Thấy vậy, Hoàng hậu và 2 công chúa cũng nhảy xuống biển chết theo… có tài liệu nói Thái hậu thấy tình cảnh nước mất, nhà tan, vua quan triều đình bị giết hại, trăm họ nước Tống bị lầm th
Trang 1Ngày soạn:16/4/2011
PHẦN LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG NGHỆ AN
TIẾT 65.BÀI 3:
NGHỆ AN NỬA ĐẦU THẾ KỶ XIX(1802-1858)
A.Mục tiêu bài học:
1.Kiến thức:Giúp học sinh nắm được:
-Lịch sử Nghệ An nửa đầu thế kỷ XIX với sự thay đổi về hành chính và kinh tế;sự phát triển văn hóa dân tộc và sự bùng nổ các phong trào đấu tranh của nông dân
2.Tư tưởng:
- Giáo dục học sinh lòng tự hào về lịch sử quê hương, từ đó các em có ý thức gắn bó với quê hương và xây dựng quê hương giàu đẹp.Đồng thời,giáo dục học sinh
về cuộc sống của nhân dân NA,từ đó có sự cảm thông,chia xẻ sâu sắc.
3.Kỹ năng:
- Rèn luyện kỹ năng sưu tầm tư liệu lịch sử, phân tích, đánh giá,tư duy logic.
B.Phương tiện dạy học:
+Sách lịch sử địa phương Nghệ An,tư liệu.
+Kênh hình,tranh ảnh liên quan.
C.Tiến trình dạy học:
1.Ổn định lớp:
2.Bài cũ:
?Em hãy nêu một vài nhận xét về sự phát triển của văn hóa dân tộc vào cuổi TK
XVIII-nửa đầu TK XIX?Cho ví dụ?
3.Bài mới:
Hoạt động 1.
HS Đọc mục I.1.LSNA
Thảo luận nhóm(chia nhóm bàn)
?Hãy cho biết tên gọi và địa điểm lỵ sở
Nghệ An từ thời Lê đến thời Nguyễn?
HS Hoạt động trao đổi nhóm thảo luận.
GV Bổ sung,phân tích,giới thiệu địa
danh,và kết luận
I.Thay đổi về hành chính và ổn định kinh tế
1.Hành chính
-5/1804,Nguyễn Ánh dời trị sở NA từ Lam Thành-Phù Thạch(Hưng Nguyên) về xã Yên Trường,Vĩnh Yên(Chân Lộc-tức TPVinh ngày nay)
-1831,Trấn NA bị chia làm 2 tỉnh là:NA và
Hà Tĩnh.
-1832,đặt thêm huyện Yên Thành thuộc phủ Diễn Châu.
-1853,vua Tự Đức hợp nhất 2 tỉnh
Trang 2NA-Hoạt động 2
HS Theo dõi mục I.2.LSNA
?Em có nhận xét gì về tình hình nông
nghiệp thế kỉ XIX?
?Nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng nông
nghiệp đó?
?Sự phát triển của các nghề thủ công giai
đoạn này được thể hiện như thế nào?Em
hiểu gì về các câu ca dao trong SGK tr 31?
?Thương nghiệp thời kỳ này có nét gì nổi
bật?
HS Trao đổi hoạt động cá nhân,liên hệ địa
phương mình.
GV Bổ sung,nhận xét,phân tích,kết luận.
Hoạt động 3
HS Theo dõi mục II.1.LSNA
?Kể tên các tác gia lớn và các nhà sử học,y
dược nổi tiếng của NA thế kỷ XIX?Em có
nhận xét gì về các lĩnh vực này?
?Văn hóa dân gian phát triển như thế nào?
?Hãy kể tên một số bài hát mang giai điệu
của ví dặm?
?Thế kỉ XIX,nghệ thuật kiến trúc điêu khắc
ở NA có nét gì nổi bật?
HS Hoạt động cá nhân,quan sát kênh hình
GV Bổ sung,phân tích,giới thiệu,tư liệu,kết
luận.
