1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao chất lương cán bộ công chức xã, thị trấn huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An

128 662 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 2,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc nâng cao chất lượng nguồn lực, nâng cao khả năng giải quyết công việc, trình độ chuyên môn và thái độ, hành vi, tác phong trong tiếp xúc, ứng xử của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐAI HỌC KINH TẾ

Trang 2

Hà Nội- Năm 2014

Trang 3

1.2 Kinh nghiệm nâng cao chất lượng cán bộ, công chức

xã, thị trấn của một số địa phương và bài học cho

huyện Diễn Châu

33

1.2.1 Kinh nghiệm nâng cao chất lượng cán bộ, công chức

Trang 4

ii

ở huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An

Chương 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ CÔNG

CHỨC XÃ, THỊ TRẤN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN

DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN

40

2.1 Khái quát về huyện Diễn Châu và đội ngũ CBCC

xã, thị trấn trên địa bàn huyện 40

2.1.2 Quy mô cán bộ, công chức xã, thị trấn của huyện

CBCC xã, thị trấn huyện Diễn Châu 65

Trang 5

2.4 Đánh giá chung về chất lượng cán bộ công chức xã,

Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC XÃ, THỊ TRẤN HUYỆN DIỄN CHẤU,

3.1.3 Phương hướng, mục tiêu nâng cao chất lượng CBCC

Trang 6

iv

3.2 Giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lƣợng CBCC

các xã, thị trấn huyện Diễn Châu 86

3.2.1 Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức

3.2.5 Đổi mới và hoàn thiện các chính sách đãi ngộ đối với

Trang 8

vi

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Số lượng CBCC các xã, thị trấn (giai đoạn 2009 -

2013)

43

Bảng 2.2 Trình độ chuyên môn CBCC các xã, thị trấn huyện

Diễn Châu( năm 2009-2013)

45

Bảng 2.3 Trình độ ngành chuyên môn của CBCC các xã, thị

trấn (năm 2013)

47 Bảng 2.4 Trình độ quản lý nhà nước của CBCC các xã, thị trấn 51

Bảng 2.12 Sự tự chủ trong công việc của CBCC các xã, thị trấn 62 Bảng 2.13 Mức độ sẵn sàng làm thêm giờ của CBCC xã, thị trấn 63

Trang 10

1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Xã, thị trấn là đơn vị hành chính Nhà nước cấp cơ sở, hàng ngày trực tiếp tiếp xúc với các công dân; trực tiếp tiếp nhận, chấp hành và thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Vì vậy, công tác quản lý hành chính Nhà nước có chất lượng hay không bắt đầu từ đội ngũ cán

bộ, công chức xã, thị trấn

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Cấp xã là cấp gần gũi nhân dân nhất, là nền tảng của hành chính Cấp xã làm được việc thì mọi việc đều xong xuôi” [29, tr.169] Như vậy cấp xã, đặc biệt là chính quyền cấp xã, là cấp quan hệ trực tiếp với nhân dân, là nơi đầu tiên giải quyết các yêu cầu của nhân dân, tạo điều kiện cho nhân dân thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ của mình đồng thời là nơi thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước

Trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, trong các phong trào thi đua yêu nước, cấp xã là nơi trực tiếp thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” và thực hiện “Quy chế dân chủ ở cơ sở” do Bộ Chính trị phát động và ban hành Vì vậy để chính quyền cấp xã thực hiện và phát huy tốt vị trí và vai trò của mình trong thực tiễn, điều này phụ thuộc rất lớn vào đội ngũ CBCC xã, thị trấn như trong Nghị quyết Trung ương III (khóa VIII) đã từng khẳng định: “Cơ sở xã, phường, thị trấn mạnh hay yếu là một phần quan trọng phụ thuộc vào chất lượng đội ngũ cán bộ xã, phường, thị trấn… Họ chính là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành” Để có thể làm được những việc này, đội ngũ CBCC cấp xã cần có những hiểu biết nhất định về pháp luật và

kỹ năng áp dụng pháp luật, kỹ năng xử lý và giải quyết tình huống mới có thể

Trang 11

2

giải quyết được công việc và biến cố xảy ra trong thực tiễn quản lý hành chính cơ sở Việc nâng cao chất lượng nguồn lực, nâng cao khả năng giải quyết công việc, trình độ chuyên môn và thái độ, hành vi, tác phong trong tiếp xúc, ứng xử của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã đối với nhân dân trong xã

là nhiệm vụ thường xuyên, có ý nghĩa hết sức quan trọng cả trước mắt cũng như lâu dài trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế

Trong những năm qua, mặc dù việc xây dựng, phát triển chất lượng cán

bộ nói chung và cán bộ, công chức cấp xã nói riêng trên địa bàn huyện Diễn Châu đã được quan tâm; số lượng và chất lượng cán bộ ở cấp xã có trình độ

về các mặt nói chung đã tăng lên đáng kể, song vẫn còn nhiều bất cập Phần lớn cán bộ, công chức ở cấp xã không được quy hoạch, đào tạo bài bản; việc

bố trí, sử dụng chưa phù hợp Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã chủ yếu phát triển từ cơ sở, làm việc theo lối kinh nghiệm, thiếu khoa học; trình độ, phương pháp quản lý còn hạn chế, thậm chí có nhiều sai phạm, điều đó đã ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

Từ thực tế đó, cần có một sự nghiên cứu toàn diện, trên cơ sở tổng quan những vấn đề cơ bản về phát triển chất lượng cán bộ nói chung và cán bộ, công chức ở cấp xã nói riêng; phân tích đúng thực trạng chất lượng cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện, từ đó đề xuất các giải pháp để nâng cao chất lượng cán bộ, công chức xã, thị trấn trên địa bàn huyện một cách đồng

bộ, hợp lý, đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới Xuất phát từ nhữngsuy nghĩ đó, học viên mạnh dạn chọn đề tài: “Nâng cao chất lượng cán

bộ công chức xã, thị trấn huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An ” làm luận văn

thạc sỹ quản lý kinh tế

Trang 12

- Đề tài: “Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức xã trên địa bàn tỉnh Nghệ an” của tác giả Trần Khánh Thục (2008), Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh đã phân tích, làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận

và thực tiễn của việc nâng cao chất lượng công chức xã của tỉnh Nghệ an; trên

cơ sở đó đề xuất các giải pháp chủ yếu để góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ công chức

Luận văn thạc sĩ kinh tế: "Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chính

quyền cấp xã ở tỉnh Phú Thọ hiện nay" của tác giả Bùi Thị Hoa (2003), Học

Trang 13

4

viện Hành chính Quốc gia đã tổng quan được những vấn đề lý luận về cán bộ chính quyền cấp xã và chất lượng đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã; hệ thống hóa được những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng, Nhà nước ta về đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã; đúc kết được khái niệm và những tiêu chí đánh giá, những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã và đề xuất được một số giải pháp khá cụ thể để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chính quyền cấp

xã ở Phú Thọ nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới Tuy nhiên, đề tài luận văn của tác giả Bùi Thị Hoa mới chỉ nêu được những vấn đề chung về đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã và đưa ra các giải pháp về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã ở địa bàn tỉnh Phú Thọ, chưa đề cập sâu các loại hình cán bộ, trong đó có đội ngũ cán bộ QLNN về kinh tế ở cấp xã trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước KHXH 05-03 (GS-TS Nguyễn Phú Trọng làm chủ nhiệm đề tài) “Luận chứng khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” đã đúc kết và đưa ra những quan điểm, định hướng trong việc sử dụng các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ nói chung và trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống kinh tế xã hội Đề tài

là một tài liệu tham khảo hữu ích trong trường hợp liên quan đến cán bộ là công chức trong các đơn vị hành chính sự nghiệp

- Luận văn thạc sỹ: “Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức quản lý Nhà nước về kinh tế trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Thanh Hóa” của Cầm Bá Tiến (2000), Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Luận văn đã phân tích thực trạng đội ngũ cán bộ các huyện tại Thanh Hóa đồng

Trang 14

cán bộ trong hệ thống chính trị cấp huyện và cơ sở trong giai đoạn 2011- 2015

và những năm tiếp theo Trong đó đã quan tâm đề cập vấn đề quy hoạch, đào tạo, xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị cấp huyện và

cơ sở trên địa bàn huyện Tuy nhiên, đề án vẫn chưa đi sâu, nghiên cứu cụ thể

về việc xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ, công chức xã, thị trấn

- Tiểu luận thạc sỹ Quản lý kinh tế - ĐHKT- ĐHQGHN: "Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An" của tác giả Nguyễn Thị Hồng Dung (2012), phòng LĐTB&XH-UBND huyện Diễn Châu Tiểu luận làm rõ thực trạng chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH của huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An Từ đó đưa ra các giải pháp cơ bản

