1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xã hội hóa dịch vụ công cộng đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh Việt Nam gia nhập WTO

103 302 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 829,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bối cảnh thực tiễn Việt Nam cùng với hướng tiếp cận về bản chất, chức năng và vai trò của nhà nước, có thể đưa ra khái niệm về dịch vụ công như sau “dịch vụ công là những dịch vụ đ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

VIỆT NAM GIA NHẬP WTO

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ QUỐC TẾ

Hà Nội - Năm 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

VIỆT NAM GIA NHẬP WTO

CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ QUỐC TẾ

MÃ SỐ: 60 31 01 06

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ QUỐC TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS HÀ VĂN HỘI

Hà Nội - Năm 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và trích dẫn nêu trong Luận văn là hoàn toàn trung thực Kết quả nghiên cứu của Luận văn chưa từng được người khác công bố trong bất kỳ công trình nào

Hà nội, ngày 19 tháng 12 năm 2014

Tác giả Luận văn

Đỗ Anh Khang

Trang 4

MỤC LỤC

Danh mục các ký tự viết tắt i

Danh mục bảng biểu ii

Danh mục hình iii

Phần mở đầu 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN CỦA XÃ HỘI HÓA DỊCH VỤ CÔNG CỘNG ĐÔ THỊ TRONG BỐI CẢNH VIỆT NAM GIA NHẬP WTO 5

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 5

1.1.1 Các nghiên cứu về dịch vụ công 5

1.1.2 Các nghiên cứu về dịch vụ công cộng đô thị 11

1.2 Cơ sở lý luận của xã hội hóa dịch vụ công cộng đô thị 14

1.2.1 Dịch vụ công và dịch vụ công cộng đô thị 14

1.2.2 Xã hội hóa dịch vụ công cộng đô thị 20

1.2.3 Sự hình thành quan điểm xã hội hóa dịch vụ công cộng đô thị 24

1.2.4 Sự cần thiết xã hội hóa dịch vụ công cộng đô thị trong bối cảnh Việt Nam gia nhập WTO 29

1.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến xã hội hóa dịch vụ công cộng đô thị 33

1.2.6 Nội dung của xã hội hóa dịch vụ công cộng đô thị 37

1.3 Kinh nghiệm quốc tế về xã hội hóa dịch vụ công cộng đô thị 40

1.3.1 Kinh nghiệm của Anh 40

1.3.2 Kinh nghiệm tại một số quốc gia khác 42

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 44

2.1 Cách tiếp cận nghiên cứu 44

2.1.1 Tiếp cận theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng 44

2.1.2 Cách tiếp cận hệ thống 44

Trang 5

2.2 Thu thập dữ liệu và xây dựng khung phân tích 44

2.2.1 Thu thập dữ liệu thứ cấp 44

2.2.2 Xây dựng khung phân tích 46

2.3 Các phương pháp nghiên cứu 47

2.3.1 Phương pháp phân tích, tổng hợp 47

2.3.2 Phương pháp nghiên cứu so sánh 49

2.3.3 Phương pháp thống kê 49

2.3.4 Phương pháp kế thừa 50

2.3.5 Phương pháp case-study 50

CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG XÃ HỘI HÓA DỊCH VỤ CÔNG CỘNG ĐÔ THỊ TẠI TP HỒ CHÍ MINH TRONG BỐI CẢNH VIỆT NAM GIA NHẬP WTO 51

3.1 Khái quát về hoạt động cung cứng dịch vụ công cộng đô thị tại Tp Hồ Chí Minh 51

3.1.1 Các loại dịch vụ công cộng đô thị đang được cung ứng tại Tp Hồ Chí Minh 51

3.1.2 Các doanh nghiệp hiện cung ứng dịch vụ công cộng đô thị tại Tp Hồ Chí Minh 58

3.1.3 Đánh giá thực trạng cung cấp dịch vụ công cộng đô thị tại Tp Hồ Chí Minh 65

3.2 Thực trạng xã hội hóa dịch vụ công cộng đô thị tại Tp Hồ Chí Minh 66

3.2.1 Quan điểm của UBND Thành phố đối với việc xã hội hóa dịch vụ công cộng đô thị 66

3.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến xã hội hóa dịch vụ công cộng đô thị tại Tp Hồ Chí Minh 70

3.3 Đánh giá việc thực hiện xã hội hóa dịch vụ công cộng đô thị trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh ……….………78

