Vấn đề bảo đảm làm sao cho người bào chữa thực hiện được những quyền mà pháp luật tố tụng hình sự
Trang 1
M C L C ỤC LỤC ỤC LỤC MỤC LỤC 0
LỜI MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
I Khái niệm người bào chữa trong tố tụng hình sự tại Việt Nam 1
1 Cơ sở quy định chế định người bào chữa 1
2 Khái niệm địa vị pháp lý của người bào chữa 1
2.1 Luật sư 2
2.2 Người đại diện hợp pháp của NBTG, BCBC: 2
2.3 Bào chữa viên nhân dân 3
II Những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về địa vị pháp lý của người bào chữa 4
1 Những quy định của bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về quyền của người bào chữa 4
2 Những quy định chung của Bộ luật Tố tụng hinh sự năm 2003 về nghĩa vụ của người bào chữa 9
III Hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả việc tham gia tố tụng của người bào chữa 12
1 Giải pháp hoàn thiện pháp luât tố tung hình sự 12
2 Một số giải pháp khác 14
KẾT LUẬN 15
PHỤ LỤC 16
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 18
Trang 2
LỜI MỞ ĐẦU
Vấn đề bảo đảm làm sao cho người bào chữa thực hiện được những quyền mà pháp luật tố tụng hình sự quy định là hết sức cần thiết cho việc đảm bảo dân chủ trong hoạt động tố tụng hình sự trong giai đoạn hiện nay Mặc dù, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã có những quy định hết sức tiến bộ để nâng cao vị trí và vai trò và địa vị pháp lý của người bào chữa nhưng việc áp dụng và triển khai nó trên thực tế còn nhiều bất cập hạn chế cần phải khắc phục để người bào chữa thực sự phát huy hiệu quả của mình trong hoạt động bào chữa Đồng thời đảm bảo cho người bị tam giam, bị can, bị cáo có thể thực hiền quyền được bào chữa của mình Đó chính là lý do tôi lựa chọn
cho mình đề tài: “Địa vị pháp lý của người bào chữa trong tố tụng hình sự và việc
hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả việc tham gia tố tụng của người bào chữa”
NỘI DUNG
I Khái niệm người bào chữa trong tố tụng hình sự tại Việt Nam
1 Cơ sở quy định chế định người bào chữa
Quyền bào chữa được xem như là phương tiện pháp lý cần thiết để những chủ thể được pháp luật cho phép bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Thừa nhận quyền bào chữa là thừa nhận tính tranh tụng trong hoạt động tố tụng – điều kiện không thể thiếu được cho việc xét xử khách quan, công minh Càng mở rộng phạm vi quyền bào chữa bao nhiêu thì càng mở rộng tính tranh tụng bấy nhiêu và kết quả tương ứng
là càng hạn chế khả năng làm oan sai người vô tội trong xét xử với ý nghĩa đó, BLTTHS năm 2003 đã ghi nhận nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ (NBTG), bị can, bị cáo(BCBC) là một trong những nguyên tắc đặc thù của TTHS Việt Nam1
2 Khái niệm địa vị pháp lý của người bào chữa
Hiện nay khoa học pháp lý Việt Nam chưa có một khái niệm thống nhất về người bào chữa Có quan điểm cho rằng : “ Người bào chữa trong TTHS là người tham gia tố tụng để chứng minh sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc, giúp người bị buộc tội về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ, thông qua đó góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa”2 Cũng có khái niệm về người bào chữa ở mức độ khái quát hơn “Người bào chữa là một loại người tham gia tố tụng, có địa vị pháp lý của NBTG, BCBC”3 Một trong những lý do dẫn đến việc các tác giả trên đề xuất các khái niệm khác nhau về người bào chữa là BLTTHS năm 2003 không đưa khái niệm cụ thể về người bào chữa Hệ thống quy định của BLTTHS năm 2003 chỉ tập trung quy định về chủ thể, quyền và nghĩa vụ, lựa chọn và thay đổi người bào chữa trong TTHS Theo đó Điều 56 BLTTHS năm 2003
quy định người bào chữa có thể là: Luật sư, người đại diện hợp pháp của người bị tam
giữ, bị can, bị cáo và bào chữa viên nhân dân.
