1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thơ Nho việt Nam từ giữa thế kỷ XIV đến giữa thế kỷ XV

205 1K 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thơ Nho Việt Nam Từ Giữa Thế Kỷ XIV Đến Giữa Thế Kỷ XV
Thể loại Luận Văn
Định dạng
Số trang 205
Dung lượng 1,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài về : Thơ Nho Việt Nam từ giữa thế kỷ XIV đến giữa thế kỷ XV

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Theo tiến trình vận động của thơ ca Việt Nam, đến giữa thế kỷ XIV ta thấy thơ có dấu hiệu chuyển biến Thơ Thiền phát triển mạnh và chiếm địa vị chủ đạo từ thế kỷ X đến đầu thế kỷ XIV; nhưng đến giữa thế kỷ XIV thì lực lượng sáng tác, số lượng tác phẩm thơ Thiền đã giảm thiểu Thơ ca từ giữa thế kỷ XIV về sau tiếp tục phát triển, nhưng lực lượng sáng tác chủ yếu là nhà nho Nhìn chung số lượng tác giả, tác phẩm thơ phát triển Quan niệm nghệ thuật, cảm hứng thơ ca thời gian này chủ yếu là thuộc về loại hình tác giả nhà nho

Nguyên nhân sâu xa của sự thay đổi này là sự thay đổi vị thế của tư tưởng Phật giáo đối với xã hội Vị thế thượng tôn của tư tưởng Phật giáo trên phương diện văn hóa xã hội được thay thế bởi tư tưởng Nho giáo Giờ đây, Nho giáo ảnh hưởng đến nhiều phương diện văn hóa - xã hội Đại Việt Về văn học, các nhà văn nhà thơ đã sáng tác bằng quan niệm nghệ thuật và cảm hứng chịu ảnh hưởng Nho giáo Quan niệm nghệ thuật và cảm hứng này đã thay đổi nhiều so với trước đây

Hiện tượng Nho giáo thay thế địa vị Phật giáo và đi dần đến độc tôn cũng

đã diễn ra tương tự ở các nước Đông Á (tuy có những chênh lệch ít nhiều về thời gian tùy theo hoàn cảnh từng quốc gia) Hiện tượng chuyển đổi địa vị văn hóa của Thiền và Nho đã ảnh hưởng lớn đến diện mạo văn học, thơ ca các quốc gia này Ở nước ta, sau thế hệ Huyền Quang, thơ Thiền không còn

nhiều Một số bài thơ ảnh hưởng Thiền như “Mai thôn phế tự”, “Đề Gia Lâm

tự”… (Trần Quang Triều và thi xã Bích Động); “Hạnh ngộ”, “Đề Cam Lộ tự”, “Tương tịch, ký Nam Sơn thiền sư…” (Trần Minh Tông) (1300-1357) có

thể xem là những cố gắng duy trì ảnh hưởng của thơ Thiền Cũng từ đây, lực

Trang 2

lượng sáng tác đã có sự phân hóa, thơ Thiền cũng không còn thịnh như trước, chất Thiền trong thơ cũng không còn đậm đà như trước

Từ giữa thế kỷ XIV đến giữa thế kỷ XV thơ Nho đã hoán đổi vai trò thượng tôn của thơ Thiền Trong khoảng một thế kỷ này, thơ Nho đã thể hiện tương đối trọn vẹn tính chất độc đáo của nó Nó tồn tại và phát triển như một mạch thơ, một dòng thơ, có tư tưởng – cảm hứng chủ đạo, có quan niệm nghệ thuật và đặc điểm thể cách, ngôn ngữ khác biệt với thơ Thiền trước đó Sự khác biệt này gợi cho chúng ta nhiều suy nghĩ

Trong khi đó nhiều công trình nghiên cứu về mảng văn học nhà Nho đã tiếp tục ra đời Những công trình nghiên cứu về văn học nhà Nho cũng tiếp tục phát triển song song với những công trình nghiên cứu về văn học Phật giáo, văn học Thiền Trong đó, ta có thể kể đến những công trình tiêu biểu

như “Nho giáo và văn học Việt Nam Trung cận đại” (Trần Đình Hượu) Cũng trong mạch đó, công trình “Loại hình học tác giả văn học, nhà nho tài tử và

văn học Việt Nam” (Trần Ngọc Vương) (1995) [181] đi vào nghiên cứu loại

hình tác giả nhà nho tài tử Ở “Văn học Việt Nam dòng riêng giữa nguồn

chung” (1998), Trần Ngọc Vương bàn đến “văn chương Nho giáo” [184,

114], “Văn học nhà nho thế kỷ XIV – XVII” [184,134] Tác phẩm “Văn học

Trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa” (Trần Nho Thìn) [153] đã có

những ý kiến nhận xét lại những di sản của tác giả Trần Đình Hượu trong nghiên cứu văn học nhà nho Những công trình này đã làm cho việc nghiên cứu thơ văn nhà nho thêm nhiều sinh khí Các nhà nghiên cứu đã thật sự chú ý đến thơ văn nhà nho, thơ Nho Nhiều công trình nghiên cứu về thơ văn nhà nho đã tập trung chú ý đến thời gian từ giữa thế kỷ XV về sau

Tuy nhiên vấn đề không chỉ đơn giản như vậy Thơ Thiền tuy mất dần ưu thế nhưng vẫn còn tồn tại Một số tác giả đã nghiên cứu về thơ Thiền trong thời gian này Thơ Thiền trong sự nghiệp thơ ca của Nguyễn Trãi đã được

Trang 3

nghiên cứu bởi nhiều công trình như quyển “Nguyễn Trãi” của Nguyễn Thiên Thụ [155], “Từ tâm sự qua mọi giai đoạn của cuộc đời đến Thiền trong thơ

Nguyễn Trãi” của Thạch Trung Giả [39], “Về cảm quan Phật giáo trong thơ văn Nguyễn Trãi” của Nguyễn Hữu Sơn [143], “Nguyễn Trãi: Huyễn – Thực

và Sắc – Không” (Trần Ngọc Ninh) [162]… (Nếu xét riêng thì mạch thơ

Thiền Lê - Nguyễn vẫn tiếp tục lưu chuyển thầm lặng qua Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Minh Hành, Nguyên Thiều, Ngô Thời Nhậm, Nguyễn Du… Nó tồn tại khiêm tốn bên cạnh thơ Nho) Tính chất Thiền trong thơ đầu thế kỷ XV (tiêu biểu là trong thơ Nguyễn Trãi) được nhiều nhà nghiên cứu chú ý Hiện tượng này đã nói lên tính phức tạp của vấn đề nếu tìm hiểu thơ Nho thời điểm giữa thế kỷ XIV Trong cùng một thời gian có sự xuất hiện hai loại hình văn học chịu ảnh hưởng bởi hai tư tưởng triết học khác nhau

Như vậy, từ sự thay đổi địa vị của Nho và Thiền về mặt văn hóa – xã hội cũng như sự khác biệt về nội dung và nghệ thuật của thơ Nho và thơ Thiền đã góp phần xác định sự khác biệt của hai mạch thơ Nho và thơ Thiền Sự phức tạp vì có cả thơ Thiền trong sáng tác của các nhà nho (như trường hợp

Nguyễn Trãi…) là lý do dẫn đến đề tài “Thơ Nho Việt Nam từ giữa thế kỷ XIV

đến giữa thế kỷ XV” Việc nghiên cứu đề tài sẽ góp phần làm sáng tỏ những

phức tạp của thơ Nho Việt Nam trong khoảng một thế kỷ Đó là một thế kỷ thơ Nho biểu hiện như một dòng thơ với những đặc điểm độc đáo trong lịch

sử thơ ca dân tộc

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Mục đích nghiên cứu của Luận án là nhằm tìm hiểu rõ hơn về khoảng một thế kỷ thơ Nho với tư cách một dòng thơ Nội dung đề tài là tìm hiểu, nghiên cứu về nguồn gốc phát sinh, cơ sở hình thành, diện mạo, đặc điểm của dòng thơ này nhằm đóng góp thành quả vào lĩnh vực nghiên cứu thơ văn của các nhà nho Việt Nam

Trang 4

Từ việc xác định lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu, chúng ta cần tìm hiểu lịch sử vấn đề thông qua những công trình nghiên cứu của những

người đi trước, những khuynh hướng nghiên cứu có liên quan

3 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

Từ lâu “thơ Nho” đã được giới nho sĩ quý trọng, sưu tập và lưu giữ Qua

nhiều thế hệ, mỗi thế hệ có cách nhìn nhận, đánh giá, nghiên cứu thơ Nho với những định hướng và những mức độ khác nhau Trong quá khứ và gần đây đã

có những ý kiến ít nhiều liên quan vấn đề thơ Nho

Xác định được những giá trị vô giá của thơ ca nhà nho có thể kể đến trước tiên là những công trình sưu tập – biên tập thơ Nho cổ Các công trình này cho ta nhiều thông tin có giá trị nghiên cứu thơ Nho Trước hết qua các tác phẩm thi lục, thi tuyển các tác phẩm thơ ca của các nhà nho chính thức được lưu giữ, trân trọng cùng với những ý kiến đề cao Đó là những tác phẩm

như: “Việt âm thi tập” (1433) (Phan Phu Tiên soạn, Lý Tử Tấn phê điểm, tuyển thơ thời Trần - Lê), “Tân tuyển Việt âm thi tập” (1459) (Chu Xa, Lý Tử Tấn, tuyển thơ thời Trần - Lê), “Cổ kim thi gia tinh tuyển” (Dương Đức Nhan, tuyển thơ thời Trần, Hồ, Lê) (?), “Trích diễm thi tập” (1497) (Hoàng Đức Lương, tuyển thơ thời Trần đến đầu thời Lê), “Toàn Việt thi lục” (1768) (Lê Quý Đôn, tuyển thơ thời Lý đến đời Hồng Đức), “Hoàng Việt thi tuyển” (1788) (Bùi Huy Bích, tuyển thơ thời Lý, Trần đến cuối thời Lê) Các công

trình này có tác dụng lưu giữ những thi phẩm cổ trong đó có thơ Nho, đồng thời còn ít nhiều cho thấy những quan niệm sáng tác, phê bình của những nhà nho xưa Các công trình này đã lưu giữ những thi phẩm và những ý kiến, nhận định quí báu của người xưa truyền lại cho đến ngày nay

Trong những công trình thuộc loại này, các nhà nho vừa sưu tập, biên tập vừa phản ánh suy nghĩ của mình về văn học dân tộc, với niềm tự hào về văn hóa dân tộc Lý Tử Tấn đã có những đóng góp quan trọng trong buổi đầu sưu

Trang 5

tập thơ văn cổ Qua đó, ông bày tỏ niềm tự hào về nền thơ của Đại Việt:

“Nước Việt ta từ thời lập quốc đến nay, có nhiều nhà thơ nổi tiếng với đời”

(“Tân tuyển Việt âm thi tập”) [94, 51] Trong số những nhà thơ đó ta thấy có

rất nhiều nhà thơ Nho Càng ngày, phong trào sáng tác của các nhà nho càng lên cao Phan Phu Tiên nhận định về một thời đại rất xem trọng thơ văn Ông

nhận xét là: “mấy đời gần đây, các bậc vua chúa, các quan công khanh và sĩ

đại phu chẳng ai mà không để tâm tới việc học thuật, sớm tối ngâm vịnh” (“Đề tựa tập thơ Việt âm mới san định”- Phan Phu Tiên) [117, 74] Thơ Nho

đã trở thành sinh hoạt tinh thần của kẻ sĩ Thơ Nho trở thành nơi để gởi gắm ý chí, khát vọng, tâm sự của nhà nho Cho đến thời gian này, Hoàng Đức Lương

vẫn còn xem trọng thơ Thiền bên cạnh thơ Nho khi phân trần: “đâu phải nhà

nho không bằng nhà Phật học” (Tựa Trích diễm thi tập) [118, 431-432] Qua

đó cho thấy vị thế của đội ngũ trí thức trẻ càng lớn mạnh nhưng thái độ tôn trọng thơ Thiền vẫn còn Nói chung nhờ vào đây, ta có được những nguồn tư liệu tham khảo khi nghiên cứu về thơ Nho đồng thời những tài liệu này cũng góp phần tái hiện không khí thời đại

Bên cạnh những tài liệu về nguyên tác thơ Nho là các ý kiến nhận xét, phê bình bổ sung vào kho tàng lý luận về thơ Nho Nguyễn Dữ, Lê Quý Đôn,

