1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng văn học dân gian với văn học viết Việt Nam

21 4,5K 28
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ảnh hưởng văn học dân gian với văn học viết Việt Nam
Tác giả Đặng Thị Hồng Đào
Trường học Trường THPT Chuyên Lương Văn Chánh
Thể loại Đề tài
Năm xuất bản 2008
Thành phố Tuy Hòa
Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 233 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài về : Ảnh hưởng văn học dân gian với văn học viết Việt Nam

Trang 1

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

  

ẢNH HƯỞNG VĂN HỌC DÂN GIAN

VỚI VĂN HỌC VIẾT VIỆT NAM

Người thực hiện: ĐẶNG THỊ HỒØNG ĐÀO Đơn vị: TRƯỜNG THPT CHUYÊN LƯƠNG VĂN CHÁNH

A MỞ ĐÂÀU:

“Từ ngày ăn phải miếng trầu

TPTuy hòa, 5 /2008

Trang 2

Miệng ăn môi đỏ, dạ sầu đăm chiêuBiết là thuốc dấu hay bùa yêuLàm cho thiếp phải nhiều điều xót xaLàm cho quên mẹ quên cha Làm cho quên cửa quên nhà

Làm cho quên cá dưới aoQuên trăng dưới nước, quên sao trên trời”

Bài ca dao là một trong những bài ca dao thuộc chủ đề ca dao yêu thương,tình nghĩa, mà cụ thể hơn là một tình yêu trong sáng nhưng cũng pha chút hài hước,lãng mạn giữa đôi trai gái Nhà thơ Xuân Diệu đã nói: “Không chờ đợi thơ chínhquy, thơ chuyên nghiệp diễn tả hộ mình, những người lao động đã thế kỉ này quathế kỉkhác, diễn tả trực tiếp lòng yêu thương, sướng vui, đau khổ” (Sách Ngữ văn10NC, trang 102) Như vậy, từ trước lúc “thơ chính quy, thơ chuyên nghiệp” ra đờithì những người lao động gởi gắm cả tình cảm, ước mơ lẫn khát vọng vào trongnhững vần ca dao ngắn ngủi nhưng lại xúc tích, hàm chứa nhiều điều Ca dao, haynói cách khác là văn học dân gian, đã có một chỗ đứng rất quan trọng trong đờisống tinh thần cần được bộc lộ của người bình dân, đóng một vai trò khá lớn trongviệc phê phán xã hội phong kiến – nửa thực dân, lên án giai cấp thống trị áp bức,bóc lột nhân dân Vậy từ khi “thơ chính quy, thơ chuyên nghiệp” chính thức ra đờitừ khoảng thế kỉ thứ X thì nó đã giúp cho người bình dân “diễn tả trực tiếp lòng yêuthương, vui sướn, đau khổ” hay chưa? Liệu văn học dân gian có còn đóng vai tròquan trọng, hay nói đúng hơn có còn ảnh hưởng đến văn học viết nữa hay không?Có còn xứg đáng là “bộ sách giáo khoa về cuộc sống” để các tác giả văn học viếthọc tập hay không?

I Văn học dân gian trong tiến trình văn học dân tộc:

- Trong tiến trình văn học dân tộc, văn học dân gian ra đời từ rất sớm, nhữngthần thoại, những truyền thuyết từ thuở lạp nước đến nay (Văn Lang, Âu LaÏc) thuộcvào hàng di sản cổ xưa nhất trong nền văn học dân tộc đã minh chứng cho sự ra đờicủa văn học dân gian

- Và khi văn học viết ra đời thì văn học dân gian vẫn tiếp tục phát triển bêncạnh người bình dân, ảnh hưởng không nhỏ đến các tầng lớp tri thức của văn họcviết Trong suốt tiến trình ấy, văn học dân gian vẫn gắn bó với đời sống và tư tưởng

“diễn tả trực tiếp lòng yêu thương, sướng vui, đau khổ” của quần chúng lao độngđông đảo trong xã hội

- Văn học dân gian Việt Nam có nội dung phong phú, phản ánh cuộc sốngthể hiện lý tưởng xã hội và đạo đức của nhân dân lao động các dân tộc cung cấp tri

Trang 3

thức có ích về tự nhiên và xã hội, bảo tồn và phát huy những truyền thống tốt đẹp,chứa đựng cả một kho tàng các truyền thống nghệ thuật dân tộc.

