Đề tài về : Tìm hiểu cấu trúc cú pháp của ca dao Việt Nam theo quan điểm ngữ pháp chức năng
Trang 1Trong lịch sử văn học, những nhà nghiên cứu Việt Nam đã có những công trìnhrất hay, rất bổ ích về ca dao Các nhà nghiên cứu đã khảo sát ca dao trên nhiềuphương diện: nội dung tư tưởng, hình thức nghệ thuật… Trong đó, về hình thứcnghệ thuật, yếu tố ngôn ngữ trong ca dao cũng được nhiều nhà nghiên cứu bàn đếntrong nhiều công trình Là một trong những loại hình sáng tác của, những ngườibình dân lao động, nên ca dao rất gần gũi với lời ăn, tiếng nói của con người, nênkhi nghiên cứu câu tiếng Việt, vấn đề cấu trúc cú pháp của ca dao cũng được nhiềungười quan tâm.
Với mong muốn khám phá giá trị của kho tàng ca dao Việt Nam trên bình diện
ngôn từ, người viết chọn đề tài: “Tìm hiểu cấu trúc cú pháp của ca dao Việt Nam
theo quan điểm ngữ pháp chức năng” Thực hiện đề tài này cũng là dịp người viết
trao dồi và cũng cố thêm vốn hiểu biết của mình về ngôn ngữ, đặc biệt là tri thứcngữ pháp tiếng Việt theo quan điểm chức năng - một quan điểm ngữ pháp mới trongviệc nghiên cứu câu tiếng Việt
Trang 2tính chất giới thiệu như: Giới thiệu lý phân đoạn thực tại câu của Lý Toàn Thắng (1981); Vấn đề thành phần câu của Hoàng tuệ (1988).
Đến đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, xuất hiện công trình nghiên cứu vềngữ pháp tiếng Việt theo quan điểm chức năng có hệ thống đầu tiên Đó là quyển
Tiếng Việt: Sơ thảo ngữ pháp chức năng, quyển 1 của Cao Xuân Hạo [5] (Đến năm
2004, công trình này đã được Nhà xuất bản Giáo dục tái bản) Trong quyển sáchnày, Cao Xuân Hạo đã xem xét câu tiếng Việt trên ba bình diện là cú pháp,
ngữ nghĩa và ngữ dụng Về cú pháp, Cao Xuân Hạo đã phủ nhận quan hệ chủ − vị
trong câu tiếng Việt Trên cơ sở tiếp thu kết quả nghiên cứu của một số nhànghiên cứu nước ngoài, Cao Xuân Hạo cho rằng cấu trúc cú pháp câu của tiếng Việtphản ánh sát sao hành động nhận định của tư duy Ông đã tiếp thu và ứng dụng khái
niệm đề − thuyết vào miêu tả cấu trúc cú pháp của câu tiếng Việt Cao Xuân Hạo đã chia phần đề thành nội đề và ngoại đề Theo ông, phần ngoại đề nằm ngoài thành phần cơ bản của câu nêu ông chỉ nhắc qua; phần nội đề thì ông đặc biệt chú ý tới vì
nó là cấu trúc cú pháp cơ bản của câu tiếng Việt Phần nội đề, đã được chia ra làm hai loại: chủ đề và khung đề Bên cạnh cấu trúc đề − thuyết mang tính chất miêu tả, thuật sự, ông còn đưa ra khái niệm đề tình thái và thuyết tình thái
Đến năm 1998, Cao Xuân Hạo cho xuất bản một quyển sách khác, do ông làm
chủ biên Đó là quyển Ngữ pháp chức năng, quyển 1: câu trong tiếng Việt: cấu trúc
− ngữ nghĩa − công dụng [2] Quyển sách này dựa trên nền tảng lý thuyết của quyển
Tiếng Việt: Sơ thảo ngữ pháp chức năng , quyển 1, được giản lược, dễ hiểu, dễ đọc
hơn
Năm 2005, Nhà xuất bản Giáo dục đã cho xuất bản tiếp quyển Ngữ pháp chức
năng tiếng Việt, quyển 2: Ngữ đoạn và từ loại, do Cao Xuân Hạo làm chủ biên.
Quyển sách này đi sâu hơn vào việc phân loại các loại ngữ đoạn chức năng và
từ loại theo quan điểm ngữ pháp chức năng
Ngoài ra, còn có một số công trình nghiên cứu khác liên quan đến ngữ phápchức năng như:
Vị từ hành động tiếng Việt và các tham số của nó của Nguyễn Thị Quy.
Quyển sách này miêu tả vị từ hành động của tiếng Việt và các vai nghĩa gắn liền với
Trang 3Tiếng Việt: Mấy vấn đề ngữ âm − ngữ pháp − ngữ nghĩa [4] của Cao Xuân
Hạo
Tiếng Việt − văn Việt − người Việt [3] của Cao Xuân Hạo.
Sang đầu thế kỷ XXI, xuất hiện công trình: “Ngữ pháp kinh nghiệm của cú tiếng
Việt: mô tả theo quan điểm chức năng hệ thống” của Hoàng Văn Vân.
Như vậy, tính từ công trình nghiên cứu đầu tiên có hệ thống xuất hiện vào năm
1991 đến nay, việc nghiên cứu cấu trúc câu tiếng Việt theo quan điểm ngữ phápchức năng ở Việt Nam chỉ mới trải qua 18 năm Tuổi đời một ngành khoa học còntrẻ như thế thì chưa thể nói đến những thành tựu rực rỡ nhất của nó Và nhìn chung,các công trình về ngữ pháp chức năng hiện nay đều tiếp thu kết quả nghiên cứu củaCao Xuân Hạo
2.2 Về ca dao Việt Nam
Việc nghiên cứu câu trong tiếng Việt theo quan điểm ngữ pháp chức năngxuất hiện ở Việt Nam muộn, nên vấn đề nghiên cứu cấu trúc cú pháp của ca daotheo quan điểm ngữ pháp chức năng còn rất mới mẻ Trong các công trìnhnghiên cứu về ca dao, cũng đã có một số tác giả đã vận dụng quan điểm ngữ phápchức năng để tìm hiểu cấu trúc của ca dao Tuy nhiên, những công trình như thếchưa nhiều, chưa cụ thể và chưa đưa ra cái nhìn toàn diện và hệ thống về cú pháp
ca dao Việt Nam theo quan điểm ngữ pháp chức năng
Trong quyển Thi pháp ca dao [13], tác giả Nguyễn Xuân Kính có đề cập đến
cấu trúc cú pháp của ca dao Trong công trình này, tác giả đã đề cập một số khíacạnh về ca dao theo quan điểm ngữ pháp chức năng Xem xét chức năng phản ánhphán đoán của ca dao, Nguyễn Xuân Kính đã chỉ ra vai trò của các phán đoán vàcác dạng mô hình của nó (thông qua những cách kết hợp khác nhau để tạo ra lời)
Từ việc chỉ ra sự sắp xếp, tổ chức của các phán đoán, Nguyễn Xuân Kính đã rút ramột số kết cấu của ca dao trên một số phương diện, đặc biệt là chức năng của từngthành tố (ngữ đoạn) được kết hợp lại bằng các phương tiện để tạo thành lời ca dao.Mặc dù Nguyễn Xuân Kính có dựa trên quan điểm ngữ pháp chức năng để tìm hiểu
ca dao, nhưng ông không có mục đích đi sâu phân tích cấu trúc cú pháp của ca dao
Trang 4Tác giả chỉ dùng nó làm phương tiên, cơ sở để ông nghiên cứu ca dao về mặt thipháp.
