PHẦN I: MỞ ĐẦU I. Mục đích của sáng kiến: Mục đích của đề tài là tạo ra cách tiếp cận linh hoạt, sáng tạo để người dạy kiểu bài Nghị luận về một hiện tượng đời sống đạt hiệu quả cao, khắc phục việc truyền thụ kiến thức lí thuyết Làm văn khô cứng, tạo nên tâm lí nhàm chán đối với người học. Người dạy Làm văn cần hướng đến mục đích cuối cùng: Là giúp học sinh thể hiện (nói hoặc viết) những suy nghĩ (tư tưởng, quan điểm); tình cảm (vui hay buồn, căm ghét hay yêu thương); thái độ (đồng tình hay phản đối, ca ngợi hay phê phán) của mình trước một hiện tượng đời sống . . . . Có nghĩa là giúp cho học sinh cách nghĩ và cách trình bày suy nghĩ của mình trước một hiện tượng đời sống có ý nghĩa xã hội tích cực hay hiện tượng tiêu cực. Phương pháp thực hiện đề tài: mô tả, tái hiện lại đề tài, từ công việc tiếp cận của giáo viên, thiết kế bài dạy đến kết quả áp dụng đề tài tại đơn vị. Đề tài giới hạn trong phân môn Làm văn. Cụ thể, áp dụng cho kiểu bài Nghị luận về một hiện tượng đời sống (Ngữ văn 12). Đối tượng áp dụng của đề tài là học sinh Trung học phổ thông, bổ túc Trung học phổ thông. Có thể kể ra rất nhiều nguyên nhân dẫn tới trình trạng ấy và để khắc phục phần nào trình trạng ấy, tôi đã rút ra được kinh nghiệm trong thực tiễn giảng dạy và mạnh dạn đề ra: Cách tiếp cận linh hoạt, sáng tạo để giảng dạy kiểu bài Nghị luận về một hiện tượng đời sống có hiệu quả trong Ngữ văn 12. II. Đóng góp của SKKN: Những ai quan tâm đến môn Ngữ văn trong trường THPT hẳn đều nhất trí rằng : dạy phân môn Làm văn là một trong những vấn đề làm nhức nhối nhiều người hơn tất cả : vừa khó lại vừa khô, không tạo ra hứng thú thật sự cho học sinh, hạn chế sự tìm tòi, tự nguyện của học sinh đến với phân môn Làm văn. Xét về bản thân phân môn Làm văn là môn học vốn kết tinh đầy đủ nguyên lí kết hợp Học với Hành, là môn học bộc lộ rõ nét hơn cả nhân cách của học sinh, là môn học xứng đáng được coi là có truyền thống lâu đời nhất trong lịch sử giáo dục nước nhà, lẽ ra phải tích luỹ được nhiều kinh nghiệm nhất, tạo được nhiều hứng thú cho học sinh nhất thì kết quả ngược lại. Trong thực tế dạy phân môn Làm văn : người dạy hướng học sinh sử dụng thành thạo kiểu làm văn trong nhà trường phổ thông đó là làm văn Nghị luận (Nghị luận xã hội và Nghị luận văn học). Nhưng đó là một thách thức không nhỏ, xuất phát từ thực tiễn giảng dạy, người dạy lại đặt ra rất nhiều câu hỏi mà không dễ trả lời : Tại sao kết quả học làm văn nghị luận của học sinh cứ nghèo nàn và bấp bênh so với những môn học khác ? Tại sao trong thực tiễn làm bài Làm văn nghị luận học sinh không giải quyết được những khó khăn gặp phải ?