để nâng cao chất lượng chất lượng của đội ngũ CBCC đáp ứng yêu cầu

CNH-HĐH của huyện trong giai đoạn 2012-2020

Như vậy, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu trên những góc độ khác nhau liên quan đến chủ đề nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ công chức Tuy nhiên, việc nghiên cứu về nâng cao chất lượng cán bộ, công chức xã, thị trấn nói chung và ở huyện Diễn Châu nói riêng đến nay chưa có một tác giả nào đi sâu nghiên cứu Đây thật sự là khoảng trống và là cơ hội để học viên tìm hiểu nghiên cứu, góp thêm một tiếng nói để nâng cao chất lượng nguồn lực, nâng cao chất lượng cán bộ, công chức phục vụ nhân dân góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Trang 15

6

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích:

Luận văn làm rõ thực trạng chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức

xã, thị trấn của huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức xã ,thị trấn huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Chất lượng đội ngũ cán bộ công chức xã, thị

trấn

Phạm vi nghiên cứu:

- Không gian: Các xã, thị trấn trên địa bàn huyện Diễn Châu và tham khảo một số địa phương khác để lấy tư liệu so sánh, đối chiếu

- Thời gian: Từ năm 2009-2013

- Nội dung: Luận văn sẽ tập trung vào các nội dung nâng cao năng lực cán bộ công chức như: đào tạo, bồi dưỡng, tuyển dụng, bố trí, sử dụng, đãi ngộ, đánh giá, quản lý cán bộ, công chức các xã, thị trấn

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp nghiên cứu

Trang 16

7

Trong quá trình nghiên cứu, người viết sử dụng các phương pháp phân tích- tổng hợp, so sánh, đối chiếu, thống kê, hệ thống hóa Trong đó phương pháp hệ thống hóa được sử dụng trong chương 1 nhằm khái quát cơ sở lý luận

và thực tiễn của việc nâng cao chất lượng cán bộ, công chức xã, thị trấn Phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh đối chiếu được sử dụng chủ yếu ở chương 2 nhằm khái quát tình hình kinh tế xã hội huyện Diễn Châu, qua đó phân tích tổng hợp thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cán bộ công chức xã, thị trấn, thống kê số liệu các năm, so sánh, đối chiếu, đánh giá thực trạng cán bộ công chức xã, thị trấn của huyện Diễn Châu những mặt mạnh, mặt tồn tại hiện nay và so với các địa phương khác để đánh giá đúng thực trạng và đề xuất các biện pháp nâng cao chất lượng cán bộ, công chức xã, thị trấn Phương pháp hệ thống hóa, phân tích tổng hợp được sử dung ở chương 3 để xây dựng phương hướng, giải pháp cho việc nâng cao chất lượng cán bộ, công chức xã, thị trấn của huyện Diễn Châu trong thời gian tới

Ngoài ra, luận văn còn sử dụng phương pháp tìm hiểu đi đến các xã, thị trấn tiếp xúc, phỏng vấn một số CBCC, quan sát hoạt động của đội ngũ cán bộ công chức các xã, thị trấn Tổ chức lấy phiếu điều tra bảng hỏi CBCC tại 39 xã, thị trấn với số phiếu thu được là 143 phiếu đối với hầu hết các vị trí công việc của CBCC Thông tin được tổng hợp, tham khảo ý kiến của những người CBCC có thâm niên công tác và xin ý kiến chuyên gia để có thêm căn

cứ đánh giá đối tượng nghiên cứu

5.2 Nguồn số liệu:

- Số liệu thứ cấp: Lấy số liệu từ các báo cáo tổng kết, đề án, các bài báo, tạp chí, thống kê của các cơ quan Đảng và cơ quan quản lý nhà nước Việt Nam, tỉnh Nghệ An, huyện Diễn Châu và một số địa phương khác

Trang 17

8

- Số liệu sơ cấp: từ kết quả điều tra khảo sát của tác giả

6 Đóng góp của luận văn

- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng cán

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương như sau:

- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng cán bộ công chức

xã, thị trấn

- Chương 2: Thực trạng chất lượng cán bộ, công chức xã, thị trấn trên

địa bàn huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An

- Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ,

công chức xã, thị trấn huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An

Trang 18

9

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ CÔNG CHỨC XÃ, THỊ TRẤN 1.1 Lý luận chung về chất lượng cán bộ, công chức cấp xã, thị trấn 1.1.1 Một số khái niệm cơ bản

Khái niệm Cán bộ, công chức

“Cán bộ” là thuật ngữ được du nhập vào Việt Nam từ Trung Quốc, để chỉ những người nòng cốt, người chỉ huy được sử dụng để phân biệt với nhân dân Với cách hiểu này, người đọc sẽ hiểu đó là những người có chức vụ, có một vị trí “ lãnh đạo” thì cũng có những quyền hạn nhất định mà nhân dân là những người không có quyền hạn đó [28, tr.198]

“Cán bộ” theo giải thích trong Từ điển Tiếng Việt là người làm công tác nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan nhà nước [22, tr.105] Theo cách giải thích này, người đọc có thể cho rằng cán bộ là “ người của nhà nước” và làm những công việc cho Nhà nước Còn những người làm trong các tổ chức khác thì không được coi là cán bộ

Theo khoản 1, Điều 4 của Luật Cán bộ, công chức Việt Nam (2008) quy định: Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam, nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương( gọi chung là cấp tỉnh); ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh ( gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước

Thuật ngữ “công chức” được xuất phát từ các nước tư bản phương Tây Cộng hòa Pháp đã xác định: “Công chức là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào làm việc trong các công sở gồm các cơ quan hành chính công

Trang 19

10

quyền và các tổ chức dịch vụ công cộng do Nhà nước tổ chức, bao gồm cả Trung ương và địa phương nhưng không kể đến các công chức địa phương, thuộc các hội đồng thuộc địa phương quản lý” [28, tr.228] Có thể thấy nổi bật lên trong khái niệm này chính là nguồn nhân lực làm việc tại các cơ quan chính quyền Nhà nước và các tổ chức dịch vụ công cộng do Nhà nước tổ chức được coi là công chức Nhà nước

Tại Trung Quốc có khái niệm: “Công chức Nhà nước là những người công tác trong cơ quan hành chính Nhà nước các cấp, trừ nhân viên phục vụ” [28, tr.268] Trung quốc khẳng định luôn ngay từ ban đầu là “công chức Nhà nước” Đã khẳng định như vậy thì công chức chắc chắn phải làm việc trong các cơ quan nhà nước Với người Trung Quốc đó là cơ quan hành chính Nhà nước các cấp, ngoài ra không tính tới các cơ quan khác do Nhà nước tổ chức

và thành lập

Tại Nhật Bản: Công chức Nhà nước gồm những người được nhận chức trong bộ máy của Chính phủ Trung ương, ngành tư pháp, quốc hội, quân đội, trường công và các bệnh viện quốc lập, xí nghiệp và các đơn vị sự nghiệp quốc doanh được lĩnh lương của ngân sách Nhà nước Công chức địa phương gồm những người làm việc và lĩnh lương từ tài chính địa phương” [28,tr.156] Theo khái niệm này, Nhật Bản đã chia công chức thành hai cấp là cấp

“công chức nhà nước” và cấp “công chức địa phương” So với Trung Quốc, nội hàm trong khái niệm của Trung Quốc các đối tượng được gọi là “công chức” có thể rộng hơn, liệt kê thành nhiều thành phần hơn và cụ thể hơn rất nhiều Các công chức cấp nào thì được hưởng lương từ ngân sách của cấp đó Công chức là một thuật ngữ được sử dụng trong quản lý nhà nước, trong sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Đó là những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để

Trang 20

11

giữ một chức vụ thường xuyên trong cơ quan Chính phủ, ở trong hay ở ngoài nước đều là công chức theo quy chế này, trừ những trường hợp riêng tư do Chính phủ quy định

Theo Nghị định 169/HĐBT ngày 25/5/1991: “Công dân Việt Nam được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của Nhà nước ở Trung ương hay địa phương, ở trong nước hay ngoài nước đã được xếp vào một ngạch, hưởng lương do ngân sách Nhà nước cấp gọi là công chức Nhà nước” Nghị định số 95/1998/NĐ-CP, ngày 17/11/1998 về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức: “Công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước, bao gồm những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ một công việc thường xuyên, được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào một ngạch hành chính, sự nghiệp; những người làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân và công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp và công nhân quốc phòng” Tuy nhiên, chiểu theo các khái niệm và Nghị định trên thì có rất nhiều cán bộ trong các cơ quan hành chính Nhà nước sẽ không thuộc đối tượng là “công chức” mặc dù họ được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước

Theo Nghị định 06/2010/NĐ-CP: Công chức được tuyển dụng bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong biên chế giữ một công vụ thường xuyên hoặc nhiệm vụ thường xuyên trong các cơ quan hành chính Nhà nước ở cấp tỉnh, cấp huyện; Trong các cơ quan, đơn vị quân đội nhân dân (mà không phải

là sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp như chuyên viên vi tính, kế toán…); Trong các cơ quan, đơn vị công an nhân dân (mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp); Trong các cơ quan Đảng; Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Kiểm toán Nhà nước; Trong các bộ và cơ

Trang 21

12

quan ngang bộ; Tòa án nhân dân các cấp (Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; Chánh án, phó chánh án các tòa chuyên trách, thẩm phán); Viện kiểm sát Nhân dân; tổ chức chính trị xã hội (Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên…); Trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập …

Như vậy, có thể hiểu: Công chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế, hưởng lương

từ ngân sách nhà nước hoặc được đảm bảo quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật, làm việc trong cơ quan, tổ chức, đơn

vị”[10,tr.1]

Khái niệm Cán bộ, công chức cấp xã:

Theo khoản 3 điều 4 Luật cán bộ công chức năm 2008: Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ cho Thường trực Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị -

xã hội; công chức cấp xã là công dân Việt nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước

Tuy nhiên, một đơn vị hành chính cấp cơ sở thì không chỉ có công chức

mà còn có các cán bộ thực hiện các công việc của UBND, các công việc liên quan trực tiếp với nhân dân trong và trên địa bàn xã nên có thể sử dụng chung một cụm từ là “cán bộ, công chức” Theo Pháp luật có thể sử dụng chung là CBCC cấp xã trong đó bao gồm cả CBCC xã, phường, thị trấn Đây là nguồn nhân lực làm việc tại cơ quan quản lý nhà nước hành chính cấp nhỏ nhất của nhà nước và trực tiếp làm việc, tiếp xúc và quan hệ và sống cùng nhân dân Chính vì thế, Bác Hồ đã dạy các cán bộ cấp cơ sở là “nền tảng của hành

Trang 22

13

chính” cần chú trọng việc gần gũi dân, “mọi việc đều xong xuôi” không chỉ đối với các công việc của CBCC, mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân học tập, nhận thức và thực hiện các nghĩa vụ công dân tốt hơn, nhanh chóng và đồng lòng khi lực lượng CBCC xã, thị trấn tiếp xúc và tận tụy với nhân dân

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “ Cấp xã là cấp gần gũi nhân dân nhất, là nền tảng của hành chính Cấp xã làm được việc thì mọi việc đều xong xuôi”[29, tr.169] Như vậy cấp xã, thị trấn, đặc biệt là chính quyền cấp xã, thị trấn, là cấp quan hệ trực tiếp với nhân dân, là nơi đầu tiên giải quyết các yêu cầu của nhân dân, tạo điều kiện cho nhân dân thực hiện tốt các quyền và nghĩa vụ của mình đồng thời là nơi thực hiện các đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước

Điều 3 Nghị định 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 quy định cán bộ cấp

xã có các chức vụ: Bí thư và Phó Bí thư Đảng ủy; Chủ tịch và Phó chủ tịch HĐND; Chủ tịch và Phó chủ tịch UBND; Chủ tịch MTTQ; Bí thư Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt nam; Chủ tịch Hội cựu chiến binh, Chủ tịch Hội nông dân

Công chức cấp xã có chức danh: Trưởng công an; Chỉ huy trưởng Quân sự; Văn phòng- Thống kê; Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã); Tài chính - Kế toán; Tư pháp - Hộ tịch; Văn hóa- Xã hội

1.1.2 Chất lượng cán bộ, công chức xã, thị trấn

Chất lượng CBCC xã, thị trấn thể hiện ở kiến thức chuyên môn, trình độ quản lý nhà nước, trình độ lý luận chính trị, trình độ tin học, ngoại ngữ, kỹ năng giải quyết công việc, tình trạng sức khoẻ và thái độ trong công việc Có

Trang 23

14

thể xem xét chất lượng CBCC xã, thị trấn trên những khía cạnh cụ thể như sau:

1.1.2.1 Kiến thức chuyên môn

Kiến thức chuyên môn là phần không thể thiếu đối với CBCC Một đơn

vị hành chính cấp cơ sở có đầy đủ các công việc liên quan đến kinh tế, quản

lý xây dựng, địa chính, giáo dục, y tế, tư pháp… chính vì vậy, việc trang bị kiến thức chuyên môn là bắt buộc đối với CBCC cấp xã Tuy nhiên, kiến thức chuyên môn có được không chỉ do đào tạo tại trường lớp, đó là sự tích hợp từ trường lớp, môi trường làm việc và sự trải nghiệm trong công việc giúp cho cán bộ, công chức có kiến thức chuyên môn vững chắc và có thể giải quyết tốt công việc theo đúng chuyên ngành được học

Ngoài kiến thức chuyên môn đã được đào tạo, cán bộ, công chức cần tự nâng cao kiến thức chuyên môn cho mình thông qua việc cập nhật kiến thức chuyên ngành thường xuyên qua các kênh thông tin khác nhau Khi cán bộ, công chức thường xuyên trau dồi kiến thức chuyên môn thì kiến thức chuyên môn ngày một nâng cao dẫn đến một trình độ chuyên môn chuyên sâu và năng lực chuyên môn ngày một phát triển

Trình độ chuyên môn được hiểu là chuyên môn được đào tạo của cán bộ, công chức về một chuyên ngành nào đó với bậc học từ trung cấp trở lên Chẳng hạn một người học Cao đẳng chuyên ngành Kế toán thì được ghi trong

lý lịch có trình độ chuyên môn “cao đẳng kế toán” Như vậy, có thể hiểu kiến thức chuyên môn là trình độ nguồn nhân lực được thông qua quá trình đào tạo tại các cơ sở đào tạo từ trung cấp trở lên Kết quả của các bậc đào tạo này được thể hiện thông qua các loại văn bằng, chứng chỉ Đó là những kiến thức được trực tiếp sử dụng trong quá trình công tác tại các cơ quan, tổ chức Tuy nhiên, trên thực tế trình độ kiến thức chuyên môn của nguồn nhân lực có

Trang 24

15

tương xứng với bằng cấp hay không phụ thuộc vào hệ thống đánh giá học tập, nghiên cứu và đào tạo tại các cơ sở đào tạo Vì vậy, cần có sự kiểm nghiệm trong tác nghiệp thực tế mới có thể thấy được đầy đủ năng lực chuyên môn thực sự của nguồn nhân lực

1.1.2.2 Trình độ quản lý nhà nước

Các CBCC làm việc trong các cơ quan hành chính Nhà nước dù ở cấp

độ nào cũng cần có trình độ quản lý Nhà nước trong việc giải quyết thủ tục hành chính cho tổ chức và công dân trong địa bàn quản lý Trong điều 5, Nghị định về CBCC cấp xã có nêu tiêu chuẩn của CBCC cấp xã làm việc trong các

tổ chức chính trị – xã hội, làm việc trong HĐND, UBND cần có trình độ hiểu biết về lý luận chính trị, có trình độ học vấn, trình độ chuyên môn phù hợp yêu cầu nhiệm vụ; đủ năng lực và sức khỏe để hoàn thành nhiệm vụ được giao (Luật cán bộ, công chức ngày 13 tháng 11 năm 2008);

Quản lý hành chính Nhà nước có những nội dung riêng đối với CBCC ở từng cấp khác nhau Trong Điều 23, Nghị định về CBCC về nội dung QLNN đối với CBCC cấp xã có các điểm: (1) Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về CBCC cấp xã; (2) Xây dựng kế hoạch, quy hoạch cán

bộ, công chức cấp xã; (3) Quy định chức vụ, chức danh cán bộ, công chức cấp xã; (4) Quy định số lượng cán bộ, công chức cấp xã; (5) Tổ chức thực hiện việc quản lý, sử dụng và phân cấp quản lý cán bộ công chức cấp xã; (6) Ban hành quy định tuyển dụng, chế độ tập sự đối với công chức cấp xã; (7) Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã; (8) Thực hiện chế độ tiền lương, khen thưởng, kỷ luật và các chế độ, chính sách đãi ngộ đối với cán bộ, công chức cấp xã; (9) Thực hiện chế độ báo cáo thống kê về cán bộ, công chức cấp xã; (10) Thanh tra, kiểm tra việc thi hành quy định về cán bộ, công chức cấp