1 Điều 11 BLTTHS
2 Trần Văn Bảy, “Người bào chữa trong TTHS”, tạp chí khao học pháp lý số 01/2001.
Trang 3
Luật sư là người có đủ điều kiện hành nghề theo quy định của pháp luật tham gia TTHS theo yêu cầu của các cá nhân, tổ chức nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức đó theo quy định của pháp luật.4
Theo quy định của pháp luật TTHS và theo Luật Luật sư năm 2006, một người muốn trở thành luật sư bào chữa trong TTHS phải đủ điều kiện hành nghề theo quy định của Luật luật sư 2006 và được NBTG, BCBC hay người đại diện hợp pháp yêu cầu hoặc được cơ quan tiến hành tố tụng chỉ định tham gia tố tụng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NBTG, BCBC Luật luật sư năm 2006 quy định người được hành nghề Luật sự là người đủ tiêu chuẩn, điều kiện sau: là công dân Việt Nam, trung thành với tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luât, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư, có sức khỏe đảm bảo hành nghề luật sư, được cáp chứng chỉ hành nghề luật sư và đã gia nhập đoàn luật sư
BLTTHS năm 2003 đã quy định tại khoản 2 Điều 57 về việc CQTHTT phải yêu cầu Đoàn luật sư phân công văn phòng luật sư cử người bào chữa cho những đối tượng theo quy định của pháp luật Tuy nhiên đến năm 2006, Luật luật sư được ban hành và
có hiệu lực từ ngày 1/1/2007 đã mở rộng phạm vi tổ chức hành nghề luật sư: cụ thể khi
áp dụng các quy định tại khoản 2 Điều 57 BLTTHS, CQTHTT có quyền yêu cầu Đoàn luật sư phân công Văn phòng luật sư hoặc công ty luật, Luật sư hành nghề với tư cách
cá nhân bào chữa cho bị can, bị cáo theo những trường hợp quy định tại điều khoản này Đối với những trường hợp Luật sư được cử tham gia TTHS, CQTHTT cấp giấy chứng nhận bào chữa cho luật sư nếu họ xuất trình đầy đủ giấy tờ theo quy định tại Điều 27 Luật luật sư Đối với luật sư hành nghề trong tổ chức hành nghề luật sư có đủ các loại giấy tờ: Thẻ luật sư, văn bản cử luật sư của tổ chức hành nghề luật sư hoặc chi nhánh tổ chức hành nghề luật sư nơi luật sư đó hành nghề Đối với luật sư hành nghề với tu cách cá nhân cần xuất trình thẻ luật sư và văn bản phân công của Đoàn luật sư
BLTTHS 2003 cũng quy định tại Điều 305, người đại diện hợp pháp của NBTG, BCBC là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần có thể tự mình bào chữa cho NBTG, BCBC hoặc lựa chọn người bào chữa Người đại diện hợp pháp của NBTG, BCBC nhất thiết phải là người đã thành niên; không bị tâm thần; có quốc tịch Việt Nam và cư trú tại Việt Nam trừ trường hợp pháp luật quy định khác đối với NBTG, BCBC là người có quốc tịch nước ngoài, người không có quốc tịch, hoặc là người Việt Nam ở nước ngoài Như vậy, BLTTHS năm
2003 không quy định rõ khái niệm người đại diện hợp pháp của NBTG, BCBC Trong
khoa học pháp lý hiện nay, vẫn có hai luồng ý kiến về vấn đề nay Quan điểm thứ nhất
cho rằng, người đại diện hợp pháp của NBTG, BCBC là người đại diện theo pháp luật
Nhưng theo quan điểm thứ hai, người đại diện hợp pháp của NBTG, BCBC có thể là
người đại diện theo pháp luật hoặc theo ủy quyền
Trang 4
Các luật gia có quan điểm thứ nhất cho rằng, người đại diện theo pháp luật của
NBTG, BCBC là đối tượng duy nhất được coi là “người đại diện hợp pháp của
NBTG, BCBC” để tham gia TTHS với tư cách người bào chữa.
