triển bền vững kinh tế - xã hội – môi trường quốc gia Các nguyên tắc quản
lý hoạt động khai thác gắn với bảo vệ môi trường, các công cụ thực hiện việc giám sát chất lượng môi trường, các phương pháp xử lý môi trường bị
ô nhiễm được xây dựng trên cơ sở sự hình thành và phát triển ngành khoa học môi trường
Bên cạnh đó, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học về môi trường, phát triển và ứng dụng công nghệ cao trong bảo vệ môi trường, phát huy vai trò của khoa học và công nghệ trong việc thúc đẩy, nâng cao chất lượng và hiệu quả của nền kinh tế, thúc đẩy quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế xanh
Phát triển, tiếp nhận chuyển giao công nghệ mới, tiên tiến về phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm, khai thác, sử dụng hiệu quả và bền vững nguồn tài nguyên than đá Bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học, tiết kiệm năng lượng, sản xuất và sử dụng năng lượng sạch, tái tạo Đẩy nhanh tiến độ đổi mới công nghệ sản xuất, công nghệ xây dựng, công nghệ khai thác theo hướng ứng dụng công nghệ sản xuất, xây dựng và công nghệ khai thác tiêu tốn ít nguyên, nhiên liệu, năng lượng, ít chất thải, các-bon thấp
1.2.4.2 Trên góc độ ngành than
* Yếu tố khách quan
Là các yếu tố thuộc môi trường khai thác, sản xuất, kinh doanh, có tác động trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt động khai thác mà tự bản thân ngành than không tự điều chỉnh thay đổi được Nói đến ngành khai thác khoáng sản nói chung và khai thác than nói riêng là nói đến một ngành sản xuất nặng nhọc, vất vả, chịu sự tác động rất lớn của điều kiện bên ngoài Các nhân tố khách quan tác động lớn đến hoạt động khai thác gồm:
Giá cả thị trường là việc biến động giá cả đầu vào của nguyên, nhiên vật liệu trên thị trường tác động trực tiếp đến chi phí sản xuất và làm tăng (giảm) hoạt động khai thác
Trang 26Nhu cầu thị trường là nhu cầu càng cao,hoạt động khai thác càng lớn
và ngược lại
Đối với hoạt động khai thác than, trình độ công nghệ, năng lực thiết
bị, điều kiện khoáng sản hiện có là yếu tố quan trọng
Điều kiện địa lý, địa chất trong khai thác mỏ cũng chịu ảnh hưởng và
bị phụ thuộc rất nhiều Nó quyết định việc lựa chọn phương án khai thác, công nghệ sản xuất và quyết định rất lớn đến sản lượng sản xuất
Giá thành khai thác than và các yếu tố liên quan giá thành như hệ số bóc đất đá lộ thiên (m3 đất/tấn than nguyên khai), hệ số đào lò (mét lò chuẩn bị sản xuất/tấn than nguyên khai), tỷ lệ tổn thất than khai thác (%), tỷ
lệ đất đá nổ mỏ lộ thiên (%), cung độ vận chuyển đất đá và than (km)… cũng ảnh hưởng đến hoạt động khai thác
Khai thác than, đặc biệt ở các mỏ lộ thiên còn phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết Nếu thời tiết mưa bão nhiều thì thiết bị, xe máy không hoạt động được và không đủ điều kiện khai thác
Chế độ chính trị, chính sách pháp luật của nhà nước cũng là yếu tố tác động gián tiếp Sự tác động này được phản ảnh qua sự ổn định trật tự xã hội, sự điều chỉnh thuế quan, các chính sách vĩ mô của Nhà nước, quy định của các cơ quan cấp trên như Bộ, ngành về chính sách khai thác và bảo vệ môi trường
Ngoài ra còn một số yếu tố như đối thủ cạnh tranh, thị trường tài chính cũng gây ảnh hưởng nhưng không lớn lắm đến hoạt động khai thác than
* Yếu tố chủ quan