Trang 6

CHƯƠNG 4: THẢO LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 81

4.1 Thảo luận và đánh giá việc thực hiện xã hội hóa dịch vụ công cộng đô thị tại Tp Hồ Chí Minh 81

4.2 Định hướng phát triển dịch vụ công cộng đô thị tại Tp Hồ Chí Minh 83

4.3 Kiến nghị một số giải pháp thực hiện xã hội hóa dịch vụ công tại Tp Hồ Chí Minh 85

4.3.1 Đối với Nhà nước 85

4.3.2 Đối với UBND Tp Hồ Chí Minh 87

4.3.3 Đối với các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ 89

KẾT LUẬN 91

TÀI LIỆU THAM KHẢO 92

Trang 7

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT

1 ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

2 APEC Hợp tác kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương

4 CBD Khu thương nghiệp trung tâm

5 CNH-HĐH Công nghiệp hóa hiện đại hóa

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

1 Bảng 3.1 Chi phí cho dịch vụ công về duy tu giao thông 52

2 Bảng 3.2 Chi phí cho công tác duy tu cầu 53

3 Bảng 3.3 Chi phí cho công tác duy tu đường 54

4 Bảng 3.4 Chi phí cho công tác duy tu đường sông 54

5 Bảng 3.5 Chi phí chi cho dịch vụ công về kiến thiết thị chính 54

6 Bảng 3.6 Chi phí cho dịch vụ công về vệ sinh môi trường 58

7 Bảng 3.7 Chi phí chi cho dịch vụ duy trì hệ thống chiếu sáng 59

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

1 Hình 3.1 Kinh phí cho công tác duy tu giao thông 52

2 Hình 3.2 Tốc độ tăng trưởng hàng năm của công tác duy tu giao thông 53

3 Hình 3.3 Tốc độ tăng trưởng hàng năm của công tác kiến thiết

4 Hình 3.4 Kinh phí cho chăm sóc cây xanh và mức độ tăng trưởng 55

5 Hình 3.5 Kinh phí cho dịch vụ vệ sinh môi trường 58

6 Hình 3.6 Kinh phí cho duy trì hệ thống chiếu sáng và mức độ tăng trưởng 60

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết và ý nghĩa của vấn đề nghiên cứu

Trong sự nghiệp Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đất nước và quá trình hô ̣i nhâ ̣p kinh tế quốc tế, viê ̣c xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý là nội dung cơ bản nhất, trong đó phát triển hê ̣ thống dịch công cô ̣ng là nhiê ̣m vu ̣ không thể tách rời Ngày 11/01/2007 Việt Nam gia nhập tổ chức WTO, đánh dấu một bước phát triển mới cho các ngành kinh tế của nước ta và các ngành dịch vụ công cộng đô thị cũng không nằm ngoài sự phát triển đó để phù hợp với một đời sống xã hội hội nhập, mang lại cơ hội cho các doanh nghiệp nước ta được học hỏi tích lũy kinh nghiệm, tiếp thu khoa học công nghệ kỹ thuật tiên tiến hiện đại, tiếp nhận các mô hình quản trị thông minh và đi song song với nó là sức ép trực tiếp khi thị trường được

“mở” bởi các cam kết, định chế quốc tế mà Việt Nam đang và sẽ tham gia, là thách thức khi phải cạnh tranh trực tiếp với các đối tác nước ngoài, các doanh nghiệp nước ngoài vượt trội hơn hẳn so với chúng ta về trình độ khoa học công nghệ và kinh nghiệm quản lý Vì thế trong bối cảnh chuyển đổi mang tính hội nhập, chịu sự tác động của xu thế toàn cầu hóa; nền kinh tế và xã hội của nước ta bắt đầu phải tổ chức lại với những nguyên tắc vận hành mới để phù hợp với cuộc sống mới trong môi trường thế giới phẳng Hoàn cảnh mới đó, đòi hỏi nhà nước phải chuyển đổi từ cách nhìn nhận đến cách thức tổ chức vận hành, chuyển từ vai trò là “người bảo trợ” sang vai trò là “người hỗ trợ” để đảm bảo sự phát triển nền kinh tế xã hội mang tính bền vững phù hợp với quy luật phát triển xã hội

Thực tế hiê ̣n nay h ệ thống dịch vụ công cộng (DVCC) đang phát triển theo hướng tích cực , nhưng phần lớn nguồn kinh phí được bố trí từ ngân sách nhà nước và công viê ̣c này được gi ao cho những doanh nghiê ̣p 100% vốn nhà nước thực hiê ̣n, qua đó ta ̣o ra tâm lý của người dân cho rằng di ̣ch vu ̣ công cô ̣ng là do Nhà nước bao cấp và như thế sẽ tạo ra một rủi ro là đến một thời điểm nào đó