Dựa trên các quy định của Bộ luật dân sự năm 2005(BLDS) về người đại diện theo pháp luật, theo quan điểm này, người đại diện hợp pháp của NBTG, BCBC là cha
mẹ hoặc người giám hộ của NBTG, BCBC chưa thành niên hoặc người có nhược điểm
về tâm thần hoặc thể chất Người giám hộ có thể là người giám hộ đương nhiên hoặc người giám hộ được cử.5
Những người theo quan điểm thứ hai lại diễn giải khái niệm người đại diện hợp pháp của NBTG, BCBC có nghĩa là người đại diện theo pháp luật hoặc người đại diện theo ủy quyền của NBTG, BCBC Theo quy định của BLDS 2005, người đại diện theo
ủy quyền là người đại diện được xác lập theo quy định ủy quyền giữa người đại diện
và người đại diện và người được đại diện Như vậy, người đại diện theo ủy quyền có thể là bất kỳ ai nếu được NBTG, BCBC ủy quyền, việc ủy quyền được thành lập theo văn bản đúng quy định pháp luật Hiện nay, chưa có sự thống nhất về cách hiểu người đại diện hợp pháp của NBTG, BCBC đã dẫn đến nhiều cách áp dụng khác nhau trên thực tế
Thuật ngữ bào chữa viên nhân dân xuất hiện lần đầu trong BLTTHS 1988 và được tiếp tục sử dụng ở BLTTHS 2003 nhưng không quy định cụ thể thế nào là "Bào chữa viên nhân dân" cùng những điều kiện cụ thể trở thành bào chữa viên nhân dân Tuy nhiên trên thực tế loại chủ thể này được thừa nhận ngay từ những năm sau Cách mạng tháng Tám, với việc Nhà nước ta ban hành văn bản pháp luật quy định cho bị can có quyền nhờ người không phải là luật sư bào chữa cho mình(quy định tại Điều 1 Sắc lệnh 69/SL và Nghị định 01/NĐ-VY 6)
Xem xét khoản 2 và khoản 3 Điều 57 của BLTTHS 2003 có thể thấy những người được làm bào chữa viên nhân dân phải là thành viên Mặt trận tổ quốc Việt Nam, hoặc tổ chức thành viên mặt trận; và tham gia TTHS để bào chữa cho thành viên tổ chức mình
Từ những phân tích trên ta có thể đưa ra khái niệm Người bào chữa như sau:
“Người bào chữa là người tham gia BLTTHS theo yêu cầu của NBTG, BCBC hoặc người đại diện hợp pháp của họ, hay theo yêu cầu của CQTHTT và được CQTHTT chứng nhận nhằm chứng minh NBTG, BCBC vô tội hoặc giúp họ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NBTG, BCBC và giúp đỡ họ về mặt pháp lý” Do đó, khái niệm địa vị pháp lý của người bào chữa là tổng thể các
quyền và nghĩa vụ của người bào chữa mà pháp luật quy định cho người bào chữa khi tham gia TTHS
II Những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về địa vị pháp lý của người bào chữa
5 Phụ lục 1
6 Phụ lục 2
Trang 5
người bào chữa
đồng ý thì được hỏi NBTG, BC và có mặt trong những hoạt động điều tra khác; xem các biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình và các quyết định tố tụng
liên quan đến người mình bào chữa.