Là yếu tố tác động trực tiếp đến hoạt động khai thác mỏ mà tự bản thân ngành than có thể điều chỉnh cải tiến, thay thế được, các yếu tố này gồm:
Trang 27Công nghệ khai thác là yếu tố tác động lớn đến hoạt động khai thác Lựa chọn công nghệ khai thác tức là lựa chọn cách thức khai thác, thiết bị
sử dụng, từ đó quyết định đến sản lượng, năng suất lao động và chi phí
Tổ chức nguồn nhân lực là yếu tố có tính chất quyết định đến việc quản lý hoạt động khai thác Đội ngũ người lao động có trình độ phù hợp, tuân thủ kỷ luật lao động tốt, có chính sách đào tạo phù hợp sẽ quyết định chất lượng khai thác
Chính sách quản lý đối với hoạt động khai thác là cơ chế quản lý Chính sách quản lý phải đảm bảo làm tốt, thống nhất trong tất cả các khâu
từ lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, phối hợp quản lý nhằm theo dõi, phát hiện và kiềm chế những sai phạm, kiểm tra, phân tích, đánh giá và đề xuất giải pháp quản lý tối ưu nhằm đạt hiệu quả cao trong khai thác than và bảo
vệ được môi trường
Tổ chức sản xuất là yếu tố đánh giá trình độ của cơ cấu bộ máy quản
lý Hoạt động khai thác có được sự sắp xếp tốt sẽ tạo sự nhịp nhàng trong sản xuất, giảm thiểu những rủi ro và nâng cao hiệu quả sản xuất
Trang 28Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ KHAI THÁC GẮN VỚI BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG KHAI THÁC THAN Ở QUẢNG NINH
2.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên – xã hội của Quảng Ninh
Tỉnh Quảng Ninh chính thức thành lập từ năm 1963 trên cơ sở hợp nhất của 2 vùng đất Quảng Yên và Hải Ninh Nhưng từ trước đó, mảnh đất biên cương có tổng diện tích 8.239 km2 này đã được xác định và công nhận có vị trí đắc địa về kinh tế - chính trị, có đường biên giới với ba cửa khẩu (Móng Cái, Hải Hà, Bình Liêu) tiếp giáp với nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa – quốc gia đông dân nhất và có nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới Nói đến Quảng Ninh, dù ai chưa một lần đặt chân đến cũng chắc chắn biết đó là một kho than đá, thứ tài nguyên vô giá mà tự nhiên đã ưu ái ban cho
Vùng tài nguyên than Quảng Ninh có một lợi thế là nằm gần bờ biển Các dòng sông, suối có chiều dài không lớn, chủ yếu đổ thẳng ra biển, hầu như không có vùng hạ lưu để bị ảnh hưởng khi khô cạn Các vùng đất canh tác nông-lâm nghiệp chủ yếu của Quảng Ninh thường không nằm trong vùng hạ lưu của các con sông suối chảy ra từ những vùng khai thác than Ngoài ra, vì có bờ biển tương đối dài (trên 250km) nên khi môi trường đất
bị xâm hại do đổ thải trong quá trình khai thác than lộ thiên, Quảng Ninh còn có thể tận dụng điều kiện này để lấn biển bằng đất, đá thải thông qua việc san lấp bờ biển Tuy nhiên việc này cần phải có tính toán kỹ và khoa học Trên thực tế đã có nhiều dự án lấn biển thành công đem lại những giá trị về kinh tế và xã hội Đã hình thành các khu dân cư đô thị mới, hay khu
du lịch gắn với Vịnh hạ Long di sản thiên nhiên thế giới
Ngoài ra tỉnh Quảng Ninh còn có nhiều thứ khác nữa, đã mang lại những giá trị khác biệt của riêng mảnh đất này Chẳng hạn có đường biển
Trang 29trải dài trên 250km, có ngư trường rộng lớn trên 6.100km2 với 2.077 đảo
đá, đất lớn nhỏ khác nhau, đồng thời là nơi sinh sống của vô vàn các loài sinh vật biển quý hiếm Cũng với vị trí địa lý đắc địa đó giúp Quảng Ninh hội tụ đủ những điều kiện thuận lợi phát triển kinh tế - xã hội trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo hướng bền vững
