Vi phạm hành chính là một loại vi phạm phổ biến trong xã hội, và thay đổi từng ngày
Trang 1A LỜI MỞ ĐẦU.
Vi phạm hành chính là một loại vi phạm phổ biến trong xã hội, và thay đổi từng ngày, từng giờ trong tất cả các lĩnh vực thuộc các ngành, các cơ quan khác nhau Tuy mức độ nguy hiểm cho xã hội của nó thấp hơn so với tội phạm nhưng hành vi vi phạm hành chính là hành vi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hai cho nhà nước, tập thể, lợi ích cá nhân cũng như lợi ích chung của cộng đồng Điều 3 Pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính năm 2002 (sửa đổi 2008) quy định :
“ Mọi vi phạm hành chính phải được phát hiện kịp thời và phải đình chỉ ngay.… Việc xử lí vi phạm hành chính phải do người có thẩm quyền tiến hành theo đúng quy đinh của pháp luật” Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc xử lí vi phạm hành
chính được nhanh chóng, kịp thời pháp luật hiện hành đã quy định rất nhiều chủ thể có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính cũng như cụ thể hơn về thủ tục
xử phạt vi phạm hành chính Đó là lí do vì sao tôi lựa chọn đề tài :
“Đánh giá tính hợp lý của pháp luật về thẩm quyền và thủ tục xử phạt
vi phạm hành chính”
B NỘI DUNG
I CÁC KHÁI NIỆM CHUNG
1 Vi phạm hành chính
Khi tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, Nhà nước sẽ buộc họ sẽ phải chịu những hậu quả bất lợi nhất định Vậy nên hiểu vi phạm hành chính là gì?
Tại khoản 2, Điều 1 Pháp lênh xử lí vi phạm hành chính 2002 (PLXLVPHC 2002) sửa đổi 2008, vi phạm hành chính được định nghĩa một
cách gián tiếp: “… Xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối với cá nhân,
cơ quan, tổ chức (say đây gọi chung là cá nhân, tổ chức) có hành vi cố ý hoặc
vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính…”
Trên cơ sở đó ta có thể đưa ra định nghĩa khái quát về vi phạm hành
chính: Là hành vi do cá nhân tổ chức thực hiện với lỗi cố ý hoặc vô ý do vi phạm quy định của pháp luật về quản lí nàh nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật bị xử phạt vi phạm hành chính.
2 Xử phạt vi phạm hành chính
Xử phạt vi phạm hành chính (XPVPHC) là hoạt động cưỡng chế thể hiện thái độ của nhà nước với hành vi vi phạm của cá nhân tổ chức Có thể hiểu xử
phạt vi phạm hành chính là: “Hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, căn cứ vào các quy định của pháp luật hiện hành, quyết định áp dụng các biện pháp xử phạt hành chính và các biện pháp cưỡng chế hành chính khác( trong trường hợp cần thiết theo quy định của pháp luật) đối với các cá nhân tổ chức.”
Hoạt động xử phạt vi phạm hành chính phải dựa trên những đặc điểm:
XPVPHC áp dụng với các cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật
Trang 2 XPVPHC được tiến hành bởi các chủ thể có thẩm quyền theo quy định của pháp luật
XPVPHC được tiến hành theo những nguyên tắc, trình tự, thủ tục được quy định trong các văn bản pháp luật về XPVPHC do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành
Kết quả của hoạt động XPVPHC thể hiện ở quyết định XPVPHC ghi nhận các hình thức, biện pháp cử phạt áp dụng đối với tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính
XPVPHC có rất nhiều vấn đề bàn luận nhưng trong đề tài này tôi chỉ tập trung đi sâu vào thẩm quyền và thủ tục XPVPHC