II Văn học dân gian có một vị trí và vai trò như thế nào đối với văn học viết?

- “Ở Việt Nam, văn học dân gian có vị trí vai trò rất quan Trong hàng nghìnnăm Bắc thuộc và ở các thời kì dân tộc chưa có chữ viết hoặc chữ viết chưa phổcập, văn học dân gian đã đóng góp to lớn trong việc gìn giữ, mài giũa và phát triểnngôn ngữ dân tộc sâu sắc và những sáng tạo nghệ thuật độc đáo, tài hoa của vănhọc dân gian có tác động mạnh mẽ đối với sự hình thành và phát triển của văn họcviết từ nội dung đến hình thức” (Sách NV 10 nâng cao, tập trung I trang 6) Từ thuởnghìn năm Bắc thuộc, văn học dân gian đã có một vị thế quan trọng trong đời sốngtinh thần của quần chúng lao động khi chữ viết “chưa có hoặc chưa phổ cập”, vănhọc dân gian đã “gìn giữ, mài giũa và phát triển ngôn ngữ dân tộc”, nuôi dưỡng tâhồn nhân dân” Bỡi có một vị trí như thế nên văn học dân gian có vai trò như

“người diễn tả hộ” tình cảm lẫn tư tưởng của nhân dân lao động Tương truyền,trước khi diễn ra cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng (năm 40), Bà Trưng Trắc đã đọcthề, về sau được viết thành thơ:

“Một xin rửa sạch nước thùHai xin đem lại nghiệp xưa họ Hùng

Ba kẻo oan ức lòng chồngBốn xin vẹn sở công lênh này”

Bốn câu thơ trên được trích từ “Tiên Nam ngữ lục, áng sử ca dân gian thế kỉXVII” đã thể hiện được mục đích của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng là “đền nợnước, trả thù nhà”, quét sạch bọn xâm lược Hán ra khỏi nước Âu Lạc và để nhớ vềlời thề nguyện của bà, nhân dân đã gói gọn trong bốn câu thơ Chả thế mà đến LêVăn Hư, nhà sử học thế kit XIII, cũng phải khen rằng “Trưng Trắc, Trưng Nhị làphụ nữ, hô một tiếng mà các quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố cùng

65 thành ở tỉnh ngoại đều hưởng ứng, việc dựng nước xưng vương dễ như trở bàntay, có thể thấy hình thế đất Việt ta đủ dựng được nghiệp Bá vương”!

III Ảnh hưởng của văn học dân gian đối với văn học viết:

- “Tính nhân dân, tính dân tộc sâu sắc và những sáng tạo nghệ thuật độc đáo,tài hoa văn học dân gian có tác động mạnh mẽ đối với sự hình thành và phát triểncủa văn học viết từ nội dung đến hình thức” Văn học dân gian ra đời sớm hơn vănhọc viết nhưng lại tồn tại song song với văn học viết, truyền cho văn học viết mộtsức sống mới, tặng cho người đọc những bài viết, tác phẩm có sức lay động tình

Trang 4

cảm người bình dân Có nhiều tác phẩm văn học viết bằng chữ Nôm hay chữ quốcngữ sở dĩ có sức tồn tại lâu dài là bỡi được phổ cập rộng rãi trong các tầng lớp nhândân một phần do tác giả tiếp thu một cách sáng tạo giá trị nội dung và kinh nghiệmnghệ thuật của vănhọc dân gian Và trong sự nghiệp xây dựng nền văn học đậm đàbản sắc dân tộc hiện nay thì văn học dân gian vẫn luôn được coi là một nguồn nướcvô tận cho sự sáng tạo nghệ thuật Văn học dân gian giống như một người anh songsinh của văn học viết, vì sinh ra trước cho nên chịu một ít “gian khổ” là lẽ đươngnhiên Và vì “sinh sau đẻ muộn” từ văn học dân gian Vì thế, một số trí thức củavăn học viết (như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương…) đã sáng tác nhữngtác phẩm để đời là nhờ một phần tư tưởng và sinh hoạt gần gũi với nhân dân laođộng, hiểu và vận dụng một cách tài tình ngôn ngữ mang tính bình dân.