Trang 11

ngân sách Nhà nước không đảm đương được và viê ̣c bao cấp này không phù hợp với những cam kết khi Viê ̣t Nam gia nhâ ̣p WTO Từ nô ̣i dung trên Nhà nước cần tiến hành xã hô ̣i hóa lĩnh vực di ̣ch vu ̣ công cô ̣ng để giảm chi tiêu của Chính phủ , bình đẳng hóa hoạt động kinh tế , trả lại đúng bản chất của dịch vụ là ai là người sử du ̣ng di ̣ch vu ̣ thì người đó trả tiền

Ở Việt Nam, càng quan trọng hơn bởi đô thị hoá và định hướng xã hội chủ nghĩa, rất nhiều dịch vụ công cộng vừa mang thuộc tính thị trường lại vừa mang thuộc tính phục vụ Đô thị Việt Nam dù mới chỉ ở giai đoạn đầu của quá trình phát triển nhưng chúng ta đã nhìn thấy sự thất bại của hệ thống loại hình tầng bậc

và đơn chức năng trong các công trình dịch vụ công cộng Mặt khác, việc chấp nhận cơ chế thị trường cũng dẫn tới sự phá sản tất yếu của Hệ thống dịch vụ công cộng theo tầng bậc đang vẫn được áp dụng trong các nguyên tắc của thiết kế quy hoạch hiện nay ở Việt Nam Chính vì vậy, quá trình quy hoạch xây dựng đô thị và chỉnh trang đô thị rất cần có sự nhìn nhận khách quan về thực tiễn và các xu hướng phát triển hệ thống dịch vụ công cũng như những khái niệm và cách tiếp cận mới nhằm xây dựng các Trung tâm đô thị hấp dẫn, tiện ích gắn với chất lượng

đô thị và chất lượng sống của dân cư Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu vấn đề:

“Xã hội hóa dịch vụ công cộng đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh trong bối

cảnh Việt Nam gia nhập WTO” là hết sức cần thiết

2 Mục đích và nhiê ̣m vu ̣ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cư ́ u

Thông qua viê ̣c nghiên cứu sự cần thiết của viê ̣c xã hô ̣i hóa di ̣ch vu ̣ công

cô ̣ng đô t hị trong bối cảnh hiện nay ; đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình xã hội hóa dịch vụ công cộng tại thành phố Hồ Chí Minh, qua đó đề xuất và kiến nghi ̣ mô ̣t số giải pháp về thực hiện xã hội hóa di ̣ch vu ̣ công cô ̣ng đô thi ̣ một cách có hiệu quả tại thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh hiện nay

Trang 12

2.2 Câu hỏi nghiên cứu

(1) Tại sao cần phải xa ̃ hội hóa dịch vụ công cộng đô thi ̣ ở Việt Nam nói chung và ở Tp Hồ Chí Minh nói riêng?

(2) Những nhân tố nào tác động đến xã hội hóa dịch vụ công cộng đô thị tại Việt Nam nói chung và ở Tp Hồ Chí Minh nói riêng trong bối cảnh Việt Nam gia nhập WTO?

(3) Để co ́ thể triển khai thực hiê ̣n xã hội hóa di ̣ch vụ c ông cộng đô thi ̣ một cách có hiệu quả, Tp Hồ Chí Minh cần phải làm gì và làm như thế nào?

2.3 Nhiê ̣m vu ̣ nghiên cứu

- Xác định sự cần thiết và các yếu tố ảnh hưởng tới viê ̣c xã hội hóa dịch vụ công cộng đô thi ̣ tại Tp Hồ Chí Minh

- Phân tích thực tra ̣ng đầu tư và cung ứng di ̣ch vu ̣ công cô ̣ng đô thi ̣ tại Tp Hồ Chí Minh trong thời gian qua

- Đề xuất một số giải pháp để triển khai thực hiê ̣n xã hô ̣i hóa di ̣ch vu ̣ công

cô ̣ng đô thi ̣, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ công cộng đô thị tại Tp Hồ Chí Minh nhằm giảm chi tiêu Chính Phủ và phù hợp với bối cảnh Việt Nam gia nhập WTO

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quá trình đầu tư và phát triển dịch vụ công cô ̣ng đô thị tại Tp Hồ Chí Minh

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian nghiên cứu được giới hạn tại Tp Hồ Chí Minh

- Về thời gian nghiên cứ u: từ đầu năm 2007 đến nay

Trang 13

- Về nội dung nghiên cứu được giới hạn ở lĩnh vực dịch vụ công cộng: Quét dọn thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải

4 Những đóng góp của đề tài

- Luận giải sự cần thiết của việc xã hội hóa dịch vụ công nói chung và dịch

vụ công cộng đô thị nói riêng tại TP Hồ Chí Minh

- Làm rõ các nhân tố tác động đến xã hội hóa dịch vụ công cộng đô thị tại Tp

Hồ Chí Minh

- Đánh giá thực trạng cung cấp dịch vụ công cộng đô thị tại Tp Hồ chí Minh

và đề xuất kiến nghị một số giải pháp đẩy mạnh xã hội hóa dịch vụ công cộng đô thị tại trên địa bàn thành phố

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của

luận văn gồm 4 chương:

Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu và Cơ sở khoa học của xã hội hóa dịch vụ công cộng đô thị trong bối cảnh Việt Nam gia nhập WTO

Chương 2 Phương pháp và thiết kế nghiên cứu

Chương 3 Phân tích, đánh giá thực trạng đầu tư phát triển và cung ứng dịch

vụ công cộng đô thị tại Tp Hồ Chí Minh trong bối cảnh Việt Nam gia nhập WTO Chương 4 Thảo luận và kiến nghị

Trang 14

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN CỦA XÃ HỘI HÓA DỊCH VỤ CÔNG CỘNG

ĐÔ THỊ SAU KHI VIỆT NAM GIA NHẬP WTO

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Các nghiên cứu về dịch vụ công

Về khái niệm dịch vụ công Khái niệm "dịch vụ công" được sử dụng phổ

biến rộng rãi ở châu Âu sau Chiến tranh Thế giới lần thứ hai Theo quan niệm của nhiều nước, dịch vụ công luôn gắn với vai trò của nhà nước trong việc cung ứng các dịch vụ này

Trên thế giới hiện nay có nhiều cách tiếp cận đối với dịch vụ công, mỗi cách tiếp cận đều có ưu và nhược điểm riêng, vì thế không có định nghĩa chung nhất nào về dịch vụ công Trong bối cảnh thực tiễn Việt Nam cùng với hướng tiếp cận

về bản chất, chức năng và vai trò của nhà nước, có thể đưa ra khái niệm về dịch

vụ công như sau “dịch vụ công là những dịch vụ đáp ứng các nhu cầu cơ bản, thiết yếu chung của người dân và cộng đồng, bảo đảm ổn định và công bằng xã hội do nhà nước chịu trách nhiệm, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận”

Từ giác độ chủ thể quản lý nhà nước (QLNN), từ điển Petit Larousse của

Pháp xuất bản năm 1992 đã định nghĩa: "dịch vụ công là hoạt động vì lợi ích

chung, do cơ quan nhà nước hoặc tư nhân đảm nhiệm" Như vậy, có nghĩa là

dịch vụ công là những hoạt động của cơ quan nhà nước (CQNN) trong việc thực thi chức năng quản lý hành chính nhà nước (HCNN) và đảm bảo cung ứng các hàng hóa công cộng phục vụ nhu cầu chung, thiết yếu của xã hội Cách hiểu này nhấn mạnh vai trò và trách nhiệm của nhà nước đối với những hoạt động cung cấp hàng hóa công cộng Cách tiếp cận khác xuất phát từ đối tượng được hưởng hàng hóa công cộng cho rằng đặc trưng chủ yếu của dịch vụ công là hoạt động

Trang 15

đáp ứng nhu cầu thiết yếu của xã hội và cộng đồng, còn việc tiến hành hoạt động

ấy có thể do nhà nước hoặc tư nhân đảm nhiệm

Còn theo World Bank, World Development Report (1997), khu vực công cốt

lõi bao gồm các dịch vụ (chủ yếu là hàng hóa và dịch vụ công thuần túy – pure public goods and services) mà chính phủ là người duy nhất cung cấp và mọi công dân bắt buộc phải nhận khi có nhu cầu về chúng Chính phủ cung cấp các loại dịch vụ này dựa trên cơ sở pháp lý và nguyên tắc quản lý nhà nước cơ bản Có thể liệt kê một số dịch vụ đó như: pháp luật, an ninh, quốc phòng, các nguồn phúc lợi

xã hội, môi trường và phòng dịch, cấp giấy sở hữu (tài sản, nhà đất), giấy tờ tùy thân (hộ chiếu, visa, chứng minh thư), giấy chứng nhận (khai sinh, khai tử, hôn thú), đăng ký thành lập (doanh nghiệp, hiệp hội, tổ chức)… Khu vực công mở rộng bao gồm các dịch vụ công (chủ yếu là hàng hóa và dịch vụ công không thuần khiết- impure) mà người tham gia cung cấp có thể là nhà nước và nhiều tổ chức khác (tư nhân, các tổ chức xã hội, cộng đồng) Sự cung cấp các loại dịch vụ này rất linh hoạt, tùy thuộc vào nhu cầu người tiêu dùng, không mang tính độc quyền và có thể miễn phí hoặc trả phí Đó là các dịch vụ như: y tế, giáo dục, giao thông đô thị, thông tin, cơ sở hạ tầng,…