Cũng trên quan điểm ngữ pháp chức năng, Trương Thị Thuyết, trong Giáo trình
ngôn ngữ thơ [15], cũng đã nêu lên một số vấn đề về cấu trúc cú pháp của ca dao.
Tác giả đã dựa vào “thao tác lựa chọn” và “thao tác kết hợp” giữa các yếu tố dựatrên một khả năng nào đó của ngôn ngữ Tuy nhiên, tác giả vẫn chưa trình bày rõràng và có hệ thống theo quan điểm ngữ pháp chức năng
Trên thực tế hiện nay, cấu trúc cú pháp của ca dao Việt Nam đã được một sốnhà nghiên cứu nói đến Nhưng nhìn chung, việc nghiên cứu cấu trúc cú pháp của
ca dao Việt Nam còn sơ lược, trong khi ca dao là một kho tàng văn học vô giá cầnđược bàn đến trên nhiều phương diện
3. Mục đích yêu cầu
Ngôn ngữ ca dao Việt Nam có thể được nghiên cứu trên nhiều phương diện: từvựng, ngữ pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng Nếu nghiên cứu ca dao Việt Nam trên bìnhdiện ngữ pháp, về mặt lý thuyết, người nghiên cứu có thể tiếp cận ca dao theo haiquan điểm: ngữ pháp cấu trúc và ngữ pháp chức năng Nhưng trên thực tế nghiêncứu, tiếp cận ca dao Viêt Nam theo quan điểm ngữ pháp cấu trúc sẽ gặp nhiều bấtcập Vì trong ca dao, có những câu hầu như không có chủ ngữ theo cách hiểuthông thường Nhận thấy được những ưu điểm của ngữ pháp chức năng trong việcphân tích cấu trúc câu tiếng Việt, nên người viết sẽ vận dụng quan điểm ngữ pháp
chức năng để tìm hiểu và phân tích cấu trúc cú pháp của ca dao Việt Nam “Tìm
hiểu cấu trúc cú pháp của ca dao Việt Nam theo quan điểm ngữ pháp chức năng” là một thể nghiệm Qua đề tài này, người viết muốn thử làm sáng tỏ
cấu trúc cú pháp của ca dao Việt Nam theo quan điểm ngữ pháp chức năng
4. Giới hạn vấn đề
Do phạm vi nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu cấu trúc cú pháp của ca daoViệt Nam nên ở đề tài này, người viết chỉ dừng lại, tập trung vào việc phân tích cấutrúc của ca dao Việt Nam chứ không quan tâm nhiều đến nội dung, cũng như nghệthuật biểu hiện của từng câu ca dao
Trang 5Về vấn đề chọn ngữ liệu để thực hiện đề tài, trên thị trường sách vở có nhiềutuyển tập về ca dao, trong đó có những câu ca dao có nhiều dị bản khác nhau Đểthống nhất về ngữ liệu, trong luận văn này, người viết dựa vào hai quyển sách Đó
là quyển Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam, tập IV, quyển 1: Tục ngữ − ca dao
[14] của Viện văn học, Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia ấn hành và
quyển Tục ngữ - ca dao Việt Nam [12] của Mã Giang Lân.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong nghiên cứu ngôn ngữ, có thể sử dụng nhiều phương pháp Tuy nhiên,trong quá trình thực hiện đề tài này, người viết chủ yếu sử dụng phương pháp phântích, phương pháp tổng hợp và các thao tác, thủ pháp kỹ thuật phụ trợ cho haiphương pháp phân tích, tổng hợp là khái quát hoá, trừu tượng hoá và mô hình hoá.Đây là hệ phương pháp chính mà người viết sử dụng để tìm hiểu cấu trúc cú phápcủa ca dao Việt Nam Ngoài ra, trong quá trình thực hiện đề tài này, người viết còn
sử dụng phương pháp so sánh và phương pháp hệ thống hoá khi cần thiết, nhưng đó
là những phương pháp phụ trợ
Trang 6Chương 1
HÁI LUẬN VỀ CA DAO VIỆT NAM 1.1 Khái niệm về ca dao Việt Nam
Trong kho tàng văn học dân tộc nói chung và văn học dân gian nói riêng,
ca dao là một thể loại độc đáo Ca dao Việt Nam đã làm giàu thêm, phong phú hơncho nền văn học Việt Nam và văn học thế giới cả về số lượng lẫn về chất lượng Cadao Việt Nam thể hiện cách nhìn, quan niệm, tình cảm của con người Việt Nam vềcuộc sống, về con người, cách đối nhân xử thế của con người trong xã hội
Có thể nói, ca dao là tấm gương tốt để chúng ta soi mình vào đó, để tắm mìnhtrong những nét đẹp giản đơn, mộc mạc thuần khiết mà không lạc hậu, quê mùa
Ca dao là nơi để người Việt Nam thể hiện những tâm tư, tình cảm của mình
Ca dao Việt Nam, từ xưa đã được nhân dân ta sáng tạo, lưu truyền vàphát triển cho tới ngày nay Nó thể hiện cái hay, nét đẹp truyền thống của con ngườiViệt Nam trong các hoạt động văn hóa xã hội, giao tiếp Đồng thời, ca dao còn làthứ tài sản tinh thần vô giá của con người Việt Nam
Rất nhiều nhà nghiên cứu về văn học nói chung và văn học dân nói riêng đãđưa ra một số khái niệm về ca dao Người viết xin điểm qua quan niệm của một sốnhà nghiên cứu về khái niệm của ca dao:
Trong quyển Việt Nam văn học sử yếu, Dương Quảng Hàm đã giải thích khái niệm ca dao: “Ca dao là những bài hát ngắn, không có chương khúc…” [17; tr.20] Cũng bàn về khái niệm ca dao, trong quyển Lịch sử văn học Việt Nam, tập 2 của tập thể tác giả, Bùi Văn Nguyên (chủ biên) đã nêu: “Ca dao là những bài hát có
hoặc không có chương khúc, sáng tác bằng thể văn vần của dân tộc (thường là thể lục bát) để miêu tả, tự sự, ngụ ý và diễn đạt tình cảm” [11; tr.38]
Vũ Ngọc Phan, khi phân biệt giữa ca dao và dân ca cũng đã giải thích: “Ca
dao là một loại thơ dân gian, có thể ngâm được như các loại thơ khác” [16; tr.42]
Mã Giang Lân quan niệm: “Ca dao là một thể loại trữ tình của văn học dân
gian” [12; tr.9]
Trang 7Như vậy, cho đến nay, các nhà nghiên cứu vẫn chưa có sự thống nhất về kháiniệm của ca dao Nguyên do của việc chưa thống nhất trên là khi nghiên cứu thểloại ca dao, các nhà nghiên cứu đứng trên nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên,những công trình nghiên cứu đó đã nêu ra chi tiết các biểu hiện của ca dao trên cácmặt nội dung và hình thức nghệ thuật.