II TÍNH HỢP LÝ CỦA PHÁP LUẬT VỀ THẨM QUYỀN XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH
Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính (TQXPVPHC) là một trong những nội dung quan trọng của pháp luật về XPVPHC TQXPVPHC được quy định chủ yếu tại chương IV PLXLVPHC và chương II Nghị định
128/2008/NĐ-CP và các nghị định về XPVPHC trong từng lĩnh vực quản lý của nhà nước Ngoài ra, có thể tìm thấy các quy định về thẩm quyền XPVPHC trong một số đạo luật
1 Ưu điểm của pháp luật về TQXPVPHC
Nghiên cứu hệ thống pháp luật hiện hành liên quan đến TQXPVPHC cho thấy chức danh có thẩm quyền xử phạt đã được quy định tương đối đầy đủ, đảm bảo không một vi phạm hành chính (VPHC) nào xảy ra lại không bị xử phạt bởi
chủ thể có thẩm quyền, đáp ứng nguyên tắc : “Moi vi phạm hành chính phải được phát hiện kịp thời và phải bị đình chỉ ngay…”.(1)
TQXPVPHC thể hiện tập trung và tương đối đầy đủ, rõ ràng trong PLXLVPHC là căn cứ quan trọng và điều kiện thuận lợi để quy định cụ thể trong các nghị định XPVPHC trong các lĩnh vực quản lí nhà nước Các nghị định này về cơ bản đã bảo đảm tính thống nhất đồng bộ của hệ thống pháp luật quy định về TQXPVPHC
Các quy định về nguyên tắc xác định thẩm quyền đã giúp người có thẩm quyền xử phạt đỡ lúng túng trong việc xác định vụ việc cụ thể có thuộc thẩm quyền giải quyết của mình hay không và giúp cấp trên dễ dàng hơn trong đánh giá kết quả hoạt động XPVPHC nói chung cũng như xác định trách nhiệm của cấp dưới trong những vụ việc cụ thể
Các quy định về ủy quyền cũng được đặt ra tương đối hợp lý PLXLVPHC quy định rõ người có thẩm quyền xử phạt chỉ ủy quyền trong trường hợp vắng mặt; Nghị định 128/2008/NĐ-CP cũng quy định khắt khe khi tiến hành ủy quyền…(2)
2 Hạn chế của pháp luật về TQXPVPHC
Thứ nhất về chức danh có thẩm quyền xử phạt
Trang 3PLXLVPHC đã quy định bằng cách liệt kê các chức danh có thẩm quyền
xử phạt và với mỗi chức danh cụ thể Pháp lệnh quy định rõ hình thức, mức xử phạt và những biện pháp cưỡng chế khác mà chủ thể đó được áp dụng trong khi XPVPHC Theo cách quy định này, những chức danh nào được chỉ rõ trong Pháp lệnh mới có thẩm quyền xử phạt Quy định như vậy sẽ không linh hoạt để theo kịp với những thay đổi về tổ chức trong các cơ quan quản lí và thực tiễn công tác đấu tranh, phòng chống VPHC Thực tiễn quản lí cho thấy có những đơn vị thuộc cơ quan nhà nước thành lập hoặc chức danh trong cơ quan quản lí nhà nước được quyết định sau thời điểm ban hành, sửa đổi PLXLVPHC nên không được Pháp lệnh quy định thẩm quyền xử phạt Do đó họ không có thẩm quyền xử phạt mặc dụ hoạt động đặc thù của họ có thể là người trực tiếp phát hiện vi phạm Cũng có những lĩnh vực quản lí vào thời điểm PLXLVPHC ban hành thì các vi phạm hành chính mới xuất hiện lẻ tẻ nên việc giới hạn thẩm quyền thco một số cơ quan quản lí là hợp lí nhưng sau đó thì vi phạm ngày càng
ra tăng với tốc độ nhanh, nếu không mở rộng phạm vi thẩm quyền thì lại là một quá trình phức tạp kéo dài Để đáp ứng nhu cầu đó một số văn bản pháp lý thấp hơn đa đặt ra những quy định về thẩm quyền không phù hợp với PLXLVPHC
Ví dụ: Quyết định số 709/2005/QĐ-UBTDTT của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban thể dục thể thao ngày 20/04.2005 về việc ban hành Quy chế kiểm tra giải thi đấu thể thao quy định thẩm quyền XPVPHC cho tiểu ban kiểm tra.