Theo GS Trần Ngọc Hiên trong bài: Xã hội hóa dịch vụ công: Quan điểm

tiếp cận và kinh nghiệm từ một số nước, đăng trên Tạp chí Cộng sản số tháng

6/2012, thì tiếp cận vấn đề "dịch vụ công" “xã hội hóa” nó hiện có nhiều quan

niệm Ở các nước châu Âu thì: "dịch vụ công là các hoạt động vì lợi ích chung

của xã hội, do cơ quan nhà nước hoặc tư nhân đảm nhiệm" Trong nền kinh tế thị

trường, các lợi ích chung mà dịch vụ công đem lại thể hiện dưới hình thức hàng

hóa công cộng Đó là loại hàng hóa mà mọi người đều có thể sử dụng, là loại

hàng hóa mà việc tiêu dùng của người này không làm giảm lượng tiêu dùng của người khác và nó vẫn tồn tại khi không tiêu dùng Khái niệm dịch vụ công nói trên được dùng khá phổ biến ở nhiều nước châu Âu sau chiến tranh thế giới thứ

Trang 16

hai Dịch vụ công có nhiều loại, từ y tế, giáo dục, cơ sở hạ tầng, xóa đói giảm

nghèo cho đến an ninh, bảo trợ xã hội Khi kinh tế và đời sống xã hội càng phát triển thì dịch vụ công càng phát triển thêm nhiều loại mới với những phương thức cung cấp mới

Khi định nghĩa về dịch vụ công, Phạm Quang Lê trong cuốn sách “Dịch vụ

công và xã hội hoá dịch vụ công- Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” (Chu văn

Thành chủ biên Nhà XB Chính trị quốc gia Hà Nội.2004) thì dịch vụ vụ công được cho là: “những hoạt động của các tổ chức nhà nước hoặc của các doanh nghiệp, tổ chức xã hội, tư nhân được Nhà nước uỷ quyền để thực hiện nhiệm vụ

do pháp luật quy định, phục vụ trực tiếp những nhu cầu thiết yếu của cộng đồng, công dân; theo nguyên tắc không vụ lợi; đảm bảo sự công bằng và ổn định xã hội

”, và cho rằng dịch vụ công bao gồm dịch vụ sự nghiệp công (hoặc phúc lợi công cộng ), dịch vụ công ích và dịch vụ hành chính công, đồng thời nhấn mạnh là không được lẫn lộn với hoạt động công vụ (civil services) là hoạt động hàng ngày của bộ máy công quyền Theo Ông Lê, dịch vụ công ích là các hoạt động có tính chất kinh tế hàng hoá do các doanh nghiệp công ích thực hiện theo yêu cầu của Nhà nước, không nhằm mục tiêu lợi nhuận để phục vụ nhân dân như cung cấp điện, nước, kết cấu hạ tầng, vệ sinh môi trường, phòng chống các dịch bệnh, vận tải công cộng, khuyến nông…

Cũng liên quan đến khái niệm dịch vụ công, tác giả Hương Ngọc (2013) lại cho rằng: Dịch vụ công là những hàng hóa, dịch vụ mà Nhà nước can thiệp vào việc cung cấp nhằm mục tiêu hiệu quả và công bằng Theo đó, dịch vụ công là tất

cả những hoạt động nhằm thực hiện những chức năng vốn có của Chính phủ, bao gồm từ các hoạt động ban hành chính sách, pháp luật, Tòa án…cho đến những hoạt động y tế, giáo dục, giao thông công cộng Dịch vụ công còn được hiểu là những hàng hóa dịch vụ phục vụ trực tiếp nhu cầu của các tổ chức và công dân

mà chính phủ can thiệp vào việc cung cấp nhằm mục tiêu hiệu quả, công bằng

Trang 17

Bên cạnh đó, từ dịch vụ công còn có một định nghĩa khác theo Luật Doanh

nghiệp nhà nước (2003) là: dịch vụ thiết yếu đối với đời sống, kinh tế, xã hội của