Bên cạnh những giá trị không thể phủ nhận về vật chất, Quảng Ninh còn là nơi hội tụ đầy hấp dẫn của những giá trị tinh thần vô giá Với Kỳ quan Thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long (2 lần được tổ chức UNESCO tôn vinh), một Yên Tử linh thiêng huyền bí, một Bạch Đằng Giang hào hùng khí thế Đông A, một núi Bài Thơ lịch sử và huyền thoại bên bờ Vịnh Hạ Long Các di tích văn hoá lịch sử này là cơ sở để phát triển loại hình du lịch như du lịch văn hoá tâm linh, biển, sinh thái, thể thao
Ngoài ra, Quảng Ninh có gần 427.400ha đất đồi núi, chiếm trên 70% diện tích đất đai tự nhiên của toàn tỉnh, với ưu thế của tỉnh miền núi, ven biển, khí hậu ẩm rất thuận lợi cho quá trình sinh trưởng phát triển các loài cây lấy gỗ, lấy nhựa như thông nhựa, thông mã vĩ, keo, bạch đàn Đặc biệt, với đặc thù điều kiện lập địa trên diện tích đất đồi núi của tỉnh rất thích hợp với các loài cây gỗ quý, đặc sản, các loài cây mang tính bản địa Dù là tỉnh miền núi nhưng giao thông đi lại giữa các vùng sản xuất trên địa bàn tỉnh lại khá dễ dàng và thuận tiện Cung đường vận chuyển sản phẩm từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ ngắn, không chỉ lợi thế về các cửa khẩu xuất khẩu sản phẩm mà còn có thị trường tiêu thụ nội địa tốt vì là địa phương công nghiệp
và được Chính phủ quy hoạch vùng trồng rừng gỗ mỏ cung cấp cho ngành than Đây là những điều kiện hậu thuẫn khá tốt cho sự phát triển nghề rừng
và khai thác than trên địa bàn tỉnh
Từ những đặc điểm trên, khẳng định Quảng Ninh là tỉnh có được những giá trị khác biệt đem đến những cơ hội để phát triển kinh tế bền vững
Trang 30mà không phải địa phương nào cũng có được Đó là khai thác tài nguyên khoáng sản, đặc biệt là than đá, dịch vụ du lịch, biên mậu, hậu cần cảng biển, đánh bắt nuôi trồng chế biến thuỷ hải sản, chăn nuôi gia súc, gia cầm, đóng tàu, sản xuất vật liệu xây dựng và trung tâm nhiệt điện lớn nhất Việt Nam Quảng Ninh là tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại gắn với việc bảo
về tài nguyên môi trường, đảm bảo vững chắc quốc phòng - an ninh và lãnh thổ chủ quyền Bên cạnh đó Quảng Ninh có nguồn nhân lực trình độ tay nghề cao, có giải pháp và kế hoạch triển khai phù hợp để phát huy hiệu quả Chương trình hợp tác "hai hành lang, một vành đai kinh tế Việt Nam – Trung Quốc” [24] và chú trọng kinh tế biên mậu, xây dựng Móng Cái trở thành thành phố cửa khẩu quốc tế hiện đại
2.2 Thực trạng môi trường khai thác than
2.2.1 Tình hình chung
2.2.1.1 Khai thác than
Ngành công nghiệp than đã ra đời và trải qua quá trình phát triển hơn
120 năm Sau ngày đất nước thống nhất, nhận nhiệm vụ được Đảng và nhà nước giao trên mặt trận kinh tế, ngành công nghiệp khai thác than đã đóng góp rất lớn vào kết quả phát triển kinh tế - xã hội của cả nước Bằng sự quyết tâm và cố gắng lao động của toàn ngành, tổng sản lượng đã khai thác than hàng năm luôn giữ được ở mức độ ổn định và đến nay đã khai thác được hơn 300 triệu tấn than sạch phục vụ cho nhu cầu trong nước và phát triển kinh tế
Kể từ thời Pháp thuộc, từ năm 1883 đến tháng 3/1955 sản lượng than đã khai thác là trên 50 triệu tấn than sạch, đào hàng trăm km đường
lò, bóc và đổ thải hàng chục triệu m3 đất đá Trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ cứu nước và những năm đầu của thời kỳ hoà bình,