Bùi Huy Bích đều có một số ý kiến liên quan đến thơ Nho Trong “Truyền

kỳ mạn lục”, Nguyễn Dữ đã có nhận định đề cao thơ Nho giữa thế kỷ XV trở

về trước và phê bình mạnh mẽ thơ Nho cuối thế kỷ XV: “Thơ ông Chuyết Am (Lý Tử Tấn) kỳ lạ mà tiêu tao, thơ ông Cúc Pha (Nguyễn Mộng Tuân) có

vẻ mềm mại, nhưng có thể khiến cho làng phong nhã thì chỉ duy những bài thơ đầy lòng trung ái của Nguyễn Ức Trai ” [24, 251-252] Đây là một trong

những nhận định đánh giá nhiều nhà thơ mà chủ yếu là những nhà thơ trong giai đoạn chúng ta khảo sát

Trang 6

Qua “Vân đài loại ngữ”, Lê Quý Đôn (1726 - 1784) đã thu thập những

kinh nghiệm lý luận, phê bình từ văn học cổ của Trung Quốc có liên quan đến phương pháp phê bình và sáng tác thơ Nho (Quyển V: Văn nghệ) [34, 89 -120] Tiếp theo, học trò ông là Bùi Huy Bích (1741-1818) đã có ý thức về sự vận động dựa trên tiêu chuẩn nghệ thuật khá chính xác Bùi Huy Bích viết

trong “Lịch triều thi sao” (Tiểu dẫn) là: “Nước Việt ta từ đời Trần đến buổi

đầu Lê (giữa thế kỷ XV) khí thơ có hơi hồn hậu, đến thời Hồng Đức thì lời thanh tao bóng bẩy, về sau dần dần yếu ớt, đến thời Trung hưng thì vụng về ” (“Lịch triều hiến chương loại chí”– Văn tịch chí) [19, 181] Từng giai

đoạn thơ Nho đã được ý thức với những nét cơ bản nhất của nó Các tác giả cũng không quên bình luận những điểm chung nhất của mỗi giai đoạn Qua

đó, chúng ta thấy cách đánh giá, thẩm định của chính các nhà nho về thơ Nho Trong các thế hệ nhà nho, các bậc cao sĩ được nhiều người kính trọng đồng thời cũng là những tác giả thơ Nho Lê Quý Đôn đã dựa theo phong độ, phẩm

chất của họ để chọn ra những nhân vật tiêu biểu (Kiến văn tiểu lục) [32,

298-300] Theo tiêu chí đó, ông chọn được ở triều Trần chỉ năm người: Chu An, Đặng Tảo, Trương Đỗ, Bùi Mộng Hoa, Trần Đình Thâm Thời Lê sơ theo Lê Quý Đôn thì có thể chọn Nguyễn Thiên Tích, Bùi Cầm Hổ, Nguyễn Thì Trung Điều này lại trùng hợp ngẫu nhiên vì đó là những nhà nho nổi tiếng trong khoảng giữa thế kỷ XIV đến giữa thế kỷ XV!

Từ giữa thế kỷ XV về sau, phong độ kẻ sĩ như thời trước dần dần giảm

đi Đến giữa niên hiệu Hồng Đức (Lê Thánh Tông) và từ những năm Đoan Khánh (Lê Uy Mục) những người khí tiết khảng khái thật “thưa thớt”, đồng thời “tập tục sĩ phu thối nát” [32, 301] Như vậy, những nhà nho giữa thế kỷ XIV đến giữa thế kỷ XV có vị trí đặc biệt trong các thế hệ nho sĩ nước ta qua các thời đại Thơ ca của họ vì thế cũng được các thế hệ quan tâm, tìm hiểu Các nhà nho xưa đánh giá rất cao các tác giả thơ Nho thời gian này Nhìn

Trang 7

chung những nhà nho xưa vẫn lấy triều đại làm tiêu chí để phân kỳ thơ Nho

và đánh giá cao thơ thời Lý – đầu thời Lê Tuy tiêu chí lấy triều đại làm cơ sở cũng như lấy “đức nghiệp” để đánh giá có thể chưa thật sự đi vào bản chất văn chương nhưng nó cũng có những bổ ích nhất định cho nghiên cứu và đánh giá thơ văn nhà nho

Đến đầu thế kỷ XX, các học giả vẫn còn quan điểm tôn trọng thơ Nho Các nhà nghiên cứu đã có những ý kiến khác nhau, bổ sung cho những ý kiến

trước đó Tác phẩm “Việt Hán văn khảo” của Phan Kế Bính tiếp tục những

quan niệm, những nguyên lý thơ văn cổ của các nhà nho Tác giả này viết về

cái hay trong thơ, đó là “cái hay kỳ cổ, cái hay hào kiệt, cái hay hồn hậu, cái

hay thanh sảng ” [101, 342] Những ý kiến đó không khác gì ý kiến các nhà

nho xưa Đến Phan Kế Bính, ta vẫn chưa thấy gì khác nhiều so với những quan niệm tương đối ổn định từ truyền thống

Trong buổi giao thời, ở nhóm “Nam phong tạp chí” và một số nhà nghiên

cứu như Nguyễn Hữu Tiến (Nam âm thi văn khảo luận), Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc (Nam thi hợp tuyển) vẫn quan tâm thơ văn nhà nho Phạm Quỳnh viết

“Quan niệm về thơ của người ta người Tàu” (Nam Phong tạp chí, số 05) Tùng Vân viết “Phái nhà nho khoảng 30 năm nay với sự học cũ” (số 195)

“Các bậc danh nho nước ta” (Nam Phong tạp chí, các số 53, 54, 55

(10/1921-01/1922) (Ở đây, nội dung trích lại từ “Lịch triều hiến chương loại

chí”) Quan niệm của Chương Dân về thơ đăng trong Nam Phong tạp chí vẫn

là quan niệm của thơ Nho nói chung: “Thơ làm ra cốt để tả cái tâm tình của

mình mà cũng có ích cho người xem” [22, 354] Bên cạnh đó mục Văn uyển

của Nam Phong tạp chí thường tuyển cả thơ của những nhà nho xưa và những thi nhân đương thời Phạm Quỳnh chú ý đến cái khó trong thơ Đường luật và bắt đầu phê bình thơ Đường luật – thể thơ quan trọng của nhà nho Tác giả

thấy thơ Đường “hay quá, khéo quá, phần nhân công nhiều mà vẻ tự nhiên

Trang 8

ít” (Quan niệm về thơ của người ta người Tàu) [47, 261] Đây cũng là một

đặc điểm của thể loại thơ Nho Ngoài sự quan tâm, các nhà nghiên cứu đầu thế kỷ XX cũng đã tìm hiểu một số khía cạnh khác nhau của thơ nhà nho Đến đầu thế kỷ XX thơ văn của các nhà nho nói chung vẫn tiếp tục được chú ý nhưng đã bắt đầu có những nhận xét đánh giá lại vấn đề một cách thích hợp hơn

Ngoài ra, những công trình nghiên cứu, tuyển tập, lịch sử văn học như

“Những áng văn hay” do Tr N K, Thiếu Sơn biên tập (Nam ký thư quán,

H,1933) và đặc biệt Dương Quảng Hàm với “Việt Nam văn học sử yếu” (1943), “Việt Nam thi văn hợp tuyển” (1941), “Quốc văn trích diễm” (1953) đều chú ý đến tác giả, tác phẩm thơ Nho Cả Việt Nam văn học sử

yếu lẫn Quốc văn trích diễm (Dương Quảng Hàm) đều có biểu liệt kê tác giả

tác phẩm theo thứ tự thời gian Dương Quảng Hàm đã đánh giá cao thơ văn nho thời Lý - Trần Theo ông, các nhà nho phần nhiều đều có công nghiệp,

phẩm cách thanh cao Hơn nữa, “người cầm quyền trong nước là người trong

phái nhà nho” [48, 78] Nho sĩ đã được xem như một “phái”, “phái nhà nho”

Trong phái đó, các tác giả nổi bật cũng đồng thời là “các bậc cao sĩ nước

Nam” Thơ của các tác giả nhà nho có một vị trí đặc biệt trong quan niệm của

các nhà nghiên cứu Tuy đến thời điểm này, thơ văn nhà nho đã được tìm hiểu với cái nhìn mới của người trí thức Tây học nhưng họ vẫn chưa tách thơ Thiền, thơ Nho ra thành những mạch riêng Quan niệm thơ của các nhà nho vẫn được nói chung, gồm cả thơ Thiền, thơ chịu ảnh hưởng tư tưởng Lão –Trang

Đối với các nhà nghiên cứu lịch sử văn học tiếp theo, họ có nhiều thời gian hơn, công trình của họ có những nhận định liên hệ đến thơ Nho với những mức độ khác nhau Các nhà nghiên cứu lịch sử văn học có thể được xếp theo các nhóm khác nhau Nhóm các tác giả phân chia lịch sử văn học

Trang 9

theo giai đoạn lịch sử - xã hội - văn học có thể kể đến các công trình như

“Lịch sử văn học Việt Nam” (T2) (Đại học Sư Phạm Hà Nội), “Văn học Việt Nam thế kỷ X – nửa đầu thế kỷ XVIII” (Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân, Mai

Cao Chương), “Lịch sử văn học Việt Nam” (T1) (Ủy Ban KHXH, 1980)…

Các nhà nghiên cứu lịch sử văn học theo lịch sử triều đại có thể kể đến Dương

Quảng Hàm, Nguyễn Đổng Chi (Việt Nam cổ văn học sử), Phạm Thế Ngũ (Việt Nam văn học sử giản ước tân biên)… Cả hai nhóm tác giả các công

trình lịch sử văn học nói trên đều đánh giá cao thơ ca nhà nho thế kỷ XIV-

XV Ngay cả những nhà nghiên cứu lịch sử văn học dựa theo thế hệ tác giả như trường hợp Thanh Lãng cũng đánh giá cao thơ ca nhà nho thế kỷ XIV-

XV

Một số công trình đã có những ý kiến cần tham khảo Tài liệu văn học sử

của Phạm Thế Ngũ cho rằng thời Trần là thời “thịnh đạt nhất”, “thi gia nẩy

lên khắp làng nho” [121, 120] Ngô Tất Tố đã viết “Trong rừng văn chương hồi ấy (Lý – Trần), phái Nho giáo đã tiến bộ hơn phái Phật giáo” [163, 116]

Các tác giả đã có ý thức rõ về văn chương của “phái” Nho Đồng thời các tác giả cũng ý thức được sự phát triển của dòng văn chương này Tuy vậy, thể loại thơ và văn của nhà nho vẫn thường được khảo sát chung với nhau

Mặt khác, khuynh hướng nghiên cứu lịch sử văn học dựa trên cơ sở các dòng phái đã có xuất hiện Cơ sở của những quan điểm này thường chịu ảnh hưởng những hệ hình và quan điểm của người phương Tây Một số nhà nghiên cứu đã thử đi theo hướng này Theo khuynh hướng này, ta có thể kể

đến một số trường hợp như ở “Văn học phân tích toàn thư” (Thạch Trung

Giả) [40, 35] Tác giả chia văn học Việt Nam gồm cả văn học cổ ra thành bốn dòng: Tả thực, ấn tượng, tương trưng, thần bí (tương ứng với văn học thế

giới) [40, 473-483] Công trình “Lịch sử văn học Việt Nam” (Lê Hữu Mục)

[111] có cách phân chia trường phái rõ nét Tác giả này phân chia văn học cổ

Trang 10

Việt Nam thành ba trường phái: Trường phái văn học “Thiền tông” (Thế kỷ

XI – XIII), trường phái văn học “Cổ điển” (thế kỷ XIV – XVI), trường phái văn học “Nôm na” (thế kỷ XVII – XIX) Ở tập I, tác giả chủ yếu kiến giải và định hình hai trường phái văn học Thiền tông và văn học Cổ điển Cơ sở của trường phái ở đây được xác định dựa trên loại hình tác giả Hơn nữa nó còn là quá trình đi dần đến “đoạn tuyệt” với phái văn học Phật giáo

Theo tác giả này, trường phái văn học Cổ điển năm 1304 -1385 là sự thay đổi giảm dần của văn học ảnh hưởng Phật giáo và tăng dần của văn học ảnh hưởng Nho giáo Đây là một cách tiếp cận sử dụng trường phái văn học làm

cơ sở Có thể nói, các công trình viết về lịch sử văn học Việt Nam thời trung đại thường quan tâm đến vấn đề văn học ảnh hưởng Nho giáo với những mức