1 Tìm hiểu sự ảnh hưởng của văn học dân gian trong các tác phẩm của Nguyễn Du:

“Học như mọi người, thu hoạch như tất cả người thu hoạch ca dao, học tínhgiai cấp trong đó, học lập trường của những người lao động, học cái hiện thực củaviệc đời qua mấy nghìn năm trong đó học các tương quan xã hội, học các tươngquan nam nữ trong các chế độ cũ, học tên đất, tên nước, tên sao, tên cá, tên chimmuông, tên hoa cỏ… học máu và mồ hôi, nước mắt và nụ cười của những con người…Nhưng nói hẹp hơn, các nhà thơ học được thơ ở trong ca dao” (Xuân Diệu) “Cácnhà thơ học những gì ở ca dao?” (tạp chí Văn học, số 1-1967) Như vậy, nhà thơXuân Diệu muốn các nhà thơ thế hệ sau học tập tất cả những gì có thể học được từ

ca dao, từ những cái đơn giản nhất “tên đất, tên nước, tên sao, tên cá, tên chimmuông, tên hoa cỏ” cho đến những cái phức tạp “học tính giai cấp, học lập trường,học cái hiện thực của việc đời…”

- Nhờ có cuộc sống phiêu bạt nhiều năm trên đất Bắc (1786-1796) rồi về ởẩn tại quê nội Hà Tĩnh (1796-1802), nên Nguyễn Du có được vốn kiến thức sâurộng, am hiểu văn hoá dân tộc và văn chương Trung Quốc Cuộc đời từng trải, đinhiều, tiếp xúc nhiều đã tạo cho Nguyễn Du một vốn sống phong phú và niềmthông cảm sâu sắc với những đau khổ của nhân dân Sự ngiệp văn học của Nguyễn

Du gồm những tác phẩm có giá trị bằng chữ Hán lẫn chữ Nôm nhưng tác phẩm màông dành nhiều thời gian và tâm sức nhất là “Truyện Kiều” là sự kết tinh thành tựunghệ thuật văn học dân tộc trên các phương tiện ngôn ngữ, thể loại Với “TruyệnKiều”, ngôn ngữ văn học dân tộc và thể thơ lục bát đã đạt đến đỉnh cao rực rỡ, thếnên tác phẩm được lưu truyền rộng rãi và có sức chinh phục lớn đối với mọi tầnglớp độc giả là lẽ đương nhiên!

- Trước tiên, tôi xin mạn phép được đưa mọi người quay trở về quá khứ củaNguyễn Du, cái thời kì mà xã hội phong kiến đã dần suy yếu nhưng còn đủ sức đểngực trị con người Những bọn quan lại đại thần miệng nói nhân nghĩa nhưng lạikhôn khéo:

Trang 5

“Không lộ vuốt nanh cùng nọc độcMà xé thịt người nhai ngọt xớt!”

Cả “Truyện Kiều” là một bản cáo trạng cái xã hội phong kiến áp bức; nàngThuý Kiều tài tình xinh đẹp, thanh quí bị đem bán như món hàng, như thú vật đắttiền nào đó Mã Giám Sinh đến mua đã tàn nhẫn:

“Cò kè thêm bớt một haiGiờ lâu ngã giá vàng ngoài bốn trăm”

Thì mị Bạc Hạnh đem Kiều bán đi còn tàn nhẫn hơn:

“Xem người định giá vừa rồiMối hàng một đã ra mười, thì buông!”

(Trước khi “buông” thì phải nắm thật chặt! Một vốn bốn lời, năm lời, sáu lời,bảy lời vẫn không buông Một mười lời, tức thì buông ra không chút quyến luyến,không thương tiếc!)

- Câu chuyện về cuộc đời cô Kiều là một hiện thực vĩ đại, là một cuốn tiểusử của một xã hội thối nát Sau cảnh vu oan, tra tấn, hối lộ vỡ lòng là một dây kéotheo những oan khốc, cảnh buôn người, cảnh làm gái lầu xanh, đánh đập, cảnh lừagạt một phụ nữ, cảnh đánh ghen lạ đời, cảnh lừa giết một anh hùng… Cái xã hội gìmà “đầu trâu mặt người ào ào như sôi” mà “khốc quỷ kinh thần mọc ra” còn như