Hoạt động 4
HS Theo dõi mục II.2.LSNA
?Quan sát bảng số liệu về số tiến sĩ ở các
tỉnh dưới thời Nguyễn qua các đời vua,em
rút ra nhận xét gì về vấn đề giáo dục-thi cử ở
NA thời kỳ này?
HT,đổi phủ Hà Thanh làm đạo Hà Tĩnh -Thời vua Hàm Nghi,NA lại tách thành 2 tỉnh NA và HT.
2.Kinh tế
a.Nông nghiệp: tình trạng sa sút b.Thủ công nghiệp và thương nghiệp:
+Thủ công nghiệp:xuất hiện hiều làng nghề
và nghề thủ công nổi tiếng(dệt,gốm,mộc,mây đan) +Thương nghiệp :chợ và các cửa biển,bến sông trở thành các trung tâm buôn bán trong
và ngoài nước.
II.Góp phần phát triển văn hóa dân tộc
1.Văn học,nghệ thuật và các lĩnh vực khác
-Văn học,sử học:xuất hiện các tác gia nổi
tiếng(Nguyễn Thiếp,Phan Huy Ích,Hồ Xuân Hương,Cao Xuân Dục)
-Y học:Hoàng Nguyên Cát,Hoàng Danh
Sưởng…
-Văn hóa dân gian:phát triển phong phú,đa
dạng.
-Kiến trúc:được xây dựng và trùng tu,đề n
miếu linh thiêng,nổi tiếng.
2.Giáo dục-thi cử
-NA là địa phương dẫn đầu cả nước về số người đậu tiến sĩ,xuất hiện nhiều dòng họ nổi tiếng.
NA là mảnh đất “địa linh nhân kiệt”
Trang 3?Vì sao giáo dục NA thời Nguyễn phát
triển?
HS Hoạt động nhóm bàn,quan sát bảng số
liệu,nhận xét
GV Phân tích ,bổ sung,kết luận.
Hoạt động 5
HS Theo dõi mục III.1+2.LSNA
Thảo luận nhóm thông qua phiếu học tập
?Vì sao đầu TK XIX,phong trào đấu tranh
của nông dân NA bùng nổ?
?Lập bảng thống kê(thời gian,tên cuộc
k.n,lãnh đạo,diễn biến,kết quả) các cuộc đấu
tranh tiêu biểu của nông dân NA nửa đầu TK
XIX?Thực tế đó phản ánh điều gì?
HS Hoạt động nhóm,điền thông tin,nhận
xét.
GV Tổ chức hoạt động,hướng dẫn điền
thông tin,phát phiếu học tập,sử dụng bảng
phụ,phân tích,nhận xét,kết luận.
III.Khởi nghĩa nông dân ở Nghệ An
1.Nghệ An dưới ách thống trị của nhà Nguyễn
-Chính sách áp bức,bóc lột nặng nề của nhà Nguyễn(lao dịch,thuế khóa,thiên tai…)Đời sống của nhân dân cực khổ.
2.Các cuộc khởi nghĩa của nông dân
(Bảng phụ)
Phản ánh sự suy yếu của XHPK thời Nguyễn,thể hiện tinh thần đáu tranh của NDNA.
4.Củng cố và dặn dò:
-Nắm vững tình hình NA thời nhà Nguyễn(hành chính,kinh tế,văn hóa,giáo dục,các
cuộc khởi nghĩa) ?
-Làm BT 1,2,3,4.Sách lịch sử địa phương;Chuẩn bị tiết Ôn tập chương V và chương VI.
HUYỀN THOẠI ĐỀN CỜN: CÂU CHUYỆN KHÚC GỖ THẦN
Trang 4Tin đăng ngày:7/3/2011 374 lần xem
Đền Cờn là một trong bốn đền thờ linh thiêng nhất ở xứ Nghệ: "Nhất Cờn, nhì Quả, tam Bạch Mã, tứ Chiêu Trưng" Từ thời Trần, Lê, Tây Sơn đến nhà Nguyễn, từ 19 đến 22 tháng Giêng âm lịch hàng năm các triều đại phong kiến đều cử quan đại thần về làm chủ tế Tại Di tích lịch sử văn hóa quốc gia này hiện có rất nhiều truyền thuyết dân gian xoay quanh Tứ vị Thánh nương được thờ phụng ở đền
Truyền thuyết kể rằng: Vào thế kỷ XIII, vó ngựa của đế chế Nguyên Mông liên tiếp chinh phục Tây Hạ, Cao Ly và nhiều nước châu Âu như: Nga, Đức, Ba Lan, Anh, Pháp.