Trang 25

và chính xác Có những trường hợp đặc biệt, người CBCC xã, thị trấn không hoàn thành nhiệm vụ vì lý do khách quan Người CBCC cấp xã không thực

hiện đúng và không hoàn thành nhiệm vụ trong điều kiện làm việc bình

thường thì chắc chắn CBCC đó có trình độ thực thi công việc thấp và thể hiện chất lượng nguồn nhân lực thấp

Như vậy, trình độ QLNN của CBCC xã, thị trấn không chỉ giới hạn là những kiến thức về QLNN Để phát huy được kiến thức QLNN thì người CBCC xã, thị trấn cần có những chuyên môn khác hỗ trợ trong quá trình thực hiện công việc tại cơ sở cũng như thực thi những hoạt động công vụ khác trên địa bàn khu vực dân cư của xã, thị trấn

1.2.1.3 Trình độ lý luận chính trị

Trình độ lý luận chính trị (LLCT) là vấn đề đầu tiên cần được trang bị cho CBCC để CBCC hiểu được quan điểm, chủ trương, đường lối cùa Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, từ chỗ hiểu biết và làm theo đúng định hướng đã được hoạch định Điều này nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhân thức và hành động của CBCC trong mọi cấp, tạo cơ sở phát triển và nâng cao chất lượng cán bộ Vấn đề phát triển và nâng cao chất lượng nguồn cán bộ là sự nghiệp chung không chỉ trong các đơn vị hành chính Nhà nước,

Trang 26

17

của các cấp quản lý mà còn là vấn đề của chính bản thân đội ngũ cán bộ Được đào tạo, bồi dưỡng trình độ LLCT như trình độ các chuyên môn khác khiến năng lực giải quyết công việc của CBCC đúng theo chủ trương đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước

CBCC có trình độ LLCT nghĩa là được học tập nghiên cứu các vấn đề chính trị, các vấn đề liên quan đến giành và giữ chính quyền cho nhân dân Đây chính là những kiến thức về quyền lực chính trị, đảng phái chính trị, đấu tranh chính trị, đấu tranh chống diễn biến hòa bình và các thế lực thù địch chống phá đất nước Hệ thống kiến thức này trang bị và củng cố vững chắc

và kiên định lập trường quan điểm của Đảng Mỗi CBCC cấp xã đều giữ được phẩm chất cách mạng và thực hiện nhiệm vụ theo tinh thần phục vụ nhân dân

sẽ là nền tảng cho sức mạnh, thống nhất và sự thành công của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Nền tảng này còn là niềm tin của quần chúng nhân dân đối với đội ngũ CBCC cấp cơ sở

1.1.2.4 Trình độ tin học, ngoại ngữ

Trong quá trình phát triển đất nước, con người luôn tiếp nhận những kiến thức mới cho phù hợp với xu hướng phát triển và hội nhập trong mỗi thời kỳ nhất định Trong môi trường toàn cầu hóa hiện nay, CBCC cấp cơ sở phải có mức độ tiếp cận thường xuyên và hội nhập nhanh trên mọi phương diện của cuộc sống Đặc biệt, ở các khu vực có nhiều di tích lịch sử, có những danh thắng thu hút nhiều khách trong nước cũng như khách quốc tế thì yêu cầu CBCC cập nhật kiến thức tin học và ngoại ngữ càng cao hơn Có thể nói, trình

độ ngoại ngữ và tin học là không thể thiếu đối với bất cứ một CBCC tại bất cứ

vị trí nào trong đơn vị hành chính cấp cơ sở

Trình độ tin học, ngoại ngữ là mức độ đạt được kiến thức về ngoại ngữ

và tin học tùy theo từng vị trí công việc nhất định của CBCC Mọi công việc

Trang 27

18

của CBCC xã, thị trấn từ quản lý hồ sơ, tiếp nhận, xử lý văn bản đều sử dụng máy tính Đặc biệt, Thủ tướng Chính phủ có văn bản quy định về hình thành và sử dụng hệ thống thông tin điện tử từ cấp Trung ương đến cấp cơ sở được áp dụng từ ngày 15/01/2012, mọi văn bản hành chính Nhà nước được ban hành và tiếp nhận thông qua hệ thống máy tính và Internet là phương tiện truyền tải thông tin hữu dụng nhất cho các cơ quan hành chính Nhà nước Chính phủ điện tử có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao trình độ hiểu biết, kiến thức và kỹ năng ứng dụng công nghệ cho CBCC các cấp, chính một phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực làm công tác hành chính Chính phủ điện tử đồng thời nâng cao hiêu quả quản lý nhà nước các cấp, giúp công việc được xử lý nhanh chóng, đánh giá đi của thông tin nhanh gọn, giảm bớt các công việc thủ công, tăng năng suất lao động cho CBCC Việc áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý hành chính Nhà nước dẫn đến đội ngũ CBCC xã, thị trấn phải có kiến thức về nội dung này Để sử dụng được máy tính, người dùng máy tính phải có trình độ ngoại ngữ nhất định Vì vậy, có trình độ ngoại ngữ và tin học ở mức độ nhất định là điều kiện cần thiết của CBCC xã, thị trấn

1.1.2.4 Kỹ năng giải quyết công việc

Nếu coi các kiến thức chuyên môn của nguồn nhân lực là “phần cứng”,

là những hiểu biết căn bản về một lĩnh vực hoạt động thì khả năng giải quyết công việc được coi là “phần mềm” trong xử lý công việc Việc ứng dụng phần mềm và phần cứng thuần thục, linh hoạt chính là thể hiện kỹ năng giải quyết công việc khéo léo và thành thạo, thể hiện việc vận dụng kiến thức thực sự có hiệu quả trong thực tế

Trang 28

19

Các đối tượng có trình độ như nhau, kiến thức như nhau nhưng có thể khả năng giải quyết công việc khác nhau Nếu các CBCC có kỹ năng mềm tốt thì khả năng giải quyết công việc vượt trội hơn so với CBCC kém kỹ năng Tinh thần cầu tiến, thái độ nghiêm túc không ngừng học tập và rèn luyện

là cơ sở nâng cao kỹ năng giải quyết công việc Đặc biệt, sự trải nghiệm thực

tế trong công việc là môi trường rèn luyện kỹ năng tốt nhất Do đó, bố trí công việc hay thực hiện nhiệm vụ khác nhau sẽ hình thành các kỹ năng khác nhau đối với mỗi CBCC

Sự trải nghiệm trong công việc có thể gọi là thâm niên trong công việc Người nhiều kinh nghiệm làm việc có thể giải quyết công việc thuần thục và nhanh hơn người ít kinh nghiệm Kinh nghiệm làm việc kết hợp với trình độ

và khả năng xử lý công việc tạo thành mức độ lành nghề, thạo nghề Điều đó còn thể hiện phương pháp làm việc, thể hiện phong cách và thái độ ứng xử của CBCC trong thực thi nhiệm vụ Do đó, kỹ năng giải quyết công việc là phần không thể thiếu đối với CBCC nói riêng cũng như đối với nguồn nhân lực nói chung

Với đội ngũ CBCC cấp xã, kỹ năng giải quyết công việc thể hiện việc vận dụng thành thạo, khéo léo các kiến thức khoa học vào thực tế cuộc sống

để có các kỹ năng cụ thể như: kỹ năng sử dụng các thiết bị văn phòng; kỹ năng xử lý văn bản hành chính; kỹ năng thu thập và xử lý thông tin; kỹ năng tiếp cận, giao tiếp và trả lời nhân dân; kỹ năng tuyên truyền và vận động quần chúng nhân dân trên địa bàn; kỹ năng phân tích và đánh giá tình hình thực tế;

kỹ năng xử lý sự vụ; kỹ năng lãnh đạo, quản lý Với mỗi vị trí công việc đòi hỏi cần có kỹ năng giải quyết ở nhiều mức độ và góc độ khác nhau Người CBCC có kiến thức, có phương pháp giải quyết công việc tốt, đạt kết quả công việc trong thời gian ngắn nhất, ít gây lãng phí cho tổ chức, tạo được lòng

Trang 29

20

tin không chỉ trong nội bộ tổ chức mà còn đem lại niềm tin cho nhân dân, tạo nên trật tự và ổn định xã hội

1.1.2.5 Tình trạng sức khỏe và thái độ trong công việc

Tình trạng sức khỏe thể hiện thể lực của nguồn nhân lực Đối với CBCC

xã, thị trấn công việc không có yếu tố nặng nhọc, độc hại nên không cần chú trọng quá đến chiều cao, cân nặng của CBCC Tuy nhiên, nếu CBCC có trình