1.2 Đặc điểm của ca dao Việt Nam
Tìm hiểu thể loại ca dao, không thể không làm sáng tỏ giá trị nội dung Mặtkhác, sẽ thiếu sót rất lớn nếu chúng ta không quan tâm đến ngôn ngữ biểu đạt, trong
đó có cấu trúc cú pháp của thể loại này
1.2.1 Về nội dung
Ca dao Việt Nam chứa đựng nhiều nội dung khác nhau, phản ánh hiện thực
đa dạng của đời sống nhân dân, những tâm trạng, những tư tưởng và tình cảmphong phú của con người trong nhiều mối quan hệ phức tạp với thiên nhiên và xãhội
“Ca dao là tấm gương trung thực về cuộc sống muôn màu, muôn vẻ của nhân
dân Tóm lại, cũng như những thể loại văn học dân gian khác, qua ca dao, ta có thể thấy rõ hiện thực, tức là cái vốn có trong cuộc sống” [12; tr.8]
Nội dung của ca dao Việt Nam được thể hiện trên hai mặt chính: nội dungtrữ tình và nội dung thế sự
1.2.1.1 Nội dung trữ tình
Theo Mã Giang Lân trong quyển Tục ngữ - ca dao Việt Nam thì “Ca dao là
một thể loại trữ tình của văn học dân gian Những tác phẩm này nói lên mối quan
hệ của con người trong lao động, trong sinh hoạt gia đình xã hội hoặc nói lên những kinh nghiệm sống và hành động… thì bao giờ cũng bộc lộ thái độ chủ quan của con người đối với những hiện tượng khách quan, chứ không phải miêu tả khách quan những hiện tượng, những vấn đề Cho nên ở ca dao, cái tôi trữ tình được nổi lên rõ nét” [12; tr.9]
Ca dao là tiếng hát trữ tình của con người Việt Nam Đó là tiếng hát củatình yêu, tiếng hát của người phụ nữ đau khổ nhưng giàu tinh thần hi sinh vàđấu tranh dũng cảm trong quan hệ gia đình, của người nông dân, người lính…
Trang 8trong lao động và trong đấu tranh xã hội,… Tiếng hát trữ tình của những con người
đó chứa đựng nhiều nét tiêu biểu của tâm hồn và tính cách dân tộc ta
Trong nội dung trữ tình, ca dao về tình yêu nam nữ là bộ phận phong phú nhất
Ca dao trữ tình về tình yêu nam nữ hay nói đến những cuộc gặp gỡ của trai gáitrong khung cảnh lao động Tình cảm gắn bó giữa trai gái, do đó, thường đượcbiểu hiện trong mối quan hệ khăng khít với cuộc sống của nhân dân lao động
Nội dung ca dao trữ tình về sinh hoạt trong gia đình phản ánh những mối quan
hệ giữa các thành viện trong gia đình Nhân vật chính thường xuất hiện trongnội dung này là những người phụ nữ lao động Việt Nam
Ca dao trữ tình lấy đề tài trong đời sống xã hội phản ánh những tâm trạngđau khổ, uất ức, thái độ phản kháng của nhân dân lao động bị đè nặng dướiách thống trị nặng nề của giai cấp địa chủ và chính quyền phong kiến
Khi nói đến nội dung trữ tình của ca dao Việt Nam, Vũ Ngọc Phan đã nhận xét
“Trong ca dao, khi thể hiện tình cảm và ý nghĩ của mình, nhân dân thường cụ thể
hoá tình cảm, ý nghĩ của họ, chính là vì họ là người đấu tranh trực tiếp trong sản xuất, trong xã hội…” [16; tr.16]
1.2.1.2 Nội dung thế sự
Bên cạnh nội dung trữ tình, ca dao phản ánh nội dung thế sự cũng chiếm một
số lượng đáng kể và đạt được những giá trị to lớn về chất lượng
Nội dung thế sự chủ yếu mà ca dao thường nói đến là lịch sử Theo của Chu
Xuân Diên, “Ca dao lịch sử là những câu và những bài ca ngắn lấy đề tài ở những
sự kiện lịch sử Những biến cố lịch sử được ghi lại trong ca dao lịch sử là những biến cố ít nhiều có ảnh hưởng đến đời sống nhân dân đương thời” [7; tr.358]
Khi đề cập đến một hiện tượng lịch sử cụ thể, ca dao lịch sử không làm côngviệc miêu tả, kể chuyện chi tiết, nghĩa là không phản ánh hiện tượng lịch sử trongquá trình diễn biến của nó Trong ca dao lịch sử, nhân dân chỉ nhắc đến dự kiện lịch
sử để nói lên thái độ, quan điểm của mình
Ca dao lịch sử còn phản ánh lịch sử với ý nghĩa lịch sử - xã hội nói chung Vềmặt này, ca dao là một kho tài liệu phong phú về phong tục, tập quán của nhân dân
Trang 9ta ở nông thôn thời xưa Ngôn ngữ nghệ thuật của ca dao Việt Nam dựng lên mộtbức tranh nhiều màu sắc và hình nét đa dạng về đất nước Việt Nam.
1.2.2 Về hình thức nghệ thuật
Với tư cách là một thể loại thơ ca, ca dao đã vận dụng mọi khả năng của ngônngữ dân tộc để biểu hiện một cách chính xác, tinh tế cuộc sống và hơn nữa đểbiểu hiện một cách sinh động và giàu hình tượng, tâm tư, nguyện vọng của nhândân trong cuộc sống
Nói về tính hoàn chỉnh của một bài ca dao, Chu Xuân Diên đã đưa ra
nhận định: “Mỗi bài ca dao đều thể hiện một ý trọn vẹn và thường là cô đọng.
Do đó, ca dao thường là những bài, những câu thơ ngắn có biện pháp kết cấu nghệ thuật dần dần trở thành truyền thống, làm khuôn mẫu cho việc thể hiện thi hứng của nhân dân” [7; tr.410]
Hình thức nghệ thuật của ca dao được thể hiện trên nhiều phương diện:
1.2.2.1 Thể thơ
Nói về số lượng của các câu trong một bài ca dao, Vũ Ngọc Phan đã
nhận định: “Ca dao là những bài hát thường thường ngắn, hoặc hai, hoặc bốn,
sáu hay tám câu, âm điệu lưu loát và phong phú”.[16; tr.62]
Đặc điểm của ca dao về hình thức là vần vừa sát, lại vừa thanh thoát, không
gò ép, giản dị, tươi tắn Nó có vẻ như lời nói thường mà lại nhẹ nhàng, gọn gàng,chải chuốt, miêu tả được những tình cảm sâu sắc Ca dao của ta đã tận dụng tínhnhạc của tiếng Việt ở những tiếng đơn, tiếng kép, tiếng ghép, nên tả người, tả cảnhrất tài tình
Bàn về hình thức thể loại của ca dao, Hoàng Trinh đã nhận xét: “Về hình thức
thơ, đối ngẫu là hình thức phổ biến trong ca dao dưới mọi thể loại: đối ngẫu từ ngữ, đối ngẫu ngữ pháp, đối ngẫu ngữ nghĩa, đối ngẫu hai chiều, đối ngẫu đối lập
và phản đề…” [13; tr.132]
Khi sáng tác ca dao, tác giả dân gian đã sử dụng nhiều thể thơ khác nhau.Trong đó, thể lục bát gồm câu sáu, câu tám được dùng rất phổ biến
Trang 10Thể song thất lục bát gồm hai câu bảy chữ, một câu sáu chữ và một câu támchữ.