Vào khoảng năm 1274, quân Nguyên Mông tràn xuống xâm lược Nam Tống Trước sức tấn công mãnh liệt của quân Nguyên, kinh đô nhà Tống ở Lâm An bị thất thủ Triều đình bỏ chạy về phía Nam Các đại thần phải phù giá Thái hậu Dương Nguyệt Quả, Hoàng Hậu và 2 công chúa về Nhai Sơn (Quảng Châu, Trung Quốc ngày nay) hợp sức cùng với Văn Thiên Tường chống giặc
Tại đây, Tống Ích Vương lên ngôi vua, Thái hậu Dương Nguyệt Quả được tôn làm Hoàng Thái hậu, buông rèm nhiếp chính Văn Thiên Tường và Trương Thế Kiệt được phong làm tả, hữu thừa tướng Nhưng lại bị quân Nguyên Mông đánh úp khiến Đoan Tông Hoàng đế phải chạy về Triều Châu, Hồ Châu rồi mất Em là Tống Đế Bính lên nối ngôi, liền rút lui Nhai Sơn để phòng thủ, song lại bị vỡ trận, Tả thừa tướng Văn Thiên Tường bị bắt Bước đường cùng, Trương Thế Kiệt và Lục Tú Phu quyết định neo 1.000 thuyền chiến áp sát vào nhau theo hình chữ nhất để quyết phòng ngự
Quân Nguyên Mông sau khi tăng viện binh đã tổ chức bao vây, cắt đứt đường tiếp tế lương thực, nước uống khiến vua tôi và hàng chục vạn quân sỹ Tống lâm vào cảnh bế tắc Thấy không địch nổi thế mạnh của giặc, Trương Thế Kiệt đã bí mật lấy 16 thuyền rước Thái hậu, Hoàng hậu và hai công chúa vượt biển rút chạy về phía Nam Còn Lục Tú Phu trong lúc đang cố sức đưa vua Tống tháo chạy đã bị giặc ào ạt xông vào bắt sống để vua tôi không bị sa vào tay giặc, Lục Tú Phu đã cõng vua Tống nhảy xuống biển tự vẫn Hành động tuẫn tiết của vua Tống đã khiến hàng chục vạn quân cùng nhảy xuống biển chết theo…
Lênh đênh trên biển, thuyền chở Thái hậu, Hoàng hậu, 2 công chúa cùng với tướng Trương Thế Kiệt gặp bão bị đánh tan tác khiến quan quân trên thuyền bị chết đuối hết Riêng 4 mẹ con Thái hậu nhờ bám được vào các mảnh ván thuyền nên trôi dạt vào chùa Quy Sơn, được vị đại sư trụ trì ở đây cứu sống, chăm sóc thuốc men nên sức khỏe bình phục Thấy Thái hậu quá xinh đẹp, sư thầy động lòng trần tục nên đã ngỏ lời muốn tư thông với bà, chẳng ngờ đã bị Thái hậu cự tuyệt Xấu hổ trước việc làm của mình, nhà sư đã nhảy xuống biển tự vẫn
Thấy ân nhân cứu mạng phải chết để trả giá cho lỗi lầm của mình, Thái hậu Dương Nguyệt Quả đã vô cùng hối hận và than rằng: "Chúng ta nhờ sư mà được sống, nay vì chúng ta mà phải chết, sao nỡ yên tâm" Nói xong Hoàng Thái hậu gieo mình xuống biển để quyên sinh Thấy vậy, Hoàng hậu và 2 công chúa cũng nhảy xuống biển chết theo… (có tài liệu nói Thái hậu thấy tình cảnh nước mất, nhà tan, vua quan triều đình bị giết hại, trăm họ nước Tống bị lầm than, lại lo
bị quân giặc truy tìm nên lòng dạ Thái hậu không yên khiến bà đã gieo mình xuống biển tự tử Thấy vậy 2 công chúa và Hoàng hậu cùng nhảy xuống biển chết theo)
Trang 5Xác của 4 mẹ con Thái hậu nhập vào một khúc gỗ trầm hương lênh đênh trên biển sau đó dạt vào bến đò cũ của làng
Kẻ Càn (vùng Quỳnh Phương, Quỳnh Lưu, Nghệ An ngày nay; có tài liệu nói xác 4 mẹ con trôi dạt vào bãi biển làng Kẻ Càn Xác Thái hậu trông như người nằm ngủ và tỏa mùi hương thơm nên được nhân dân địa phương mai táng chu đáo