“thây vô chủ bên sông” thì bất kể ngày đêm, lúc nào cũng sẵn có! Cái uy quyền gìmà người ta đến mách cho một vài tin tức thì đã “đứa thì vả miệng, đứa thì bẻ răng”cốt lập thâm mưu về sau! Cái thứ “mặt sắt” Hồ Tôn Hiến gì mà cũng “ngây vì tình”nguỵ trang bằng rượu, khiến ông tơ hồng phải động theo, vơ lấy tơ mà xe nhăng xenhít Còn đồng tiền thì thật đáng kinh tởm, dính đầy máu và nước mắt của ngườilương thiện: Tú BÀ “máu tham hễ thấy hơi đồng là mê”, bọn quan lại thì đòi trámmiệng, nhăng nhít như đám ruồi nhặng bu vào miếng thịt:

“Là gì cái thói sai nhaLàm cho khốc hại chẳng qua vì tiền”

Những mụ Tú Bà giờ đây không còn nữa nhưng ai có một lần đọc qua

“Truyện Kiều” thì mụ vẫn có sống mãi trong tâm trí người đọc với cái cơn nổi tambành có một không hai cùng cái giọng the thá:

“Này này sự đã giả nhiênThôi đà cướp sống chồng mi đi rồi!”

Bảo rằng: đi dạo lấy ngướiĐem về rước khách kiếm lời mà ăn

Trang 6

Tuồng vô nghĩa, ở bất nhânBuồn mình trước đã tần mần thử chơi

Màu hồ đã mất đi rồi(bù lu, bù loa) Thôi thôi vốn liếng đi đơi nhà ma!

(nanh nọc) Con kia đã bán cho taNhập gia phải cứ phép nhà ta đâyLão kia có giở bài bâyChẳng văng vào mặt mà mày lại nghe!

Cớ sao chịu tốt một bề(đay nghiến) Gái tơ mà đã ngứa nghề sớm sao!

“Phải làm cho biết phép ta!”

Chập bì tiên, rắp sấn vào ra tay!

Trời đất ơi! Tú Bà nói chưa đầy nửa phút mà bọt mép của mụ văng ra mãiđến ngàn năm! Tưởng như “mưa bay” tới tấp vào mặt ấy, mụ nói cứ như xé rách cảtrang giấy viết của Nguyễn Du ấy! Tuy nhiên xã hội ta vẫn chưa diệt hết hạngngười áy, chứng cứ sống dai khiến người ta nhớ như in dáng điệu không lẫn vào đâu

“Thoắt trông nhờn nhợt màu da/Ăn chi cao lớn đẫy đà làm sao” của mụ! Không còncô Hoạn Thư trong cái cách sai tay chân đi đốt nhà, bắt người về hành hạ nhưng cáimưu mô của mụ thì quả là sâu sắc, khi ta cợt nghĩ đến vẫn còn “sởn da gà” Nhânvật Hoạn Thư là một sáng tạo thật ly kì, thật hiếm có nhưng lại rất thật! Nhưng nếucuộc đời ta đang xây dựng không còn những anh Thúc Sinh thì không bao giờ cònmụ Hoạn Thư! Cái anh Thúc Sinh sợ vợ, không chút khí phách đàn ông nhưng lạitốt bụng hiền lành Còn cái tên “Sở Khanh, thật đúng với cái tên của hắn Từ anhSở Khanh cưỡi ngựa chuồn mất trong “Truyện Kiều” đến những anh Sở Khanhtrong đời thường không đi ngựa mà đi bộ, đi xe đạp hay ô tô mà người ta vẫn cứnhớ cái “Sở Khanh đã rẽ dây cương lối nào!” Bỡi nó rất điển hình cho tính “anhhùng rơm” của gã, chỉ biết đấm ngực kêu thời nhưng rốt cuộc chỉ là cái mắt mo mànàng Kiều muốn lờ đi

Nếu nói về cách sử dụng ngôn từ, ca dao , tục ngữ một cách nhuần nhuyễntrong tác phẩm “Truyện Kiều” thì không thể tìm người thứ hai ngoài Nguyễn Du.Tôi lấy ví dung trong đoạn trích” Chị Em Thuý Kiều”

“ Kiều càng sắc sảo mặn mà

So bề tài sắc lại là phần hơnLàm thu thuỷ nét xuân sơn

Trang 7

Hoa ghen tha thắm liểu hờn kém xanhMột hai nghiêng nước nghiêng thànhSắc đành đòi một tài đành hoạ hai”