độ khác nhau

Bên cạnh những công trình lịch sử văn học, ta có thể kể đến một số công trình xoay quanh vấn đề “ảnh hưởng của Nho giáo đối với văn học Việt Nam”, “văn học nhà nho” Trong đó, những bước đi đầu có thể kể đến tác

phẩm “Tâm lý và tư tưởng của Nguyễn Công Trứ” (Nguyễn Bách Khoa)

(1944) [154, 121-227] Có lẽ ông là người đầu tiên dùng khái niệm “nhà nho tài tử” Theo ông, nhà nho tài tử chỉ “thiên trọng về văn học” [154, 167] Công trình này chỉ giới hạn trong phạm vi một tác giả văn học

Tiếp đến, đó là bài “Ảnh hưởng của Hán học đối với văn học Việt Nam”

(Đặng Thai Mai phát biểu tại Viện Đông phương, Liên Xô cũ (1974) [18, 2]

Bài phát biểu chủ yếu quan tâm vào Hán học đối với văn học Việt Nam, đặc

biệt lưu ý văn học Lý – Trần

Đến những năm cuối thế kỷ XX, các công trình nghiên cứu, các bài viết công bố trên các tạp chí bàn về những vấn đề có liên quan đến thơ Nho khá phong phú Các nhà nghiên cứu đã bắt đầu đi sâu vào nghiên cứu thơ văn nhà nho nói chung Trong đó ta có thể kể đến những công trình tiêu biểu như

Trang 11

“Nho giáo và văn học Việt Nam Trung cận đại” (Trần Đình Hượu) Tác giả

đã hướng vào trọng tâm là “văn học do nhà nho viết” [61, 09], “văn học nhà

nho viết theo quan niệm Nho giáo” [63, 10], “ảnh hưởng của Nho và nhà nho đối với văn học” [61, 16] Từ đây tác giả cũng xác định loại hình tác giả nhà

nho hành đạo, ẩn dật, tài tử như là cơ sở ban đầu để đi xa hơn trong nghiên cứu

Cũng trong mạch nghiên cứu đó, công trình “Loại hình học tác giả văn

học, nhà nho tài tử và văn học Việt Nam” (Trần Ngọc Vương) (1995) [181] đi

vào nghiên cứu loại hình tác giả nhà nho, đặc biệt là nhà nho tài tử với những đặc điểm riêng Từ đó, tác phẩm tìm hiểu những thế hệ nhà nho mang phẩm chất tài tử, nhất là trong thơ ca Việt Nam từ thế kỷ XVIII về sau

Ở tác phẩm “Văn học Việt Nam dòng riêng giữa nguồn chung” (1998), Trần Ngọc Vương bàn đến “văn chương Nho giáo” [184, 114], “Văn học nhà

nho thế kỷ XIV – XVII” [184, 134] Các nhà nghiên cứu nhìn chung đã đạt

nhiều thành tựu trong nghiên cứu loại hình văn học nhà nho Ở các công trình này, diện mạo văn học nhà nho được kiến giải ngày càng phong phú Người đọc có thể có cái nhìn bao quát về thơ văn nhà nho ở nước ta Tuy nhiên các công trình này vẫn chưa nghiên cứu thơ Nho như là một dòng thơ có những đặc điểm khác với thơ Thiền Nó đã ít nhiều tiếp nối những thành tựu của thơ Thiền Lý – Trần

Ở một công trình khác, tác phẩm “Những vấn đề thi pháp văn học Trung

đại Việt Nam” (1999) đã xác định có sự phân biệt của hai loại hình tác giả

Trong công trình này, tác giả Trần Đình Sử đã nhìn nhận: “Có thể phân biệt

nhà thơ Thiền và nhà thơ Nho” [139, 12] Tuy công trình này nghiên cứu rất

nhiều mặt của văn học Trung đại Việt Nam nhưng tác giả đã lưu ý đến thơ Thiền và thơ Nho Trường hợp này công trình chú ý đến loại hình tác giả văn

Trang 12

học Từ cơ sở này, nhà nghiên cứu nói chung đã đi khá sâu vào nghiên cứu văn chương Nho giáo

Bên cạnh đó, những công trình về lý luận văn học và thơ ca cổ đã tiếp tục tìm hiểu những quan niệm lý luận, phê bình của người xưa và nêu ra nhiều

nhận định thú vị Những công trình như “Từ trong di sản” (1981) [167], “Về

quan niệm văn chương cổ Việt Nam” (Phương Lựu) (1985) [94], “Quan niệm văn học của Nho gia” (Phương Lựu) [99, 24-37], “Người xưa bàn về văn chương” (tập I) (Đỗ Văn Hỷ) [66], “Thơ trong con mắt người xưa”

(Phạm Quang Trung) [165] đã có nhiều đóng góp, tiếp tục tìm hiểu, bổ sung những cơ sở lý luận, cảm thụ, tiếp nhận thơ ca nhà nho Ngoài ra, ở các bài viết trên Tạp chí Văn học, các nhà nghiên cứu đều đưa ra những ý kiến có liên quan về phương thức tiếp cận, đánh giá văn chương Nho giáo hoặc một số

phương diện cụ thể của thơ Nho Các bài nghiên cứu có thể kể đến như: “Bàn

về một số khía cạnh trong thơ tình đời Trần” (Bùi Văn Nguyên) [115], “Các yếu tố Phật Nho Lão được tiếp thu và chuyển hóa như thế nào trong đời sống

và văn hóa thời đại Lý Trần” (Nguyễn Huệ Chi) [14], “Về diễn biến của thơ trữ tình thời Trần” Nguyễn Phạm Hùng) [55], “Về ảnh hưởng nhiều mặt của Nho giáo trong văn học Việt Nam Cổ, Cận đại” (Trần Đình Hượu) [62], “Mối quan hệ giữa cái tôi nhà nho và thực tại trong văn chương cổ” (Trần Nho

Thìn) [150], “Giới hạn của nội dung nhân đạo chủ nghĩa văn chương Nho

giáo” (Trần Ngọc Vương) [182], Đây là những ý kiến thú vị đóng góp vào

lĩnh vực nghiên cứu thơ văn nhà Nho nhất là về mặt phương pháp luận

Thời gian gần đây, trong tư thế đối sánh “khác chủng loại”, công trình

“Khảo sát một số đặc trưng nghệ thuật thơ Thiền Việt Nam thế kỷ XI – XIV”

(Đoàn Thị Thu Vân) (1996) đã có đề cập đến thơ Nho Trong quá trình nghiên

cứu về thơ Thiền, tác giả đã xác định “Thơ Nho được hiểu là thơ của các tác

giả theo hệ tư tưởng Nho gia và đề cập đến những vấn đề thuộc phạm trù triết

Trang 13

học, đạo đức Nho giáo” [169, 143] Đây là những cơ sở ban đầu để xác định

thơ Nho Tác giả đã dùng quan niệm này để so sánh thơ Nho với thơ Thiền và tìm thấy những dấu hiệu khác biệt của thơ Thiền và thơ Nho

Nhìn chung ở nước ta, việc nghiên cứu trào lưu, trường phái nhất là trong văn học cổ chưa được chú ý nhiều Một số công trình nghiên cứu gần gũi với

nghiên cứu trường phái đã xuất hiện Những công trình như “Nguồn suối

Nho học và thơ ca Bạch Vân cư sĩ” (Lê Nguyễn Lưu) (1999) [92], “Đoạn trường tân thanh dưới cái nhìn của Nho gia – Thiền gia” (Nguyễn Thạch

Giang) (2005) [43],… đã ra đời Qua đó ta thấy có một số ý kiến thú vị khi nhìn tác giả, tác phẩm văn học dưới cái nhìn có cơ sở từ một hoặc hai trường phái tư tưởng triết học Thông thường ở đây thì dòng mạch văn học Nho dường như được người ta chú ý hơn thơ Nho

Cơ sở đặc điểm thơ Nho Việt Nam giữa thế kỷ XIV – giữa thế kỷ XV do

sự tác động của Nho giáo Tuy nhiên Nho giáo đã tác động không đồng đều đến từng tác giả Thái độ và cách thức tiếp thu của các tác giả trong từng hoàn cảnh và giai đoạn lịch sử cũng khác nhau

Trong khi nghiên cứu văn chương nhà nho, yếu tố “Việt” trong tiếp thu

Nho giáo cũng được nghiên cứu, ví dụ “Một số đặc điểm của Nho Việt” (Nguyễn Hùng Hậu) [51], “Việt Nho qua một số tác phẩm văn học trung đại

Việt Nam” (Bùi Duy Tân) [144]… Tuy chưa phải là những kết luận sau cùng

nhưng đó là những gợi mở về đặc điểm Nho giáo ở Việt Nam Từ đó, việc nghiên cứu về bản sắc thơ Nho có định hướng thích hợp Tuy nhiên, luận án không đi vào phân biệt Việt Nho với Hán Nho, Tống Nho mà chỉ tập trung vào vấn đề thơ Nho Việt Nam

Đã có một số công trình nghiên cứu có liên quan đến thơ Nho cùng với tính chất dòng phái Các công trình có liên quan đến phái thơ Nho có thể kể

đến tác phẩm “Trong dòng chủ lưu của văn học Việt Nam chủ nghĩa yêu

Trang 14

nước” của Trần Văn Giàu (1984) [45] Tác phẩm đã có gợi ý khá lý thú về

thơ Nho Việt Nam với đỉnh cao Nguyễn Trãi Trần Văn Giàu xem Nguyễn

Trãi là “người đứng đầu một văn phái yêu nước, thân dân” [45, 164] Và theo ông, ““văn phái” có nghĩa hạn chế là một số nhà văn cùng một thời kỳ lịch

sử, theo cùng một khuynh hướng nhất định, gồm một hệ thống nét đặc sắc không thấy ở những người khác, ở các thời khác” [45, 165] Đây là môt cơ

sở có tính qui ước để tác giả đi sâu hơn nghiên cứu về chủ nghĩa yêu nước trong văn học

Các công trình nghiên cứu về văn học Nho giáo như “Nho giáo và văn

học Việt Nam trung cận đại” (Trần Đình Hượu) (1964, ) [61], “Mối quan hệ giữa cái tôi nhà nho và thực tại trong văn chương cổ” (Trần Nho Thìn)

(1994) [150], “Loại hình học tác giả văn học, nhà nho tài tử và văn học Việt

Nam” (Trần Ngọc Vương) (1995) [181], “Bi kịch tinh thần của nhà nho Việt Nam với tính cách là một nhân vật văn hóa (khảo sát qua trường hợp Nguyễn Trãi” (Trần Nho Thìn) (2001) [152], “Ý thức văn học cổ trung đại Việt Nam”

(Đoàn Lê Giang) (2001) [41]… cũng đã có tác dụng gợi mở về vấn đề thơ các nhà nho Các tác giả đã tìm ra những kinh nghiệm tiếp cận vấn đề khá lý thú, đặc biệt là phương pháp loại hình trong nghiên cứu văn chương các nhà nho

Tác phẩm “Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại” (Trần Đình

Hượu) [61] có một ý nghĩa quan trọng trong lịch sử nghiên cứu văn chương

nhà nho Đặc biệt, bài “Về ảnh hưởng nhiều mặt của Nho giáo trong văn học

Việt Nam cổ cận đại” [61, 48-56] đã tập hợp những bài giảng từ năm 1964 về

sau, trong đó tác giả dành nhiều tâm huyết cho việc “khảo sát văn học do nhà

nho viết, viết theo quan niệm Nho giáo ” [61, 10] Trên nhiều phương diện,

tác giả đã đạt được những thành tựu quan trọng trong nghiên cứu văn chương nhà nho nói chung

Trang 15

Bên cạnh đó, Trần Ngọc Vương đã có một số công trình có ý nghĩa bổ sung, hiện thực hóa có hệ thống những tư tưởng khoa học của Trần Đình

Hượu như “Loại hình học tác giả văn học, nhà nho tài tử và văn học Việt

Nam” (1995) [181], “Văn học Việt Nam dòng riêng giữa nguồn chung”

(1998) [184] Ở “Loại hình học tác giả văn học, nhà nho tài tử và văn học

Việt Nam” [181], tác giả đã đi vào tìm hiểu và phát hiện sự thay đổi của hệ

thống chủ đề, đề tài, hệ thống hình tượng [181, 114-170], sự thay đổi hệ thống thể loại, ngôn ngữ [173-182] ở văn chương nhà nho tài tử Tác giả tiếp tục

nghiên cứu về thơ văn nhà nho ở công trình tiếp theo - “Văn học Việt Nam

dòng riêng giữa nguồn chung” Công trình này khai thác khá toàn diện về văn

chương nhà nho Việt Nam Đặc biệt quan trọng là các bài: “Một số vấn đề lý

luận khi nghiên cứu văn chương Nho giáo ở Việt Nam” (Trần Ngọc Vương)