Thể vãn gồm câu có bốn hoặc năm chữ, thường được sử dụng trong đồng dao.Ngoài ra, ca dao cũng sử dụng hợp thể: thể thơ bốn chữ, năm chữ và thườngkết hợp với lục bát biến thể
Các thể thơ phong phú của ca dao đã diễn tả được nhiều sắc thái tình cảm củanhân dân lao động
Cũng như nhận định của nhiều nhà nghiên cứu, Mã Giang Lân cũng đã nhận
xét về nhịp điệu của ca dao “Nói đến ca dao, tức là nói đến thơ, về mặt hình thức,
trước hết phải nói đến nhịp điệu Đó là đặc điểm có tính chất thể loại, một động lực của thơ” Ông đã dẫn lời của Maiacốpxki: “Nhịp điệu là sức mạnh cơ bản, năng lực
cơ bản của câu thơ không giải thích được nó đâu, chỉ có thể nói về nhịp điệu như nói về từ lực hay điện Từ lực hay điện – đó là những dạng của năng lượng” Song
song đó, ông còn nhấn mạnh đến yếu tố ngắt nhịp của ca dao “Ca dao ngắt nhịp hai
là phổ biến, nhưng nhiều trường hợp, ca dao ngắt nhịp rất sáng tạo”.[12; tr.15]
1.2.2.2 Cấu tứ
Ca dao Việt Nam có những kiểu cấu tứ rất phong phú và độc đáo
Cấu tứ theo lối ngẫu hứng, không có chủ đề nhất định:
Là tổ cây cà, Làm nhà cây chanh
Cấu tứ theo lối đối thoại rất phổ biến trong ca dao:
Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?
Cấu tứ theo lối phô diễn thiên nhiên Đây là kiểu kết cấu quen thuộc trong cadao:
Trang 111.2.2.3 Ngôn ngữ
Tiếp cận ca dao từ góc độ ngôn ngữ học, Trương Thị Thuyết đã nhận định:
“Sử dụng đặc trưng giống nhau của các đơn vị ngôn ngữ, ca dao Việt Nam đã xây
dựng nên một hệ hình của mô típ “thân em” thật rộng lớn gồm nhiều hình ảnh tương ứng như: “dải lụa đào”, “hạt mưa sa”… Phát hiện nghệ thuật bắt đầu khi người nghệ sĩ dân gian đặt được dấu bằng giữa các tín hiệu ngôn ngữ trong cùng một hệ hình Muốn thành công, người nghệ sĩ phải bắt đầu bằng việc xác định cho được các tiêu chí tạo nên đặc trưng của từng yếu tố” [15; tr.45]
Cấu trúc so sánh là một cấu trúc tu từ được sử dụng rộng rãi Tác giả dân gian
dùng những tín hiệu chỉ dẫn: như, bằng, tựa… với chức năng như dấu bằng
trong toán học Các tín hiệu này là những khớp nối để tác giả tạo dựng những thôngbáo hoàn chỉnh
Cấu trúc so sánh của ca dao có mô hình chung như sau:
A + tín hiệu so sánh + B
Mô hình của cấu trúc so sánh được diễn đạt như sau:
- A thường là cái trừu tượng
- B thường là cụ thể
Đây là kiểu làm việc trên chất liệu ngôn ngữ mang tính phổ biến của ca dao.Bên cạnh việc xác lập các yếu tố trong ca dao trên hai thao tác lựa chọn và
kết hợp, Trương Thị Thuyết còn lưu ý thêm: “Mỗi ngữ đoạn đã được mã hoá thành
một chỉnh thể, rồi toàn bộ cấu trúc cũng trở thành một chỉnh thể nữa” [15; tr.60]
Nhờ những yếu tố ngôn ngữ, cấu tứ và các biện pháp nghệ thuật được dùngtrong ca dao mà ca dao có những cái hay rất đặc sắc và đa dạng Có những lời
ca dao giản dị, cụ thể Bên cạnh đó cũng có những bài ca dao rất điêu luyện, tinh tế
Đôi ta thương nhớ bao giờ cho nguôi
Non xanh nước bạc ta đừng quên nhau
Trang 121.2.2.4 Các biện pháp nghệ thuật
So sánh, ẩn dụ, nhân hoá, chơi chữ,… là những biện pháp nghệ thuật rấttiêu biểu trong ca dao
Ca dao Việt Nam thường lấy việc khai thác các yếu tố đồng nghĩa lâm thời làmphương tiện biểu hiện cơ bản Nó làm việc chủ yếu trên thao tác lựa chọn Vìvậy, hình tượng ngôn ngữ trong ca dao trước hết là những hình ảnh ẩn dụ tính.Chính việc tập trung vào khai thác thao tác lựa chọn đã làm cho ca daoViệt Nam rất ít sử dụng hệ kết hợp một cách mỹ học Các kết hợp ca dao hầu nhưđều là những kết hợp theo hình tuyến Các hình ảnh xuất hiện theo quy tắc “Từbình diện này đến bình diện khác” theo thời gian
Ca dao Việt Nam thường hay dùng lối so sánh ví von để xây dựng hình tượng,biểu đạt ý tứ Trong cách so sánh, những liên từ “giống như”, “như là”, “như thể”…hay được dùng để thể hiện mối quan hệ về mặt hình ảnh giữa chủ thể với những
sự vật và những hiện tượng được dùng để do sánh
Cùng ăn một lá, cùng nằm một nong
Song song với biện pháp so sánh, biện pháp ẩn dụ cũng rất thường được
sử dụng trong ca dao Trong biện pháp này, chủ thể nhập làm một với sự vật,hiện tượng dùng để so sánh Nhiều sự vật, hiện tượng quen thuộc đã trở thànhnhững hình tượng so sánh cổ truyền trong ca dao Việt Nam:
Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?