đất nước, cộng đồng dân cư của một khu vực lãnh thổ hoặc bảo đảm quốc phòng,

an ninh mà việc sản xuất, cung cấp theo cơ chế thị trường thì khó có khả năng bù đắp chi phí đối với doanh nghiệp sản xuất, cung ứng dịch vụ này, do đó được Nhà nước đặt hàng, giao kế hoạch, đấu thầu theo giá hoặc phí do Nhà nước quy định Cách định nghĩa này được các nhà làm chính sách nước ta đưa ra chỉ để tiện cho việc chi tiêu Ngân sách nhưng lại không hội nhập với thông lệ quốc tế

Khái niệm và phạm vi dịch vụ công có sự biến đổi tùy thuộc vào bối cảnh của mỗi quốc gia Chẳng hạn, ở Canada, có tới 34 loại hoạt động được coi là dịch

vụ công, từ quốc phòng, an ninh, pháp chế, đến các chính sách kinh tế xã hội (KT-XH) (như tạo việc làm, quy hoạch, bảo vệ môi trường, và các hoạt động y tế, giáo dục, văn hoá, bảo hiểm xã hội, ) Trong khi đó, Pháp và Italia đều quan niệm dịch vụ công là những hoạt động phục vụ nhu cầu thiết yếu của người dân

do các CQNN đảm nhiệm hoặc do các tổ chức tư nhân thực hiện theo những tiêu chuẩn, quy định của nhà nước Tuy vậy, ở mỗi nước lại có nhận thức khác nhau

về phạm vi của dịch vụ công Ở Pháp, khái niệm dịch vụ công được hiểu rộng, bao gồm không chỉ các hoạt động phục vụ nhu cầu về tinh thần và sức khoẻ của

người dân (như giáo dục, văn hoá, y tế, thể thao… thường được gọi là hoạt động

sự nghiệp), các hoạt động phục vụ đời sống dân cư mang tính công nghiệp (điện, nước, giao thông công cộng, vệ sinh môi trường, thường được gọi là hoạt động công ích), hay các dịch vụ hành chính công, bao gồm hoạt động của cơ quan hành

chính về cấp phép, hộ khẩu, hộ tịch,… mà cả hoạt động thuế vụ, trật tự, an ninh, quốc phòng… còn ở Italia dịch vụ công được giới hạn chủ yếu ở hoạt động sự

nghiệp (y tế, giáo dục) và hoạt động kinh tế công ích (điện, nước sạch, vệ sinh môi trường) và các hoạt động cấp phép, hộ khẩu, hộ tịch do cơ quan hành chính thực hiện

Trang 18

Ở Việt Nam, tập trung nhiều hơn vào chức năng phục vụ xã hội của Nhà nước, mà không bao gồm các chức năng công quyền, như lập pháp, hành pháp, tư pháp, ngoại giao, qua đó nhấn mạnh vai trò chủ thể của Nhà nước trong việc cung cấp các dịch vụ cho cộng đồng Điều quan trọng là chúng ta phải sớm tách hoạt động dịch vụ công (lâu nay gọi là hoạt động sự nghiệp) ra khỏi hoạt động hành chính công quyền như chủ trương của Chính phủ đã đề ra, nhằm xoá bỏ cơ chế bao cấp, giảm tải cho bộ máy nhà nước, khai thác mọi nguồn lực tiềm tàng trong xã hội và nâng cao chất lượng của dịch vụ công phục vụ người dân Điều 22 của Luật Tổ chức Chính phủ (2001) quy định: "Bộ, cơ quan ngang Bộ là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng QLNN đối với ngành hoặc lĩnh vực công tác trong phạm vi cả nước; QLNN các dịch vụ công thuộc ngành, lĩnh vực; " Điều này không có nghĩa là Nhà nước độc quyền cung cấp các dịch vụ công mà trái lại Nhà nước hoàn toàn có thể xã hội hóa một số dịch vụ, qua đó trao một phần việc

cung ứng một phần của một số dịch vụ, như y tế, giáo dục, cấp thoát nước,… cho

khu vực phi nhà nước thực hiện

Có thể thấy rằng khái niệm và phạm vi các dịch vụ công cho dù được tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau, chúng đều có tính chất chung là nhằm phục vụ cho nhu cầu và lợi ích chung thiết yếu của xã hội, của cộng đồng dân cư và nhà nước

có trách nhiệm đảm bảo các dịch vụ này cho xã hội Ngay cả khi nhà nước chuyển giao một phần việc cung ứng dịch vụ công cho khu vực tư nhân thì nhà nước vẫn có vai trò điều tiết nhằm đảm bảo sự công bằng trong phân phối các dịch vụ này và khắc phục các bất cập của thị trường