độ cao, có kỹ năng giải quyết công việc thành thạo nhưng thể lực kém, thường xuyên đau ốm thì cũng không đủ khả năng thực hiện công việc Không đảm đương được công việc khiến cho tình trạng công việc bê trễ, thậm chí còn ảnh hưởng nhiều đến các hoạt động khác của tổ chức Do đó, CBCC

xã, thị trấn cần có thể chất phát triển khỏe mạnh theo mức trung bình trong nước đủ đảm bảo sức khỏe cho thực thi nhiệm vụ và xử lý công việc của CBCC xã, thị trấn

Thái độ trong công việc của đội ngũ CBCC xã, thị trấn rất quan trọng trong việc giữ gìn, phát huy quyền lực Nhà nước cấp cơ sở Một mặt, thái độ thể hiện trình độ kiến thức, kỹ năng và quyền uy của cán bộ hành chính cấp

cơ sở Mặt khác, còn thể hiện văn hóa, lòng tin vào chế độ, lòng trung thành của đội ngũ CBCC với Đảng, với nhân dân và giữa nhân dân với chính quyền

cơ sở Đội ngũ CBCC cấp cơ sở những người trực tiếp giao dịch, đối thoại với nhân dân trên địa bàn nên cần có thái độ chân thành, cởi mở nhưng cương quyết, loại bỏ yếu tố thân quen quan hệ gia đình, không để mắc lỗi thiên vị trong xử lý tình huống Nhận thức đúng là tiền đề, là kim chỉ nam cho hành động đúng Hành động chính là các hành vi thể hiện thái độ đạo đức, nhận thức văn hóa, phong cách, tính khí của con người Vì thế, thái độ trong công việc là một tiêu chí không thể thiếu trong đánh giá đội ngũ CBCC hành chính nói chung và CBCC xã, thị trấn nói riêng Tuy nhiên, thái độ này lại nhạy

Trang 30

21

cảm, rất khó có thể lượng hóa thành các con số định lượng dùng trong đánh giá CBCC cũng như đánh giá về con người Đồng thời thái độ này được hình thành do ảnh hưởng từ môi trường sống, từ cách nuôi dạy của gia đình và nhà trường, từ bạn bè nhiều phía Vì vậy, thông thường, chúng ta hay sử dụng hình thức đánh giá về thái độ của CBCC trong công việc, trong thực hiện nhiệm vụ Sử dụng các quy định đối với CBCC, quy định đối với việc thực hiện nhiệm vụ, tiêu chuẩn công việc để định ra mức độ hoàn thành để đánh giá về thái độ trong công việc của CBCC cấp xã

1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ CBCC xã, thị trấn

1.1.3.1 Các yếu tố văn hóa- xã hội

Văn hóa, xã hội là nhóm yếu tố khách quan bên ngoài các cơ quan, tổ chức, được hình thành từ chính cộng đồng dân cư trên địa bàn và các khu vực khác nhau Đó là các yếu tố về phong tục, tập quán, tôn giáo, tín ngưỡng, xu hướng và thói quen trong sinh hoạt, xu hướng lựa chọn ngành nghề lập nghiệp, trình độ dân trí trong địa bàn, giới tính, độ tuổi Mặc dù theo biên chế đơn vị hành chính cấp cơ sở, trong các xã, thị trấn vẫn tồn tại hình thức làng xóm, sự quần tụ của dòng họ trong một khu vực dân cư Mỗi dòng họ lại có gia phả, có truyền thống văn hóa gia đình riêng, có cách giáo dục các thế hệ con cháu giữ gìn văn hóa truyền thống của dòng họ

Văn hóa không thể hiện cụ thể một hình thái vật chất, rất khó gọi thành tên nhưng chính các hình thái vật chất, các hành vi ứng xử lại thể hiện khía cạnh văn hóa hoặc bản chất văn hóa của từng đối tượng CBCC là những con người sống trong một môi trường có đầy đủ các yếu tố văn hóa- xã hội, chịu

sự tác động của các yếu tố văn hóa- xã hội đến quan điểm, thái độ, hành vi trong học tập, trong công tác Chính vì thế, những yếu tố văn hóa- xã hội ảnh

Trang 31

22

hưởng cả trực tiếp và gián tiếp đến chất lượng CBCC và khả năng nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC của tổ chức Cách nhìn nhận và đánh giá sự ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp, tác động thuận lợi hay gây khó khăn cho việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là CBCC cấp xã tùy thuộc góc độ nghiên cứu Trên thực tế, chất lượng CBCC mỗi xã, thị trấn có tác động, ảnh hưởng tới sự phát triển KT-XH, ảnh hưởng tới tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn của chính xã, thị trấn đó

1.1.3.2 Các quy định, các chính sách và hệ thống pháp luật

Trong mỗi giai đoạn phát triển kinh tế-xã hội, để thực hiện được mục tiêu chiến lược phát triển nguồn nhân lực, mỗi quốc gia mỗi ngành đều xây dựng các chính sách nhằm hỗ trợ thực hiện mục tiêu Bản thân các chính sách

là những công cụ hỗ trợ con người thực hiện mục tiêu đã định, do đó, chính sách là cái không thể thiếu nhằm giữ vững kỷ cương và phát triển đât nước, là những quy định khiến thành viên trong xã hội phải tuân theo, là các chế tài buộc các đối tượng phải cân nhắc trước khi thực hiện các hành vi

Đối với CBCC cấp xã, từ Sắc lệnh số 76/ SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch nước đến Pháp lệnh được Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành ngày 26/2/1998, qua nhiều lần điều chỉnh sửa đổi và ngày nay chúng ta có Luật Cán bộ, công chức Ngoài các điều khoản quy định về chức năng, nhiệm vụ

và các chế độ tiền lương, phụ cấp, còn có các điều khoản liên quan đến quyền

và nghĩa vụ của CBCC, trong đó, quyền học tập và phát triển nâng cao trình

độ, nâng cao năng lực thực thi nhiệm vụ chính là nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC xã, thị trấn

Đối với CBCC cấp xã, cơ chế bầu cán bộ cấp cơ sở này được quy định trong Luật bầu cử HĐND và UBND năm 2003 với hai phương thức tham gia ứng cử vào HĐND Thứ nhất: các tổ chức cơ sở giới thiệu và MTTQ tiến

Trang 32

23

hành hiệp thương để đưa người được giới thiệu vào danh sách bầu cử Thứ hai: công dân Việt Nam đủ 21 tuổi trở lên có đủ điều kiện theo quy định được

tự ứng cử, cũng do MTTQ tiến hành hiệp thương để đưa vào danh sách bầu

cử Công dân Việt Nam đủ 18 tuổi và đủ năng lực hành vi có quyền tham gia bầu cử để chọn ra các đại biểu ưu tú nhất trong danh sách ứng cử vào cơ quan quyền lực Nhà nước cấp xã Sau khi cơ quan hành chính cấp huyện phê duyệt kết quả bầu cử, HĐND họp để bầu các thành viên của UBND, Chủ tịch HĐND, Phó Chủ tịch HĐND, Chủ tịch UBND và các Phó chủ tịch UBND

Cơ chế bầu cử này sẽ lựa chọn được đội ngũ CBCC xã, thị trấn có năng lực, có trình độ, có chất lượng hay không phụ thuộc rất nhiều vào trình độ của người dân trên khu vực địa bàn đó Từ danh sách giới thiệu, ứng cử và quá trình lựa chọn cũng do nhân dân trong xã, thị trấn chọn từ những công dân có tâm, đức và kiến thức phục vụ cộng đồng xã hội Các cử tri là các công dân có

đủ năng lực hành vi, có trách nhiệm với hành động của mình trong việc bỏ phiếu lựa chọn các đại biểu xứng đáng đại diện cho nhân dân để sử dụng quyền lực của Nhà nước trong quản lý địa bàn và thực hiện các nhiệm vụ Nhà nước giao Vì thế, một phần chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã cũng phụ thuộc vào trình độ dân trí trên địa bàn

1.1.3.3 Chế độ tuyển dụng

Chế độ tuyển dụng cũng ảnh hưởng đến chất lượng CBCC xã, thị trấn Tuyển dụng CBCC xã, thị trấn là một hình thức tuyển người vào làm trong cơ quan hành chính cấp cơ sở được quy định như tuyển dụng CBCC các cấp, các ngành khác Thông qua hình thức thi tuyển và xét tuyển để tuyển dụng CBCC các cấp, trong đó bao gồm cả CBCC cấp xã Tuyển dụng là khâu then chốt để lựa chọn CBCC có chất lượng, trong đó trình độ, kiến thức, sức khỏe, thái độ làm việc có thể được kiểm tra ngay từ khâu thi tuyển Tuy nhiên, cần căn cứ