Biện pháp nhân hoá cũng là một biểu hiện tế nhị của biểu đạt trong ca dao ViệtNam
Nói đến vai trò của các thủ pháp nghệ thuật trong việc hình thành nênhình tượng trong ca dao và trong thơ, Trương Thị Thuyết đã giải thích: “So sánh,
Trang 13trong ca dao và trong thơ Ẩn dụ là nơi có mối liên tưởng không bị quy định bởitín hiệu thông báo cũng như bởi nội dung của tín hiệu được kêu gọi nên đã trở thành
vô cùng linh hoạt, đa dạng, cho phép tác giả đi hết chiều sâu năng lực hình tượngcủa mình Năng lực mã hoá các đơn vị ngôn ngữ của ẩn dụ là to lớn đến mứccho phép tác giả dễ dàng vượt giới hạn các câu ngữ pháp:
Ví dụ: Như trong trường hợp sau đây:
Một con chim chích mấy nơi đan lồng” [15; tr.67]
Trên đây là một số đặc điểm quan trọng trong cấu tứ của thơ trữ tình dân gian,
và những truyền thống nghệ thuật do những đặc điểm cấu tứ ấy tạo nên trong ca daoViệt Nam Những truyền thống nghệ thuật này không chỉ tồn tại dưới dạng nhữngđặc điểm về thủ pháp nghệ thuật mà còn tồn tại dưới dạng những câu hát có sẵnđược dùng vào trong những tác phẩm mới Sự hình thành nên một kho văn liệuthơ ca dân gian phong phú và việc sử dụng thường xuyên kho văn liệu đó trongsáng tác ca dao là một đặc điểm của sự sáng tạo nghệ thuật trong văn học dân gian
1.3 Phân biệt ca dao và các thể loại gần gũi
Ở Việt Nam, ngôn ngữ học tuy có phát triển muộn, các nhà nghiên cứu trênphương diện này cũng rất quan tâm tới đặc điểm các mặt của ca dao Trên cơ sở đó,các tác giả đã nêu ra một số kiến giải về ca dao để phân biệt với các thể loại văn họckhác
Trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu ca dao Việt Nam, muốn hiểu đượckhái niệm cũng như những biểu hiện cụ thể của nó, ngoài việc chỉ ra được dấu hiệuđặc trưng của nó, chúng ta còn phải đặt nó trong mối tương quan với các sản phẩmngôn từ khác có liên quan để thấy được những nét tương đồng cũng như khác biệtgiữa chúng Những sản phẩm ngôn từ có liên quan rất dễ nhầm lẫn với ca dao làtục ngữ và dân ca Trong thực tiễn nghiên cứu, việc phân định ranh giới giữa cácthể loại là điều không phải dễ dàng
Do phạm vi và yêu cầu của đề tài nêu ra, người viết không chú ý nhiều đếnnội dung và ý nghĩa của từng thể loại mà chỉ quan tâm đến hính thức và ngôn ngữthể hiện của chúng
Trang 14Để đưa ra các tiêu chí nhận diện ca dao, chúng ta phải xét nó trong mối tươngquan với hai thể loại văn học dân gian khác: tục ngữ và dân ca.
1.3.1 Ca dao và dân ca
Cao Huy Đỉnh trong Lối đối đáp trong ca dao trữ tình khi chỉ ra mối quan hệ
giữa ca dao và dân ca Việt Nam đã giải thích về mối quan hệ giữa ca dao và dân ca:
“Ngày xưa, phần lớn ca dao trữ tình làm ra để hát Rồi từ những bài hát có những
câu tách ra thành ca dao Ca dao sinh ra, còn lại, truyền đi và biến đổi chủ yếu thông qua sinh hoạt dân ca Chính vì vậy mà trên phần lớn ca dao trữ tình còn
in đậm rất rõ dấu ấn của dân ca…” [17; tr.7]
Theo Vũ Ngọc Phan, “Ca dao là một loại thơ dân gian có thể ngâm được như
các loại thơ khác và có thể xây dựng thành các giai điệu dân ca” [16; tr.42].
Còn “Dân ca là câu hát đã thành khúc điệu Dân ca là những bài hát có nhạc điệu
nhất định, nó ngả về nhạc nhiều ở mặt hình thức”[16; tr.43].
Khi phân biệt ca dao và dân ca, Đặng Văn Lung đã chỉ ra nguồn gốc của chúng:
“Các cụ ngày xưa có nói bỏ ca đi thì còn lại dao, có nghĩa là ca dao và dân ca ra
đời cùng một lúc Nhưng cũng không phải tất cả câu hát của dân ca là ca dao Đi sâu vào nghiên cứu thì thấy dân ca phát triển rất nhiều, còn ca dao chỉ có một số chức năng nhất định” Điều này đã gây khó khăn cho việc phân biệt hai thể loại.
Khi phân biệt giữa ca dao và dân ca, Chu Xuân Diên dựa vào tiêu chíchức năng:
chẽ các phương tiện nghệ thuật âm thanh, nhịp điệu và ngôn ngữ, được diễn xướng trong một sinh hoạt ca hát nhất định thì việc phân loại chủ yếu gắn liền
với dân ca
(b) Nếu xét dân ca Việt Nam với tư cách là những tác phẩm ngôn ngữ,
đặc biệt là khi được ghi lại bằng văn tự thì việc phân loại căn cứ vào đối tượngphản ánh của tác phẩm Trong trường hợp này, nó là ca dao
Ca dao được thể hiện dưới hình thức của những câu lục bát ngắn, hàm súc, là
những lời thơ dân gian “Ca dao người Việt thường được cấu tạo bằng hai câu lục
Trang 15bát, một thể thơ rất âm điệu tiếng Việt Khi có nhiều câu ca dao kết thành một đoạn ngắn và kết hợp với những thể thức hát nhất định nữa thì thành dân ca” [9; tr.355]
Theo Chim Văn Bé (qua trao đổi cá nhân), ca dao và dân ca khác nhau như sau:
“Dân ca là những bài hát của dân gian, là những chỉnh thể nghệ thuật với sự gắn
bó máu thịt giữa ca từ, làn điệu, giai điệu, gắn liền với môi trường diễn xướng cụ thể” Còn “Ca dao là văn bản nghệ thuật, không mang làn điệu và giai điệu về âm nhạc và không gắn bó trực tiếp với môi trường diễn xướng, được lưu truyền phổ biến bằng hình thức ngâm, đọc”.
Nói cách khác, ca dao là văn bản nghệ thuật phái sinh từ ca từ của dân ca khitiếng đế, tiếng đệm, tiếng láy bị lược bỏ Nhưng không phải bài dân ca nào cũng trởthành ca dao
Như vậy, điểm khác biệt rõ nhất của ca dao và dân ca và ca dao là ở chỗ: ca dao
là một thể loại được sáng tạo trên cơ sở hình thức thơ lục bát còn dân ca là lời cangắn có giai điệu Vì thế, dân ca thường được nghiên cứu trên phương diện văn hoánghệ thuật còn ca dao có thể được nghiên cứu trên nhiều phương diện: văn học,ngôn ngữ học…
1.3.2 Ca dao và tục ngữ
So sánh về đặc tính của ca dao và tục ngữ, nhà nghiên cứu Hoa Bằng đã nhận
định: “Đặc tính của tục ngữ là đem những điều kinh nghiệm về thiên thời, về nhân
sự, về thế thái, về tục tình, về cách xử lý, về phương tiếp vật mà nêu lên những bài học thuộc phạm vi nhân cách,… tuỳ theo trình độ và hoàn cảnh thời đại Đặc tính của ca dao là khoác hình thức văn chương bình dị và thiết thực mà trau dồi cái ý bóng bẩy, tư tưởng thâm trầm, khiến cho nghe dễ lĩnh hội vì lời văn nhẹ nhàng, giản dị, tiện ghi nhớ…”[17; tr.52]
Xét về mặt ngôn ngữ học, Nguyễn Xuân Kính trong Thi pháp ca dao cho rằng
“Tục ngữ là những đơn vị thông báo, là những câu đơn hoặc câu ghép, là một hay
nhiều phán đoán” [13; tr.47], “Ca dao thường được sáng tác theo thể lục bát”
[13; tr.49]
Xét về cả hai mặt nội dung và hình thức, căn cứ vào thời gian xuất hiện,
Vũ Ngọc Phan cho rằng “Tục ngữ là một thể loại văn học dân gian đã phát triển
Trang 16trước ca dao” Ông đưa ra lý do của nhận định như sau “Tục ngữ là những câu ngắn, có câu chỉ là một lời nói xuôi tai, không vần vè Còn ca dao, ngay ở những bài được coi là cổ thì nhạc điệu cũng đã rất phong phú, lời rất vững chắc, biểu hiện những diễn biến, tiến sâu theo nhiều cung bậc”.[16; tr.53]