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BẮC NINH
TRƯỜNG THPT Yên Phong số 2
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Đề tài:
Cách tiếp cận linh hoạt, sáng tạo để
giảng dạy kiểu bài Nghị luận về một
hiện tượng đời sống có hiệu quả
Giáo viên: Nguyễn Thị Hòa
Trang 2PHẦN I: MỞ ĐẦU
I Mục đích của sáng kiến:
Mục đích của đề tài là tạo ra cách tiếp cận linh hoạt, sáng tạo để người dạy kiểubài Nghị luận về một hiện tượng đời sống đạt hiệu quả cao, khắc phục việc truyềnthụ kiến thức lí thuyết Làm văn khô cứng, tạo nên tâm lí nhàm chán đối với ngườihọc Người dạy Làm văn cần hướng đến mục đích cuối cùng: Là giúp học sinh thể
hiện (nói hoặc viết) những suy nghĩ (tư tưởng, quan điểm); tình cảm (vui hay buồn,
căm ghét hay yêu thương); thái độ (đồng tình hay phản đối, ca ngợi hay phê phán)
của mình trước một hiện tượng đời sống Có nghĩa là giúp cho học sinh cáchnghĩ và cách trình bày suy nghĩ của mình trước một hiện tượng đời sống có ý nghĩa
xã hội tích cực hay hiện tượng tiêu cực
Phương pháp thực hiện đề tài: mô tả, tái hiện lại đề tài, từ công việc tiếp cận củagiáo viên, thiết kế bài dạy đến kết quả áp dụng đề tài tại đơn vị
Đề tài giới hạn trong phân môn Làm văn Cụ thể, áp dụng cho kiểu bài Nghị
luận về một hiện tượng đời sống (Ngữ văn 12) Đối tượng áp dụng của đề tài là học
sinh Trung học phổ thông, bổ túc Trung học phổ thông
Có thể kể ra rất nhiều nguyên nhân dẫn tới trình trạng ấy và để khắc phục phầnnào trình trạng ấy, tôi đã rút ra được kinh nghiệm trong thực tiễn giảng dạy và
mạnh dạn đề ra: Cách tiếp cận linh hoạt, sáng tạo để giảng dạy kiểu bài Nghị
luận về một hiện tượng đời sống có hiệu quả trong Ngữ văn 12.
Xét về bản thân phân môn Làm văn là môn học vốn kết tinh đầy đủ nguyên lí
kết hợp Học với Hành, là môn học bộc lộ rõ nét hơn cả nhân cách của học sinh, là
2
Trang 3môn học xứng đáng được coi là có truyền thống lâu đời nhất trong lịch sử giáo dụcnước nhà, lẽ ra phải tích luỹ được nhiều kinh nghiệm nhất, tạo được nhiều hứng thúcho học sinh nhất thì kết quả ngược lại
Trong thực tế dạy phân môn Làm văn : người dạy hướng học sinh sử dụng thành
thạo kiểu làm văn trong nhà trường phổ thông đó là làm văn Nghị luận (Nghị luận
xã hội và Nghị luận văn học) Nhưng đó là một thách thức không nhỏ, xuất phát từ
thực tiễn giảng dạy, người dạy lại đặt ra rất nhiều câu hỏi mà không dễ trả lời :
- Tại sao kết quả học làm văn nghị luận của học sinh cứ nghèo nàn và bấpbênh so với những môn học khác ?
- Tại sao trong thực tiễn làm bài Làm văn nghị luận học sinh không giảiquyết được những khó khăn gặp phải ?