Trang 33

24

vào vị trí việc làm để xác định nhu cầu và tiêu chuẩn tuyển dụng Mỗi yếu tố

nể nang đều có thể dẫn đến sai lầm trong tuyển chọn, bố trí và sử dụng Việc

bố trí và sử dụng công chức trái với chuyên ngành được đào tạo là nguyên nhân khiến các đơn vị tốn kém kinh phí đào tạo lại CBCC Do vậy, trình độ của những nhà quản trị, những người làm công tác tuyển dụng đóng vai trò quan trọng, cần phải am hiểu công việc và các mối quan hệ trong từng vị trí việc làm để xác định các tiêu chí cần thiết cho tuyển dụng nhân sự cho tổ chức

1.1.3.4 Đào tạo và chương trình đào tạo

Hệ thống giáo dục và đào tạo của mỗi quốc gia luôn ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nguồn nhân lực của toàn bộ quốc gia đó Đào tạo là quá trình truyền tải kiến thức mới từ người dạy tới người học theo các hình thức khác nhau Do vậy, chất lượng đào tạo lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như chất lượng đội ngũ những người dạy, cơ sở vật chất, tài liệu giảng dạy, tâm thế người học, hoàn cảnh học Với bất kỳ hình thức nào, nội dung đào tạo nào cũng nhằm nâng cao trình độ, kiến thức, kỹ năng cho người học Đào tạo để phát triển CBCC và nâng cao chất lượng CBCC cho tổ chức, phát triển

tổ chức

Chương trình đào tạo là hệ thống kiến thức được chuẩn bị truyền thụ cho người học CBCC là những người đang làm việc trong tổ chức khi được đào tạo sẽ là cơ hội để trang bị thêm kiến thức, học hỏi thêm được nhiều kỹ năng giải quyết công việc ở nhiều mức độ khác nhau Điều căn bản là cần tính toán xem với mỗi vị trí công việc, với mỗi đối tượng tổ chức nên đào tạo cho họ thêm những kiến thức nào, chương trình chuyên sâu hay tập huấn ngắn hạn điều đó hoàn toàn phụ thuộc vào yêu cầu của công việc cần thực hiện Các phương pháp và hình thức tổ chức đào tạo liên quan chặt chẽ đến việc tiếp thu

Trang 34

25

kiến thức của người học Mỗi đối tượng người học khác nhau cần sử dụng các phương pháp đào tạo, các hình thức tổ chức đào tạo khác nhau mới có hiệu quả cao Với CBCC là những người đã có một trình độ chuyên môn nhất định

và ở lứa tuổi khác với học sinh, sinh viên Các phương pháp học hiện đại, sử dụng nhiều kiến thức mang tính hàn lâm sẽ kém hiệu quả Các phương pháp học sử dụng các tình huống thực tế, thông qua đó tiến hành phân tích, nhận định đánh giá tình hình và đưa ra hướng giải quyết vừa nâng cao được kiến thức, trình độ và khả năng giải quyết công việc có thể đạt kết quả cao hơn CBCC hầu hết đều là những người có gia đình riêng, sử dụng hình thức đào tạo dài hạn luôn gây ra sự mệt mỏi, xáo trộn trong cuộc sống gia đình khiến cho họ không dồn tâm trí vào việc học tập và nghiên cứu trong thời gian dài,

do đó sử dụng hình thức ngắn hạn sẽ có hiệu quả hơn Như vậy, sử dụng hình thức và phương pháp đào tạo nào phù hợp với khả năng tiếp thu kiến thức, tâm lý học tập và điều kiện làm việc của CBCC là cơ sở quan trọng để nâng cao chất lượng CBCC

1.1.3.5 Hệ thống thù lao lao động

Thù lao cho người lao động là chế độ đãi ngộ của tổ chức đối với người lao động gồm có thù lao tài chính và thù lao phi tài chính

- Hệ thống thù lao tài chính gồm lương, thưởng và các phụ cấp bằng tiền

mà người lao động được hưởng thông qua việc cống hiến sức lực và trí tuệ cho tổ chức Nhu cầu vật chất là những đòi hỏi đương nhiên để một cơ thể sống tồn tại và phát triển về mặt thể lực nhưng là điều kiện không thể thiếu để phát triển trí lực của con người Do đó, việc đảm bảo đời sống vật chất thông qua hệ thống thù lao tài chính là rất quan trọng đối với mỗi người lao động Với CBCC cấp xã các đãi ngộ tài chính là động lực rất lớn để họ cống hiến trí

Trang 35

26

lực, thể lực cho việc phục vụ nhân dân, vì nhân dân, vì sự bình yên và trật tự

xã hội chứ không phải riêng cho một đơn vị hành chính

Trên thực tế, khi nhu cầu vật chất được đáp ứng người lao động mới sẵn sàng cống hiến trí lực và thể lực nhiệt tình và có trách nhiệm hơn Nếu sự thiếu thốn về vật chất là nguyên nhân để họ phải bươn chải kiếm sống thì bản thân người CBCC không thể có những cống hiến sáng tạo cho sự phát triển tổ chức Do đó, thù lao tài chính phải đảm bảo điều kiện sống cần thiết cho CBCC, là điều kiện để CBCC học tập nâng cao trình độ, nâng cao vị thế bản thân Vì thế, trở thành CBCC là mục tiêu, là động lực để nhiều nhân lực nỗ lực, sự cạnh tranh và phấn đấu để có trình độ ngày một cao hơn, hưởng thù lao tài chính ngày càng cao là mục tiêu phấn đấu của CBCC

- Thù lao phi tài chính là các chế độ đãi ngộ mà tổ chức đem lại cho CBCC không phải là số tiền mà CBCC nhận được nhưng lại là sự trang bị bằng tài chính của tổ chức CBCC được hưởng các thù lao phi tài chính thông qua điều kiện làm việc, vị trí công tác, được học tập đào tạo, thuyên chuyển công việc, khả năng thăng tiến Tuy không phải là khoản tài chính nhận được nhưng lại là sự đầu tư tài chính, vật chất rất lớn của tổ chức và CBCC phải thấy đó là thù lao để tận tâm với công việc CBCC có thể không nhận được thù lao tài chính như nhau nhưng có thể nhận được thù lao phi tài chính tương tự như nhau trong mỗi tổ chức

1.1.3.6 Bố trí và sử dụng cán bộ công chức

Bố trí CBCC thực hiện nhiệm vụ là khâu đặc biệt quan trọng, là cơ hội

để phát huy năng lực hoặc là nguy cơ làm phát sinh các mâu thuẫn, xung đột

và tiêu cực trong tổ chức

Thực tế cho thấy, sự thành công hay thất bại của tổ chức luôn phụ thuộc vào nguồn nhân lực trong tổ chức Với đơn vị hành chính cấp cơ sở, CBCC

Trang 36

27

xã, thị trấn là nguồn nhân lực chính, là chìa khóa giải quyết mọi vấn đề trên địa bàn xã, thị trấn Đơn vị nào quan tâm, làm tốt công tác cán bộ, chăm lo điều kiện làm việc, điều kiện sống và cơ hội phát triển cho CBCC thì đơn vị

đó có đội ngũ CBCC vững mạnh Điều đó có nghĩa là CBCC xã, thị trấn được

bố trí đúng ngành, đúng nghề chuyên môn, đúng sở trường để phát huy năng lực

1.1.3.7 Môi trường và điều kiện làm việc

Môi trường, điều kiện sống và làm việc công chức cũng là những nhân

tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức xã

Do vậy, để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức xã, các cấp các ngành phải thường xuyên quan tâm cải thiện môi trường, điều kiện sống và làm việc của cán bộ, công chức xã

Cấp xã là nơi trực tiếp truyền tải, triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế, xã hội ở địa phương,

là nơi trực tiếp tiếp xúc, chỉ đạo, hướng dẫn, vận động nhân dân chấp hành và thực hiện các chủ trương, nhiệm vụ về phát triển kinh tế, xã hội

Tuy nhiên trong thực tế, môi trường, điều kiện làm việc của đội ngũ CBCC cấp xã nói chung chưa đấp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn hiện nay Tuy chính sách tiền lương CBCC cấp xã đã được quan tâm, song điều kiện, môi trường làm việc còn chưa được quan tâm đúng mức: Phương tiện lầm việc, trang thiết bị làm việc còn thiếu thốn Một số đơn vị cấp xã chậm ban hành, sửa đổi quy chế làm việc, thiếu sự ràng buộc trách nhiệm cá nhân trong thực hiện nhiệm vụ, một bộ phận cán bộ, công chức thiếu đổi mới phương pháp làm việc, thiếu tính chủ động, tao nên môi trường làm việc thiếu linh hoạt, còn nhiều vướng mắc