dù ngành than cũng như các ngành kinh tế khác gặp không ít khó khăn
Trang 31nhưng ngành than vẫn duy trì được sự ổn định, giữ vững được an ninh năng lượng cho đất nước
Sau ngày đất nước mở cửa nền kinh tế (năm 1985) hoạt động sản xuất của ngành than đã có nhiều khởi sắc và đặc biệt trong giai đoạn từ năm
1995 đến 2001 hoạt động sản xuất của ngành Than đã thu được những kết quả vượt bậc, đã khai thác được gần 228 triệu tấn than sạch, đào 1041km đường lò Nhưng bên cạnh đó mức độ tác động xấu đến môi trường cũng không ngừng gia tăng Số lượng bóc và đổ thải là 795 triệu m3 đất đá trên diện tích bãi thải hàng trăm ha Sử dụng hàng triệu m3 gỗ chống lò, hàng trăm ngàn tấn thuốc nổ và hàng triệu tấn nhiên liệu các loại Cụ thể, để so sánh giữa sản lượng khai thác than và sự tác động xấu đến môi trường thì sản lượng khai thác đã tăng từ 6 triệu tấn từ năm 1994 (trước khi thành lập Tổng công ty Than Việt Nam) lên 45 triệu tấn năm 2011, tăng 7,5 lần, Đồng thời với mức tăng sản lượng này thì hàng năm ngành than phải đào bình quân trên 100km đường lò, bóc và đổ thải trên 50 triệu m3 đất đá, sử dụng trên 160 ngàn m3 gỗ, khoảng 15 ngàn tấn thuốc nổ, hàng nghìn kw giờ điện
và hàng chục ngàn tấn nhiên liệu các loại và sự tác động đến môi trường cũng đã tăng hàng chục lần so với trước
“Hiện nay ngành than tại tỉnh Quảng Ninh có khoảng hơn 30 mỏ và các điểm khai thác lộ thiên trong đó có 5 mỏ có công suất từ 1 triệu tấn đến trên 3 triệu tấn/năm Có khoảng hơn 20 mỏ khai thác hầm lò trong đó có 7
mỏ có công suât từ 1 triệu tấn trở lên” [24]
Tỉnh Quảng Ninh là nơi tập trung lớn nhất trữ lượng than toàn quốc, chủ yếu là các loại than antraxít Quảng Ninh có nhiều mỏ than hầm lò và lộ thiên có sản lượng sản xuất chiếm số lượng lớn trong tổng sản lượng khai thác than của ngành than
Trang 32Trong thời điểm những năm gần đây, hoạt động khai thác than của ngành than đang phát triển rất nhanh Đằng sau con số dự kiến khai thác thì việc đầu tư vào cơ sở hạ tầng để phát triển bền vững đã không được chú trọng Ô nhiễm huỷ hoại môi trường do ngành than phát triển khai thác đã đến hồi báo động
“Tại khu vực Hòn Gai - Cẩm Phả có khoảng 30 mỏ than lộ thiên và hầm lò lớn nhỏ đang hoạt động, bình quân khoảng 2.000ha có 1 mỏ với tổng diện tích là 175km2, chiếm 28,7% tổng diện tích đất tự nhiên của thành phố Hạ Long và thị xã Cẩm Phả Ở Hòn Gai, phía nam đường 18A (Cẩm Phả) trong giai đoạn 1970 - 1997, các hoạt động khai thác than đã làm mất khoảng 2.900ha (trung bình mỗi năm mất 100 - 110ha) đất rừng các loại, trong đó khoảng 2.000ha bị mất do mở vỉa, đổ đất đá thải Độ che phủ rừng tự nhiên từ 33,7% năm 1970 giảm xuống 6,7% (1985) và 4,7% (1997)
và đến 2010 còn 3,4%” [24]
2.2.1.2 Định hướng khai thác than
Tập đoàn công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam luôn bám sát chủ trương của Đảng và Nhà nước đã đề ra và gần đây nhất như trong Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X là: “Chú trọng phát triển công nghiệp năng lượng đi đôi với áp dụng công nghệ tiết kiệm năng lượng” [24] và “Việc phát triển các ngành công nghiệp sản xuất tư liệu sản xuất quan trọng chủ yếu là dựa vào nguồn lực của các thành phần kinh tế, bao gồm cả đầu tư trực tiếp của nước ngoài” [24] Trên tinh thần đó, quản lý hoạt động khai thác luôn bám sát định hướng “Nâng cao trình độ quản lý trong khai thác, chế biến và sử dụng hợp lý, tiết kiệm, có hiệu quả nguồn tài nguyên đi đôi với công tác bảo vệ môi trường” [1,tr5]