[184, 114-120], “Văn học nhà nho Việt Nam từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVII”

(Trần Ngọc Vương) [184, 134-146] Một số vấn đề có tính chất phương pháp luận trong nghiên cứu văn chương nhà nho đã được đặt ra trong tác phẩm Theo đó, Văn học Việt Nam từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX có thể cho thấy “nội hàm khái niệm “văn học dân tộc” gần như trùng khớp với nội hàm khái niệm “văn học nhà nho ở Việt Nam” [184, 118] Vì thế, vấn đề đặt ra là

người nghiên cứu cần giải quyết những vấn đề “về mặt lý luận mối quan hệ

giữa cái nội sinh bản địa và cái ngoại nhập, giữa những đặc trưng mang tính thuần túy phản ánh bản sắc dân tộc với những thuộc tính mang tính khu vực”

(Trần Ngọc Vương) [184, 118] Tác phẩm đã tiếp tục khuynh hướng nghiên cứu đã được đặt ra từ nhà nghiên cứu đi trước - Trần Đình Hượu Tác giả đã đạt được nhiều thành công quan trọng, từ đó việc nghiên cứu thơ văn nhà nho Việt Nam có được khá nhiều kinh nghiệm nghiên cứu

Tuy nhiên gần đây, công trình “Văn học Trung đại Việt Nam dưới góc

nhìn văn hóa” (Trần Nho Thìn) (2003) [153] đã có những ý kiến nhận xét lại

Trang 16

những di sản của Trần Đình Hượu Theo đó, tác giả đã nêu những vấn đề cần

quan tâm khi“nghiên cứu hiện tượng văn học sử trong khuôn khổ hệ thống

văn học của nhà nho” [153, 20-21]

Bên cạnh đó, “Ý thức văn học cổ trung đại Việt Nam” (Đoàn Lê Giang)

(2001) đã bàn đến những quan niệm có liên quan đến thơ Nho: quan niệm về

mối quan hệ của “văn học và vận mệnh đất nước” [41, 60 - 68], quan niệm về

“thơ và Chí, Tâm của kẻ sĩ quân tử” (Đoàn Lê Giang) [41, 68 - 76] Nói

chung, những ý kiến này đã góp phần làm giàu thêm những cơ sở phương pháp luận, những kinh nghiệm nghiên cứu văn học nhà nho và một số có thể vận dụng trong nghiên cứu thơ Nho

Ở nước ta, việc nghiên cứu thơ Nho Việt Nam đã có những tiền đề quan trọng về nội dung, phương pháp Nó đã có những gợi mở, thử nghiệm, thành tựu, nhưng nhìn chung vẫn cần tiếp tục khai thác

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu chính của luận án là thơ Nho Việt Nam trong khoảng một thế kỷ (từ giữa thế kỷ XIV đến giữa thế kỷ XV)

Thơ Nho ở đây là thơ của các tác giả nhà nho, chịu ảnh hưởng tư tưởng Nho giáo, cảm hứng Nho giáo, quan niệm thẩm mỹ Nho giáo Thơ Nho Việt Nam là những bài thơ của các nhà nho Việt Nam, chịu ảnh hưởng tư tưởng Nho giáo, cảm hứng Nho giáo, quan niệm thẩm mỹ Nho giáo

Ở luận án, thơ Nho được nghiên cứu như một dòng văn học trong khoảng thời gian từ giữa thế kỷ XIV đến giữa thế kỷ XV nhằm làm sáng tỏ diện mạo

và đặc điểm của nó trong khoảng thời gian một thế kỷ này

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trong quá trình làm luận án, nhiều phương pháp khoa học khác nhau đã được vận dụng Tùy theo từng công đoạn, tùy theo từng trường hợp cụ thể mà người viết vận dụng các phương pháp khoa học phù hợp để thực hiện luận án

Trang 17

Về phương pháp luận nghiên cứu thơ Nho: Từ Nho giáo đến thơ văn nhà nho nói chung đã có nhiều công trình, nhiều nhà nghiên cứu đã đạt nhiều thành tựu đáng khâm phục Thông thường ta có thể chọn hướng tiếp cận từ Nho giáo tác động đến thơ văn nhà Nho Tuy nhiên người viết vẫn phải căn

cứ, đối chiếu với văn hóa dân tộc, tâm lý dân tộc, yếu tố Việt trong tiếp thu Nho giáo, sự tác động qua lại của Nho giáo và tư tưởng Thiền - Lão trong văn học Nho giáo Việt Nam, tính chất dân tộc trong văn học

Đối với thơ Nho, bên cạnh việc tìm thấy mối quan hệ của Nho đến thơ, ta cần tìm thấy những tác động phức tạp của Nho đến thể loại, ngôn ngữ, giọng điệu, không gian – thời gian trong thơ Nho Mặt khác ta cũng cần đi vào tìm hiểu sự tác động của Nho đến việc lựa chọn và triển khai các chủ đề, cái tôi trữ tình trong thơ Nho cho đến những quan niệm nghệ thuật trong thơ Nho Trong đó những quan niệm nghệ thuật thơ Nho phản ánh tư tưởng nghệ thuật Nho giáo thế nào trong môi trường văn hóa xã hội Việt Nam giữa thế kỷ XIV đến giữa thế kỷ XV

Để giải quyết nhiều vấn đề đặt ra, luận án cần phải sự dụng một số phương pháp nghiên cứu nhất định như: Phương pháp lịch sử – xã hội, phương pháp nghiên cứu theo thi pháp học, phương pháp liên ngành (kết hợp những ưu thế từ nhiều ngành khoa học (Văn, Sử, Triết) Ngoài ra luận án còn

sử dụng thường xuyên các thao tác khoa học cơ bản: tổng hợp, phân tích, so sánh

Các phương pháp được vận dụng theo trình tự của luận án: Phương pháp lịch sử – xã hội và phương pháp liên ngành dùng cho Chương 1 Phương pháp lịch sử – xã hội được vận dụng bên cạnh phương pháp liên ngành nhằm trình bày những vấn đề chung nhằm làm cơ sở cho những chương sau

Phương pháp phân tích - tổng hợp được sử dụng cho chương 2 Chương này cũng vận dụng kết hợp với phương pháp liên ngành nhằm làm sáng tỏ

Trang 18

những đặc điểm nội dung của thơ Nho từ giữa thế kỷ XIV đến giữa thế kỷ

XV (căn cứ vào việc khảo sát những văn bản thơ Nho được sáng tác trong thời gian này)

Người viết cũng vận dụng Thi pháp học để nghiên cứu đặc điểm nghệ thuật thơ Nho ở chương 3 Ở chương này phương pháp phân tích – tổng hợp cũng được vậnsử dụng nhằm làm sáng tỏ những đặc điểm nghệ thuật của thơ Nho từ giữa thế kỷ XIV đến giữa thế kỷ XV (căn cứ vào việc khảo sát những văn bản thơ Nho được sáng tác trong thời gian này)

Phương pháp liên ngành được vận dụng trong nghiên cứu từng chương và

liên hệ giữa các chương

6 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN

Thành quả nghiên cứu của Luận án “Thơ Nho Việt Nam từ giữa thế kỷ

XIV đến giữa thế kỷ XV” có một số đóng góp nhất định trong lĩnh vực khoa học

Trang 19

Giới thiệu sơ lược về lý do chọn đề tài, lịch sử vấn đề, đối tượng và phạm

vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu (Từ trang 01 đến trang 18)

CHƯƠNG 1 Những vấn đề chung của thơ Nho Việt Nam từ giữa thế

kỷ XIV đến giữa thế kỷ XV (Từ trang 20 đến trang 86)

Đây là chương xác định khái niệm thơ Nho Việt Nam; bối cảnh lịch sử,

diện mạo thơ Nho giữa thế kỷ XIV – giữa thế kỷ XV Trên cơ sở đó chúng tôi phác họa con đường vận động của dòng thơ này

CHƯƠNG 2 Những cảm hứng trong thơ Nho Việt Nam từ giữa thế

kỷ XIV đến giữa thế kỷ XV (Từ trang 87 đến trang 123)

Chương này trình bày cảm hứng chủ đạo của thơ Nho Việt Nam từ giữa thế kỷ XIV - giữa thế kỷ XV

CHƯƠNG 3 Một số phương diện thi pháp của thơ Nho Việt Nam từ giữa thế kỷ XIV đến giữa thế kỷ XV (Từ trang 124 đến trang 174)

Chương này nghiên cứu về thể loại, ngôn ngữ, giọng điệu, hình tượng con người, không gian – thời gian nghệ thuật của thơ Nho thời gian này

KẾT LUẬN

(Từ trang 175 đến trang 179)

Nhận định khái quát về thơ Nho Việt Nam từ giữa thế kỷ XIV đến giữa thế kỷ XV, phương hướng nghiên cứu kế tiếp

TÀI LIỆU THAM KHẢO

(Tài liệu tham khảo gồm có tất cả 192 tài liệu, trong đó có 185 tài liệu tiếng Việt và 10 tài liệu nước ngoài) (trang 180 - 196)

Trang 20

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA THƠ NHO VIỆT NAM GIỮA THẾ KỶ XIV ĐẾN GIỮA THẾ

KỶ XV

1 1 VỀ KHÁI NIỆM “THƠ NHO”

Đối tượng nghiên cứu của Luận án là thơ Nho Việt Nam trong giới hạn

thời gian từ giữa thế kỷ XIV đến giữa thế kỷ XV Việc xác định đối tượng và

phạm vi nghiên cứu này có liên quan đến một số khái niệm khác như Nho

hoc, Nho gia, nho sĩ, thơ Nho, thơ nhà nho, thi luận Nho gia

Nho học: một học phái quan trọng thời cổ đại ở Trung Quốc Về sau Nho

học trở thành tư tưởng chính trị chính thống của chế độ phong kiến Trung Quốc và một số nước lân cận Nho học lấy tư tưởng Nhân nghĩa (Trung thứ) làm hạt nhân

Nho gia: chỉ phương diện học phái của Nho học Ở Việt Nam, nó còn bao

hàm nghĩa Nho sĩ (nhà nho)

Nho sĩ: người thời xưa theo Nho học hay có khi chỉ chung trí thức ở các

nước chịu ảnh hưởng Nho học

Thơ Nho: xuất hiện trong tương quan so sánh với thơ Thiền, trước hết

được xác định là những tác phẩm thơ sáng tác trong thời gian từ giữa thế kỷ

XIV đến giữa thế kỷ XV ở Việt Nam Thơ Nho là thơ của các tác giả nhà nho

chịu ảnh hưởng tư tưởng Nho giáo, quan niệm văn học Nho giáo, cảm hứng

Nho giáo Thơ Nho, do đó, không hoàn toàn đồng nhất với thơ nhà nho vì ở

thơ nhà nho có khi có xen lẫn cả cảm hứng Thiền hoặc Lão – Trang

Ở Trung Quốc người ta còn dùng đến khái niệm Thi luận (ví dụ “Trung

quốc thi luận sử”, “Khổng Tử luận thi và Khổng Tử thi luận” ) Đó là kho

tàng những lý luận thơ ca, những quan niệm về thơ nói chung vô cùng phong phú và phát triển theo thời gian

Trang 21

Thi luận chính thống của Nho gia Trung Quốc thường được nhắc đến qua những quan niệm và lý luận thơ ca của Khổng Tử, Tuân Tử, Mạnh Tử, Lưu Hướng, Mao Hanh - Mao Trành, Trịnh Huyền, Lưu Hiệp, Đỗ Phủ, Nghiêm Vũ Trong đó, phần lớn là những ý kiến mang tính chất kinh điển Qua đó, có thể thấy không ít những khác nhau về quan niệm nghệ thuật thơ ca của nhà nho, những kiến giải khác nhau về mối quan hệ thơ với đạo, chí, dụng, tình Càng về sau những lý giải này càng thêm phong phú (Ví dụ

có những chú giải khác nhau về “Kinh thi”, có sự ra đời của rất nhiều “thi

thoại”, “thi phẩm”) Mạch thi luận này cũng là những vấn đề quan trọng của Kinh học – môn học tìm hiểu và giải thích kinh điển Nho gia “Văn dĩ tải đạo”

là mệnh đề được quan tâm của Kinh học, nó phản ánh sự ảnh hưởng Nho giáo đến thơ văn của các nhà nho