Về mặt hình thức ngôn ngữ, Mã Giang Lân đã nêu: “Ở tục ngữ, tư tưởng thường
được biểu hiện qua hình thức ngôn ngữ ngắn gọn Ở ca dao, tư tưởng và tình cảm một mặt được cô đúc dưới hình thức ngôn ngữ vững chắc và mặt khác lại còn được diễn đạt trong sự vận động rất phong phú và đa dạng của ngôn ngữ học”. Ông còn
nói rõ hơn: “Thông qua việc sáng tác ca dao, nhân dân đã đưa ngôn ngữ văn học
đến trình độ nghệ thuật cao” [12; tr.14]
Bàn về sự khác nhau giữa ca dao và tục ngữ, Mã Giang Lân đã đưa ra nhận xét:
“Nếu như tục ngữ thiên về lý trí, đúc kết kinh nghiệm về cuộc sống thì ca dao lại
thiên về tình cảm (nội dung trữ tình)”.[12; tr.7]
Mã Giang Lân, khi bàn về đặc điểm chất thơ được thể hiện trong ca dao và
tục ngữ, trong quyển Tục ngữ - ca dao Việt Nam, ông đã nêu: “…Tục ngữ cũng là
một dạng thơ Tuy nhiên, chất thơ có thể thấy một cách đầy đủ, toàn diện trong
ca dao Sở dĩ như thế một phần là vì trong ca dao, hiện thực được phản ánh một cách cô đúc hơn là trong ngôn ngữ hàng ngày” [12; tr.8]
Trên đây, người viết đã đưa ra một số quan điểm nghiên cứu và kiến giải về
ca dao Việt Nam của những nhà nghiên cứu tiêu biểu Trên tinh thần đó, cácnhà nghiên cứu đã trình bày quan điểm của mình trên góc độ ngôn ngữ học
Do đứng trên những lập trường nhìn nhận khác nhau và trên những góc độ nhìnnhận khác nhau nên những kiến giải có khi còn chưa nhất quán Tuy nhiên, cácnhà nghiên cứu cũng đã có những đóng góp đáng kể cho sự bảo tồn và phát huy nétđẹp của văn học dân gian nói chung và ca dao nói riêng trên nhiều phương diện,ngôn ngữ cũng như văn học
Cũng như thành ngữ, tục ngữ thường được thể hiện trong khuôn khổ một dòngtrên văn bản viết Còn ca dao được thể hiện bằng nhiều dòng và hình thức thể hiệncủa nó đa phần là những câu lục bát (câu 6 chữ và câu 8 chữ) Những câu tục ngữsau đây được thể hiện trên khuôn khổ một dòng thì ít khi bị nhầm lẫn với ca dao:
Trang 17(11) Ăn kỹ no lâu, cày sâu tốt lúa.
Như vậy , các sản phẩm ngôn từ dân gian được thể hiện ngắn gọn trên một dòng,
có nội dung đúc kết kinh nghiệm đời sống chính là tục ngữ Những trường hợp nàyrất dễ nhận diện
Bên cạnh đó là những trường hợp ca dao và tục ngữ giao thoa, xâm nhập lẫnnhau, gây khó khăn cho việc nhận diện, phân biệt hai thể loại Điều này cũng đã
được một số nhà nghiên cứu lưu ý: “Nhưng thực ra, giữa hai thể loại tục ngữ và
ca dao không phải là không có những trường hợp xâm nhập lẫn nhau Trong ca dao cũng có xen tục ngữ và cũng có những câu ca dao chỉ có hình thức ca dao còn nội dung là tục ngữ” [12; tr.9]
Đặc biệt là khi những sản phẩm ngôn từ dân gian có yếu tố cảm xúc và đượcthể hiện bằng một cặp lục bát thì việc xác định nó là ca dao hay tục ngữ trở nên rấtphức tạp Điển hình như trong những trường hợp sau đây:
Người khôn ít nói, ít hay trả lời
Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau
Có công mài sắt, có ngày nên kim
Bên cạnh đó, lại có những bài ca dao nêu lên những nhận định về con người,
xã hội, nên chúng mang dáng dấp tục ngữ Mã Giang Lân cũng đã đề cập đến
hiện tượng này: “Do nội dung cô đọng, hàm súc, nhiều câu ca dao, chủ yếu là
những câu ca dao nhận định về con người và việc đời thì ca dao lại được dùng như tục ngữ” [12; tr.9]:
Coi nhau như bát nước đầy thì hơn
Trang 18(17) Gánh cực mà đổ lên non,
Còng lưng mà chạy, cực còn chạy theo
Trên đây là những trường hợp gây khó khăn cho việc phân biệt ca dao vàtục ngữ Tuy nhiên, những trường hợp tương tự như thế không xuất hiện nhiều.Nhưng sự có mặt của chúng cũng gây nhiều khó khăn cho các nhà nghiên cứutrong việc phân định ranh giới của chúng
Nhìn chung, người ta phân biệt sự khác nhau của ca dao và tục ngữ ở chỗ: “Tục
ngữ thiên về lý trí, tục ngữ cung cấp cho người nghe những triết lý dân gian, tri thức dân gian, ca dao thiên về tình cảm, có nội dung trữ tình dân gian” [13; tr.50]
Trên phương diện môi trường giao tiếp, Nguyễn Xuân Kính còn đưa ra tiêu chí
phân biệt: “Trong hoạt động sinh hoạt văn hoá, ca dao là những lời thơ dân gian
được dùng để hát, để ngâm Tục ngữ được dùng trong khi nói Trong hoạt động nói năng, mỗi câu tục ngữ là một câu nói đặc biệt được dùng xen vào giữa những câu nói bình thường khác” [13; tr.50]
Trang 19Chương 2
CẤU TRÚC CÂU TIẾNG VIỆT THEO QUAN ĐIỂM NGỮ PHÁP CHỨC NĂNG
2.1 Khái niệm về cấu trúc đề - thuyết
Theo quan điểm chức năng, cấu trúc cú pháp cơ bản của câu tiếng Việt đượcchia thành hai thành phần trực tiếp: phần đề và phần thuyết Cao Xuân Hạo đã định
nghĩa đề và thuyết như sau: “Đề là thành tố trực tiếp của câu nêu rõ phạm vi ứng
dụng của điều được nói bằng thành tố trực tiếp thứ hai: phần thuyết” [5; tr.41]
Ở đây, chúng tôi tiếp thu định nghĩa: “Đề là thành phần trực tiếp thứ nhất của
câu nêu lên phạm vi hiệu lực của nội dung được triển khai trong thành phần trực tiếp thứ hai: phần thuyết”.[6]
ngữ đoạn “cắn môi nghĩ ngợi” là phần thuyết Phần thuyết triển khai nội dung nhậnđịnh về phần đề đã nêu ra
vật - cá thể; ngữ đoạn “đã ra kia rồi” là phần thuyết Phần thuyết này triển khai nộidung nhận định về phần đề đã nêu ra
Trang 20Và ví dụ (20) có phần đề là “Cả đình” Phần đề này nêu lên một đối tượng cótính chất cá thể Phần ngữ đoạn còn lại là thuyết Phần thuyết này triển khai nộidung được nói ở phần đề
2.2 Phân loại đề
Trong quyển Ngữ pháp chức năng quyển 1, Câu trong tiếng Việt: Cấu trúc −
ngữ nghĩa − công dụng, Cao Xuân hạo đã chia đề thành nội đề và ngoại đề,
trong đó, ngoại đề không thuộc cấu trúc cú pháp cơ bản của câu còn nội đề làthành phần cấu trúc cơ bản của câu tiếng Việt
Chủ đề: là thành phần câu nêu cái được nói đến trong phần thuyết của câu Nó thu
hẹp phạm vi ứng dụng của phần thuyết vào một đối tượng Đối tượng đó có thể làmột cá nhân, một tập hợp hay một sự tình [5; tr.42]
Khung đề: là thành phần câu nêu rõ những điều kiện làm thành cái khung về tình
huống, thời gian, không gian Trong đó, điều kiện được nói ở phần thuyết có hiệulực [5; tr.42]
Trong hai loại đề mà Cao Xuân Hạo đã nêu, chúng tôi băn khoăn về khái niệm
“chủ đề” Khái niệm “chủ đề” theo cách dùng của Cao Xuân Hạo dễ gây
chồng chéo với khái niệm “chủ đề” trong lĩnh vực văn học Vì vậy, chúng tôi tiếp thu quan niệm chia phần đề thành hai loại: đề tài và đề khung (đổi vị trí của khung
đề thành đề khung để có sự đối xứng nghĩa với đề tài).