Chỉ trong sáu câu thơ mà Nguyễn Du sử dụng một điển tích và hai hình ảnhẩn dụ Nguyễn Du sử dụng điển tích “nghiêng nước nghiêng thành” để phụ hoạ làmnổi bật vẻ đẹp của Thuý Kiều, khiến nười ta cũng phải say mê đến nổi mất thành,mất nước

“Làn thu thuỷ, nét xuân sơn”, lại một hình ảnh ẩn dụ miêu tả vẻ đẹp trời chocủa nàng, đôi mắt đẹp, trong sáng như nước mùa thu, lông mày như nét của mùaxuân Chả thế mà đến thiên nhiên cũng phải “Hoa ghen”, “liễu hờn” Các bứctranh của Nguyễn Du mang cái đặc tính và nhưựoc điểm của văn chương cổ điển: tảngười một cách tuyệt đối hoá, tất phải đẹp nhất và tài nhất, đàn ông thì văn chươngnết đất, thông minh tính trời còn đàn bà thì “sắc đành đòi một tài đành hoạ hai”.Tuy nhiên, Nguyễn Du có phóng đại về nội dung, mà hình thức văn thì kiệm, ít lờinhiều chất thể nên người đọc vẫn còn thấy phải chăng

Còn Thuý Vân:

“Hoa cười ngọc thốt đoan trangMây thua nước tóc tuyết nhường màu da”

“Thốt” cũng có nghĩa là nói, nhưng nếu để “Hoa cười ngọc nói” thì chữ “Nói” bị ảnh hưởng của chữ cười, thế thì hoá ra “Cười nói” mà cười nói nói chẳnghoá ra nói nhiều Chữ “ Thốt” là thỉnh thoảng mới nói ( Lấy từ câu tục ngữ “ Biếtthì thưa thốt, không biết dựa cột mà nghe” ) đáng mới nói, nghĩ rồi mới thốt ra, cóthể mới “ Đoan trang” Thuý Vân cũng rất đẹp, điều đó không còn bàn cãi gì nữa,nhưng lại đẹp một cách phúc hậu “Khuôn trăng đầy đặn” nói nôn na ra là “Phinhphính đôi má bánh đúc”, cho nên “Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da” thuaxong, nhường xong là yên ổn Còn Thuý Kiều cũng rất đẹp nhưng đẹp theo lối

“Chim sa cá lặn” ( Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh ) Hoa cũng phải ghen,liễu cũng phải kém Thuý Kiều, chúng nó “hờn”, “ghen” và chúng sẽ trả thù vànàng Kiều sẽ phải lắm phen long đong, lận đận, truân chuyên với chúng! Thật làmột kết quả dự báo gần như là chính xác đối với thời điểm đó!

- Điển tích mà Nguyễn Du sử dụng trong tác phẩm của mình không phải lời

ít, mà ngược lại rất phong phú đằng khác Trong đoạn trích “Kiều ở lầu NgưngBích”, mở đầu là câu “Trước lầu Ngưng Bích khoá xuân” Điển tích mà Nguyễn Dusử dụng ở đây là điển tích “Khoá xuân toả nhị Kiều” nói về việc vua Tần cho bắtnhốt hai người con gái đẹp nhất là Đại Kiều và Tiểu Kiều vào trong cung để họphải chết mòn mỏi Không biết là hữu hay vô ý mà cô Kiều của chúng ta lại có têngiống hệt người con gái trong điển tích Há chẳng phải Nguyễn Du có ý rằng nàng

Trang 8

Kiều sau lần tự tử không chất, bị mụ Tú giam vào lầu Ngưng Bích như “cá cắncâu”, “chim vào lồng” đó sao? Hay điển tích “Sân Lai” trong câu “Sân Lai cáchmấy nắng mưa” (Lão Lai Tử dù đã có tuổi nhưng vẫn còn mặc áo sặc sỡ để mua vuicho cha mẹ) cũng thể hiện được sự hiếu thuận của nàng Kiều, một lòng hướng vềcha mẹ hay sao? Còn trong đoạn:

“Nàng rằng: nghĩa nặng nhìn nonLâm Tri người cũ, chàng còn nhớ không?

Sâm Thương chẳng vẹn chữ tòngTại ai há dám phụ lòng cố nhân?”