Ở Việt Nam, “thi luận” của Nho gia được nhiều nho sĩ Gần đây, một số

công trình về bàn về Nho giáo - văn học có thể thấy như “Quan niệm văn học (và mỹ học) của phái Nho gia” trích trong “Tinh hoa lý luận văn học cổ điển

Trung Quốc” (Phương Lựu) [99, 23-30], phần “Sự tiến triển của quan niệm Nho gia chính thống” trong “Cấu trúc và lịch sử của lý luận văn học cổ điển Trung Hoa” (Phương Lựu) [100, 541-544]

Thực trạng thơ Nho ở nước ta như một bức tranh có những nét riêng biệt,

độc đáo và sáng tạo Thơ Nho Đại Viêt được hình thành với một lực lượng sáng tác phong phú nhưng không đồng nhất Đôi khi những tác giả nhà nho lại có cả thơ Thiền như Trần Minh Tông, Phạm Mại, Nguyễn Trãi… nên cũng cần phải chú ý những bài thơ mang cảm hứng Thiền tông của các tác giả nhà nho khi nghiên cứu

Chọn lọc những tác phẩm thơ ca trong thời gian khoảng một trăm năm này, trước hết cần chọn những tác phẩm chủ yếu chịu ảnh hưởng tư tưởng Nho Những tác phẩm chịu ảnh hưởng tư tưởng Thiền sâu đậm hay Lão –

Trang 22

Trang quá nhiều cũng cần nên cân nhắc cụ thể Những tác phẩm như “Đình

Thủy vương công” (Chu An) [178, 54], “Tạp hứng, 2” (Lý Tử Tấn) [09,

364-365], “Thuật chí” (Lý Tử Cấu) [09, 386-387] chịu ảnh hưởng khá nhiều bởi

tư tưởng Lão Trang nên khó có thể xếp vào thơ Nho

Những tác phẩm khác như “Lễ Để sơn” (Lê Thiếu Dĩnh) [09, 408]) và gần một số bài thơ của Nguyễn Trãi (“Du Nam Hoa tự” [123, 383-384), Thu

Qua đình” (Chu An) [178, 54-55], “Đề Huyền Thiên Cực cung” (Chu An)

[178, 157], “Đề Nguyệt Giản Đạo Lục ” (Trần Nguyên Đán) [178, 169],

“Ngẫu đề” (Trần Nguyên Đán) [178, 192], “Tống Lãm Sơ Quốc sư hoàn sơn” (Phạm Nhân Khanh) [178, 315], “Du Côn Sơn” (Nguyễn Phi Khanh)

[178, 423], “Đề Huyền Thiên tự” (Nguyễn Phi Khanh) [178, 466], “Thiên

Khánh Hựu Quốc khởi Tảo” (Nguyễn Phi Khanh) [178, 474], “Cầu siêu” (Sư

chùa Yên Quốc) [178, 515], “Phong Thủy đình quan ngư” (Phạm Nhữ Dực)

[178, 569] Những tác phẩm này cũng không thể xếp vào thơ Nho để nghiên cứu Tuy vậy trong thực tế có khá nhiều trường hợp các yếu tố Nho – Lão – Phật hòa trộn vào nhau, hòa tan vào nhau trong bản thân người nho sĩ và trong thơ văn mà họ sáng tác Sự thâm nhập và hòa tan vào nhau này khá phức tạp tùy thuộc vào từng tác giả và ở mỗi tác phẩm khác nhau

Ở đây, cũng thấy có sự đan xen, sự tiếp thu văn học dân gian vào trong

thơ Nho, nổi bật nhất là trường hợp thơ Nôm của Nguyễn Trãi (“Quốc âm thi

tập”) Vấn đề yếu tố Việt trong thơ Nho cũng là một vấn đề rất phức tạp Yếu

tố Việt vừa xâm nhập chính vào sự tiếp thu Nho giáo vừa trực tiếp đi vào thơ

Trang 23

Nho Yếu tố Việt là yếu tố bản địa vừa là tố chất cơ bản của người sáng tác thơ Nho Các tác giả thơ Nho chủ yếu là những nhà nho Việt Họ đã sáng tác bằng tâm sự, nỗi lòng riêng tư của những trí thức Đại Việt Thơ Nho cũng mang hơi thở cuộc sống dân tộc, đi cùng với những thăng trầm của dân tộc Bản thân các tác giả thơ Nho chủ yếu là những quan lại và thậm chí là những nhà vua Họ là những người trực tiếp hoặc gián tiếp có những trọng trách trong nhà nước phong kiến Đại Việt Cũng vì thế yếu tố Việt trong thơ Nho là một yếu tố quan trọng cùng tồn tại trong mỗi tác giả, trong mỗi bài thơ Nho Vấn đề thơ Nho từ giữa thế kỷ XIV đến giữa thế kỷ XV cần tìm hiểu về quá trình hình thành, xác định mốc thời gian, những giai đoạn chuyến biến của thơ Nho có ý nghĩa quan trọng Ban đầu, thơ Nho chỉ tồn tại khiêm tốn bên cạnh thơ Thiền và nó bị phản ứng mạnh bởi tinh thần "bài Ngô" Chỉ khi đất nước độc lập, các vua Lý – Trần chủ động vận dụng Nho giáo thì Nho học mới có địa vị và từng bước hình thành dòng thơ Nho

Cho đến đời Trần, thơ Nho từng bước phát triển và hoàn thiện song song với quá trình phát triển của thơ Thiền Số lượng tác giả – tác phẩm thơ Nho ngày càng nhiều, có thể thấy cuối đời Trần các thế hệ nho sĩ Chu An – Phạm

Sư Mạnh – Lê Quát… đã ảnh hưởng đến văn hóa đương thời Hàn Thuyên được đánh giá như là người mở đầu một phong trào cải cách văn hóa, nhiều văn tập – thi tập đã ra đời trong thời gian này Nội dung các thi tập cho thấy dấu vết Tống Nho nhưng bên cạnh đó tính dân tộc, tính khoan hoà, tính riêng

tư, tính “Việt” cũng rất đậm nét

Dòng thơ Nho từng bước có diện mạo, định hình Điều này đặc biệt có

dấu hiệu khá rõ vào nửa sau thế kỷ XIV "Vào nửa sau thế kỷ XIV, khuynh

hướng Nho giáo trong văn học đã gia tăng” [125, 172] Trong thời gian đó,

ngay cả Nguyễn Trung Ngạn cũng đã nói lên cảm hứng Nho giáo trong bối

cảnh và không khí Phật giáo: “Giang sơn tín mỹ phi ngô thổ” (Du Nhạc Lộc

Trang 24

tự) [09, 135] Càng ngày, các nho sĩ càng ý thức làm sáng tỏ những bản sắc

cao đẹp của thơ Nho, xác lập ưu thế của thơ Nho Điều này đã diễn ra trong một thời gian dài

Đó là quá trình dài mà người Nho sĩ tự ý thức, tự hào với kỹ năng sống,

kỹ năng sáng tạo nghệ thuật mới Các nhà nho thời này đã tự ý thức trách

nhiệm của mình Ý thức mới của họ là “đại công xuất nhậm thuộc ngô nho” (Ra công gánh vác việc lớn, thuộc về nhà nho ta) (Tống Kinh Doãn Nguyễn

công - Nguyễn Phi Khanh) [178, 420] Ý thức mới này cũng góp phần hình

thành một quan niệm thơ riêng Mặt nào đó ta có thể nhận thấy thơ Nho đã lấy

hệ tư tưởng Nho giáo và tư tưởng dân tộc làm “vốn văn hóa” trong khi văn hóa Nho giáo đã phát huy ảnh hưởng từ thượng tầng đến hạ tầng xã hội Các tác giả thơ Nho cũng không ngừng phát huy vai trò của mình trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực văn hóa - văn học

Tuy xác định hơi muộn hơn thực tế đôi chút, nhưng trong “Tựa Quần

hiền phú tập” đã có những nhận định về phái (thơ văn) nhà nho trong bước

đầu xây dựng Từ thời Trần đến đầu Lê, kẻ sĩ rất nhiều, thế mà văn chương để

lại chỉ có vài người thôi: “Nguyễn Nhữ Bật (thời Vãn Trần, tác giả “Quan

Chu nhạc phú”) khơi nguồn, Đào Sư Tích (người phản đối Hồ Quý Ly), Lý Chuyết Am (Tử Tấn), Nguyễn Cúc Pha (Mộng Tuân), Trình Mật Liên (Thuấn Du) (Thông Phán châu Vũ Ninh nhà Hồ?), Nguyễn Ức Trai (Nguyễn Trãi) làm cho gợn sóng” (Tựa Quần hiền phú tập) [179, 242-243] Lời tựa “Quần hiền phú tập” đã ví văn học Nho như một dòng sông linh động Dù chưa đề

cập đến những thành tựu trước đó nhưng nó đã phản ánh quy luật vận động và phát triển của thơ Nho từ khoảng giữa thế kỷ XIV đến khoảng giữa thế kỷ

XV Người xưa đã xem Nguyễn Nhữ Bật thuộc thế hệ tiên phong vào cuối đời Trần, Đào Sư Tích tiếp nối (dẫn nước) và hàng loạt các nhà thơ danh tiếng Lý

Trang 25

Tử Tấn, Nguyễn Mộng Tuân, Trình Thuấn Du, Nguyễn Trãi tiếp tục truyền thống…

Thơ Nho như một chuyến xe khởi hành trên một con đường, xuất phát từ Đinh - Lý nhưng mở rộng và tự giác xác định từ nửa thế kỷ cuối đời Trần Từ Huyền Quang (1254-1334) đến Trương Hán Siêu (?-1354), Chu An (1292 – 1370) – những người được thờ ở Văn miếu - là một bước chuyển từ thơ Thiền đến thơ Nho (Lúc đó có sự chứng kiến của Trần Anh Tông – nhà vua, nhà văn hoá) Đầu đời Lê, thơ Nho đã hoàn toàn trở thành một dòng thơ chính thống, chiếm lĩnh toàn diện Quá trình đó đã có nguồn gốc từ việc xây dựng Văn miếu thời Lý, cho đến Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông cố vận động phục hồi tinh thần dung hòa Tam giáo Nhưng càng về sau, phần lớn triều đình và giới trí thức mới càng đề cao Nho giáo rất mạnh mẽ

Ở nước ta, quá trình sinh thành thơ Nho được xem như hệ quả của quá trình phát triển của giới nho sĩ xét về mặt chức năng kéo dài đến năm thế kỷ (Thế kỷ X – XIV) Đó là quá trình đóng góp của nhiều thi nhân, nhiều thế hệ,

kể cả các nhà vua và quan lại triều đình Giữa thế kỷ XIV đến giữa thế kỷ XV

là một thế kỷ thơ với những thành tựu đáng kể Tuy là những thành tựu ban đầu nhưng nó phản ánh gần như trọn vẹn những đặc điểm cơ bản của thơ Nho

về nội dung – nghệ thuật Thơ Nho khoảng 100 năm này trong sáng, tích cực

và phản ánh đúng lý tưởng của người nho sĩ chân chính Nó cũng phản ánh trọn vẹn lý tưởng thẩm mỹ Nho học trong thi ca Trong thời gian đó, Nguyễn Trãi là dấu son, là đỉnh cao của đường biểu diễn dòng thơ Nho Đến thế hệ Nguyễn Trãi, thơ Nho đã bước qua giai đoạn hình thành và đi vào ổn định, phát triển

Tính từ khi Trung Hoa xâm lăng đất Việt cho đến khi dòng thơ Nho chính thức hình thành đã hơn mười lăm thế kỷ Bằng những phương thức, những điều kiện, những mối tương tác khác nhau, văn hóa phương Bắc đã tác

Trang 26

động nhiều đến thi ca Đại Việt với mục đích riêng Nhưng lợi dụng điều đó, các thế hệ thi nhân nước ta đã truyền vào thơ một dòng máu khác – dòng máu của văn hóa Việt để xây dựng cho đất nước mình một dòng thơ ngang tầm thời đại, có bản sắc riêng, có thể sánh vai các truyền thống thi ca khu vực Các học giả Trung Quốc thường chủ quan và chưa đánh giá đúng mức khi nhận xét về nền văn học chữ Hán của nước ta nhưng họ cũng không thể phủ nhận những sáng tạo và bản sắc dân tộc [189] Đó là sức sống và nội lực của

sự sáng tạo trong văn học dân tộc

Nhìn chung, thơ Nho từ giữa thế kỷ XIV – giữa thế kỷ XV có thể được xem là một chặng đường, một mạch thơ riêng, tiếp nối và kế thừa thành tựu thơ trước đó Thơ Nho càng ngày càng hưng thịnh và có khuynh hướng chuyển dần thành độc tôn Bước đường thơ Nho giữa thế kỷ XIV – giữa thế

kỷ XV nằm trong hành trình liên tục của thơ Nho Việt Nam thời Trung đại và

có thể chia thành hai giai đoạn:

-Từ bắt đầu thời Vãn Trần (năm 1341) (Trần Dụ Tông lên ngôi) đến năm 1400; với những tác giả tiêu biểu như Chu An (? -1370), Phạm Sư Mạnh (1297 -1370), Lê Quát (1300 -1375), Trần Nguyên Đán (1325 -1390) Thơ

ca họ phản ánh khí thế đang lên của Nho học, hào khí dân tộc, âm hưởng chiến thắng Lý tưởng Nho giáo được sùng thượng vì nó đang tạo ra một thiết chế phù hợp, khuyến khích đạo đức, khuyến khích sự trong sáng, minh bạch Thơ ca mang lý tưởng Nho giáo với giọng điệu trong trẻo, hồn hậu (thơ Chu

An, Trần Nguyên Đán,…) Phạm Đình Hổ cho là "có cái sở trường tột bậc

của của thơ đời Hán, đời Đường" [53, 181] Ảnh hưởng của tư tưởng Nho

giáo đã gia tăng mạnh mẽ lên thơ ca giai đoạn này nhưng mạch chính là

khuynh hướng tư tưởng “hướng nội”, phê phán Phật

- Từ năm 1400 đến hết đời vua Lê Nhân Tông (năm 1459):

Trang 27

Nho giáo trong giai đoạn này là Nho giáo mang bản sắc dân tộc, nó trở thành một bản chất quan trọng của văn hóa Đại Việt Đây là một kiểu Nho giáo tích cực, dung dị trên nền tinh thần nhân văn Đại Việt Chặng đường này tương ứng với phần lớn hai thế hệ nho sĩ Hồ Quý Ly và Nguyễn Trãi

Thế hệ nho sĩ Hồ Quý Ly (1376 1407) gồm Nguyễn Phi Khanh (1380 1482), Phạm Nhữ Dực (Giáo thụ đời Hồ), Đặng Dung (? – 1413)… Tuy có khi bị xem là Ngụy triều nhưng họ đã chính thức đưa Nho giáo lên địa vị độc tôn Điều cần lưu ý là cuộc khởi nghĩa của nhà sư Thiệu Nhiên (Phạm Sư Ôn) (?-1390) làm vua Trần Thuận Tông phải rời Thăng Long đã để lại nhiều ảnh hưởng cũng như sự hạn chế Phật giáo Thơ giai đoạn này mang tâm trạng tha hương, ly tán, ẩn dật của những nho sĩ yêu nước trong cảnh vong quốc điêu tàn; giọng điệu thơ bi phẫn, thống thiết…

-Kế đó là thế hệ Nguyễn Trãi (1380 -1442) gồm cả Nguyễn Mộng Tuân (?- ?), Vũ Mộng Nguyên (1380 -?), Lý Tử Tấn (1378-?), Nguyễn Thiên Tích (? -?)… Thi ca của họ phản ánh khá nhiều mặt của cuộc chiến chống ngoại xâm và tâm trạng phức tạp sau chiến thắng Thơ Nguyễn Trãi với bút pháp mới, không công thức mà bình dị, đề cao đời sống dân dã Thơ của ông gần gũi với những người dân đã đi theo Lê Lợi gian khổ giành độc lập Nhìn chung, nội dung thơ ca đã có biểu hiện vượt ngoài những giới hạn của kinh điển Nho giáo

Ngoài ra, cũng có thể chia thơ Nho từ giữa thế kỷ XIV đến giữa thế kỷ

XV ra làm 3 chặng đường, dựa vào hoàn cảnh lịch sử và sự thăng trầm của các triều đại Ba chặng đường đó có thể xác định như sau: 1 Thời Vãn Trần,

2 Thời Hồ và Hậu Trần, 3 Thời khởi nghĩa Lam Sơn – Đầu nhà Lê

Hơn một thế kỷ thơ ca đã thực sự vận động qua những bước đi riêng Dù sao, từ giữa thế kỷ XIV – giữa thế kỷ XV thơ vẫn được khẳng định là thể loại thu hút sự chú ý nhất với nhiều thành tựu đáng kể bên cạnh các thể loại khác

Trang 28

như văn bia, văn chính luận, sử ký, truyện truyền kỳ… Tuy bị đánh giá là ít phong cách rõ nét nhưng thật ra mỗi nhà thơ vẫn có những thành tựu nên không thể nhầm lẫn với những nhà thơ khác Thơ Nguyễn Trung Ngạn phóng khoáng theo hành trình xa rộng, thơ Phạm Sư Mạnh có khí thế hào hùng nơi biên tái, thơ Đặng Dung có nỗi bi phẫn thời thế, thơ Nguyễn Phi Khanh là tình cảm sâu lắng với cuộc đời – với nỗi đau đời, Nguyễn Trãi với lời thơ trung hậu tài hoa… Thơ của họ cũng khác với Thái Thuận – nhà thơ có những vần thơ trẻ trung, táo bạo, dáng dấp những nhà nho tài tử đầu tiên ở nửa cuối thế kỷ XV

Hành trình thơ Nho cũng có những thăng trầm như cuộc đời Thơ Nho giữa thế kỷ XIV – giữa thế kỷ XV là chặng đường đi dần đến vinh quang của thi ca Nho giáo

Việc chọn hai mốc thời gian giữa thế kỷ XIV và giữa thế kỷ XV để xác định giới hạn nghiên cứu có những ý nghĩa nhất định Thời gian này về bối cảnh văn hóa tư tưởng của Đại Việt thì Phật giáo đã tạm rút lui về am thanh chùa vắng và thầm lặng lan tỏa vào mạch sống dân tộc Trong khi đó, Nho

giáo thắng thế dần dần chiếm vị trí độc tôn Vào nửa sau thế kỷ XIV khuynh hướng Nho giáo trong văn học đã gia tăng… Từ sau kháng chiến chống Minh

thắng lợi (năm 1428), Nho giáo càng hưng thịnh Lực lượng sáng tác thi ca chủ yếu là giới nho sĩ

Văn học nửa đầu thế kỷ XV so với nửa cuối thế kỷ XV về mặt nội dung, cảm hứng có đôi chút khác biệt Văn học nửa đầu thế kỷ XV cảm hứng chính

là cảm hứng lịch sử, ca ngợi chiến công oanh liệt, hào khí của cuộc khởi

nghĩa Lam Sơn, ca ngợi thiên nhiên đất nước Trong thơ thời đó “quan niệm

hiện thực và nhân dân đậm nét” (125, 173] Đây là điểm khác biệt của thơ

Nho từ giữa thế kỷ XIV- giữa thế kỷ XV với thơ Nho sau đó

Trang 29

Văn học nửa cuối thế kỷ XV cũng thể hiện nội dung yêu nước, bộc lộ niềm tự hào dân tộc, cảm hứng ca ngợi thiên nhiên đất nước thái bình, nhưng nặng về thù phụng xướng họa Lê Quý Đôn nhận xét về thời Lê Thánh Tông:

“sĩ tử tập lối văn bóng bẩy, đẽo gọt từng câu” (Kiến văn tiểu lục) [32, 300]

Thơ ca nhiều khi đi vào a dua, tán tụng Dần dần lối học khoa cử đã làm cho học phong kém đi, phẩm chất thơ ca chữ Hán cũng giảm đi

Từ giữa thế kỷ XIV, cụ thể là từ năm 1341 (bắt đầu thời Vãn Trần) thơ ca

có khuynh hướng “hướng nội” Ở đây, lời hùng ca thời Thịnh Trần được thay thế bởi lời ca bi tráng Đời sống xã hội cuối thời Trần, sự xâm lăng của giặc Minh đã để lại nhiều bài thơ có khuynh hướng này Tuy nhiêu, sau chiến thắng giặc Minh thì hào khí dân tộc lại dâng cao Không khí đó cũng đi vào trong thơ

Giữa thế kỷ XV, ta có thể lấy thời điểm năm 1459 (chấm dứt thời vua Lê Nhân Tông) để phân chia hai giai đoạn văn học (nửa đầu và nửa sau thế kỷ XV) Nửa đầu thế kỷ XV là giai đoạn tiến bộ của xã hội phong kiến, văn học

có nhiều biểu hiện vượt ra ngoài ý thức hệ Nho giáo

Luận án chọn giới hạn nghiên cứu một thế kỷ thơ Nho từ giữa thế kỷ XIV đến giữa thế kỷ XV là chọn lấy giai đoạn thơ Nho đậm chất dân tộc, tích cực, chưa bị phân hóa Giai đoạn này được Thanh Lãng gọi là văn học đối kháng Trung Hoa Việc xác định giới hạn thời gian nghiên cứu tạo điều kiện tập trung vào đối tượng nghiên cứu

Tóm lại, thông qua việc giải quyết các vấn đề về khái niệm, giới hạn nghiên cứu, thơ Nho Việt Nam từ giữa thế kỷ XIV đến giữa thế kỷ XV đã có những cơ sở lý thuyết xác định Đây là một dòng thơ có những nét đặc biệt về quá trình hình thành, phát triển, đặc điểm, bản chất Nó chịu ảnh hưởng Nho giáo tích cực buổi đầu, kể cả mặt tích cực của tư tưởng Tống Nho Đồng thời

Trang 30

tư tưởng Nho giáo trong thơ ca được các nhà thơ Nho Việt Nam tiếp thu,

sáng tạo nên mang đậm tính hiện thực, tính dân tộc

1.2 DIỆN MẠO THƠ NHO VIỆT NAM TỪ GIỮA THẾ KỶ XIV ĐẾN GIỮA THẾ KỶ XV

1.2.1 Sự hình thành dòng thơ Nho từ giữa thế kỷ XIV đến giữa thế kỷ XV

1.2.1.1 Sự ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo

Nho giáo truyền đến Việt Nam làm ảnh hưởng đến nhiều mặt văn hóa Việt Nam Nho giáo ảnh hưởng đến các thể loại văn học Việt Nam thời trung đại, trong đó có thơ ca Nho giáo tác động đến thi ca là nhân tố quan trọng đi đến hình thành thơ Nho

Nho giáo được truyền vào Việt Nam từ đầu triều Bắc Thuộc (cuối đời Tây Hán) Nội dung Nho giáo thời gian này bị cắt xén và lợi dụng phục vụ cho công cuộc cai trị Những nhân vật tiêu biểu trong thời gian này là Tích Quang (đời Hán), Nhâm Diên (đời Hán), Sĩ Nhiếp (đời Hán), Lý Cầm, Lý Tiến (đời Hán), Trương Trọng (đời Hán), Ngu Phiên (đời Hán), Đỗ Tuệ Độ (đời Tấn), Tông Xác (đời Nam Bắc triều), Tinh Thiều (đời Nam Bắc Triều) Cuối triều Bắc thuộc, từ thời thuộc Đường (618-907) về sau, một số ít nho sĩ thi đỗ Mậu Tài (Tú tài), Hiếu Liêm (Cử nhân), làm quan ở địa phương hoặc ở Trung Quốc Những nhân vật tiêu biểu thời gian này là Khương Công Phụ, Khương Công Phục (thời Đường)

Trong thời Bắc thuộc, văn hóa Trung Hoa đã có mặt, nguy cơ “Hán hóa” Đại Việt lên cao Tuy Nho học bước đầu ở Đại Việt còn ít người học, nhà trường không nhiều nhưng Nho học ngày càng tăng ảnh hưởng trên vùng đất mới

Trang 31

Mảnh đất phương Nam đã tiếp nhận, Nam phương hoá, Đại Việt hoá Nho giáo trên nền văn hoá dân tộc Nó gây nên không ít xung đột văn hoá, gây nên

sự mất cân bằng nhưng để rồi lập lại sự cân bằng mới Nho giáo thời Lý – Trần cũng là Nho giáo trong sự dung hợp Tam giáo Cho đến giữa thế kỷ XIV, tuy Nho giáo cũng được chú trọng nhưng về cơ bản Phật vẫn giữ vị trí cao hơn Từ giữa thế kỷ XIV đến giữa thế kỷ XV, vai trò của Nho giáo trong đời sống xã hội và văn hóa Việt Nam đã có sự thay đổi Nho giáo giữ vai trò thượng tôn