Trang 4PHẦN II:NỘI DUNG
Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn
I CƠ SỞ LÍ LUẬN
Quá trình dạy học trên lớp tuỳ vào từng đối tượng cụ thể mà giáo viên triển khailinh hoạt các bước lên lớp và sáng tạo ra các tình huống dạy học, xây dựng phươngpháp dạy học phù hợp với đối tượng, để đạt hiệu quả cao nhất là học sinh nắmvững kiến thức và rèn luyện tốt kĩ năng thực hành
Để xây dựng phương pháp dạy học phù hợp với đối tượng, linh hoạt và sáng tạođạt hiệu quả cao cần xác định kĩ ba vấn đề
Vấn đề thứ nhất : Đối tượng học sinh của tôi đang nghiên cứu là bổ túc Trung
học phổ thông, có những đặc điểm riêng như :
Nhiều độ tuổi khác nhau, đối tượng học sinh phân luồng sau Trung họcphổ thông
Nghỉ học lâu năm, lâu ngày, kiến thức không liên tục, chắp nối
Học sinh đa số học lực yếu, kém
Vấnđề thứ hai : Phân môn Làm văn có đặc thù riêng : là môn học vốn kết tinh
đầy đủ nguyên lí kết hợp Học với Hành, nghĩa là vừa có tính lý thuyết vừa rèn
luyện kĩ năng thực hành cao, đòi hỏi học sinh phải biết tích hợp kiến thức nhiềumôn học khác nhau như Văn học, Tiếng việt, nhiều kênh thông tin khác nhau
để vận dụng trong kĩ năng thực hành làm văn, viết (nói) bài làm văn nghị luận Vì
vậy, từ mức độ ấy đòi hỏi tâm lí tiếp nhận của người học rất quan trọng
Vấn đề thứ ba : Trong thực tiễn sống, con người thường thấy hiện ra trước mắt
mình những câu hỏi, những băn khoăn mà mình vẫn muốn, vẫn chờ mong đượcgiải đáp, nhưng lại khó giải đáp, và do đó mà thường khi vẫn được giải đáp theo
nhiều cách khác nhau Đó chính là vấn đề Nghị luận về một hiện tượng đời sống
nhằm trả lời câu hỏi ấy và rèn luyện cho học sinh ý thức quan tâm, có thái độ và
4
Trang 5nhận thức đúng đắn trước hiện tượng đời sống đang xảy ra Đề tài nghị luận là cáchiện tượng đời sống đáng được suy nghĩ, nghiền ngẫm trong cuộc sống thườngngày, đặc biệt là các hiện tượng liên quan trực tiếp đến thanh niên học sinh, cáchiện tượng này thường có ý nghĩa xã hội tích cực và có hiện tượng tiêu cực.
II CƠ SỞ THỰC TIỄN
Căn cứ vào các vấn đề trên, giáo viên cần phải nghiên cứu kĩ đối tượng họcsinh, tạo tâm lí hứng thú cho học sinh tiếp nhận phân môn làm văn nói chung vàkiểu bài nghị luận về một hiện tượng đời sống nói riêng một cách tự nguyện Đểlàm được điều đó, đòi hỏi giáo viên linh hoạt, sáng tạo tình huống dạy học bằng:
- Hình ảnh, tư liệu về những con người giàu nghị lực trong cuộc sống
- Tấm gương những con người giàu lòng nhân ái
- Hình ảnh, tư liệu về những hiện tượng đời sống mà xã hội đang quan tâm.Trong quá trình sáng tạo tình huống dạy học, giáo viên không quá lạm dụng, sa
đà vào những hình ảnh hoặc những câu chuyện kể mà phải biết lựa chọn vài hìnhảnh tiêu biểu, một hoặc hai câu chuyện điển hình, gây tác động trực tiếp đến tâm lícủa học sinh, nhằm tạo sự hứng thú, rung động trong tâm lí tiếp nhận của học sinh Đáp ứng những yêu cầu trên, tôi đã thực nghiệm trên lớp bằng các phương thức,cách thức tiếp cận làm sao cho việc giảng dạy làm văn nhẹ nhàng hơn, học sinh tiếpnhận hứng thú hơn, đạt hiệu quả cao nhất
Chương 2: Thực trạng vấn đề
Để thực hiện phương pháp : Cách tiếp cận linh hoạt, sáng tạo để giảng dạy
kiểu bài Nghị luận về một hiện tượng đời sống có hiệu quả Giáo viên cần chuẩn
bị cách tiếp cận về chương trình dạy học làm văn theo nguyên tắc tích hợp đồngtâm và cách tiếp cận nghiên cứu, xử lí tài liệu:
I Cách tiếp cận chương trình dạy học Làm văn theo nguyên tắc tích
hợp đồng tâm :
Trang 6Chương trình Làm văn từ Trung học cơ sở (THCS) đến Trung học phổ thông(THPT) có liên quan rất chặt chẽ với nhau, vì chúng xây dựng theo nguyên tắc tíchhợp đồng tâm nâng cao Các tri thức và kĩ năng các lớp dưới là cơ sở cho việc tiếptục mở rộng, nâng cao ở các lớp trên Chính vì thế, Giáo viên cần có cái nhìn kháiquát nội dung văn nghị luận đã học từ các lớp THCS đến THPT.