Từ những tính chất trên đây, dịch vụ công có thể được hiểu là những hoạt

động dịch vụ của các tổ chức nhà nước hoặc của các doanh nghiệp, tổ chức xã hội, tư nhân được Nhà nước uỷ quyền thực hiện nhiệm vụ do pháp luật quy định, phục vụ những nhu cầu thiết yếu chung của cộng đồng, công dân; theo nguyên tắc không vụ lợi, đảm bảo sự công bằng và ổn định xã hội

Trang 19

Nói cách khác dịch vụ công được hiểu là những giao dịch trực tiếp về dịch

vụ giữa Nhà nước (hoặc các tổ chức được Nhà nước ủy nhiệm) và công dân với

tư cách là khách hàng Một cách hiểu rộng hơn thì khi Nhà nước đứng ra với tư cách là người bảo đảm cung cấp các dịch vụ công thì các dịch vụ đó được gọi là

các dịch vụ công

Về mục tiêu của xã hội hóa dịch vụ công, theo Tác giả, Nguyễn Xuân Lan,

trong bài viết: xã hội hóa và cung ứng dịch vụ công, trên tạp chí Pháp Luật 2012 thì cần thiết phải xác định rõ mục tiêu mà công cuộc cải cách dịch vụ công hướng tới là chất lượng dịch vụ chứ không phải là mức độ xã hội hóa Xã hội hóa loại hình dịch vụ này chỉ là phương thức để đạt được chất lượng dịch vụ công mong muốn Ở nhiều nước phát triển, xu thế chuyển giao dịch vụ công cho các tổ chức khu vực tư ngày càng được áp dụng nhiều dưới những hình thức khác nhau Nhà nước chỉ chịu trách nhiệm cung cấp những lĩnh vực mà khu vực

tư không hoặc chưa tham gia

Về hình thức thực hiện xã hội hóa dịch vụ công, theo Lê Chi Mai (2003), các

hình thức xã hội hóa dịch vụ công gồm: Nhà nước bán một phần hoặc toàn bộ tài sản của doanh nghiệp nhà nước cung ứng dịch vụ công cho tư nhân hoặc một tập thể; Nhà nước bán một phần cổ phần của doanh nghiệp nhà nước cung ứng dịch

vụ công ra ngoài xã hội; Nhà nước cho thuê doanh nghiệp cung ứng dịch vụ công đối với tư nhân hoặc tập thể; Khoán kinh doanh cung ứng dịch vụ công cho tư nhân hoặc tập thể; Ký hợp đồng hoặc đơn đặt hàng với các doanh nghiệp hoặc tổ chức trong việc cung ứng dịch vụ công theo yêu cầu của nhà nước; Cho phép các doanh nghiệp hoặc tổ chức tư nhân tham gia vào các lĩnh vực cung ứng dịch vụ công và chịu sự quản lý của nhà nước thông qua luật lệ và quy chế

Về quan điểm và chính sách xã hội hóa dịch vụ công, Nhằm đẩy mạnh xã

hội hóa trong cung ứng dịch vụ công, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản quy

Trang 20

phạm pháp luật, như: Nghị quyết 90/NĐ-CP ngày 21/8/1997 của Chính phủ về phương hướng và chủ trương xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa; Nghị định 73/1999/NĐ-CP ngày 19/8/1999 của Chính phủ về chính sách khuyến khích đối với hoạt động trong lĩnh vực y tế, giáo dục, văn hóa và thể thao; Nghị quyết 05/2005/NQ-CP ngày 18/4/2005 của Chính phủ về đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và thể thao Từ các cơ sở pháp lý này, hàng loạt cơ sở cung ứng dịch vụ trong các lĩnh vực y tế, giáo dục, văn hóa và thể thao

đã ra đời Đồng thời, hiện thực này đã nảy sinh nhiều vấn đề về kiểm soát chất lượng dịch vụ Thông thường, các doanh nghiệp trong khu vực tư nhân chú trọng nhiều đến lợi nhuận, luôn có xu hướng đẩy giá dịch vụ lên cao, các loại phí dịch

vụ bị điều chỉnh tùy tiện, chất lượng dịch vụ yếu, cơ chế tài chính không minh bạch Vẫn còn nhiều cơ sở tư nhân được thành lập dưới dạng tự phát nên khó kiểm soát chất lượng Hàng loạt trường mầm non tư thục không đủ tiêu chuẩn như thiếu không gian cho trẻ, thực phẩm không an toàn, các điều kiện chăm sóc trẻ không được đảm bảo; các cơ sở khám chữa bệnh không đáp ứng được yêu cầu, nâng tùy tiện giá thuốc; các trường học tư thục thiếu giáo viên cơ hữu; các hãng phim chạy theo xu hướng giải trí rẻ tiền, thiếu định hướng Tất cả đang đặt