Trang 37

28

Cấp xã là cấp cơ sở, thường xuyên tiếp xúc trực tiếp với nhân dân, quản

lý mọi mặt nhưng bộ máy được bố trí không đầy đủ các bộ phận giúp việc, thời gian làm việc đôi khi không theo giờ hành chính nên ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả công tác và mức độ hoàn thành các nhiệm vụ

Môi trường và điều kiện làm việc tác động trực tiếp tới chất lượng và hiệu quả công tác của cán bộ, đồng thời là nhân tố quan trọng để phát triển đội ngũ cán bộ quản lý ở cấp xã Nếu cán bộ làm việc trong môi trường thuận lợi, các điều kiện về cơ sở vật chất, phương tiện làm việc đảm bảo phục vụ cho yêu cầu công tác thì cán bộ sẽ có điều kiện để phát huy khả năng, năng lực của mình, đồng thời có môi trường để rèn luyện, phấn đấu vươn lên và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Trong thực tế hiện nay, môi trường và điều kiện làm việc ở cấp xã, đặc biệt là các xã vùng núi, vùng biển, vùng giáo còn gặp nhiều khó khăn nên đây cũng là nhân tố ảnh hưởng lớn tới sự phát triển của đội ngũ cán bộ nói chung, đặc biệt là những cán bộ làm công tác quản lý ở cấp xã nói riêng

1.1.3.8 Đặc điểm bản thân

Độ tuổi: CBCC là yếu tố quan trọng, thể hiện sức khỏe, độ bền, sự trải nghiệm, khả năng dành thời gian cho công việc…Độ tuổi CBCC càng được trẻ hóa giúp cho khả năng tiếp thu kiến thức và ứng dụng công nghệ thông tin, ngoại ngữ để xử lý và kỹ năng giải quyết công việc nhanh, hiệu quả CBCC có tuổi đời, tuổi nghề lâu năm thì có kinh nghiệm thực tiễn và khả năng giải quyết công việc phức tạp ở địa phương hiệu quả hơn

Thâm niên công tác: Sự trải nghiệm trong công việc có thể gọi là thâm niên trong công việc Người nhiều kinh nghiệm làm việc có thể giải quyết công việc thuần thục và nhanh hơn người ít kinh nghiệm Kinh nghiệm làm việc kết hợp với trình độ và khả năng xử lý công việc tạo thành mức độ lành

Trang 38

kế toán, tiếp dân và giải quyết công việc hiệu quả hơn

Thành phần xuất thân: Xuất thân từ gia đình trí thức, gia đình có người làm quản lý … sẽ có những nhận thức tốt về công tác quản lý, xử lý công việc khoa học hơn

Khả năng tiếp thu kiến thức để xử lý công việc: Trình độ chuyên môn được đào tạo chính quy sẽ có khả năng tiếp thu kiến thức tốt hơn những người được đào tạo tại chức

1.1.4 Sự cần thiết nâng cao chất lƣợng cán bộ, công chức xã, thị trấn

1.1.4.1 Vị trí, vai trò chính quyền cấp xã

Chính quyền cấp xã là chính quyền cấp cơ sở gần dân nhất, được Nhà nước trao chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn để thay mặt Nhà nước quản lý các công việc tại địa phương, chịu sự quản lý của chính quyền cấp trên, có cơ chế bầu và tính tự chủ nhất định Cấp xã là nền móng, là cái gốc của bộ máy QLNN Mặc dù là cấp thấp nhất nhưng chính quyền cơ sở có vị trí quan trọng trong hệ thống chính trị toàn quốc nói chung và hệ thống chính trị nói riêng Thứ nhất: Mọi chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước ban hành, thông qua chính quyền cấp huyện rồi đến xã Chính quyền xã là nơi trực tiếp thực thi, kiểm soát và nhận những thông tin phản hồi từ nhân dân, tổng kết tính hiệu lực và hiệu quả của các chủ trương, đường lối đưa vào cuộc sống

Trang 39

30

nhân dân trên địa bàn Chính quyền cấp xã đóng vai trò cầu nối giữa nhân dân

và Nhà nước, đại diện cho nhân dân nói lên những tâm tư nguyện vọng trong cuộc sống của nhân dân

Thứ hai: Chính quyền cấp xã thay mặt Nhà nước đề ra phương thức quản

lý, tổ chức thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách của Nhà nước theo biện pháp hợp lý với phong tục, văn hóa địa phương một cách hữu hiệu nhất Bác Hồ đã dạy: Cấp xã là cấp gần đây nhất, là nền tảng của hành chính Cấp

xã làm được thì mọi việc đều xong xuôi Hoặc cán bộ vừa là lãnh đạo, vừa là người đầy tớ trung thành của nhân dân

Từ nhận định đó chúng ta thấy vị trí, vai trò của chính quyền cấp cơ sở đặc biệt quan trọng và gần gũi với cuộc sống của nhân dân Chính quyền các cấp trên và nhân dân trên địa bàn hiểu được và ủng hộ sự nỗ lực của CBCC xã góp phần cùng với Nhà nước tạo động lực cho CBCC bằng niềm tin và sự đồng lòng thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước do chính quyền xã triển khai

Tuy nhiên, một bộ phận công chúng trong xã hội có cái nhìn đơn giản và không thừa nhận vị trí và nỗi vất vả của CBCC cấp xã thậm chí coi nhẹ vai trò của CBCC cấp xã và coi CBCC cấp xã đương nhiên phải phục vụ các công dân trên địa bàn cho dù công dân có hành vi, thái độ coi thường chính quyền

xã Có bộ phận công chúng có học thức, có địa vị cũng chưa thấy được vai trò của chính quyền xã, không nhận thức được tính chất quyết định của chính quyền xã đối với công tác quản lý hành chính Nhà nước tại địa phương Chính quyền xã và CBCC xã, thị trấn hàng ngày tiếp xúc, đối mặt với rất nhiều sự vụ có tính chất khác nhau, lĩnh vực kiến thức khác nhau, mức độ và tình trạng khác nhau… nên phương thức giải quyết không giống nhau, khả năng giải quyết của CBCC cũng không giống nhau và thực tiễn cuộc sống lại

Trang 40

31

đa dạng và phức tạp Do vậy, chính quyền xã bao gồm lãnh đạo và CBCC xã, thị trấn cần có kiến thức trong nhiều lĩnh vực, cần được học tập và đào tạo, cần được rèn luyện kỹ năng… để đảm đương vai trò và trách nhiệm của CBCC cấp cơ sở

1.1.4.2 Sự cần thiết nâng cao chất lượng cán bộ công chức cấp xã

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta chưa lúc nào coi nhẹ công tác cán bộ, tuy nhiên mỗi thời kỳ lịch sử, với những điều kiện yêu cầu khác nhau, công tác xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng được triển khai ở những mức độ, phương thức, nội dung, tính chất, mục tiêu cụ thể khác nhau Ở tầm chiến lược yêu cầu xây dựng và bảo đảm cho cách mạng một đội ngũ vừa hồng, vừa chuyên, giỏi lý luận thực tiễn, thạo chuyên môn luôn là nguyên tắc xuyên suốt Thời kỳ đổi mới, công tác cán bộ cần phải dựa trên những nền tảng mới với những yêu cầu, đồi hỏi mới, những nguyên tắc

đó vẫn luôn được đảm bảo

Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ năm (khóa IX) đã khẳng định hệ thống chính trị ở cơ sở có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, huy động mọi khả năng phát triển kinh tế xã hội,

tổ chức cuộc sống của dân cư Do đó mà đội ngũ cán bộ cơ sở là lực lượng rất quan trọng của Đảng, Nhà nước trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chính trị chung của hệ thống Hơn lúc nào hết, với những nhiệm vụ hết sức phức tạp và nặng nề của công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay, công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở đang được đẩy mạnh với phương châm

“hướng mạnh về cơ sở”