Văn nghị luận được học trong chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn THCS
(bắt đầu từ lớp 7 cho đến lớp 9)
Lớp 7 : Nội dung chủ yếu là giúp học sinh tìm hiểu chung về văn nghị luận :Nhu cầu nghị luận và văn bản nghị luận; Thế nào là văn bản nghị luận; Đặc điểmcủa văn bản nghị luận; Bố cục và phương pháp lập luận trong bài nghị luận Sau đó
đi vào tìm hiểu và luyện tập hai thao tác chính là chứng minh và giải thích
Lớp 8 : Văn nghị luận tiếp tục được học với việc nhắc lại vấn đề luận điểmtrong bài nghị luận, kĩ năng xây dựng và trình bày luận điểm Sau đó học thêm một
số vấn đề mới về văn nghị luận như : Tìm hiểu các yếu tố biểu cảm, miêu tả và tự
sự trong văn nghị luận
Lớp 9 : Văn nghị luận tiếp tục được học thêm các nội dung mới như : Cácphép lập luận diễn dịch, quy nạp, phân tích, tổng hợp; Nghị luận xã hội và nghị
luận văn học (chủ yếu là loại văn bình luận, đòi hỏi vận dụng tổng hợp các thao
tác nghị luận).
Văn nghị luận được học trong chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn THPT
(từ lớp 10 cho đến lớp 12)
Lớp 10 : Ôn lại các kiểu văn bản đã học ở THCS và học thêm một số nội
dung mới Các kiểu văn bản ôn luyện bao gồm bốn kiểu văn bản: tự sự, miêu tả,
biểu cảm, thuyết minh Các nội dung mới bao gồm hình thành và rèn luyện năng
lực liên tưởng, tưởng tượng, khả năng quan sát, thể nghiệm đời sống; biết suy nghĩ,phát hiện vấn đề từ đời sống; biết đọc và tích luỹ kiến thức,
Lớp 11 : Tập trung ôn lại và mở rộng, nâng cao các tri thức và kĩ năng vềkiểu văn bản nghị luận xã hội và nghị luận văn học, mà trọng tâm là giới thiệu và
6
Trang 7luyện tập bốn thao tác lập luận chưa được học ở các lớp dưới: phân tích, so sánh,
bác bỏ, bình luận.
Lớp 12 : Tiếp tục hoàn thiện về văn nghị luận mà trọng tâm là các dạng bài
nghị luận, luyện tập kết hợp các thao tác và hoàn chỉnh kĩ năng viết bài (bố cục, mở
bài, kết luận, diễn đạt và hoàn chỉnh bài văn ).
Tính tích hợp đồng tâm nâng cao theo chiều dọc của chương trình phân môn
Làm văn trong sách giáo khoa Ngữ văn từ THCS đến THPT giúp cho giáo viên có
cái nhìn toàn diện về chương trình Làm văn để nhận thấy: Kiến thức làm vănTHPT chủ yếu viết dưới dạng tổng kết lại một số kiến thức và kĩ năng làm văn đãhọc ở các lớp dưới ở mức độ nâng cao Vì thế, khi dạy giáo viên cần tận dụng vàphát huy tối đa những hiểu biết của học sinh về vấn đề đã học để tìm hiểu bài
Ví dụ:
Khi thiết kế bài dạy Nghị luận về một hiện tượng đời sống, GV cần lưu ý tính
tích hợp như:
Lớp 11 HS đã học kĩ năng Phân tích đề, lập dàn ý bài văn nghị luận hoặc lớp
11 HS đã học và rèn luyện kĩ năng thực hành về các thao tác lập luận như: So sánh,Phân tích, Chứng minh, Bình luận, Bác bỏ Vì vậy trong quá trình dạy học GVyêu cầu HS ôn lại kiến thức để vận dụng vào kiểu bài làm văn nghị luận về mộthiện tượng đời sống mà không cần dạy lại kiến thức đã học
II Cách tiếp cận tài liệu và xử lí tài liệu từ các kênh thông tin khác nhau :
Để học sinh hiểu rõ, hiểu đúng, hiểu sâu đồng tình trước những hiện tượng đờisống có ý nghĩa xã hội, giáo viên cần chú ý những vấn đề sau đây:
Thứ nhất: Đề bài nghị luận về một hiện tượng đời sống chủ yếu được ra theo
hướng mở, có nghĩa là chỉ nêu đề tài và yêu cầu học sinh trình bày những suy nghĩ
và ý kiến riêng chứ không dừng lại ở mức độ giải thích, chứng minh xuôi chiềumột hiện tượng
Thứ hai: Đề tài nghị luận về một hiện tượng đời sống rất rộng, bao gồm những
hiện tượng đời sống có ý nghĩa tích cực và hiện tượng tiêu cực Vì thế, giáo viên
Trang 8cần chuẩn bị tài liệu về hiện tượng đời sống có ý nghĩa tích cực và hiện tượng tiêucực, để làm mẫu thị phạm hoặc tư liệu dẫn chứng, tạo nên tính thuyết phục cao,hứng thú cho học sinh đồng thời để cung cấp tài liệu cho học sinh.