và lập đền thờ) Nhưng dân làng Kẻ Càn thấy khúc gỗ án ngữ chỗ lên xuống đò nên đã đẩy khúc gỗ này ra chỗ khác Khúc gỗ lại trôi vào một doi đất của làng, đối diện cống 3 cửa hiện nay Thủy triều lên, khúc gỗ lại trôi vào một doi đất của xóm Rồng (Quỳnh Lập), sau đó trôi đến bãi biển sát chân rú Ói thuộc làng Phú Lương (xã Quỳnh Bảng)
Bữa sáng nọ, có một lão ngư làng Phú Lương ra bãi biển lấy thuyền đi kéo rùng (lưới) chợt ngửi thấy mùi thơm tỏa ra
từ khúc gỗ lạ nằm trên bãi biển Ông lão liền lấy dao đẽo một mảnh xem đó là gỗ gì thì thấy từ trong thớ gỗ bỗng có máu chảy ra Thấy chuyện lạ đời, ông lão liền khấn: "Nếu đây là khúc gỗ thiêng thì phù hộ cho lão chuyến kéo rùng này được thật nhiều tôm cá" Quả nhiên, hôm đó, thuyền ông lão kéo mẻ rùng nào cũng trúng đậm Thấy thế, dân làng Phú Lương liền làm theo Họ khiêng khúc gỗ thiêng này lên bờ, trước khi đi biển đều thắp hương khấn vái và lạ thay chuyến
đi biển nào nhà nào cũng đều đánh bắt được rất nhiều tôm cá
Biết được tin này, ngư dân làng Kẻ Càn cho rằng khúc gỗ thiêng trôi dạt vào đây vốn là ý trời mang đến cho làng mình, nhưng đã vô tình mà để nó trôi đi Hào lý làng Kẻ Càn họp dân đinh tổ chức lực lượng bí mật kéo nhau xuống làng Phú Lương vác trộm khúc gỗ thiêng này về Về đến đất làng mình, đám trai đinh vừa đặt khúc gỗ xuống nghỉ đã bị dân đinh làng Phú Lương đuổi theo cướp lại Hai làng đánh nhau to, phải báo lên quan huyện về phân xử Vụ án tranh nhau khúc
gỗ thiêng, quan huyện, quan tỉnh xử mãi không xong Cuối cùng phải chuyển lên cho nhà vua đích thân phân xử Nhà vua yêu cầu công chúa phải trai giới 7 ngày rồi thắp hương khấn khúc gỗ xin thần linh báo mộng Đêm nọ công chúa nhà Trần được Hoàng hậu Dương Nguyệt Quả báo mộng: Cho mỗi làng làm một bát hương, lượng hương như nhau, cùng đốt một lúc Hương bên nào cháy khác thường thì bên đó được thờ phụng Vua Trần y lời và đích thân làm trọng tài Hôm ấy bát hương của làng Phú Lương hóa lửa từ trên xuống, còn bát hương của làng Kẻ Càn lại bỗng dưng hóa từ dưới lên Nhờ đó, dân làng Kẻ Càn thắng kiện được phép thờ khúc gỗ thiêng mãi mãi Làng Kẻ Càn lập tức làm một gian miếu bằng tranh, đặt khúc gỗ thiêng vào đó làm nơi thờ tự
Đình Hoành Sơn
Đ ình Hoành Sơn tại làng Hoành Sơn, nay là xã Khánh Sơn - huyện Nam Đàn, cách thành phố Vinh 20km, nằm ngay cạnh bờ Nam sông Lam Đình được dựng vào năm 1762, do ông Đặng Thạc
Trang 6-một người có chức sắc và uy tín trong làng chủ trì xây dựng Đình có năm gian, hai chái Mỗi gian
do một nhóm thợ mộc đảm nhận nên từng gian có một sắc thái nghệ thuật riêng
Trên các xà nhà, các đường kèo đều được chạm trổ tinh vi Nhưng tất cả đều phản ánh sinh hoạt của người dân lao động thời đó Phong cách kiến trúc nghệ thuật điêu khắc ở đình Hoành Sơn mang dáng dấp của lối kiến trúc thế kỷ XVII -XVIII Các vì kèo liên kết theo cấu trúc “chồng diêm” Các cột đình đều có đường kính trên 50cm và là cơ sở chịu lực của toàn bộ kết cấu đình.