Trang 33Trên cơ sở những tiêu chí chung, ngành Than cũng rút ra được những kinh nghiệm từ nhiều năm trong hoạt động khai thác như xây dựng chiến lược phát triển bền vững gắn kết với bảo vệ môi trường đó là
Xuất phát từ nội hàm kinh tế - xã hội - môi trường của phát triển bền vững, quan điểm phát triển bền vững ngành Than phải là: “Phát triển ngành Than bền vững theo các mục tiêu gia tăng sản lượng đáp ứng tối đa nhu cầu của nền kinh tế, hài hoà với sự phát triển kinh tế - xã hội của cộng đồng, thân thiện với môi trường và không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người lao động” [22]
2.2.1.3 Hiệu quả kinh tế từ hoạt động khai thác than
Một trong số những ngành kinh tế hàng đầu của quốc gia, ngành khai thác than, khoáng sản luôn giữ một vị chí quan trọng trong sự phát triển của toàn nền kinh tế Là nguồn nguyên liêu đầu vào chính cho nhiều ngành khác nên sự phát triển ngành Than cũng là cơ hội cho các ngành kinh tế trọng điểm khác như Điện, Xi măng, Thép, Phân bón cùng phát triển Ngoài ra, trước tình hình nguồn năng lượng trong nước cũng như thế giới đang cạn kiệt dần thì nhiệm vụ đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia luôn là trọng tâm trong chiến lược phát triển của ngành
Ngoài ra, để chuẩn bị tài nguyên cho tương lai, ngành khai thác than, khoáng sản đã được Chính phủ cho phép hợp tác với NEDO (Tổ chức phát triển kỹ thuật mới - Nhật Bản) tiến hành thăm dò đánh giá tài nguyên bể than Quảng Ninh để phục vụ lợi ích quốc gia
Về trữ lượng khoáng sản than thì tỉnh Quảng Ninh tập trung khoảng 67% trữ lượng than toàn quốc, chủ yếu là than antraxít, sản lượng than mỡ rất thấp - khoảng 200 ngàn tấn/năm Quảng Ninh là nơi tập trung nhiều mỏ than hầm lò sản xuất với công suất trên dưới 2 triệu tấn than nguyên khai/năm và nhiều mỏ lộ thiên lớn sản xuất với công suất khoảng 3 triệu tấn
Trang 34than nguyên khai/năm Sản lượng khai thác tại Quảng Ninh đã đóng góp cho sự phát triển toàn ngành Than và đóng góp một phần đáng kể vào GDP của tỉnh Quảng Ninh cũng như toàn nền kinh tế
2.2.1.4 Thực trạng tình khai thác than và môi trường tại tỉnh Quảng Ninh
* Thực trạng khai thác than
Công nghệ khai thác lộ thiên
Hình 1.1 Mô hình công nghệ khai thác lộ thiên
Xúc bốc: Sử dụng máy xúc điện EKG - 5A, EKG – 8E hoặc các máy xúc thuỷ lực gầu ngược, dung tích gầu xúc từ 1,2 - 8m3
- Vận tải: Hiện nay vận tải đất đá và vận chuyển than trong mỏ chủ yếu bằng ô tô cỡ có trọng tải từ 15-95 tấn, vận tải than ngoài mỏ bằng đường sắt, băng tải và ô tô
- Đổ thải đất đá: Chủ yếu dùng hình thức đổ thải từ sườn núi cao xuống thung lũng thấp bằng ô tô kết hợp máy gạt Bãi thải chủ yếu là bãi thải ngoài, đôi chỗ có điều kiện đổ bãi thải trong vào các khai trường đã kết thúc
Khoan,
nổ mìn
Bốc xúc, vận chuyển
chuyển
than nguyên khai
Sàng tuyển, chế biến
Vận chuyển, tiêu thụ
Trang 35Ngoài ra, trong quá trình khai thác mỏ lộ thiên còn có các khâu phụ trợ khác như thoát nước, làm đường, sửa chữa thiết bị