“Sâm Thương” chính là sao Kim, một hành tinh trong hệ Mặt Trời, nhưngngười xưa cho là hai ngôi sao, một ở phía đông và một ở phía tây, sao này mọc, saokia lăn Nguyễn Du dùng “Sâm Thương” để chỉ sự cách biệt không bao giờ gặpnhau giữa Thuý Kiều và Thúc Sinh Thúc Sinh đi rồi, Kiều không thể nào làm “vẹnchữ lòng” “Người cũ” và “cố nhân” đều đồng nghĩa với nhau và đều chỉ ThúcSinh, thể hiện sự biết ơn của nàng trước hành động nghĩa hiệp của Sinh: cứu nàng

ra khỏi lầu xah lần thứ nhất

- Do có cả một thời gian chỉ sống giữa nhân dân cho nên Nguyễn Du có hẳncảmột kho tục ngữ, ca dao để vận dụng vào trong thơ của mình Ví như đoạn ThuýKiều gợi nhắc đến Hoạn Thư trong lúc đối thoại với Thúc Sinh trong đoạn trích

“Thuý kiều báo ân, báo oán”

“Vợ chàng quỷ quái tinh maPhen này kẻ cắp bà già gặp nhauKiến bò miệng chén chưa lâuMưu sâu cũng thoả nghĩa sâu cho vừa”

Nhắc đến Thúc Sinh, Kiều không thể không nhớ đến ả Hoạn Thư, cái kẻ đãcho bọn ưng, Khuyển đốt nhà, bắt cóc nàng về để đánh ghen Khi cái anh chàng sợvợ kia đã nói thực lòng mình:

“Liệu mà cao chạy xa bayÁi ân ta có ngần này mà thôi”

thì cũng chính là lúc mà nàng Kiều bắt đầu cho một đời làm a hoàn, hoa nô cho nhàhọ Hoạn Ả năm lần bảy lượt hành hạ Kiều một cách khốc liệt nhất, bắt nang đánhđàn cho hai vợ chồng ả nghe, nhưng thực ra:

“Cùng trong một tiếng tơ đồngngười ngoài cười nụ người trong khóc thầm”

Trang 9

Kiều hầu rượu cho vợ chồng Hoạn Thư:

“Vợ chòng chén tạc chén thùBắt nàng đứng chực tri hồ hai nơi”

“Hai nơi” chứ không phải “một nơi” đâu! Tức là phải đi đi lại lại để phục vụrượu cho vợ chồng ả, hết bên chồng lại bên vợ Mới chỉ có bấy nhiêu thôi mà tacũng có thể đánh giá được bản chất của ả, một kẻ “quỷ quái tinh ma:, toàn dùngnhững thủ đoạn cay nhất, độc nhất để đánh ghen Song, “phen” này thì ả đừng thoátkhỏi tay Kiều (kẻ cắp bà già gặp nhau), Kiều sẽ trả thù, trả thù tất cả những gì mà

ả đã “ban” cho nàng (Mưu Sâu cũng trả nghĩa sâu cho vừa) Lạinói thêm về ả HoạnThư, nhất là về thế ghen đặc biệt của Hoạn Thư, Nguyễn Du đặt trong ý nghĩ củaThuý Kiều, khi vợ chồng Thúc Sinh đã vào chung gối loan phòng, và nàng đã thứcđêm suy nghĩ:

“Bây giờ mới rõ tăm hơiMáu ghen đâu có lạ đời nhà ghen!”

Người ta nói nhà sư, nhà báo, nhà giáo, nhà văn; còn Nguyễn Công Trứ gọicác kép đàn, đào hát là “một lũ nhà tơ – ngồi chờ quan lớn”, trong khi dưới con mắtcủa Nguyễn Du là một “nhà ghen” (vốn dòng họ Hoạn ghen gia/con quan lại bộ,tên là Hoạn Thư) Là một “ghen gia” đã thành “nhà” rồi! Cái thể thức đánh ghencủa Hoạn Thư thật là là một sáng tạo ít có trong văn học thế giới, trước hết là mộtsáng tạo của Thanh Tâm Tài Nhân và là của Nguyễn Du Và cái cuộc đánh ghen ấylà:

“Bề ngoài thơn thớt nói cườiMà trong nham hiểm giết người không dao”