Đây là quy định mở rộng sự tham gia của người bào chữa trong các hoạt động điều tra Việc tham gia này của người bào chữa trong hoạt động hỏi cung có ý nghĩa trợ giúp ban đầu đối với NBTG, BCBC Sự có mặt của người bào chữa khi lấy lời khai, khi hỏi cung giúp cho NBTG, BCBC được ổn định về mặt tâm lý hơn khi trả lời những câu hỏi của ĐTV Điều này sẽ giúp hạn chế tình trạng do quá sợ hãi hoặc thiếu hiểu biết, NBTG, BCBC khai không đúng với thực tế vụ án Ngoài ra, với sự am hiểu pháp luật của mình người bào chữa còn có thể giúp NBTG, BCBC nhìn ra những điểm
sơ hở, thiếu chặt chẽ trong biên bản ghi lời khai, giúp NBTG, BCBC khai lại, giải thích lại đúng với sự thật vụ án Sự tham gia của người bào chữa ngay trong hoạt động lấy lời khai, hỏi cung còn bảo đảm cho những hoạt động này được tiến hành đầy đủ, tuân thủ pháp luật hơn Bởi lẽ, sự có mặt, tham gia của người bào chữa, những người tiến hành tố tụng sẽ thận trọng và làm việc đúng pháp luật hơn Trên thực tế, đã có những trường hợp khi không có sự tham gia của người bào chữa, ĐTV rất dễ duy ý chí, chủ quan, thậm chí còn có hành vi bức cung, ép cung, mớm cung… để làm cho hồ
sơ vụ án theo hướng suy đoán của bản thân
Người bào chữa còn có thể hỏi NBTG, BCBC nếu được sự đồng ý của ĐTV đây là quy định thể hiện sự công bằng của pháp luật Trong biên bản hỏi cung không chỉ có những tình tiết mang tính buộc tội, mà những câu hỏi của người bào chữa cũng
có thể dẫn đến những luận cứ cho thấy NBTG, BCBC không có tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Tuy nhiên, pháp luật cũng quy định người bào chữa chỉ được hỏi NBTG, BCBC nếu được ĐTV đồng ý Quy định như vậy mặc dù đảm bảo cho trật tự lấy lời khai, hỏi cung nhưng có thể dẫn tới tình trạng người bào chữa không được thực hiện quyền này, vì quyết định này hoàn toàn phụ thuộc hoàn toàn vào ý chí của ĐTV Người bào chữa cũng có quyền tham gia vào các hoạt động điều tra khác, ví dụ: hoạt động đối chất, nhận dạng; hoạt động khám nghiệm, thực nghiệm hiện trường; khám xét, thu giữ tài sản… Khi tham gia các hoạt động diều tra, người bào chữa được quyền xem xét các biên bản về các hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình và các quyết định tố tụng có liên quan mà mình bào chữa Khi xem xét, người bào chữa có thể đối chiếu biên bản phù hợp với quá trình tiến hành hoạt động điều tả hay không Nếu nhận thấy hành vi tố tụng của ĐTV không phù hợp với quy định của pháp luật hoặc biên bản có những yếu tố vi phạm pháp luật, người bào chữa có thể khiếu nại đến cơ quan thẩm quyền giải quyết
Như vậy, có thể thấy, sự tham gia của người bào chữa trong các hoạt động lấy lời khai, hỏi cung và sự có mặt tham gia của người bào chưa trong các hoạt động điều
Trang 6
tra khác góp phần nâng cao chất lượng điều tra xét xử, đảm bảo công bằng, dân chủ trong pháp luật TTHS Việt Nam BLTTHS năm 2003 quy định cho người bào chữa quyền này là hoàn toàn hợp lý
cung bị can để có mặt khi hỏi cung bị can
Mặc dù pháp luật quy định người bào chữa có quyền có mặt trong khi hỏi cung BCBC, nhưng địa điểm hỏi cung, thời gian hỏi cung lại thuộc quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan điều tra Người bào chữa chỉ được mời hoặc cử sau khi NBTG, BCBC đã
bị bắt, bị tam giam hoặc bị khởi tố Do đó, họ không thể tự mình nắm rõ những thông tin về địa điểm và thời gian hỏi cung bị can để có sự chủ động cần thiết Đây là thông tin mà người bào chữa cần được cung cấp từ phía cơ quan điều tra, giúp họ có thể kịp thời chuẩn bị và sắp xếp để thực hiện quyền có mặt trong các hoạt động điều tra theo quy định của pháp luật TTHS, BLTTHS năm 2003 đã khắc phục thiếu sót của BLTTHS 1988 khi quy định thêm quyền được đề nghị cơ quan điều tra báo trước về thời gian và địa điểm hỏi cung bị can của người bào chữa Đây cũng là điểm mới tiến