Sau khi chiến thắng giặc Nguyên (1288), nhà Trần có khuynh hướng xa rời quần chúng Mô hình điền trang thái ấp nhà Trần đã không phát huy được sức lao động và ruộng đất canh tác Nhiều hiện tượng tiêu cực xã hội đã xảy

ra, đất công bị chiếm dụng Cũng vì thế, Nho giáo dần dần thay thế vị trí của Phật giáo và đi đến độc tôn Từ giữa thế kỷ XIV, trong lòng xã hội Đại Việt một thế lực xã hội đã ra đời Thế lực đó âm thầm phát triển, phát huy ảnh hưởng trong môi trường một xã hội mở, một xã hội giàu tinh thần dân chủ, bình đẳng truyền thống – đó là tầng lớp Nho sĩ, là tầng lớp trí thức mới thay thế cho tầng lớp trí thức cũ là các nhà sư Các nhà sư trước đây đã có một vai trò hết sức to lớn trong đoàn kết dân tộc, chống quân phiệt hóa nhà nước, đề cao tinh thần tự chủ và đối kháng Trung Hoa Nhưng từ giữa thế kỷ XIV, họ

đã từng bước nhường vị thế quốc giáo cho Nho giáo một cách thầm lặng Thời Vãn Trần (nửa cuối thế kỷ XIV) tương ứng các triều vua Trần Dụ Tông (1341-1369), Nghệ Tông (1370-1372), Duệ Tông, Phế Đế, Thuận Tông) Nho giáo vươn lên mạnh mẽ và khẳng định vai trò lịch sử của mình Giới nho sĩ ngày càng đông, đổ đạt cao Những nhân vật tiêu biểu có thể kể là Chu An, Trần Nguyên Đán, Lê Quát, Phạm Sư Mạnh, Chu Đường Anh đã xây dựng được niềm tin ở xã hội

Trang 32

Nho giáo lúc này về cơ bản có dấu hiệu Tống nho (sự kiện ra đời của Quốc Học viên và Tứ thư, Ngũ kinh được giảng giải ở đây từ năm 1253) Về học thuật thì “theo Huấn hỗ học của Hán nho và Đường nho” [78, 385] Nhưng triều đình đại diện là vua Trần Nghệ Tông - đã tiếp tục tư tưởng của Trần Minh Tông – và làm chậm lại sự đề cao đạo Nho cũng như ảnh hưởng sâu rộng của Tống nho Có thể nói trong thời gian này có ảnh hưởng đến văn hóa Việt là Hán Nho, Đường Nho, Tống Nho Tống Nho có vẻ nổi bật hơn trong khối hỗn hợp đó nhưng vẫn chưa ảnh hưởng bằng Phật giáo và nó có nhiều dấu hiệu bị Việt hóa

Đến đời Hồ và Hậu Trần, Nho giáo đã hoàn toàn thay thế vị trí Phật giáo Nho giáo tiếp tục đi đến độc tôn và ảnh hưởng mạnh mẽ đến chính trị xã hội nước ta Hồ Quý Ly phê phán Tống nho, đề cao Chu Công, chuộng thực tế Ông viết sách “Minh đạo” như một hướng đi riêng, Việt hóa Nho Nhưng về bản chất các nhân vật thời gian này như Lý Tử Tấn, Nguyễn Phi Khanh lại

có thiện cảm với Tống nho (Câu “Nghi thủy xuân phong dữ vật tâm” trong bài “Du Phật Tích sơn đối giang ngẫu tác” của Nguyễn Phi Khanh “lấy ý từ câu “Bàng hoa tùy liễu quá tiền xuyên” của Trình Minh Đạo” [178, 395] Có

thể nói Nho giáo thời gian này Tống Nho có ảnh hưởng nhưng gặp nhiều đối kháng Yếu tố Việt trong Nho giáo có biểu hiện khá nhiều Những nhân vật tiêu biểu thời gian này là Hồ Quý Ly, Đặng Dung, Nguyễn Phi Khanh Không bao lâu, vào thời Minh thuộc (1407- 1428), nhà Minh tiếp tục đem sách vở Tống Nho vào nước ta

Đến Khởi nghĩa Lam Sơn và Lê sơ, Nho giáo tiếp tục giữ vị trí quan trọng nhưng ban đầu Nho học được vận dụng phục vụ kháng chiến (không giống khuynh hướng triết học của Tống Nho) Sau kháng chiến, các nhà nho thời gian này (như Nguyễn Trãi) vẫn còn ảnh hưởng văn hóa thời Lý – Trần Nho giáo trog thời gian hòa bình lập lại từ năm 1428 cho đến năm mở khoa

Trang 33

thi Tiến sĩ 1442 về cơ bản vẫn là Tống nho, nhưng chưa rõ nét Nhưng bên cạnh đó, vai trò Nguyễn Trãi trong khuynh hướng Việt hóa và phục hưng văn hóa thời Lý Trần rất đáng kể (Thực tế vai trò của Nguyễn Trãi vẫn ảnh hưởng cho đến khi ông mất – năm 1442) Những nhân vật nho sĩ tiêu biểu ở thời gian này là Nguyễn Trãi, Nguyễn Mộng Tuân, Lý Tử Tấn

Nhìn chung, để xác định ảnh hưởng của Nho học vào văn học nước ta cũng tùy vào từng thời kỳ Nếu nói thời gian này Nho giáo ở nước ta là Tống nho thì đó chỉ là khái quát Không thể không chú ý đến yếu tố Việt đã ảnh hưởng đáng kể bởi bốn nguyên nhân:

Thứ nhất: ảnh hưởng tư tưởng dung hòa tam giáo thời Trần

Thứ hai: tư tưởng bài Tống nho triều Trần – Hồ

Thứ ba: tư tưởng khôi phục văn hóa khoan hòa tam giáo thời Lê sơ

Thứ tư: những quan niệm thi luận về “ngôn chí” của thời gian này (Phan Phu Tiên, Lý Tử tấn, Hoàng Đức Lương, Nguyễn Trãi ) phản ánh một phần tính chất ảnh hưởng của Nho giáo đến thơ Nho Những quan niệm này được xác định là “tương đương với lý luận thơ ca cổ Trung Hoa từ đời Đường về trước” (Phương Lựu) [100, 613]

Triều nhà Hồ, nhà Lê, Nho giáo trở thành lý thuyết chính trị, đạo đức xã hội, nội dung giáo dục, thi cử… Quan niệm văn học, nghệ thuật thi ca cũng không ngoài trường ảnh hưởng của Nho học Sự sùng thượng học thuyết Nho giáo, sự lớn mạnh của tầng lớp Nho sĩ, sự ảnh hưởng sâu rộng của văn hóa mới dẫn đến thơ Nho là sự hiển nhiên

Đại bộ phận quần chúng trong xã hội qua các triều đại dần dần đều thích nghi với chính sách tiên phong của nghệ thuật trị nước từ Nho giáo Chính sách “thân dân”, tư tưởng “dân vi quý”, đã có tác dụng tích cực Đại bộ phận Nho sĩ có gốc bình dân xâm nhập vào bộ phận quan liêu, mang ý thức

Trang 34

Nho giáo vào giới quý tộc trước đó chịu ảnh hưởng Phật giáo Nhiều yếu tố mới đã hình thành trong xã hội nước ta thời đó

Nho giáo càng xác lập ưu thế trên phạm vi toàn xã hội Giới nho sĩ càng ý thức được quyền lợi và vị trí của mình, họ lên tiếng bài bác Phật giáo Việc bài bác chủ yếu nhằm vào các hiện tượng xã hội hơn là mặt tôn giáo, triết học Các nhà sử học cũng có những lời phê bình mạnh mẽ Phật giáo song song với việc đề cao học thuyết đạo đức “Nhân nghĩa”, tôn trọng vương quyền, củng

cố các “giềng mối” đạo đức xã hội Họ đã xây dựng mẫu người lý tưởng – người quân tử, đồng thời đề cao mẫu người “thiên tử” – trong tinh thần “thiên

- nhân hợp nhất” và chính sách thân dân Nho giáo từng bước ảnh hưởng sâu đậm lên văn hóa Đại Việt, trong đó có thơ văn của các tác giả nhà nho Riêng thơ ca của các nhà nho sự ảnh hưởng này khá sâu đậm, nó làm nên một số nét riêng của cả một dòng thơ

1.2.1.2 Quá trình hình thành dòng thơ Nho

Để tìm hiểu những bước khởi đầu của hành trình thơ Nho cần quay về nguồn gốc, lịch sử thơ Nho Tài liệu về vấn đề này không còn nhiều

Trong những nhà nho ở nước Việt (Tinh Thiều - thời Nam Bắc Triều), có người Việt làm quan ở Trung Hoa (Trương Trọng, Lô Hồi, Khương Thần Dực, Khương Công Phụ, Khương Công Phục, Liêu Hữu Phương ) đó là những nhà nho có tên tuổi đầu tiên Nhìn chung thời Bắc thuộc, dòng thơ Nho chưa hình thành, thành tựu Nho học của người Việt đã ít gây được tiếng vang (ngoại lệ có Liêu Hữu Phương được Liễu Tử Hậu (Đời Đường) đánh giá là

"thơ văn có điệu Đại nhã" [145, 121]) Những nhà nho gốc Phật giáo trong

hoàn cảnh song hành văn hóa Nho – Phật lại là những tác giả thơ Nho đầu tiên dùng thơ Nho để xướng họa với người Trung Hoa Vị tăng ở Nhật Nam,

Vô Ngại Thượng Nhơn, Duy Giám pháp sư đã từng xướng họa với thi hào Trương Tịch, Thẩm Thuyên Kỳ, Giả Đảo… hoặc giảng kinh cho vua Đường

Trang 35

Theo tiến trình văn học, từ xa xưa thơ Nho đã có dấu hiệu ban đầu của sự tồn tại Những tài liệu cổ còn sót lại không nhiều nhưng có thể cho ta một số

thông tin Trong “Toàn Đường thi” (quyển 784) [194] còn ghi lại một bài thơ

của một Cử nhân An Nam vào năm 860 (thế hệ sau Đỗ Phủ), diễn tả nỗi nhục mất nước và quan lại Phương Bắc để cho quân Nam Chiếu đánh phá, tràn

ngập Mở đầu bài thơ là: “Người ta đã làm cho xứ Giao Chỉ tôi thật nhục

nhã” (Trí ngã Giao Chỉ nhục) [131, 326-327] Đây đó cảnh vơ vét, cướp bóc,

bắt lính, chiến trường vắng bên bờ sông đầy thây người dân Việt Âm điệu

của bài thơ đau xót không kém “Bi Trần Đào” của Đỗ Phủ Cuối bài thơ là

“Tiếng than vang động cả làng mạc – Oán khí chất thành non cao…” Bài

thơ này cùng với hai thiên “Bạch vân chiếu xuân hải” và “Đối trực ngôn cực

gián sách” của Khương Công Phụ (trong “Toàn Đường văn”) tồn tại với tư

cách là tín hiệu biểu hiện hơn là một dòng phái rõ rệt Từ những gì còn lại có thể nhận thấy thơ Nho chỉ là “dòng thơ chưa được xưng tụng” bên cạnh thơ Thiền và nó còn bị phản ứng mạnh bởi tinh thần "Bài Ngô" Chỉ khi đất nước độc lập, các vua Lý – Trần chủ động vận dụng Nho giáo thì Nho giáo mới có địa vị và khi ấy mới hình thành dòng thơ Nho Tuy nhiên, những tác phẩm trên đây chỉ là dấu hiệu ban đầu, góp một phần nhỏ vào truyền thống thơ Nho Việt Nam

Tiếp xúc với kinh điển Nho học chính thống, đương nhiên các nhà nho sơ

kỳ Trung đại đã chiếm lĩnh những tuyên ngôn nghệ thuật thơ ca cần thiết

Những quan niệm về thơ đã được biết đến như “Thi khả dĩ hưng…” (Luận

ngữ- Dương Hoá) [72, 274]; “Tư vô tà” (Luận ngữ- Vi chính) [72, 14]; “Ôn nhu đôn hậu” (Lễ ký- Kinh giải) [73, 211]; “Văn chất bân bân” (Luận ngữ- Ung dã) [72, 92] Các nhà nho Việt đã tiến hành Việt hóa Nho giáo, nhưng

ban đầu, thơ Nho thời Lý chỉ khiêm tốn tồn tại bên cạnh dòng chính thống – thơ Thiền Lịch sử đã xuất hiện một số tiếp xúc văn hóa Nho – Thiền Bài