Từ hai vấn đề ấy, đòi hỏi giáo viên phải có cách tiếp cận tài liệu từ các kênhthông tin khác nhau như : Sách, báo chí, internet, truyền hình, đài phát thanh,
và xử lí tài liệu ấy sao cho trung thực, sống động, gần gũi, mẫu mực để đưa vào bàidạy đạt hiệu quả cao
Sau khi giáo viên tiếp cận chương trình dạy học làm văn theo hướng tích hợpđồng tâm và tiếp cận nghiên cứu, xử lí tài liệu xong, tiến hành thiết kế bài dạy (giáoán)
8
Trang 9Chương 3: Những giải pháp
Thiết kế bài dạy.
NGHỊ LUẬN VỀ MỘT HIỆN TƯỢNG ĐỜI SỐNG
- Nâng cao kĩ năng làm văn nghị luận xã hội
3 Về tư tưởng, thái độ
- Có nhận thức, tư tưởng, thái độ và hành động đúng đắn trước những hiệntượng đời sống hàng ngày
B Nội dung, phương pháp, phương tiện
Nội dung Phương pháp Phương tiện
-Bảng viết
-Chiếu slide hình ảnh vềhiện tượng ô nhiễm môitrường hiện nay
-Cách làm bài văn
nghị luận về một hiện
tượng đời sống.
-Thảo luận-Vấn đáp, đàm thoại
-Phát hiện và giải quyết
-Bảng viết
-Chiếu slide gợi mở,nêu vấn đề
Trang 10-Bảng viết.
-Chiếu slide mô tả từnghiện tượng đời sống
C.Tiến trình bài dạy
1 Nội dung 1: Khái niệm về hiện tượng đời sống.
Hoạt động 1 :
- Giáo viên (GV) giới thiệu: Trong cuộc sống chúng ta có rất nhiều những hiệntượng đời sống xảy ra; có hiện tượng mang ý nghĩa tích cực; có hiện tượng mang ýnghĩa tiêu cực Tất cả những điều đó làm chúng ta suy nghĩ, bày tỏ ý kiến, quanđiểm của mình
- GV chiếu slide sau: Tấm gương giàu lòng nhân ái của chị Trần Mai Anh.
(theo lời kể của chị Trần Mai Anh)
"Tháng 7.2006, em đọc báo, rất
xúc động về trường hợp của cháu Hồ
Thiện Nhân mới sinh được 72 giờ
tuổi, bỏ rơi trong một khu vườn bị
súc vật cắn xé mất một chân phải và
bộ phận sinh dục, được bệnh viện Đa
khoa Quảng Nam cứu sống
Cháu Hồ Thiện Nhân khi còn ở
nhà bà ngoại (Núi Thành, Quảng Nam).
10
Trang 11Cuối năm 2007, em cùng một số bạn lên nhà Nhân thăm cháu Khi gặp cháu,chúng em không cầm được nước mắt Một cháu bé thông minh, nhạy cảm và phải chịu thiệt thòi như vậy nhưng không được chăm sóc y tế, chăm sóc nhiều mặt như những đứa trẻ khác Tương lai của cháu đã khác biệt, sẽ cần khác biệt hơn so với các cháu bé đồng lứa nếu cháu sinh sống trong môi trường hiện tại Lúc đó, em khát khao được làm mẹ để chăm sóc cho cháu.