2.2.1 Đề tài
Đề tài là loại đề nêu lên đối tượng mang tính chất cá nhân, cá thể, hay mang tậphợp, chủng loại mà phần thuyết sẽ triển khai.[6]
Trang 21Ví dụ:
2.2.2 Đề khung
Đề khung là loại đề nêu lên một giới hạn về không gian, thời gian hay điều kiện
mà nội dung được triển khai ở phần thuyết có hiệu lực.[6]
Ví dụ:
Ví dụ (26), “Năm nay” là một đề khung nêu lên giới hạn một phạm vi vềthời gian
gian
tính chất khẳng định
2.3 Mở rộng cấu trúc đề - thuyết theo quan hệ ngữ đoạn
Câu tiếng Việt có thể được cấu tạo bằng một cấu trúc đề − thuyết Bên cạnh đó,cấu trúc câu còn có thể mở rộng theo quan hệ ngữ đoạn bằng cách thêm vào cấutrúc đề − thuyết đã có một, một vài phần đề, một, một vài phần thuyết, hay một, mộtvài cấu trúc đề - thuyết Kết quả thu được của việc mở rộng cấu trúc cú pháptheo quan hệ ngữ đoạn là các hiện tượng ghép: ghép đề, ghép thuyết, ghép
Trang 22đề − thuyết, mà phương thức ngữ pháp được sử dụng ở đây là trật tự tuyến tínhhay kết từ [6]
Khi câu có hiện tượng ghép đề − thuyết mà một vế là mỗi cấu trúc đề - thuyếtthì mỗi cấu trúc đó là một cú (cú là cấu trúc đề − thuyết dưới bậc câu)
(Để dễ dàng trong cách trình bày cấu trúc cú pháp của câu tiếng Việt
bằng sơ đồ, chúng tôi quy ước về chữ viết tắt:
Đề tài bậc câu, cú thì được ký hiệu là: ĐT
Đề tài bậc tiểu cú thì được ký hiệu là: đt
Đề khung bậc câu, cú thì được ký hiệu là: ĐK
Đề khung bậc tiểu cú thì được ký hiệu là: đk
Đề tình thái bậc câu, cú thì được ký hiệu là: ĐTh
Đề tình thái bậc tiểu cú thì được ký hiệu là: đth
Thuyết bậc câu, cú thì được ký hiệu là: T
Thuyết bậc tiểu cú thì được ký hiệu là: t
Thuyết tình thái bậc câu, cú thì được ký hiệu là: TTh
Thuyết tình thái bậc tiểu cú thì được ký hiệu là: tth
Cú được ký hiệu là: C’
Cú thứ nhất của câu được ký hiệu là: C’1
Cú thứ hai của câu được ký hiệu là: C’2
Cú thứ ba của câu được ký hiệu là: C’3
Cú thứ tư của câu được ký hiệu là: C’4)
Trang 23một cá nhân “Lý cựu” là đề tài thứ nhất, “phó lý” là đề tài thứ hai, “thủ quỹ” là đềtài thứ ba Đây là câu có hiện tượng ghép đề.
(30) Đồng đăng có phố Kỳ Lừa, có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh.(Ca dao)
ĐT T1 T2 T3
Trong ví dụ này, phần thuyết được mở rộng theo quan hệ ngữ đoạn thành
ba phần: “có phố Kỳ Lừa” là thuyết một, “có nàng Tô Thị” là thuyết hai, “cóchùa Tam Thanh” là thuyết ba Đây là hiện tượng ghép thuyết
2.4 Phức tạp hoá cấu trúc đề - thuyết theo quan hệ đối vị
Cấu trúc đề − thuyết trong câu có thể được phức tạp hóa theo quan hệ đối vị
mà kết quả thu được là hiện thượng phức: phức đề, phức thuyết, phức đề − thuyết.Khái miện “phức” ở đây được hiểu theo nghĩa: phần đề, thuyết hay cả cấu trúc
đề thuyết được cấu tạo bằng hay bao chứa trong nó cấu trúc đề − thuyết dưới bậc,được gọi là tiểu cú [6]
Trang 24cái gì” là thuyết của tiểu cú “Cũng ngon” là thuyết của câu Đây là hiện tượngphức tạp hóa đề bằng một tiểu cú.
2.5 Đề tình thái và thuyết tình thái trong câu tiếng Việt
2.5.1 Khái niệm về nghĩa tình thái và sự thể hiện nghĩa tình thái trong câu
Nghĩa của câu gồm hai thành phần: nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái Nghĩa miêu
là thành phần nghĩa phản ánh thái độ, sự nhìn nhận, đánh giá của người nói, ngườinghe về sự tình được câu biểu đạt
Nội dung tình thái biểu thị sự nhìn nhận, đánh giá của người nói xoay quanh cáctính chất: tính hiện thực, chân thực, khả năng; tính chân lý, hợp lý, đạo lý; tính tấtyếu; tính may rủi; tính tích cực, tiêu cực
Trang 25(35) Giá tôi có ở nhà thì đâu đến nỗi (Nam Cao)
Nội dung tình thái của câu có thể được cấu trúc hoá thành phần đề hay phần
thuyết Khi nội dung tình thái được cấu trúc hoá thành phần đề thì ta có đề tình thái Khi nội dung tình thái được cấu trúc hoá thành phần thuyết thì ta có thuyết tình thái.