bộ và hợp lý của BLTTHS năm 2003 so với BLTTHS năm 1988
phiên dịch
Với mục đích đảm bảo sự công bằng khách quan của quá trình giải quyết vụ án BLTTHS năm 2003 quy định những trường hợp phải từ chối hoặc thay đổi người tiến hành tố tụng hoặc người tham gia tố tụng khác nếu có dấu hiệu cho thấy họ không thể
vô tư khách quan Một trong những chủ thể có quyền yêu cầu thay đổi người tiến hành
tố tụng và tham gia tố tụng khác là người bào chữa Người bào chữa nếu xét thấy việc tham gia của người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch có thể không khách quan vô tư, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của thân chủ mình, có thể dựa vào những căn cứ luật định đề nghị thay đổi những người này.Đối với người tiến hành tố tụng, những căn cứ này được quy định tại Điều 42 BLTTHS năm 20037 Đối với người giám định, họ phải từ chối tham gia tố tụng hoặc bị thay đổi nếu thuộc một trong những trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 60 BLTTHS năm 2003 8 Ngoài ra, nếu người giám định không đủ khả năng chuyên môn để đáp ứng yêu cầu giám định
họ cũng có thể bị thay đổi Đây cũng là những căn cứ tương tự để thay đổi người phiên dịch theo quy định tại Điều 61 BLTTHS 2003
NBTG, BCBC, người thân tích của những người này hoặc từ cơ quan, tổ chức, cá nhân theo yêu cầu của NBTG, BCBC nếu không thuộc bí mật nhà nước, bí mật công tác.
Khi thực hiện nhiệm vụ bào chữa phải căn cứ vào các chứng cứ, tình tiết có liên quan đến vụ án, các tài liệu thu thập được từ phía cơ quan điều tra Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào những chứng cứ, tài liệu, do cơ quan điều tra thu thập được, người bào chữa
7 Phụ lục 3
8 Phụ lục 4
Trang 7
có thể không nắm bắt được những tình tiết có lợi cho NBTG, BCBC hoặc sẽ có cái nhìn về vụ án thoe hướng kết luận của cơ quan điều tra Vì vậy, pháp luật cho phép người bào chữa được tự mình thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa nếu không thuộc bí mật nhà nước, bí mật công tác Điều này tạo điều kiện cho người bào chữa tiếp xúc với vụ án vừa ở mức độ khái quát hơn vừa có thể chuyên sâu hơn Mặt khác, đối với NBTG, BCBC và người thân thích của những người này thì người bào chữa đóng vai trò quan trọng trong việc trợ giúp chứng minh NBTG, BCBC
vô tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Đương nhiên, khi tiếp xúc người bào chữa, NBTG, BCBC và người thân thích của họ sẽ cởi mở hơn về mặt tâm lý, từ đó có thể cung cấp thêm những tình tiết mới của vụ án hoặc có thể yêu cầu người bào chữa tìm nhân chứng, đồ vật có lợi cho NBTG, BCBC
Những tài liệu, đồ vật này thường là theo hướng có lợi cho NBTG, BCBC Người bào chữa có thể đưa ra những yêu cầu trong các giai đoạn tố tụng khác nhau như: yêu cầu cơ quan điều tả bổ sung chứng cứ, yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng, yêu cầu giám định hoặc giám định lại nếu có căn cứ cho rằng kết quả giám định trước đó không đúng sự thật, yêu cầu hoãn phiên tòa,… Người bào chữa phải xem xét tính hợp lý và quan trọng là phải có lợi đối với việc bào chữa cho NBTG, BCBC để đưa ra những đồ vật, tài liệu, yêu cầu của người bào chữa Sự bảo đảm này được luật hóa tại Điều 122 BLTTHS năm 2003:
“Khi người tham gia tố tụng có yêu cầu về những vấn đề liên quan đến vụ án thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát trong phạm vi trách nhiệm của mình, giải quyết yêu cầu của họ và báo cho họ biết kết quả Trong trường hợp không chấp nhận yêu cầu thì Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát phải trả lời và nêu rõ lý do.