T ừ ngày xây dựng đến nay, đình Hoành Sơn là nơi thờ thần và sinh hoạt văn hoá của nhân dân trong làng và các làng phụ cận Thần được thờ chính trong làng là Lý Nhật Quang - người có công khai phá lập nên làng Hoành Sơn và vùng đất dọc hai bên bờ sông Lam.
Các mảnh chạm khắc đình Trung Cần - Thứ Hai, 6/12/2010 10:15
gian mà nét chủ đạo là hình bóng người nông dân cày ruộng, chèo thuyền đánh cá, làm nhà, uống rượu ngâm thơ
Đình Trung Cần ở xã Nam Trung, huyện Nam Đàn, Nghệ An, là một trong những công trình kiến trúc bề thế, đẹp đẽ trên quê hương xứ Nghệ chúng ta Cái làm nên sự kỳ vỹ ở đây là nghệ thuật chạm khắc gỗ dân gian mà nét chủ đạo là hình bóng người nông dân cày ruộng, chèo thuyền đánh cá, làm nhà, uống rượu ngâm thơ.
Ngôi đình được xây dựng năm 1781, hoàn thành năm 1782, mặt hướng về phía Nam, trên
xà thượng còn ghi dòng chữ: “Tân Sửu hạ kinh thủy, Nhâm Dần xuân hoàn thành” Vị thần được thờ chính là Tống Tất Thắng, ông sinh năm 1487, đến năm 18 tuổi đỗ tiến sỹ khoa Ất Sửu - 1505
Trang 7Bức chạm cảnh nông dân cày ruộng ở đình Trung Cần
Năm 1510-1518, vâng lệnh nhà vua, ông cầm quân đi đánh giặc Chiêm Thành, sau được
bổ chức Thượng Thư Bộ Lại Đến năm 1519 - 1523 ông lại đi đánh giặc Bồn Man Khoảng năm 1523 - 1526 ông mất trên đường đi hành quân khi ở độ tuổi 40, nhân dân xây mộ ông cách đình làng 60m Ngoài ra, trong đình còn thờ Tam Tòa Đại Vương, Tứ
Vị Đại Vương, Cao Sơn Cao Các.
Đình Trung Cần được xây dựng là do công lao của nhân dân và 3 vị tiến sỹ Nguyễn Trọng Thường, Nguyễn Trọng Đương, Nguyễn Trọng Đường, dân gian có câu:
Được ba ông lớn
Xã mừng hời hỡi
Xã cất đình lên
Nhìn tổng thể khu vực này có các công trình: cổng, sân, bia đá, đại đình, hậu cung Cổng đình có hai cột nanh cao vút, trên có hai con nghê chầu lại, sân đình bằng phẳng, cỏ xanh mượt mà, hàng trăm người ngồi xem không hết chỗ
Phía trước có bia đá xanh “Nghĩa điền bia ký” ghi lại sự tích xây dựng và công lao của bà con đóng góp ruộng đất, tiền của làm nên công trình này, xung quanh có tường bao bảo
vệ
Đại đình 5 gian, dài 24m, rộng 12m, có 6 bộ vì kèo với 24 cột gỗ lim, kết cấu tứ trụ, mái lợp ngói vảy Ở gian giữa có bức hoành phi khắc bằng chữ Hán: “Thánh cung vạn tuế”.