Ngoài ra, PLXLVPHC sủa đổi 2008 cũng chưa quy định thẩm quyền xử phạt của cá nhân đứng đầu các cơ quan thuộc bộ như cục trưởng Cục bảo vệ thực vật, Cục thú ý ( Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn), cục về sinh an toàn thực phẩm (Bộ y tế), Cục phòng chống tệ nạn xã hội (Bộ lao động – thương binh xã hội) và gần đây là Cục cảnh sát bảo vệ môi trường (Bộ công an) mặc dù
các cục và tổng cục “được tổ chức để tực hiện nhiệm vụ quản lí nhà nước chuyên ngành” (3) thể hiện sự phân cấp trong quản lí hành chính nhà nước Hơn nữa nhiệm vụ quản lí của các cục, tổng cục này liên quan chặt chẽ đến vấn đề có tính thời sự thu hút sự quan tâm của Nhà nước và toàn xã hội, thâm chí đây còn
là những vấn đề toàn cầu
Để khắc phục thiếu sót này, chúng cho rằng ngoài việc bổ sung những chức danh trong cục, tổng cục thuộc bộ, cơ quan ngang bộ có thẩm quyền xử phạt thì PLXPVPHC cũng cần có quy định mở để chính phủ có thể quy định thẩm quyền xử pạt trong những nghị định quy định về vi phạm và XPVP trong lĩnh vực quản lí hành chính nhà nước
Thứ hai, những hạn chế trong thẩm quyền xử phạt của người trực tiếp thi hành công vụ
Trước hết những hạn chế này thể hiện ở thẩm quyền áp dụng mức phạt tiền của người trực tiếp thi hành công vụ, nhiệm vụ còn quá thấp Hiện nay, những người trực tiếp thi hành công vụ, nhiệm cụ như chiến sĩ công an nhân dân, bộ đội biên phòng, kiểm lâm viên, nhân viên thuế chỉ được phạt tiền đến 200.000 đồng, đổi trưởng của họ cũng chỉ được phạt đến 500.000 đồng, còn chiến sĩ cảnh sát biển, kiểm soát viên thị trường, thanh tra chuyên ngành được phạt đến
Trang 4500.000 đồng (4) Mức phạt này căn cứ vào mức phạt tối đa của các khung tiền phạt được pháp luật quy định đối với hành vi vi phạm, không phải là mức phạt
mà người thi hành công vụ, nhiệm vụ đối với từng vi phạm xảy ra trong thực tế Các quy định này không đảm bảo cho người thi hành công vụ có thể xử phạt được các vi phạm hành chính xảy ra trong chính nganh, lĩnh vực, địa bàn mà
mình quản lí ngay cả những vi phạm rõ ràng Ví dụ: PLXLVPHC năm 2008 quy định thanh tra viên chuyên ngành thi hành công vụ được phạt tiền đến 500.000 đồng nhưng trong một số nghị định về XPVPHC, mức phạt thấp nhất lại từ là 500.000 đồng.(5)
Hơn nữa, PLXLVPHC chỉ trao cho chủ tịch UBND có thẩm quyền áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả còn với hầu hết những chức danh nêu trên đều không có thẩm quyền áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả, trừ thanh tra chuyên ngành đang thi hành công vụ (6) Do đó mặc
dù hành vi vi phạm nhỏ, mức phạt tiền nằm trong thẩm quyền của những người đang trực tiếp thi hành công vụ nhưng nếu có tang vật, phương tiện cần tịch thu hoặc là cần áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả do vi phạm hành chính gây ra thì người trực tiếp thi hành công vụ phải chuyển vụ việc đến người có thẩm quyền để xử phạt Thực tiễn xử phạt cho thấy do phải giả quyết quá nhiều
vi phạm do cấp dưới chuyển lên, người xử phạt lại chỉ biết vụ việc qua giấy tờ dẫn tới giảm hiệu quả của XPVPC và tốn thời gian, chi phí đi lại của cá nhân, tổ chức bị xử phạt
Hai là, nếu xem xét thẩm quyền trong mối quan hệ với thủ tục xử phạt thì các quy định của pháp luật hiện hành cũng không thống nhất Điều 54 pháp lênh sửa đổi năm 2008 quy định : “Trong trường hợp xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 10.000 đồng đến 200.000 đồng thì người có thẩm quyền xử phạt quyết định xử phạt tại chỗ.” Quy định này được hiểu 10.000 đồng đến 200.000 đồng