Nếu không đồng ý với kết quả giải quyết của Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát thì người tham gia tố tụng có quyền khiếu nại…”
Người bào chữa muốn thực hiện tốt chức năng của mình cần phải tiếp xúc trực tiến với NBTG, BCBC chứ không chỉ tìm hiểu vụ án qua các chứng cứ, tài liệu được
cơ quan điều tra cung cấp Việc gặp gỡ thường xuyên, trao đổi với NBTG, BCBC giúp cho người bào chữa biết rõ tình tiết của vụ án, các đặc điểm nhân thân cũng như diễn biến tâm lý của người được bào chữa và những tâm tư, nguyện vọng của họ Người bào chữa cũng tìm hiểu được nguyên nhân, động cơ, điều kiện, hoàn cảnh phạm tội nếu NBTG, BCBC thực sự có phạm tội Từ đó, người bào chữa có thể xác minh lại chứng cứ buộc tội của cơ quan điều tra, hoặc tìm ra những tình tiết gỡ tội cho NBTG, BCBC Ngoài ra, khi gặp người bào chữa NBTG, BCBC thường thấy tin tưởng hơn nên dễ dàng cung cấp sự thật vụ án Việc gặp gỡ NBTG, BCBC không chỉ tạo điều kiện cho người bào chữa đề ra phương hướng phù hợp, mà họ còn có thể giải thích rõ những vấn đề pháp luật cho NBTG, BCBC Qua đó, người bào chữa có thể phát hiện những sai lầm nếu có của CQTHTT trong quá trình giải quyết vụ án Hơn thế nữa
Trang 8
được hiểu rõ quyền của mình khi tham gia tố tụng là một trong những điều kiện đảm bảo quyền bào chữa của NBTG, BCBC
quan đến việc bào chữa theo quy định pháp luật
Qua việc đọc, ghi chép và sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa, người bào chữa nắm được nội dung vụ án, biết chính xác người được bào chữa bị buộc tội gì và dựa trên những luận cứ buộc tội nào Từ đó, người bào chữa có sự chuẩn bị xác đáng để tìm ra những luận điểm gỡ tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho người được bào chữa Thông qua việc thực hiện quyền này, người bào chữa được chủ động chuẩn bị việc bào chữa và tham gia tranh tụng tại tòa Ngoài
ra, đọc hồ sơ, tài liệu vụ án còn giúp người bào chữa phát hiện ra những sai lầm, thiếu sót, vi phạm pháp luật trong quá trình điều tra Trên cơ sở đó, người bào chữa kết hợp thực hiện các quyền khác như quyền yêu cầu, quyền khiếu nại đối với cơ quan có thẩm quyền
Vai trò của người bào chữa được thể hiện rõ nét nhất tại phiên tòa xét xử phiên tòa chính là nơi kiểm tra công tác chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án và ra phán quyết đối với bị cáo Tại phiên tòa, viện kiểm sát, người bào chữa và người tham gia tố tụng khác có quyền đưa ra những chứng cứ, luận điểm
có liên quan đến vụ án và tranh luận; hội đồng xét xử có trách nhiệm xem xét các chứng cứ, xét hỏi và điều khiển việc tranh luận giữa các bên Lúc này, việc bào chữa
có hiệu quả hay không sẽ được thể hiện ngay tại phiên tòa xét xử người bào chữa có quyền hỏi bị cáo và những người khác về những vấn đề của vụ án để có được những câu trả lời theo hướng có lợi cho bị cáo Để thực hiện được điều này, người bào chữa phải có sự chuẩn bị những luận điểm, chứng cứ có lợi cho bị cáo Để thực hiện được điều này, người bào chữa phải có sự chuẩn bị chu đáo từ việc nghiên cứu hồ sơ trước