2.5.2 Đề tình thái
Đề tình thái là loại đề nêu lên sự nhìn nhận, đánh giá của người nói về sự tình
hiện thực, chân thực, khả năng; tính chân lý, hợp lý, đạo lý; tính tất yếu; tính mayrủi; tính tích cực, tiêu cực Đề tình thái có thể thuộc nhiều bậc: câu, cú, tiểu cú [6]
Ta xét các ví dụ sau:
sự việc mà người nói là chủ thể
(38) May ra (thì) họ không chết đói (Kim Lân)
đt t
ĐTh T
Trong ví dụ này, “may ra” là đề tình thái nêu lên một nhận định của người nói
về sự tình được nêu tiếp theo là kết quả trong tương lai “Họ không chết đói” làphần thuyết (được cấu tạo bằng một tiểu cú), là sự tình có khả năng xảy ra Giữa
đề tình thái và thuyết là tác tử “thì” dùng để phân giới
Trang 26(39) Thật ra (thì) lúc ấy hắn cũng chưa nhận ra thị (là) ai (Kim Lân)
đt t
đt t
đk t
ĐTh T
Trong ví dụ, “thật ra” nêu lên nhận định: điều được nêu tiếp theo mới là chínhxác, hợp lý so với một nhận định hay một sự tình nào đã được nêu trước đó
“Thì” là tác tử cú pháp dùng để phân giới đề tình thái với phần thuyết còn lại
ĐTh TTrong ví dụ này, “khéo lắm” là đề tình thái Phần đề tình thái này nêu ra mộtnhận định được nêu tiếp theo là khả năng tối đa Tác tử “thì” trong câu dùng đểđánh dấu và phân giới đề tình thái và thuyết còn lại
đth t
ĐT TTrong ví dụ này, “tất nhiên” là đề tình thái của tiểu cú Phần đề tình thái này nêulên nhận định, rằng sở thuyết là điều tất nhiên
2.5.3 Thuyết tình thái
Thuyết tình thái là phần thuyết biểu thị sự nhìn nhận, đánh giá của người nói về
các tính chất: tính hiện thực, chân thực, khả năng; tính chân lý, hợp lý, đạo lý;tính tất yếu; tính may rủi; tính tích cực, tiêu cực Thuyết tình thái có thể thuộc nhiều
Trang 27
đt t
ĐT TTh Trong ví dụ này, “là cùng” là phần thuyết tình thái Phần thuyết này biểu thị
sự lượng định của người nói về khả năng tối đa của sự tình được nêu phía trước
“Là” là tác tử để phân giới đề và thuyết tình thái
ĐT TTh
tình, lúc ấy chưa xảy ra nhưng có khả năng xảy ra Giữa đề tài và thuyết tình tháiđược phân giới bởi tác tử “thì”
2.6 Các tác tử chuyên dùng để đánh dấu và phân giới đề - thuyết trong câu tiếng Việt
Theo quan điểm ngữ pháp chức năng, có ba tác tử cú pháp chuyên dùng để
phân giới và đánh dấu phần đề, phần thuyết trong câu tiếng Việt: “thì”, “mà”, “là”.
2.6.1 Tác tử “thì”
Thì là một tác tử cú pháp chủ yếu chuyên dùng để đánh dấu và phân giới
đề - thuyết bậc câu, cú, tiểu cú Khi “thì” xuất hiện trong câu với chức năng là tác tử
Trang 28cú pháp để phân giới đề - thuyết, thì ngữ đoạn trước “thì” là phần đề, ngữ đoạn sau
(46) Đàn ông (mà) có tài, có tâm (thì) ai cũng kính trọng
đt t1 t2 đt t
ĐK T
Trong câu này, thì cũng là một tác tử cú pháp dùng để đánh dấu và phân giới
đề, thuyết bậc câu Ngữ đoạn trước “thì” là đề, ngữ đoạn sau “thì” là thuyết
đt t đt t đt t
ĐK T ĐK T ĐK T C’1 C’2 C’3
Trong ví dụ này, câu vừa được mở rộng theo quan hệ ngữ đoạn thành ba cú, vàmỗi cú có phần đề được phức tạp hoá theo quan hệ đối vị thành tiểu cú Tác tử “thì”trong ví dụ này đánh dấu và phân giới đề thuyết bậc cú
2.6.2 Tác tử “là”
“Là” cũng là một tác tử cú pháp chủ yếu chuyên dùng để đánh dấu và phân giới
Trang 29những ngữ đoạn phi thuyết tính) Khi “là” xuất hiện trong câu với chức năng là
-là một cấu trúc đề thuyết được phức tạp hoá thành một tiểu cú
Trong ví dụ này, “là” cũng là một tác tử cú pháp chuyên dùng dùng để phân giới
và đánh dấu đề - thuyết bậc câu Ngữ đoạn trước “là” là đề, ngữ đoạn từ “là” trở vềsau là thuyết Phần đề trong ví dụ này nêu lên một đối tượng mang tính chất cá thể,
là đề tài của câu
Trang 30(51) Con hơn cha (là) nhà có phúc.
đánh dấu đề thuyết nhưng nó không phân giới đề - thuyết ở bậc câu mà ở bậc tiểucú
“Là” bắt buộc phải dùng trong kiểu câu có phần thuyết tình thái đã được
thành ngữ hoá: “là cùng”, “là hết mức”, “là ít”, “là nhiều”, “là cái chắc”…
Trong một số trường hợp, tác tử “là” đứng đầu câu, khi câu đã bị tỉnh lượcphần đề dựa vào ngôn cảnh hay tình huống
Ta chỉ muốn một điều Là ngươi đừng đặt chân vào đây
Trong ví dụ này “Điều ta muốn” là phần đề đã được lược bỏ nhờ vào văn cảnh
“Là ngươi đừng đặt chân vào đây” là phần thuyết
Lưu ý: có nhiều trường hợp là xuất hiện trong câu nhưng nó không phải là tác
tử cú pháp dùng để phân giới và đánh dấu đề - thuyết, tiêu biểu là các trường hợpsau đây:
Trang 31_ “Là” dẫn nhập bổ ngữ đứng sau một số vị từ biểu thị hoạt động nhận thức,cảm nghĩ, nói năng của con người và bổ ngữ được cấu tạo bằng tiểu cú mà tiêu biểu
là các tổ hợp sau đây: nghĩ là, biết là, tưởng là, bảo là, mong là, cho là,…
Trong những trường hợp này, “là” đánh dấu quan hệ chính phụ và có chức năng tương đương với “rằng”.
_ “Là” kết hợp với danh từ hay tính từ theo mô hình: X ơi là X.
(57) Cô ấy trắng ơi là trắng !
ĐT T
_ “Là” xuất hiện ở cuối câu trong ngôn ngữ Bắc Bộ chỉ mức độ
(58) Cô ấy xinh xinh là
ĐT T
2.6.3 Tác từ “mà”
Mà cũng là một tác tử cú pháp chủ yếu chuyên dùng để đánh dấu và phân giới
đề - thuyết bậc câu, cú, tiểu cú và nó thuộc phần thuyết Khi “mà” xuất hiện
trong câu với chức năng là tác tử cú pháp để phân giới đề - thuyết thì ngữ đoạn
trước “mà” là phần đề, ngữ đoạn sau “mà” là phần thuyết.[6]
Trang 32(59) May (mà) còn vớt vát được ít tiền.
ĐTh T
Trong ví dụ này, “mà” là tác tử cú pháp chuyên dùng để phân giới và đánh dấu
Đề - Thuyết bậc câu Ngữ đoạn trước “mà” là đề Ngữ đoạn sau “mà” là thuyết.Phần đề là một nhận định của người nói về một sự may rủi làm đề tình thái của câu
Câu có hàm ý và hàm ý bộc lộ rõ trong câu so sánh
ĐT T
đt t
ĐK T