là mức phạt với chủ thể vi phạm cụ thể không căn cứ vào mức tiền phạt tối đa quy định cho hành vi vi phạm Với những vi phạm mà mức tiền phạt tối đa quy định với hành vi đó cao hơn thẩm quyền của những người trực tiếp thi hành công vụ thì buộc họ phải lập biên bản để chuyển vụ việc vi phạm lên trên xử lí mặc dù chủ thể chỉ bị xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiến đến 200.000 đồng Như vậy, mục đích việc quy định về thủ tục đơn giản là đảm bảo nhanh gọn không đạt được
Do đó kiến nghị ở đây là quy định về TQXPVPHC phải thể hiện sự phân công, phân cấp trong quản lí hành chính nhà nước Với mô hình quản li hành chính theo hình chóp thì cần thiết phải tăng thẩm quyền xử phạt cho cấp dưới, cho người trực tiếp thi hành công vụ, nhiệm vụ đồng thời tăng cường hoạt động kiểm tra, giám sát của cơ quan cấp trên
Thứ ba, những bất hợp lý trong các quy định về thẩm quyền xử phạt của thanh tra chuyên ngành
Theo Luật thanh tra 2004 về các cơ qua thanh tra được thành lập ở các cơ quan quản lí theo ngành, theo lĩnh vực (cơ quan thanh tra chuyên ngành) không
có quy định về tổ chức thanh tra trong các cơ quan thuộc bộ, cơ quan ngang bộ
Trang 5(6) (như trong các cục, tổng cục thuộc bộ, cơ quan ngang bộ) nhưng trong cơ cấu
tổ chức của các cục, tổng cục hiện nay vẫn thành lập tổ chức thanh tra với mục đích thực hiện sự phân công, phân cấp trong quản lí cũng như trong công tác thanh tra giữa các cơ quan thuộc bộ Do đó theo Luật thanh tra thì những cơ quan này không được hiểu là cơ quan thanh tra chuyên ngành và không có TQXPVPHC Nhưng trong các nghị định về XPVPHC trong các lĩnh vực những
tổ chức này vẫn được hiểu là những thanh tra chuyên ngành có thẩm quyền
XPVPHC Ví dụ: Nghị định số 26/2004/ND-CP ngày 19/03/2004 quy định XPVPHC trong lĩnh vực bảo vệ và kiểm dịch thực vật quy định thẩm quyền
xử phạt của chánh thanh tra chi cục bảo vệ thực vật tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và Chánh thanh tra Cục bảo vệ thực vật.
Thứ tư, về thẩm quyền quyết định hình thức xử phạt trục xuất Trục xuất là hình thức xử phạt chỉ áp dụng với người nước ngoài có hành
vi vi phạm hành chính trong phạm vi lãnh thổ, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trục xuất được áp dụng
là hình thức xử phạt chính hoặc hình thức xử phạt bổ sung tùy từng trường hợp Theo quy định của Pháp lệnh sửa đổi năm 2008 thẩm quyền áp dụng hình thức
xử phạt thuộc về Bộ trưởng Bộ công an, Cục trưởng Cục Quản lý xuất cảnh, nhập cảnh (7) Ngoài trục xuất ra, bộ trưởng Bộ công an, Cục trưởng Cục Quản lý xuất cảnh, nhập cảnh không có thẩm quyền áp dụng bất kì một biện pháp cưỡng chế hành chính nào được quy định trong PLXLVPHC
Trong trường hợp trục xuất là hình phạt chính thì các cơ quan có liên quan chỉ cần tiến hành các thủ tục đề nghị Bộ trưởng Bộ công an quyết định theo quy định của pháp luật Nhưng trong trường hợp trục xuất là hình phạt bổ sung đi kèm với hình thức xử phạt chính là cảnh cáo, phạt tiền hoặc trong trường hợp cần áp dụng hình thức xử phạt bổ sung khác hoặc cần khắc phục hậu quả do hành vi vi phạm gây ra thì không thể xác định biện pháp cưỡng chế này do ai có thẩm quyền quyết định Do đó không thể quy định thẩm quyền quyết định những biện pháp cưỡng chế này cho Bộ trưởng Bộ công an cùng với hình thức trục xuất vì thủ tục rất phức tạp không phù hợp với biện pháp cưỡng chế đó Hơn nữa, để hạn chế tối đa những hậu quả xấu cho xã hội bởi hành vi vi phạm hành chính do người nước ngoài gây ra thì việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế này cần đảm bảo nhanh chóng kịp thời
Vì vậy, hợp lý hơn cả là những người có thẩm quyền được quy định trong Pháp lệnh sẽ quyết định áp dụng các biện pháp cưỡng chế này với người nước ngoài như với công dân Việt Nam PLXLVPHC cần bổ sung thêm quy định:
“Khi xử phạt vi phạm hành chính đối với cá nhân nước ngoài thì người có thẩm quyền xử phạt như đối với công dân Việt Nam trừ trường hợp điều ước quốc tế
mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tham gia kí kết hoặc tham gia có quy định khác Nếu thấy có đủ điều kiện áp dụng hình thức xử phạt trục xuất thì đề nghị bộ trưởng Bộ công an quyết định theo quy định của pháp luật”
Trang 6III TÍNH HỢP LÝ CỦA PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH
Thủ tục XPVPHC được quy định chủ yếu tại Chương VI PLXLVPHC năm 2002 (sửa đổi 2008) Trên cơ sở Pháp lệnh năm 2002, ngày 14/11/2003 Chính phủ ban hành Nghị định 134/2003/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một
số điều của PLXLVPHC năm 2002, trong đó có các quy định về thủ tục XPVPHC (Chương IV Nghị định) Tiếp đó ngày 16/12/2008 Chính phủ ban hành Nghị định số 128/2008 NĐ-CP thay thế nghị định 134/2003/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của PLXLVPHC 2002 (sủa đổi 2008) Các nghị định quy định XPVPHC trong những lĩnh vực quản lý nhà nước chủ yếu viện dẫn các quy định của các văn bản trên
So với PLXLVPHC năm 1995, PLXLVPHC năm 2002 và PLXLVPHC năm 2008 đã có nhiều quy định cụ thể hơn về thủ tục xử phạt, bố sung thêm một
số quy định mới đáp ứng nhu cầu thực tế như: Điều 65 quy định thủ tục XPVPHC của PLXLVPHC để thi hành Nói cách khác, những quy định về thủ tục XLVPHC đã thể hiện rõ hơn tính minh bạch của pháp luật, thể hiện quan điểm của nhà nước về cải cách thủ tục hành chính
1 Thực trạng về thủ tục đơn giản
Cho đến nay, PLXLVPHC vẫn duy trì hai loại thủ tục xử phạt: thủ tục đơn giản và thủ tục có lập biên bản; tuy nhiên mức tiền xử phạt theo thử tục đơn giản đã được nâng từ 20.000 đồng (PLXLVPHC 1995) lên 200.000 đồng (PLXLVPHC 2008) Việc nâng mức tiền phạt theo thủ tục đơn giản là cần thiết
để khắc phục tình trạng vụ việc vi phạm phải dồn lên cấp trên giải quyết Tuy nhiên mức tiền xử phạt là 200.000 đồng vẫn còn thấp, nhiều vụ vi phạm chưa thể xử phạt theo thủ tục này Theo quy định tại Điều 54 PLXLVPHC 2002 (sửa đổi 2008), thủ tục đơn giản là trường hợp xử phạt mà người có thẩm quyền xử phạt không lập biên bản mà ra quyết định xử phạt tại chỗ Những trường hợp được tiến hành xử phạt theo thủ tục đơn giản bao gồm:
Hành vi vi phạm hành chính mà mức phạt quy định là cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 200.000 đồng;
Nhiều hành vi vi phạm hành chính do một người thực hiện mà hình thức và mức phạt quy định đối với mỗi hành vi đều là hình phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đên 200.000 đồng
Thông thường thủ tục đơn giản được áp dụng đối với vi phạm nhỏ, không
rõ ràng, không có tình tiết phức tạp, cần phải xác minh thêm như vượt đền đỏ, đi vào đường ngược chiều Đối với những trường hợp này, người có thẩm quyền
xử phạt có thể ra quyết định xử phạt ngay, cá nhân, tổ chức bị xử phạt có thể nộp tại chỗ, vụ việc được giải quyết nhanh chóng, trật tự quản lý cũng nhanh chóng khôi phục
Do vậy, khi xây dựng Luật xử lí vi phạm hành chính (LXLVPHC) cần duy trì thủ tục đơn giản vì tính hiệu quả của nó trong việc xử phạt đối với những
vi phạm nhỏ, đơn giản trong một số lĩnh vực trật tự, an toàn giao thông đô thị,
Trang 7vệ sinh đường phố Và cần phải nâng mức tiền xử phạt theo thủ tục đơn giản lên 500.000 đồng vì các khung tiền phạt được quy định cho khung tiền phạt rất ít