đó Tại phiên tòa, cùng với sự chuẩn bị những luận điểm, chứng cứ có lợi cho bị cáo, người bào chữa phải tập trung phân tích những ý kiếm, câu trả lời trong quá trình xét hỏi Khi tranh luận với bên buộc tội, người bào chữa phải tìm ra những lí lẽ hợp lý để đối đáp bảo vệ cho bị cáo và bác bỏ những lời buộc tội bị cáo Không chỉ trao quyền cho người bào chữa, pháp luật có tạo cơ sở pháp lý quan trọng để họ thực hiện quyền này trên thực tế BLTTHS năm 2003 có những quy định về quyền bình đẳng của người bào chưa, về trình tự xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa,… để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc thực hiện quyền tham gia xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa Về
vị trí bình đẳng của người bào chữa tại phiên tòa Điều 19 BLTTHS năm 2003 quy
định: “người bào chữa có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ
vật, đưa ra yêu cầu và tranh luận dân chủ trước Toà án Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện cho họ thực hiện các quyền đó nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ án.”
Về thứ tự hỏi tại phiên tòa sơ thẩm, BLTTHS năm 2003 quy định: “khi xét hỏi
từng người, chủ tọa phiên tòa hỏi trước rồi đến các Hội thẩm sau đó đến Kiểm sát
Trang 9
viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự Những người tham gia phiên tòa cũng có quyền đề nghị với chủ tọa phiên tòa hỏi thêm nhưng tình tiết cần làm sáng tỏ Người giám định được hỏi về những vấn đề liên quan đến giám định”
Về phần luận tội, Điều 217 BLTTHS năm 2003 quy định: “…Luận tội của
Kiểm sát viên phải căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra tại phiên toà
và ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự và những người tham gia tố tụng khác tại phiên toà…”
Điều 212 BLTTHS năm 2003 cũng quy định: “Bị cáo, người bào chữa và
những người tham gia tố tụng khác có quyền trình bày ý kiến về luận tội của Kiểm sát viên và đưa ra đề nghị của mình; Kiểm sát viên phải đưa ra những lập luận của mình đối với từng ý kiến.”
Người tham gia tranh luận có quyền đáp lại ý kiến của người khác Chủ toạ phiên toà không được hạn chế thời gian tranh luận, tạo điều kiện cho những người tham gia tranh luận trình bày hết ý kiến, nhưng có quyền cắt những ý kiến không có liên quan đến vụ án Chủ tọa phiên tòa có quyền đề nghị Kiểm sát viên phải đáp lại những ý kiến có liên quan đến vụ án của người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác mà những ý kiến đó chưa được Kiểm sát viên tranh luận
Người bào chữa tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, theo yêu cầu của tòa án Về quyền tham gia của người bào chữa tại phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định tại Điều 280 BLTTHS, chỉ khi xét thấy cần thiết tòa án mới phải triệu tập người bào chữa tham gia Đây là quy định có phần hạn chế sự tham gia của người bào chữa trong việc xem xét lại bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm Trong nhiều trường hợp, người bào chữa là người giúp đỡ về mặt pháp
lý trong các vụ án mà bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất Sự tham gia của họ trong phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm là hết sức cần thiết, cần được coi là yêu cầu bắt buộc, không nên phụ thuộc vào sự đánh giá cần thiết hay không của tòa án
quyền tiến hành tố tụng
Khi tham gia tố tụng, dù ở giai đoạn nào, người bào chữa phát hiện thấy quyết định hoặc hành vi của các cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có những điểm bất hợp lý, vi phạm pháp luật thì họ có quyền khiếu nại những quyết định, hành