Trang 8Nghệ thuật kiến trúc ở đình Trung Cần đạt đến trình độ tinh xảo Trên đỉnh nóc đắp nổi hình lưỡng long triều nhật (đôi rồng chầu mặt trời), bốn mái uốn cong mềm mại, các bờ giải có hình rồng, kỳ lân
Mỗi góc xà, đường hạ, các kẽ trước, sau đều được chạm trổ hình long, ly, quy, phượng,
cổ tích Trung Hoa: Vua Thuấn đi cày ở núi Lịch Sơn, vua Nghiêu truyền ngôi cho vua Thuấn ở Hoàng Cung
Điều đập vào mắt du khách là những bản khắc gỗ dân gian sinh động: Bức chạm cảnh đồng quê: Một thầy đồ đang dạy học mặc áo dài lương, khăn xếp, học trò để tóc chỏm,
đó là sỹ Còn cảnh nông: Người nông dân đi cày, có một con trâu, hai nhà kho lúa, một đôi trai gái đang giã gạo bằng chày tay, một bà mẹ đang sàng gạo vừa cho con bú
Bức chạm cảnh công thương: Người dân đang dựng nhà, có người đang trèo, hai người đứng dưới đất bẫy chân cột Cảnh chèo thuyền căng buồm, sóng to gió lớn, hai người đứng mũi, một người chèo lái, nước bắn lên mạn thuyền
Cảnh đi săn: Có hai chàng trai nai nịt gọn gàng mang cung chuẩn bị bắn con nai trong rừng, một người đã xuống ngựa, hai người ngồi xem Cảnh đánh cờ, uống rượu với ý thơ: Cúc ngoại càn khôn tửu (trong các cuộc chơi thì có cuộc rượu đã ngồi vào thì trời đất cũng nhỏ), có hai người đang chơi bàn cờ tướng
Ý thơ thứ hai: Hồ trung nhật nguyệt trường (đã ngồi vào mâm rượu thì ngày tháng dài ra)
tả cảnh hai người đang ngồi uống rượu ngâm thơ Cảnh nhân dân đón tiến sỹ vinh quy về làng
Tất cả 24 bức tranh khắc gỗ gợi lên quang cảnh làng xã xưa, bố cục hài hòa, nét chạm sắc sảo, nuột nà thể hiện bàn tay tài hoa của nghệ nhân dân gian Những nhà điêu khắc vô danh xuất thân từ nông dân đã đưa vào đình làng hình ảnh gần gũi với cuộc sống thực hay là giấc mơ của họ với một phong cách hết sức độc đáo và một tâm hồn sôi nổi.
Phía sau đại đình là hậu cung có tấm biển chạm lộng ba chữ Hán: Đại Thánh Miếu (miếu thờ Khổng Tử) do tổng đốc Lê Nguyên Trung khi đã về hưu cùng dân làng dựng thêm
Khi vua Tự Đức biết đình Trung Cần nguy nga tráng lệ có ý định bắt thợ Trung Cần dỡ đình về xây điện Thái Hòa ở kinh đô Huế thì Lê Nguyên Trung tâu lên: Trung Cần không
có đình, chỉ có Đại Thánh Miếu Tự Đức vốn sùng bái Khổng Tử nên không dỡ đình nữa, đình Trung Cần được giữ nguyên.