hoặc không có Chỉ có một số ít nghị định như Nghị định 150/2005/NĐ-CP quy định XPVPHC trong linh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội; Nghị định 146/2007/NĐ-CP ngày 14/03/2007 quy định XPVPHC trong lĩnh vưc giao thông đường bộ có nhiều mức phạt tiền có thể xử theo thủ tục đơn giản
2 Thực trạng về thủ tục xử phạt có lập biên bản
Áp dụng đối với những vi phạm tương đối nghiêm trọng mà hành vi vi phạm được quy định mức phạt tiền từ 200.000 đồng trở lên
a Về người có thẩm quyền lập biên bản: (Điều 55
PLXLVPHC )
Theo quy định mới người có thẩm quyền lập biên bản là người có thẩm quyền đang thi hành công vụ thuộc lĩnh vực quản lí nhà nước của Bộ, ngành, địa phương mình Quy định trước đây phù hợp với một số chức vụ, một số ngành
(thanh tra chuyên ngành) nhưng lại tỏ ra chưa hợp lý với yêu cầu “ khi phát hiện
ra vi phạm phải kịp thời lập biên bản” (Khoản 1 Điều 55 PLXLVPHC 2002)
trong trường hợp người đang thi hành công vụ là những người không có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính (như kiểm hóa viên, nhân viên hải quan…)
Để khắc phục vướng mắc này, Khoản 1 Điều 55 Pháp lệnh sửa đổi, bố sung như
sau: “người có thẩm quyền đang thi hành công vụ có trách nhiệm lập biên bản đối với vi phạm mà mình phát hiện trong trường hợp vi phạm hành chính không thuộc thẩm quyền xử phạt của người lập biên bản thì phải chuyển tới ngay người có thẩm quyền xử phạt dể tiến hành xử phạt” Pháp lệnh sửa đổi bổ
sung năm 2008 cũng bổ sung trường hợp người vi phạm cố tình trốn tránh hoặc
vì lí do khách quan mà không có mặt tại địa điểm xay ra vi phạm thì biên bản được lập xong phải có chữ kí của đại diện chính quyền cơ sở nơi xảy ra vi phạm hoặc của hai người làm chứng
b Về nội dung của biên bản (Khoản 2 Điều 55 PLXLVPHC)
Điều 55 quy định nội dung biên bản đã thể hiện rõ tính khoa học, chặt chẽ, phù hợp với thực tế
Tuy nhiên một số quy định của Nghị định 128/2008/NĐ-CP (hướng dẫn thi hành PLXLVPHC năm 2008) và mẫu biên bản xử phạt (ban hành kèm theo Nghị định) lại quá dài, mất thời gian, ảnh hưởng đến kết quả xử lí vi phạm (8) Trong nhiều trường hợp, người có trách nhiệm xử lý đã chuyển vụ việc về việc giải quyết theo thủ tục đơn giản với mức phạt thấp hơn để tránh thủ tục lập biên bản, dẫn đến lọt nhiều hành vi vi phạm không được xử lí thỏa đáng Qua thực tiễn thi hành pháp luật xử lí vi phạm hành chính, nhiều Bộ, ngành, địa phương cho rằng các mẫu quyết định tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm, mẫu biên bản đều rườm rà, chưa phù hợp với thực tế; biên bản tạm giữ phương tiện vi phạm hành chính theo quy định phải có hai người làm chứng, trên thực tế áp dụng rất khó Mẫu biên bản vi pham hành chính chưa hợp lí, vừa thừa, vừa thiếu, cụ thể: phần nội dung về điều, khoản quy định hành vi vi phạm của tổ
Trang 8chức, cá nhân chỉ in một dòng nên khi có hai hành vi vi phạm phải lập thành hai
vi phạm Do đó hướng hoàn thiện ở đây là Pháp lệnh chỉ nên quy định nội dung bắt buộc đối với quyết định XPVPHC còn việc xây dựng mẫu cụ thể nên giao cho từng ngành hướng dẫn thực hiện
Hơn thế nữa Nghị định 128/2008/NĐ-CP quy định "biểu mẫu của các biên bản, quyết định để sử dụng trong xử phạt vi phạm hành chính được ban hành kèm theo các nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước căn cứ vào các Điều 46, 47, 48, 49, 54, 55, 55a, 56, 61,
71, 78, 87, 96 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính" Thực tế một số nghị
định xử phạt vi phạm hành chính theo ngành, từng lĩnh vực không có quy định
về biểu mẫu, mà vẫn áp dụng các biểu mẫu quy định tại Nghị định 134/2003/NĐ-CP ngày 14/11/2003 của Chính phủ Do đó, đã xảy ra nhiều trường hợp cùng một quyết định xử phạt vi phạm hành chính thuộc phạm vi đa ngành, đa lĩnh vực nhưng cơ quan xử lý vi phạm lại ra 2 văn bản xử phạt với các mẫu biên bản khác nhau theo ngành, lĩnh vực tương ứng đây cũng là một trong những điều lưu ý khi xây dưng LXLVPHC