Theo thông kê của ngành than, “sản lượng khai thác lộ thiên tại tỉnh Quảng Ninh chiếm khảng 60-70% tổng sản lượng khai thác của toàn ngành than” [24] Đối với việc khai thác ở bể than Quang Ninh trước đây, đã có thời kì sản lượng lộ thiên đã chiếm đến 80%, tỷ lệ này dần dần đã thay đổi giảm và hiện nay còn 60% Trong tương lai sẽ còn xuống thấp hơn vì các
mỏ lộ thiên lớn đã và sẽ tiếp tục giảm sản lượng, trong giai đoạn 2015 –
2020 có mỏ không còn sản lượng, các mỏ lộ thiên còn lại cũng sẽ giảm thậm chí là một số mỏ chỉ còn sản lượng dưới 0,5 triệu T/năm
Hiện nay, Quảng Ninh có 5 mỏ lộ thiên lớn với công suất khai thác trên dưới 2 triệu tấn than nguyên khai/ năm ( Hà Tu, Núi Béo, Cọc Sáu, Cao sơn và Đèo Nai) Hơn 20 mỏ lộ thiên vừa và các công trường khai thác lộ thiên do các công ty khai thác quản lý với công xuất năm từ 100.000-700.000 tấn than nguyên khai Ngoài ra, còn có một số điểm lộ vỉa và khai thác nhỏ với sản lượng khai thác hàng năm dưới 100.000 tấn than nguyên khai
Hầu hết các mỏ lộ thiên khai thông bằng hệ thông hào mở vỉa bám vách vỉa than Thiết bị đào hào là máy xúc thủy lực gầu ngược kết hợp với máy xúc EKG Hầu hết các mỏ lộ thiên đều áp dụng hệ thống khai thác xuống sâu dọc một hoặc hai bờ công tác, đất đá chủ yếu được đổ ra bãi thải ngoài Trong những năm gần đây đã dựa vào hệ thống khai thác khấu theo lớp đứng ở hầu hết các mỏ lộ thiên để tăng độ dốc bờ công tác lên 2-27 độ Hiện nay, các mỏ lộ thiên đã được trang bị đồng bộ thiết bị khoan, xúc bốc, vận tải trung bình tiên tiến Ở các mỏ lộ thiên lớn như: Hà Tu, Núi Béo, Cọc Sáu, Cao sơn và Đèo Nai phục vụ dây chuyền bốc đất đá là máy khoan CБЩ- 250МИ, khoan thủy lực với đường kính 110-200mm, máy
Trang 36xúc kéo cáp chạy điện EKG có dung tích gàu 4,6-8 m3, máy xúc thủy lực
có dung tích gàu 3,5-10m3, ô tô tự đổ có tải trong từ 30-95 tấn gồm các chủng loại: Belaz, Komatsu, Caterpillar
Ở các mỏ và khai trường khai thác lộ thiên vừa và nhỏ, phục vụ cho công tác bốc đất đá và khai thác sử dụng đồng bộ thiết bị vừa và nhỏ gồm máy khoan dập thủy lực, đường kính lỗ khoan 75-120mm, máy xúc thủy lực gầu ngược dung tích 1,5-2,0 m3 cùng ô tô tải trọng 12-15 tấn
Nhìn chung, xét trên góc độ môi trường thì tất cả các khâu trong công nghệ trong khai thác lộ thiên đều chứa đựng những yếu tố ảnh hưởng xấu tới môi trường trong đó phải kể đến sự thay đổi bề mặt địa hình, gây bụi,
ồn, làm ô nhiễm nguồn nước, không khí…
Một ví dụ cụ thể, Suối Vàng Danh và sông Mông Dương, gắn với việc phát triển các mỏ than hầm lò nổi tiếng Vàng Danh (Uông Bí) và Mông Dương (Mông Dương-Khe Chàm) cũng đã bị thay đổi (nhưng không phải vì khai thác than hầm lò, mà chủ yếu vì khai thác than lộ thiên) Trước đây, con suối chảy từ mỏ Vàng Danh ra Uông Bí từng là nguồn cung cấp nước cho cả thành phố Hải Phòng vì nước trong và sạch Ở vùng than Uông Bí, không ai quên câu ca dao từ thời Pháp “nước Vàng Danh, canh Hải Phòng” Ngày nay, khi khu mỏ Vàng Danh (trước đây, Liên Xô chỉ thiết kế khai thác bằng công nghệ hầm lò với công suất tối đa có 1,8 tr.t/năm) nay được mở rộng ra bằng các công nghệ khai thác than lộ thiên, tổng công suất các mỏ than đã lên tới gần 5 triệu tấn/năm, thì nước suối Vàng Danh đã không thể dùng để dẫn về Hải Phòng Lớn hơn suối Vàng Danh là con sông Mông Dương (hợp lưu của nhiều con suối xuất phát từ khai trường của những mỏ than lộ thiên trong vùng) Trước đây, người Pháp đã dùng con sông này làm đường thủy chở than Mông Dương ra biển để xuất khẩu Ngày nay, con sông này đã bị loại ra khỏi danh sách các tuyến vận tải thủy và mức độ ô nhiễm đã đến mức báo động cao