Tình thương lớn hơn những khó khăn mà em đã lường trước sẽ diễn ra sau này, nên em đã quyết định sẽ xin cháu về làm con của mình Và rồi sự thôi thúc phải chăm sóc, chạy chữa cho cháu càng nhanh càng tốt giúp em quyết định rất nhanh Sau nhiều ngày phải hoàn thành các thủ tục pháp lý, chúng em về nhà bà ngoại của
Nhân để đón cháu".(Báo Lao động; tháng 4 năm 2008)
- GV nêu câu hỏi: Hiện tượng đời sống trên có ý nghĩa xã hội tích cực hay tiêu
cực ? Các em có đồng tình với quyết định của chị Trần Mai Anh nhận cháu Hồ
Thiện Nhân về làm con nuôi không ? vì sao ?
- Học sinh (HS): trình bày suy nghĩ của mình về hiện tượng trên
- Trên cơ sở sự trình bày của học sinh, giáo viên chốt ý, ghi bảng
Hiện tượng có ý nghĩa xã hội tích cực và đồng tình với quyết định của chị Trần
Mai Anh Vì quyết định ấy thể hiện con người giàu lòng nhân ái; biết đồng cảm
chia sẻ với những mảnh đời bất hạnh trong xã hội
Hoạt động 2:
- GV trình chiếu slide hình ảnh sau và nêu câu hỏi
Trang 13- GV nêu câu hỏi: Những hình ảnh trên nói lên hiện tượng gì đang diễn ra trongđời sống hiện nay ? suy nghĩ của em về hiện tượng ấy như thế nào ?
- HS dựa vào những hình ảnh và trình bày suy nghĩ của mình
Hình ảnh trên nói lên hiện tượng nhức nhối hiện nay đó là: ô nhiễm môi trường,đây là vấn đề mà cả xã hội đang quan tâm Nó gây ảnh hưởng tiêu cực đến đời sốngcon người
Trang 14- GV dẫn dắt: Từ hai hiện tượng trên chúng ta đi đến khái niệm về hiện tượngđời sống.
Hiện tượng đời sống là những hiện tượng xảy ra trong đời sống chúng ta được nhiều người quan tâm; có hiện tượng mang ý nghĩa xã hội tích cực, có hiện tượng tiêu cực.
- GV chuyển dẫn: Để hiểu rõ, hiểu sâu, hiểu đúng bản chất của từng hiện tượngđời sống, chúng ta phải đi sâu tìm tòi, giải thích
2.Nội dung 2: Cách làm bài văn nghị luận về một hiện tượng đời sống.
a) Tìm hiểu đề :
Hoạt động 1 :
- GV dẫn dắt giúp HS nhớ lại kiến thức về kĩ năng phân tích đề: Ở chương trìnhLàm văn 11 các em đã học về kĩ năng phân tích đề bài văn nghị luận Vậy các emhãy nhắc lại các bước phân tích đề ? HS nhớ kiến thức cũ và trả lời:
Phân tích đề là đọc kĩ đề nhằm xác định:
Nội dung nghị luận: tìm luận đề.
Giới hạn dẩn chứng: trong văn học hay ngoài cuộc sống xã hội.
Kết hợp các thao tác lập luận: phân tích, chứng minh, giải thích, bình luận,
- GV chiếu slide và nêu vấn đề: Các em hãy quan sát những đề bài sau đây vàtrả lời câu hỏi
Đề bài 1: Sách giáo khoa Ngữ văn 12, tập một, trang 66 Chia chiếc bánh của mình cho ai ?
Đề bài 2: Hãy bày tỏ ý kiến của mình về hành động dũng cảm Quên mình cứu bạn sau:
Vào khoảng 15 giờ ngày 29-5-2009, em Vũ Văn Ðức cùng bốn bạn là Vũ Hồng Bản, Ðỗ Ngọc Thành, Nguyễn Trung Hiếu và Nguyễn Công Minh đều làhọc sinh lớp 6A rủ nhau đi tắm biển tại khu vực Cái Xà Cong thuộc phường Hà
14