c Quyết định xử phạt, nội dung của quyết định xử phạt (Điều 56
PLXLVPHC )
Đây là một trong những điều của pháp lệnh sủa đổi theo quan điểm tạo điều kiện cho cơ quan, người có thẩm quyền xử phạt trong việc quyết định xử phạt nhưng cũng đảm bảo quyền, lợi ích cá nhân, tổ chức Điều 56 PLXLVPHC quy định ba loại thời hạn: 10 ngày đối với vụ việc đơn giản; 30 ngày với vụ việc phức tạp; đối với vụ việc phức tạp cần xác minh thêm, thì người có thẩm quyền
xử phạt được xin ra hạn thêm 30 ngày nữa qua các trường hợp này người có thẩm quyền xử phạt không được ra quyết định xử phạt, trừ trường hợp trục xuất Điều 23 Nghị đinh 128/2008 NĐ-CP còn quy định cụ thể các trường hợp quá thời hạn mà người có thẩm quyền không được ra quyết định Qua quá trình thực hiện cho thấy những quy định này phù hợp với thực tế., nhưng cũng còn một số
ý kiến cho rằng 30 ngày là quá ít vì nhiều vụ án phức tạp cần có thời gian để xác minh, thu thập thêm tài liệu liên quan đến nhiều đối tượng,…
Thực tiến cũng cho thấy khi thực thi Điều 56 và Nghị đinh
128/2008/NĐ-CP chưa quy định cụ thể thủ trưởng trực tiếp có quyền gia hạn thêm thời gian ban hành quyết định XPVPHC Trong trường hợp chủ tịch UBND cấp tỉnh cần thời hạn gia hạn thì cần xin phép Thủ tướng Chính phủ hay Bộ trưởng? Đây là vướng mắc cần giải quyết khi xây dựng LXLVPHC
d Về xử lý tang vật phương tiện bị tịch thu
Điều 61 PLXLVPHC 2002 đưa ra quy định về vấn đề này còn nhiều hạn chế đó là việc làm thế nào để xác định được giá trị phương tiện vi phạm để chuyển giao cho cơ quan tài chính cấp huyện hoặc trung tâm bán đấu giá cấp tỉnh? Thứ hai, trong một số trường hợp tang vật, phương tiện vi phạm bị tịch thu khó vận chuyển lên cấp tỉnh, nơi có trung tâm bán đấu giá để bán đấu giá? Nghị định 134/2003/NĐ-CP ban hành nhưng cũng chưa giải quyết triệt để những vướng mắc Để khắc phục một số khó hăn, vướng mắc Khoản 1, điều 61
Trang 9PLXLVPHC năm 2008 đã sửa đổi bổ sung theo hướng tích cực hơn: Đối với tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu, trường hợp tang vật, phương tiện vi phạm hành chính do người có thẩm quyền của cơ quan trung ương hoặc của cơ quan cấp tỉnh ra quyết định tịch thu thì giao cho Trung tâm dịch vụ bán đấu giá cấp tỉnh nơi xảy ra hành vi vi phạm để bán đấu giá Trường hợp tang vật, phương tiện vi phạm hành chính do người có thẩm quyền của cơ quan cấp huyện trở xuống ra quyết định tịch thu thì thành lập Hội đồng bán đấu giá của cấp huyện để bán đấu giá Việc bán đấu giá tang vật, phương tiện vi phạm hành chính được thực hiện theo quy định của pháp luật về bán đấu giá Đối với tang vật, phương tiện bị tịch thu mà không bán được thì cơ quan của người có thẩm quyền ra quyết định tịch thu thành lập hội đồng để thanh lý tài sản theo quy định của pháp luật Tiền thu được từ bán đấu giá tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, sau khi trừ các chi phí theo quy định của pháp luật, phải được nộp vào ngân sách nhà nước qua tài khoản mở tại Kho bạc nhà nước
e Cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt
Đây cũng là một trong những vướng mắc trong quá trình thực hiện pháp luật về XPVPHC Mặc dù biện pháp cưỡng chế cũng như thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế đã được quy định cụ thể tại Điều 66 và 67 PLXLVPHC 2002 nhưng việc cưỡng chế vẫn gặp những khó khăn nhất định do chưa có sự phối hợp của cơ quan, tổ chức trong việc thực hiện các biện pháp cưỡng chế, như biện pháp khấu trừ tài khoản ngân hàng Thực tiễn cho thấy việc khấu trừ tại tài khoản ngân hàng gặp khó khăn là do các ngân hàng vì mục đích thương mại, muốn bảo vệ khách hàng nên không phối hợp cưỡng chế Hơn thế cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong XPVPHC là công việc khó khăn, phức tạp và trình tự, thủ tục cưỡng chế quy định tại Nghị định 37/2005/ NĐ-CP còn nhiều vướng mắc gây lúng túng cho cơ quan có thẩm quyền xử phạt
Ngoài ra còn những khó khăn trong quy định về cơ quan, có thẩm quyền
xử phạt không có lực lượng chuyên trách để thi hành các quyết định XPVPHC theo quy định tại Điều 67 PLXLVPHC 2002 và Nghị đinh 37/2005/NĐ-CP thì những người có thẩm quyền ban hành quyết định cưỡng chế và có nhiệm vụ tổ chức việc cưỡng chế thi hành quyết định XPVP của mình và của cấp dưới, các
cơ quan chức năng của UBND có trách nhiệm thi hành quyết định cưỡng chế của Chủ tich UBND, lực lượng cảnh sát nhân dân chỉ có nhiệm vụ bảo đảm trật
tự an ninh trong quá trình thi hành quyết định cưỡng chế của chỉ tich UBND cùng cấp hoặc cơ quan khác của nhà nước khi các cơ quan đó yêu cầu Tuy nhiên quy định này không khả thi vì cơ quan xử phạt, chuyên môn của UBND không đủ lực lượng để tổ chức cưỡng chế Việc ban hành quyết định cưỡng chế thi hành trong lĩnh vực thuế đa áp dụng hết các biện pháp xử phạt như nộp chậm, tạm đình chỉ sử dụng hóa đơn gặp rất nhiều khó khăn gây thâm hụt ngân sách nàh nước Bên cạnh đó ngành thuế lại phải phối hợp với UBND, cơ quan bảo vệ pháp luật nên quá trình thực hiện không đồng bộ, thi hành cưỡng chế skhoong đạt hiệu quả
Trang 10Để khắc phục tình trạng, Điều 114 Luật quản lý thuế quy định mức xử phạt tương ứng với số tiền người nộp thuế phải nộp (bao gồm cả tiền phạt vi phạm pháp luật về thuế) đối với ngân hàng , tổ chức tín dụng không hợp tác với
cơ quan tiến hành cưỡng chế Tinh thần này cũng được thể hiện trong Điều 66a PLXLVPHC 2008
Trên thực tế một số đối tượng bị xử phạt không chây ỳ hoặc chống đối thi hành quyết định xử phạt mà do đời sống khó khăn nên không thể nộp được tiền XPVPHC Đối với địa bàn tỉnh Hà Giang, Lào cai và các tỉnh miền nùi, vùng nông thôn, đồng bào dân tộc, trình độ dân trí thấp, ý thực pahps luật còn bị hạn chế, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn vì vậy việc XPVPHC dưới hình thức phạt tiền là rất khó thực hiện, cơ quan có thẩm quyền xử lí phải chuyển sang hình thức xử nhẹ hơn để người dân có điều kiện thực hiện như cảnh cáo nên tính răn đe ngăn ngừa không cao Do đó theo ý kiến cá nhân tôi cần bổ sung quy định miễn, giảm việc thi hành quyết định XPVPHC bằng hình thức phạt tiền đới với những trường hợp nghèo khó về kinh tế, không có điều kiện thi hành quyết định XPVPHC
C KẾT LUẬN
Trên đây là những ý kiến đống góp của cá nhân tôi về tính hợp lí của pháp luật về thẩm quyền xử phạt và thủ tục xử phạt vi phạm hành chính Bên cạnh những ưu điểm thì những quy định của pháp luật về thẩm quyền xử phạt và thủ tục xử phạt còn nhiều hạn chế, bất cập và làm cho hiệu quả xử phạt không cao Đây là một trong những khó khăn trong quá trình pháp điển hóa để xây dựng luật và bộ luật về xử lí vi phạm hành chính Hơn thế nữa trong những năm gần đây nước ta đang đẩy mạnh hoạt động “cải cách hành chính”, do đó các nhà làm luật cần phải linh hoạt hơn nữa để khắc phục những hạn chế của pháp luật về thẩm quyền và thủ tục xử phạt vi phạm hành chính để làm cho những quy định pháp luạt có thể đi sâu hơn nữa vào thực tế
Do vốn kiến thức còn hạn hẹp nên trong quá trình làm đề tài bài làm của tôi cón nhiều thiếu sót Mong thầy cô và các bạn đóng góp để bài được hoàn thiện hơn Tôi xin chân thành cảm ơn!