Hàng năm nhân dân làng Trung Cần tổ chức lễ Kỳ Phúc vào ngày rằm tháng 2 (âm lịch) Đây là nơi tập trung Thần Tổ, Thành Hoàng của 21 xã, thôn của tổng Nam Kim về làm lễ cầu mưa trong những năm hạn hán Trong lễ hội làng còn tổ chức nhiều trò chơi dân gian: đấu vật, đánh côn, thi bơi thuyền, cờ người, đu tiên
Trang 9Đình Trung Cần, đình Hoành Sơn “góp một tiếng nói vào phù điêu đình làng, các bức chạm chèo thuyền, quan viên vinh quy, cất vó, úp cá, gánh mạ, cấy lúa ” Đây là công trình kiến trúc nghệ thuật cuối Lê, đầu Nguyễn, phản ánh sinh động hình bóng người nông dân Nam Đàn, xứ Nghệ giàu bản sắc văn hóa dân gian.
Thăm những ngôi đình cổ xưa quý hiếm
Tags: Hoành Sơn , Nghệ An , Trung Cần , Đình Trung Cần , Nam Đàn 20km , Mai Hắc Đế , di tích văn hóa , Thị trấn Nam Đàn , La Sơn Phu Tử , được xếp hạng , nhà lưu niệm , Huyện Nam Đàn , du khách , đình trung , xây dựng , ngôi
Năm Du lịch Nghệ An 2005 có nhiều chương trình lễ hội và tham quan khá lý thú cho du khách muốn khám phá các di tích văn hóa - lịch sử Tại huyện Nam Đàn, ngoài việc viếng thăm khu du tích Kim Liên, nhà lưu niệm Phan Bội Châu, đền thờ Mai Hắc Đế, mộ La sơn Phu tử Nguyễn Thiếp Du khách còn có thể viếng thăm 2 ngôi đình cổ và lớn nhất ở khu vực bắc miền Trung Đó là đình Hoành Sơn và đình Trung Cần xây dựng từ thế kỷ 16-18, cách thị trấn Nam Đàn 20km Cả hai ngôi đình này đều được xếp hạng di tích văn hóa lịch sử cấp quốc gia
Đình Hoành Sơn có kiến trúc đồ sộ và tinh vi, chiều dài gần 30 mét, rộng 14 mét, gồm 7 gian, 32 cột gỗ lim- trong đó có 24 cột cao 6,1 mét, được coi là lớn nhất còn lại ở Bắc Trung Bộ Mỗi cột có chu vi gần 2 mét Hầu hết các xà, đà đao, con rường, đuôi nghé bằng gỗ đều đều chạm trỗ các hoa văn, cảnh trí sinh họat rất tinh vi Đình được xây dựng từ năm 1762 là nơi thờ Lý Nhật Quang, con thứ 8 của vua Lý Thái Tổ, người
có công xây dựng, phát triển hệ thống đê sông Lam, phát triển kinh tế vùng Nghệ An thời nhà Lý Đình còn thờ Quan âm Bồ tát, Tứ vị thánh nương và thành hoàng làng.
Đình Trung Cần cách đình Hoành Sơn 4 km, thuộc xã Nam Trung, có từ thế kỷ 16 và được xây dựng lại vào năm 1781, dài hơn 20 mét, rộng 12,5 m Đình có 5 gian, 24 cột lim Tuy nhỏ hơn Hoành Sơn, nhưng giá trị điêu khắc, chạm trổ, trang trí lại phong phú hơn Trên 24 xà nách có 24 bức phù điêu ghi lại các điển tích cổ thời Nghiêu Thuấn, các sinh họat dân gian Việt Nam và 10 bức chạm tứ linh, tam hữu ( tùng, trúc, mai) hết sức tinh tế Đình Trung Cần ngoài việc thờ Thành hoàng, các vị khoa bảng của làng, còn là nơi ghi nhớ công ơn của Tướng công Tống Tất Thắng, một danh tướng có nhiều chiến công thời Hậu Lê mà phần lăng mộ của ông đang ở ngay phía trước đình Đây cũng là quê hương của danh họa Nguyễn Tư Nghiêm.
Sở Du Lịch Nghệ An ( 3 Trần Phú, TP Vinh) và Trung tâm du lịch Nghệ An đang có các tour hướng dẫn du khách đến thăm các di tích trên.
Đình Trung Cần.