vi tố tụng đó Bản thân người được bào chữa khó có thể biết mình đã bị xâm hại những quyền gì, hoặc quyết định hành vi tố tụng của người, cơ quan có thẩm quyền có đúng pháp luật không Người bào chữa với những am hiểu về pháp luật, đồng thời có đủ điều kiện để xem xét và khiếu nại kịp thời những quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền vi phạm pháp luật, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người được bào chữa Theo đó người bào chữa có quyền khiếu nại, tố cáo đối với quyết định tố tụng hoặc hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tố tụng
Trang 10
Thời hiệu khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng mà người bào chữa cho
là có hành vi vi phậm pháp luật là 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định, hành vi tố tụng đó Trong một số trường hợp do trở ngại, khách quan mà người bào chữa không thực hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hiệu thì thời gian có trở ngại đó không được tính vào thời hiệu khiếu nại Ngoài ra để đảm bảo cho việc giải quyết khiếu nại của người bào chữa nói riêng và các chủ thế khác nói chung, BLTTHS
năm 2003 còn quy định tại Điều 31: “…Cơ quan có thẩm quyền phải tiếp nhận, xem
xét và giải quyết kịp thời, đúng pháp luật các khiếu nại, tố cáo; thông báo bằng văn bản kết quả giải quyết cho người khiếu nại, tố cáo biết và có biện pháp khắc phục…”
Pháp luật TTHS quy định cho người bào chữa có quyền này nhằm đảm bảo các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng luôn được đặt trong giám sát, kiểm tra Từ đó, hoạt động tố tụng luôn mang tính khách quan
và toàn diện, tránh những oan sai, vi phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người bào chữa
1.10 Quyền kháng cáo bản án, quyết định của tòa án nếu bị cáo là người chưa tành niên hoặc người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần quy định tại điểm
b khoản 2 Điều 57 BLTTHS năm 2003.
Đây là quyền độc lập của người bào chữa phụ thuộc vào ý chí của người bào chữa cũng như đại diện hợp pháp của họ Giới hạn của quyền này chính là người bào chữa chỉ được kháng cáo đối với bản án mà bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất quy định tại khoản 2 Điều 57 BLTTHS 2003 Những đối tượng này thường chưa đủ khả năng nhận biết rõ ràng về bản án cũng như không có kiến thức pháp luật đủ để xem xét bản án dành cho mình có phù hợp với tội danh cũng như mức độ vi phạm hay không Vì thế, người bào chữa lúc này với cương
vị bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo có thể tiến hành kháng cáo bản án nếu xét thấy bản án đó chưa đúng pháp luật, chưa đúng tội Người bào chữa chỉ được kháng cáo bản án, quyết định của tòa án theo hướng có lợi cho bị cáo Bởi lẽ, xét đến cùng, vai trò của người bào chữa vẫn là bảo vệ lợi ích của bị cáo, nên việc kháng cáo bản án theo hướng có lợi hơn cho bị cáo là nhiệm vụ, chức năng của người bào chữa
Tóm lại, BLTTHS năm 2003 đã quy định khá đầy đủ về quyền của người bào chữa trong TTHS Không chỉ tập trung vào khoản 2 Điều 58 BLTTHS, bộ luật còn những quy định cụ thể về quyền của người bào chữa trong các giai đoạn khác nhau của quá trình giải quyết vụ án Đây được coi là sự nỗ lực của các nhà làm luật để những quyền của người bào chữa không chỉ là những quy định trong luật mà còn được thực thi trong thực tế
nghĩa vụ của người bào chữa
Theo khoản 3 Điều 58 BLTTHS, người bào chữa có những nghĩa vụ sau:
xác định NBTG, BCBC vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của