Ngày đăng: 14/06/2015, 11:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban chấp hành Trung ương Đảng (1997), Nghị quyết số 03 – NQ/HNTW ngày 18/6/1997, Hội nghị lần thứ 3 BCH TW Đảng khóa VIII về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 03 – NQ/HNTW ngày 18/6/1997
Tác giả: Ban chấp hành Trung ương Đảng
Nhà XB: Hội nghị lần thứ 3 BCH TW Đảng khóa VIII
Năm: 1997
4. Bùi Thị Hoa (2003), Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã ở tỉnh Phú Thọ hiện nay, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Học viện Hành chính Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã ở tỉnh Phú Thọ hiện nay
Tác giả: Bùi Thị Hoa
Năm: 2003
7. Chính phủ (2004), Quyết định số 03/2004/QĐ -TTg ngày 07/01/2004 của Thủ Tướng Chính Phủ phê duyệt định hướng quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức xã, phường thị trấn đến năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 03/2004/QĐ -TTg ngày 07/01/2004 của Thủ Tướng Chính Phủ phê duyệt định hướng quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức xã, phường thị trấn đến năm 2010
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2004
12. Cục Thống kê Nghệ An( 2011), Niên giám thống kê Nghệ An năm 2010 , Nxb. Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê Nghệ An năm 2010
Nhà XB: Nxb. Nghệ An
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Hội nghị lần 5 Ban Chấp hành Trung ương khóa IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần 5 Ban Chấp hành Trung ương khóa IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
17. Học viện Hành chính Quốc gia (2002), Giáo trình Hành chính công, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Hành chính công
Tác giả: Học viện Hành chính Quốc gia
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2002
18. Huyện ủy Diễn Châu (2010), Các văn kiện trình Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XXIX, Nhà in Báo Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các văn kiện trình Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XXIX
Tác giả: Huyện ủy Diễn Châu
Năm: 2010
24. Nhà xuất bản Tài chính (2010), Luật Cán bộ, công chức, Nxb Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Cán bộ, công chức
Nhà XB: Nxb Tài chính
Năm: 2010
25. Nguyễn Phú Trọng, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước KHXH 05- 03, Luận chứng khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận chứng khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tác giả: Nguyễn Phú Trọng
28. Tô Tử Hạ (1998) Công chức và vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức hiện nay, NXB Chính trị Quốc gia , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công chức và vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức hiện nay
Tác giả: Tô Tử Hạ
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1998
29. Tô Hữu Tạ. Trần Thế Nhuận, Nguyễn Minh Giang, Thang Văn Phúc(1993) Chế độ công chức và luật công chức của các nước trên thế giới, Nxb chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế độ công chức và luật công chức của các nước trên thế giới
Nhà XB: Nxb chính trị Quốc gia
30. Trần Kim Dung (2005), Giáo trình Quản trị nguồn nhân lực, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản trị nguồn nhân lực
Tác giả: Trần Kim Dung
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
32. UBND huyện Diễn Châu (2013), Báo cáo tổng kết tình hình kinh tế- xã hội và kế hoạch phát triển Kinh tế- xã hội từ năm 2008-2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết tình hình kinh tế- xã hội và kế hoạch phát triển Kinh tế- xã hội từ năm 2008-2013
Tác giả: UBND huyện Diễn Châu
Năm: 2013
35. Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An (2011), Quyết định số 724/QĐ.UBND về việc phê duyệt Đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức xã thuộc tỉnh Nghệ An giai đoạn 2012-2020, Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 724/QĐ.UBND về việc phê duyệt Đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức xã thuộc tỉnh Nghệ An giai đoạn 2012-2020
Tác giả: Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An
Nhà XB: Nghệ An
Năm: 2011
2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2002), Nghị Quyết số 17- NQ/TW ngày 18/3/2002 về Đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động hệ thống chính trị cơ sở xã, Phường thị trấn Khác
3. Bộ Nội vụ (2004), Quyết định số/2004/QĐ - BNV ngày 26/1/2004 của Bộ Nội vụ về việc Ban hành quy định tiêu chuẩn cụ thể đối với cán bộ công chức xã, phường, thị trấn Khác
5. Cầm Bá Tiến (2000), Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức quản lý Nhà nước về kinh tế trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Thanh Hóa, Luận văn thạc sỹ Kinh tế , Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Khác
6. Chính phủ (2003), Nghị định số121/2003/NĐ- CP ngày 21/10/2003 về chế độ, chính sách đối với CBCC ở xã , phường , Thị trấn Khác
8. Chính phủ (2009), Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của chính phủ về cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Số lƣợng CBCC các xã, thị trấn ( giai đoạn 2009 - 2013) - Nâng cao chất lương cán bộ công chức xã, thị trấn huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An
Bảng 2.1. Số lƣợng CBCC các xã, thị trấn ( giai đoạn 2009 - 2013) (Trang 52)
Bảng 2.2. Trình độ chuyên môn CBCC các xã, thị trấn huyện Diễn Châu - Nâng cao chất lương cán bộ công chức xã, thị trấn huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An
Bảng 2.2. Trình độ chuyên môn CBCC các xã, thị trấn huyện Diễn Châu (Trang 54)
Bảng 2.3. Trình độ ngành chuyên môn của CBCC các xã, thị trấn (năm 2013) - Nâng cao chất lương cán bộ công chức xã, thị trấn huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An
Bảng 2.3. Trình độ ngành chuyên môn của CBCC các xã, thị trấn (năm 2013) (Trang 56)
Bảng 2.5. Trình độ LLCT của CBCC xã, thị trấn( Tỷ lệ so với tổng số ĐV)   Năm - Nâng cao chất lương cán bộ công chức xã, thị trấn huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An
Bảng 2.5. Trình độ LLCT của CBCC xã, thị trấn( Tỷ lệ so với tổng số ĐV) Năm (Trang 62)
Bảng 2.7. Trình độ ngoại ngữ (tiếng Anh) cán bộ CBCC xã, thị trấn - Nâng cao chất lương cán bộ công chức xã, thị trấn huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An
Bảng 2.7. Trình độ ngoại ngữ (tiếng Anh) cán bộ CBCC xã, thị trấn (Trang 63)
Bảng 2.8. Trình độ Tin học của CBCC xã, thị trấn. - Nâng cao chất lương cán bộ công chức xã, thị trấn huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An
Bảng 2.8. Trình độ Tin học của CBCC xã, thị trấn (Trang 65)
Bảng 2.9. Độ tuổi cán bộ công chức các xã, thị trấn - Nâng cao chất lương cán bộ công chức xã, thị trấn huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An
Bảng 2.9. Độ tuổi cán bộ công chức các xã, thị trấn (Trang 68)
Bảng 2.13. Mức độ sẵn sàng làm thêm giờ của CBCC xã, thị trấn - Nâng cao chất lương cán bộ công chức xã, thị trấn huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An
Bảng 2.13. Mức độ sẵn sàng làm thêm giờ của CBCC xã, thị trấn (Trang 72)
Bảng 2.15. Mức độ ảnh hưởng của VH-XH đến chất lượng CBCC. - Nâng cao chất lương cán bộ công chức xã, thị trấn huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An
Bảng 2.15. Mức độ ảnh hưởng của VH-XH đến chất lượng CBCC (Trang 75)
Bảng 2.16. Đào tạo và bồi dƣỡng CBCC các xã, thị trấn năm 2013 - Nâng cao chất lương cán bộ công chức xã, thị trấn huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An
Bảng 2.16. Đào tạo và bồi dƣỡng CBCC các xã, thị trấn năm 2013 (Trang 78)
Bảng 2.17. Bồi dƣỡng nghiệp vụ QLNN cho CBCC các xã, thị trấn - Nâng cao chất lương cán bộ công chức xã, thị trấn huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An
Bảng 2.17. Bồi dƣỡng nghiệp vụ QLNN cho CBCC các xã, thị trấn (Trang 79)
Bảng 2.18. Chế độ lương và phụ cấp của CBCC  xã, thị trấn - Nâng cao chất lương cán bộ công chức xã, thị trấn huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An
Bảng 2.18. Chế độ lương và phụ cấp của CBCC xã, thị trấn (Trang 81)
Bảng 2.19. Những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả công tác ở các xã, - Nâng cao chất lương cán bộ công chức xã, thị trấn huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An
Bảng 2.19. Những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả công tác ở các xã, (Trang 83)
Bảng  2.20.  cho  thấy  yếu  tố  ảnh  hưởng  nhiều  nhất  đến  nâng  cao  chất  lượng đội ngũ CBCC các xã, thị trấn là thái độ và tinh thần của CBCC - Nâng cao chất lương cán bộ công chức xã, thị trấn huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An
ng 2.20. cho thấy yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất đến nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC các xã, thị trấn là thái độ và tinh thần của CBCC (Trang 85)
Bảng 3.1. Đề xuất cơ cấu trình độ chuyên môn cho CBCC các xã, thị trấn  STT  Chuyên ngành đào tạo  Biên chế loại 1  Biên chế loại 2 - Nâng cao chất lương cán bộ công chức xã, thị trấn huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An
Bảng 3.1. Đề xuất cơ cấu trình độ chuyên môn cho CBCC các xã, thị trấn STT Chuyên ngành đào tạo Biên chế loại 1 Biên chế loại 2 (Trang 97)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w