Trang 37Công nghệ khai thác hầm lò
Hình 1.2 Mô hình công nghệ khai thác hầm lò - Đào lò chuẩn bị
Hình1.3 Mô hình công nghệ khai thác hầm lò-Khai thác than
“Quá trình khai thác than thường qua ba bước: mở cửa mỏ, khai thác
và đóng cửa mỏ” [2,tr6] Như vậy, tất cả các công đoạn khai thác đều tác động đến tài nguyên và môi trường tự nhiên
Trong khai thác hầm lò cũng có các khâu phụ trợ khác như thoát nước, làm đường, sửa chữa thiết bị
Phần lớn các khâu công nghệ trong khai thác hầm lò thực hiện trong các đường lò dưới lòng đất nên mức độ và phạm vi ảnh hưởng tới môi trường thấp hơn so với khai thác than lộ thiên Những yếu tố có khả năng tác động xấu tới môi trường chủ yếu là làm thay đổi mực nước ngầm, giảm nguồn tài nguyên nước, ảnh hưởng đến môi trường sinh thái, cảnh quan thông qua việc sử dụng gỗ trụ mỏ, sụt lún địa hình đất sau đó là các khâu
Khoan
nổ mìn
bốc xúc đất đá
chống đỡ lò bằng vật liệu thép, bê tông, gỗ
Khoan
nổ mìn,
cuốc
Chống đỡ bằng vì sắt, gỗ, giá thuỷ lực, máy combine
khai Vận chuyển than nguyên (bằng tầu điện, băng tải)
combine
Sàng tuyển, chế biến
Vận chuyển, tiêu thụ than sạch
Trang 38thoát nước, sàng tuyển, vận chuyển và tiêu thụ than làm ảnh hưởng đến chất lượng môi trường không khí, nước
Hiện nay, tỉnh Quảng Ninh có trên 30 mỏ than hầm lò đang hoạt động Trong đó, có 8 mỏ có trữ lượng lớn, có công nghệ và cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh, với sản lượng tương đối lớn: 900-1300 ngàn tấn/năm Các mỏ còn lại
có sản lượng khai thác dưới 500 ngàn tấn/năm Sơ đồ mở vỉa trên mức thông thủy là lò bằng xuyên vỉa, dưới mực thông thủy tự nhiên là giếng nghiêng kết hợp với lò bằng và chỉ có duy nhất Công ty than Mông Dương
là mở vỉa băng giếng đứng
Hệ thống khai thác phổ biến nhất là cột dài theo phương- Chiều dài
lò chợ khi khai thác chống cột thủy lực đơn hoặc giá thủy lực di động là 100-150m, sản lượng lò chợ là 100-150 ngàn tấn/năm Khi khai thác bằng chống gỗ là 60-100m, sản lượng 50-60 ngàn tấn/năm Ngoài ra hiện đang sử dụng một số hệ thống khai thác như chia lớp ngang nghiêng, khai thác dưới dàn mềm đối với các vỉa dốc trên 50°, song những công nghệ này chưa hoàn thiện, năng xuất thấp Hiện nay, toàn vùng Quảng Ninh có một lò chợ
cơ giới hóa toàn bộ, bước đầu cho kết quả tốt, sản lượng đạt 200 ngàn tấn/năm
Nhìn chung, khai thác than bằng phương pháp hầm lò hiện nay làm mất và thất thoát rất nhiều trữ lượng tài nguyên, gây lún đất, ô nhiễm môi trường , tiêu hao gỗ chống lò và gây các tai nạn hầm lò
* Thực trạng môi trường tại tỉnh Quảng Ninh
Môi trường vùng than bị suy thoái và ô nhiễm nặng, đặc biệt là ô nhiễm bụi, tiến ồn, nước thải mỏ, chất thải rắn và đất đai bị phá huỷ, sụt lún Kết quả tính toán cho thấy chi phí thiệt hại môi trường do hoạt động khai thác than gây ra là rất lớn, bằng khoảng 5% tổng giá thành than Trong quá trình sản xuất than thải ra nhiều chất thải như đất đá (mỗi năm trên 50 triệu
Trang 39m3), nước thải mỏ (hàng trăm triệu m3/năm), khí thải và các phế liệu, phế thải sản xuất khác, đồng thời chiếm và phá huỷ nhiều diện tích đất và rừng