Thành ngữ “Giết người không dao” để ám chỉ những kẻ tàn nhẫn, khốc liệtmà “giết người” đến độ “không dao” thì quả là một “cao thủ” hiếm có Đối vớiHoạn Thư cũng vậy, ả cho người nhà đến bắt Kiều về để đánh ghen mà đánh ghenmột cách rất cay độc, lúc thì bắt làm hoa nô, lúc thì hầu rượu, đánh đàn cho vợchồng Thúc Sinh nghe, lúc thì làm người chép kinh ở gác Quan Aâm Mọi mưu kếcủa ả đều toan tính trong bụng:

“Lo gì việc ấy mà loKiến trong miệng chén có bò đi đâu”

Lại thêm một thành ngữ nữa “Kiến bò miệng chén” ám chỉ cái cách hành hạdã man, không chút thương tiếc của Hoạn Thư dành cho Kiều Có câu chép “Lại bò

đi đâu” Từ “lại” nghĩa là “mà lại” – Kiến trong miệng chén mà lại bò đi đâu? Còntừ “có” nghĩa là: không thể bò đi đằng nào được “đã bỏ vào hòm, khoá rồi, có ailấy được!” “Có bò đi đâu” là cái tư thế chòm chõm nắm chắc trong tay văn tự

Trang 10

ruộng của anh nông dân của tên địa chủ giống như Hoạn Thư đã giữ chắc đượcThuý Kiều trongtay mà không lo sợ gì cả.

Nàng Thứy Kiều bị Hoạn Thư truyền gọi ra lạy mừng Thúc Sinh mới về:

“Phải rằng nắng quáng đèn loàrõ ràng ngồi đó chăng là Thúc Sinh?”

Nàng Kiều không giơ hai tay lên dụi mắt, nhưng Nguyễn Du thực chất miêutả nàng như vậy Tản Đà chú giải: “Nắng quáng đèn loà” cũng như nói rõ “Rõ nàngmở mắt mà ngờ chiêm bao” và hạ cữ “chăng” tức là nghi vấn thì hợp lý hơn chứdùng chữ “chẳng” hơi thiên về khẳng định e không hợp Nàng Kiều vừa bước vừanghĩ, đến khi gần rồi mới “cúi đầu nép xuống sân mai một chiều” thì anh chàngThúc Sinh của chúng ta mới ngã người:

“Sinh đà phách lạc hồn xiêuthương ôi chẳng phải nàng Kiều ở đây?”

Câu này sử dụng chữ “chẳng” mới hợp lý, đúng theo luật âm thanh của thơlục bắt Từ “chăng” mà đưa tới “chẳng” thì bút pháp quả thật tài tình! Còn từ “đà”tương với từ “đã”, nhưng trong câu:

“Vửa nhà dù tính về sauThì đà em đó, lọ cầu chị đây”

Có bản chép “thì còn em đó”, “đa”ø là đã có rồi nếu Kim Trọng muốn lấyvợ, thì còn em đó, có thể lấy được Đằng này Kim Trọng đã lấy Thuý Vân rồi thìcòn đặt từ “còn” vào đấy chi nữa!

Còn khi miêu tả về “bà chị” Tú Bà, Nguyễn Du có viết:

“Ăn chi cao lớn đẫy đà làm sao”

không nên sửa “ăn chi” thành “ăn gì” nghe không hay, vả lại nếu đọc “ăn gì” thì cótới 3 dấu huyền ở những vị trí nặng nề Về phần đẫy đà, mụ Tú bà có hai dấuhuyền đè nặng xuống và về phần cao lớn của mụ thì mấy tiếng “ăn chi cao” đãkhiến mụ dong dỏng phần nào Và cái đoạn mụ Tú Bà nổi cơn tam bành, rút roi đađịnh sấn lại đánh Thuý Kiều như tôi đã nói nói ở trên cho thấy Nguyễn Du khôngnhững là một nhà thơ mà còn là một nhà viết kịch giỏi Tưởng như xỉa xói văngnước bọt, nói thật nhanh không kịp thở, không hề hạ giọng mà một mực đưa lên caotrào Thật là một con người ăn để “đẫy đà”, có hơi để mà xỉa xói, chèn ép chị em!

“Chẳng ngờ: gã mã Giám Sinhvẫn là một đứa phong tình đã quen”

Tản Đà bình luận: chữ “gã” ở đây thật mới, mà nghĩ ra không thể đặt chữ gìhơn chữ “đứa” cũng mới, đi cùng với chữ “gã” thiệt hay Chữ “gã” là một “y”

Ngày đăng: 10/04/2013, 10:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w