Trang 36

minh ghi trên bia chùa Linh Xứng viết: “Phật Tổ… chỉ thẳng lòng, thánh

nhân…thông suốt muôn biến” (Thiền sư Pháp Bảo) Sự tiếp xúc, phân công

lại tiếp tục được phản ánh trong “Thiền Tông chỉ nam tự” Hiện tượng này

cũng cho thấy tình trạng dung hòa thơ Nho và thơ Thiền, nhưng rồi từng bước thơ Nho đã vượt lên thế dung hòa đó

Đời Trần, thơ Nho từng bước phát triển và hoàn thiện song song với quá trình phát triển của thơ Thiền (khoảng 50 tác giả vào cuối đời Trần) Số lượng tác giả – tác phẩm thơ Nho ngày càng nhiều, có thể thấy cuối đời Trần thế hệ nho sĩ Chu An – Phạm Sư Mạnh – Lê Quát… đã ảnh hưởng đến văn hóa đương thời Hàn Thuyên được đánh giá như là người mở đầu một phong trào cải cách văn hóa, nhiều văn tập – thi tập đã ra đời trong thời gian này Nội dung các thi tập mang dấu vết Nho giáo và tính “Việt” đậm nét

Lúc này, dòng thơ Nho từng bước có diện mạo, định hình Nhất là vào nửa sau thế kỷ XIV, diện mạo thơ Nho có điều kiện bộc lộ Đó là quá trình người Nho sĩ tự hào với kỹ năng sống, kỹ năng sáng tạo nghệ thuật Các nhà nho tự ý thức về trách nhiệm của họ Đó là trách nhiệm của tầng lớp Có thể xem dòng thơ đó lấy hệ tư tưởng Nho giáo và tư tưởng dân tộc làm “vốn văn hóa” khi văn hóa Nho giáo đã phát huy ảnh hưởng từ thượng tầng đến hạ tầng

xã hội “Vào nửa sau thế kỷ XIV, khuynh hướng Nho giáo trong văn học đã

gia tăng” [125, 172] Các tác giả thơ Nho cũng không ngừng phát huy vai trò

của mình trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực văn hóa - văn học

Dễ nhận thức được con người trách nhiệm là một nét đặc trưng trong thơ những nhà nho đất Việt và Trung Hoa Có sự gần gũi giữa thơ Nho Trung Quốc và thơ Nho nước ta nhưng các thi nhân đất Việt xem mình là sao Ngưu sao Đẩu, hơn hẳn Lý Bạch, Đỗ Phủ, Tiền Hán, Thịnh Đường,… (Tô Thế Huy, Tao đàn, Lê Thánh Tông…) Điều đó cho thấy dòng thơ Nho Việt đã thực sự tồn tại, có vị trí rõ rệt trong các nền thơ ca cổ phương Đông

Trang 37

Ở nước ta quá trình sinh thành dòng thơ Nho được xem như hệ quả của quá trình phát triển của giới nho sĩ xét về mặt chức năng kéo dài đến năm thế

kỷ (thế kỷ X – XIV) Đó là quá trình đóng góp của nhiều thi nhân, nhiều thế

hệ, kể cả các nhà vua và quan lại triều đình Giữa thế kỷ XIV đến giữa thế kỷ

XV là một thế kỷ thơ với những thành tựu đáng kể Tuy mới là thành tựu ban đầu nhưng nó phản ánh gần như trọn vẹn những đặc điểm cơ bản của thơ Nho

về nội dung – nghệ thuật Thơ Nho thế kỷ này trong sáng, tích cực và phản ánh đúng lý tưởng của người nho sĩ chân chính, phản ánh đúng lý tưởng thẩm

mỹ Nho học trong thi ca, mà ở đó, Nguyễn Trãi được xem là một trong những

tác gia tiêu biểu nhất

1.2.2 Lực lượng sáng tác

Loại hình tác giả thơ Nho chủ yếu là các nhà nho, những người được học

tập, đào tạo bằng chương trình Nho học, lấy những tri thức của Nho giáo làm

cơ sở nhận thức tự nhiên, xã hội và bản thân Các tác giả thơ Nho đã sáng tác thơ ca dựa trên những quan niệm văn học, mỹ học mang màu sắc Nho giáo Trong khoảng thời gian từ giữa thế kỷ XIV đến gữa thế kỷ XV, dựa theo

các công trình như “Thơ văn Lý Trần” (tập 3) (Viện Văn học)[178], “Hoàng

Việt thi tuyển” (Bùi Huy Bích) [09], “Tổng tập văn học Việt Nam” (tập 4)

(Bùi Văn Nguyên) [117], “Tổng tập văn học Việt Nam” (tập 5) (Bùi Văn

Nguyên) [118], có thể thấy lực lượng sáng tác rất đông đảo Thời gian này số lượng tác giả thơ Nho có khoảng 65 tác giả

Những tác phẩm như “Đình Thủy vương công” (Chu An) [178, 54],

“Tạp hứng 2” (Lý Tử Tấn) [09, 364-365], “Thuật chí” (Lý Tử Cấu) [09,

386-387] ảnh hưởng bởi tư tưởng Lão Trang nên khó xếp vào thơ Nho

Những tác phẩm như “Lễ Để sơn” (Lê Thiếu Dĩnh) [09, 408]) và gần 10 bài thơ của Nguyễn Trãi (“Du Nam Hoa tự”, Thu dạ khách cảm”, “Thuật

hứng, 17”, “Mộc cận”, “Ức Trai thi tập, bài 65”, “Du Tiên Sơn tự” [123])

Trang 38

lại là những bài thơ mang phong cách Thiền, vì thế cũng không thể xếp vào thơ Nho

Số lượng tác phẩm thơ Nho thời gian này cũng cũng rất cao: “Thơ văn Lý

Trần” (tập 3) [178] có 301 bài/ 39 tác giả thật sự là thơ nhà nho

Trong “Nguyễn Trãi toàn tập” [123], “Ức Trai thi tập” có 99 bài, “Quốc

âm thi tập” có 254 bài (đã trừ những bài thơ Thiền)

Tác phẩm “Hoàng Việt thi tuyển” [09] (chọn thời Lê đến giữa thế kỷ

XV) có 61 bài được sáng tác bởi một lực lượng khá đông đảo đến 25 tác giả Nhìn chung, thời gian khoảng một trăm năm này số lượng tác giả, tác phẩm đã lên rất cao Hiện tượng này phản ánh một thời hưng thịnh của thơ văn nhà nho Đồng thời nhiều tác giả thơ Nho được xem là những danh nho tiêu biểu, mẫu mực cho mọi thế hệ nho sĩ Đại Việt

Tác giả thơ Nho thời này chủ yếu là những nhà nho đỗ đạt, những quan chức triều đình, kể cả những nhà vua nhưng có tâm hồn thi sĩ Họ sáng tác trong lúc tự thuật, xúc cảm, xướng họa

1.2.3 Những đề tài chủ yếu của thơ Nho Việt Nam từ giữa thế

kỷ XIV đến giữa thế kỷ XV

Người xưa làm thơ thì ý tưởng đã được nói lên một phần ở tên bài thơ như thuật hoài, vịnh sử, thù đáp, tống biệt, đề vịnh… hoặc không gian sáng tác như giang hồ, vũ tuyết, sơn nhạc, lâu các, mộng, Nội dung thi ca cổ thường được trình bày tương ứng với những tư tưởng về hiện thực, nhân sinh,

xã hội, tấm lòng cứu quốc, cứu thời, cảm xúc trước thiên nhiên, tình cảm gia đình, bạn bè, tâm tình bản thân đối với cảnh ngộ riêng Ở thơ Việt Nho từ giữa thế kỷ XIV – giữa thế kỷ XV, những ý tưởng tình cảm được gửi vào thơ xuất phát từ đặc điểm thơ Nho và hiện thực nước Đại Việt trong khoảng một thế kỷ này

Trang 39

Có thể thấy thơ Nho giữa thế kỷ XIV – giữa thế kỷ XV bao hàm cả vào hai mảng chủ đề, thứ nhất gồm: thơ phản ánh chí của người nho sĩ và thứ hai

là những tình cảm trắc ẩn, cô đơn của người nho sĩ, người trí thức nước Việt

1.2.3.1.Thơ nói“chí” của nhà nho

Văn học nhà nho nói chung rất xem trọng mệnh đề “ngôn chí” Theo tình hình chuyển biến của Nho học ở các nước thì những quan niệm Nho học được cấu trúc lại và phần lớn được cải biến và vận dụng với ý thức dân tộc và khát vọng độc lập về chính trị – văn hoá - văn học “Chí” trong thơ Nho Việt nam cũng vì thế mà khá phức tạp

“Thơ nói chí” là chủ đề cơ bản của thơ Nho Nhưng xác định “chí” là thế nào và “chí” trong thơ Nho ra sao, vẫn có nhiều phương thức xác định khác nhau Quan niêm thơ nói chí theo nghĩa kinh điển Nho gia là hướng về đạo, đức, nhân… Chí vốn có nguồn ở tâm nhưng là cái phù hợp với đạo lý Chí không chỉ là chí hướng mà còn là năng lượng bền vững của hành động hợp đạo lý Chí có thể là tình nhưng là dạng thức tình cảm tích cực thực hiện lý tưởng cao đẹp Tình cảm đó chất chứa trong tâm và gặp điều kiện “tức cảnh”

sẽ hòa vào thi hứng trong thơ Phan Phu Tiên đã viết: "tâm hữu sở chi tất hình

ư ngôn, cố thi dĩ ngôn chí" [117, 374] “Chí” ở trường hợp này được các Việt

Nho thể hiện như là các dạng chí hướng của người thi sĩ: có chí hướng sửa sang chính sự, ngăn đạo đức xuống cấp, có chí ở chốn sơn lâm…

“Thi ngôn chí” là một tông chỉ của thơ Nho nhưng ở đây, nội dung của

“chí” được mở rộng sang những lĩnh vực thế sự và bản địa hóa Nó không còn cao xa, cao quí mà gắn liền với những biến động của đất nước, sự tồn vong của dân tộc và tâm sự của người thi sĩ Vì vậy, nội dung “chí” ở đây đã được

mở rộng

Trang 40

Thơ nói chí – hành đạo – liên hệ chính sự là chủ đề bao hàm rất nhiều tác phẩm thơ Nho Thơ “nói chí” không xa lạ đối với thơ ca cổ Là những sáng tác riêng tư của các thi sĩ Việt Nho, ở Đại Việt thơ Nho có những sáng tạo thật sự mới mẻ Nếu có sử dụng thi liệu Trung Quốc thì đã biến đổi theo các

cách: “đề cũ mà ý dị, đề đồng mà điệu dị, đề đồng mà sự dị, lấy ý mà đổi đề

danh, bắt chước đề cũ mà phản lại ý…” [120, 68 – 69] Nhờ tinh thần nho sĩ

đất Việt mà thơ nói chí không đến đỗi bị thu hẹp Nhiều khi đề tài, chủ đề được lựa chọn khá đơn điệu nhưng mỗi nho sĩ vẫn có những nét riêng Tâm – chí của mỗi người trong thơ là một thế giới riêng

Chí là năng lượng hướng dẫn hành động, là sự tập trung chuyên chú mọi năng lực cho một định hướng, tự ám thị của tâm cho một lý tưởng Chí của nhà nho xuất phát từ “cách vật” (hiểu sự vật hiện tượng, những quy luật khách quan) đến những việc “tu- tề- trị - bình" Từ học vấn đến công việc gia đình, quốc gia, xã hội (theo chiều hướng mở rộng từng bước phạm vi ảnh hưởng của tư tưởng nhân nghĩa)

Thơ Nho trước hết vẫn được xem là quan tâm nhiều đến đề tài nói chí (ý tưởng xuất phát), hành đạo (thực hiện chí)

Những bước đường vận động của ý chí của các nhà nho nước Việt được

tập trung vào thực thi tư tưởng nhân nghĩa về “yên dân” (Bình Ngô đại cáo)

tùy ở chính mỗi cá nhân Tư tưởng đó là chủ đề cơ bản, thực thi nó là chí của Việt Nho Chí ở đây là sự nung cháy bền vững của tình cảm yêu nước, tình cảm đó chảy suốt từ những huyền thoại, truyền thuyết về cội nguồn dân tộc,

các anh hùng dân tộc Chí đã được hoá thân vào “Nam quốc sơn hà”, “Hịch

tướng sĩ”, “Bình Ngô đại cáo” Như một năng lượng tình cảm, "chí" đeo

đẳng suốt đời người nho sĩ như một duyên nợ, thâm nhập thành máu thịt, tâm hồn Cảm thụ thơ ca nhà nho, người đọc sẽ bắt gặp nguồn năng lượng ấy

Ngày đăng: 10/04/2013, 10:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w