tự nhiên (hàng trăm ngàn ha) Mức độ tổn thất than còn cao và việc tận dụng các khoáng sản đồng hành còn ít Điều đó vừa làm giảm hiệu quả khai thác tài nguyên, vừa làm tăng tác động xấu đến môi trường Hàng năm ngành than tiêu hao một khối lượng vật tư rất lớn, nhất là gỗ lò, thuốc nổ công nghiệp, xăng, dầu, điện năng, vvv Một số loại vật tư, nhiên liệu, đặc biệt là nhiều loại vật liệu nổ có độ an toàn thấp, tính năng kỹ thuật chưa tiến tiến, gây hậu quả xấu đối với sức khoẻ con người và môi trường
Một tình trạng báo động tại các khu vực khai thác than lộ thiên và hầm
lò thuộc Cẩm Phả, Hòn Gai, Uông Bí là thường xuyên xảy ra các vụ sạt lở núi thải gây hậu quả rất nghiêm trọng về người và tài sản Nguyên nhân không gì khác hơn là do độ cao của các "núi thải" không được xử lý cắt tầng, che chắn đúng quy trình kỹ thuật Bên cạnh đó đường giao thông và đời sống của các khu dân cư lân cận bãi thải cũng bị ảnh hưởng rất nhiều
Cụ thể như quốc lộ 18 chạy qua thành phố Hòn Gai và thành phố Cẩm Phả thuộc tỉnh Quảng Ninh, trước kia từng gắn với sự nghiệp khai thác của các
mỏ lộ thiên thì đến nay nhiều đoạn đã phải dịch chuyển ra phía biển để nhường chỗ cho các bãi thải đất đá tiềm ẩn nhiều nguy cơ sụt lún của chính các mỏ khai thác than bằng công nghệ lộ thiên
Bên cạnh đó những yếu tố suy thoái môi trường khác cũng đang ở mức
độ báo động như:
Ô nhiễm nguồn nước
Trong thời gian trước đây theo nhiều tài liệu nghiên cứu cho thấy nước mặt cũng như nước ngầm ở Quảng Ninh có chất lượng tốt, đáp ứng nhu cầu phục vụ cho ăn uống, sinh hoạt Nhưng hiện nay, hoạt động khai thác ở các khu mỏ làm ô nhiễm nguồn nước một cách nghiêm trọng, chủ
Trang 40yếu là các hóa chất, chất thải công nghiệp từ các Công ty, Nhà máy, Xí nghiệp Các đơn vị sử dụng nước ngầm dưới hình thức khoan giếng, sau khi ngưng không sử dụng không bịt kín các lỗ khoan lại làm cho nước bẩn chảy lẫn vào làm ô nhiễm nguồn nước ngầm Nước thải từ các khu vực khai thác than cũng đang làm xấu đi môi trường sống, môi trường lao động của khu vực lân cân do nước thải chứa than, kim loại nặng và các chất phóng xạ
Độ pH của nước thải mỏ luôn dao động từ 3,1 – 6,5 Hàm lượng cặn
lơ lửng thường vượt TCCP từ 1,7 – 2,4 lần, có nơi lên tới hơn tám lần Theo đánh giá của một đơn vị khoa học của Tập đoàn công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam thì nước thải ở các mỏ thường dưới dạng nước thải chứa than, kim loại nặng và hóa chất độc hại
Tác động hoá học của hoạt động khai thác than tới nguồn nước như
sự phá vỡ cấu trúc của đất đá nơi có than khi tiến hành đào bới và khoan nổ
sẽ thúc đẩy các quá trình hoà tan, rửa trôi các thành phần chứa trong than và đất đá, quá trình tháo khô mỏ, đổ các chất thải vào nguồn nước, chất thải rắn, bụi thải không được quản lý, xử lý chặt chẽ, tham gia vào thành phần nước mưa, nước chảy tràn vào nguồn cung cấp cho nguồn nước tự nhiên là những tác động hoá học làm thay đổi tính chất vật lý và thành phần hoá học của nguồn nước xung quanh các khu mỏ khai thác Nước ở các mỏ than thường có hàm lượng các ion kim loại nặng, á kim, các hợp chất hữu cơ, các nguyên tố phóng xạ cao hơn so với nước mặt và nước biển khu vực đối chứng và cao hơn TCVN từ 1-3 lần
Một ví dụ cụ thể như trong tổng số 25 hồ chứa nước ở huyện Đông Triều đã có gần một nửa bị bồi lấp, nguồn nước bị chua hoá từ quá trình sản xuất than gây ra, trong đó có nhiều hồ bị chua hoá nặng không sử dụng được như Cầu Cuốn, Nội Hoàng, Khe Ươn 1, Khe Ươn 2 , độ PH đều ở