ra vấn đề về kiểm soát chất lượng đối với các dịch vụ được khối tư nhân cung ứng cho xã hội Tất nhiên, tình trạng kém chất lượng trong cung ứng dịch vụ không bắt nguồn từ việc xã hội hóa, song mức độ xã hội hóa ồ ạt, thiếu kiểm soát

rõ ràng đã tác động tiêu cực đến quyền lợi của người thụ hưởng dịch vụ

1.1.2 Các nghiên cứu về dịch vụ công cộng đô thị và xã hội hóa dịch vụ công cộng đô thị

Trong Đề tài cấp nhà nước: Tổ chức và các giải pháp phát triển không gian

dịch vụ công cộng tại các đô thị Việt Nam trong tương quan vùng đô thị, TS

Phạm Sỹ Liêm (2008) cho rằng: Không gian dịch vụ công cộng chứa đựng các hoạt động dịch vụ công cộng, là một bộ phận của không gian kinh tế đô thị

Trang 21

Không gian hè phố vừa là không gian công cộng vừa là không gian dịch vụ công cộng Có vai trò quan trọng nhất trong không gian dịch vụ công cộng là khu thương nghiệp trung tâm (Central Business District- CBD; ở Hoa kỳ gọi là Downtown), nơi tập trung cao độ các hoạt động dịch vụ công cộng, cũng là nơi có mật độ việc làm cực cao Đại bộ phận dân đô thị sống bên ngoài CBD, hàng ngày

đổ vào CBD làm việc Kinh tế học đô thị chỉ ra rằng cơ chế hình thành và phát triển đô thị là do không gian đô thị có hiệu ứng tụ tập, khiến thị trường sức lao động có hiệu quả cao nhờ trở thành lớn mạnh và thống nhất CBD chính là nơi thể hiện tập trung nhất hiệu ứng tụ tập đó Đô thị có thể chỉ có một CBD, nhưng cũng

có thể có nhiều CBD hoặc một CBD chính cùng với nhiều CBD nhỏ hơn Nhiều loại hình dịch vụ công cộng, chủ yếu là dịch vụ công ích, lại phân tán và hình thành mạng (network), như mạng trường học, mạng bệnh viện, mạng cứu hoả, mạng bưu điện, mạng cấp nước…Việc phân bố hợp lý các mạng dịch vụ này là một nhiệm vụ của quy hoạch đô thị

Về tính tất yếu của việc xã hội hóa dịch vụ công cộng đô thị, có nhiều tài

liệu nghiên cứu đã chỉ ra rằng, hoạt động cung ứng dịch vụ công của khu vực nhà nước thường kém hiệu quả hơn so với khu vực tư nhân Đối với Việt Nam, hiện nay cung ứng dịch vụ công vẫn phụ thuộc phần lớn vào Nhà nước vì khu vực tư chưa đủ năng lực để cung cấp tốt các dịch vụ này Do vậy, cần phải xác định được lĩnh vực nào cần xã hội hóa, và xã hội hóa ở cấp độ nào thì đem lại hiệu quả tốt nhất cho người dân, chứ không vì tiêu chí xã hội hóa mà thiếu quan tâm tới chất lượng dịch vụ

Bàn về tính tất yếu của xã hội hóa dịch vụ công cộng đô thị, Trần Trung

Chính (2012) cho rằng, với dân số đô thị tăng trên một triệu người hàng năm thì trách nhiệm cung cấp nhà ở, cơ sở hạ tầng, trường học và các dịch vụ công là vô cùng nặng nề Những nguy cơ này được báo chí báo động thường xuyên, bao gồm tắc nghẽn giao thông, ô nhiễm môi trường vì khói bụi, tiếng ồn, ngập nước, thiếu

Trang 22

phòng học, tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm kém, bệnh viện quá tải, phòng cháy chữa cháy chưa hiệu quả… Đương nhiên những khó khăn ấy không vừa xảy

ra mà đã tích luỹ qua quá trình dài do sự thiếu thốn lẫn yếu kém, và điều đáng nói

là trong khi chưa có khả năng giải quyết chúng thì những khối lượng khó khăn mới to lớn hơn nhiều, lại đã đến, cũng đòi hỏi phải nhanh chóng giải quyết Trước tình hình này, vấn đề đặt ra cho các chính quyền đô thị là một mặt phải nâng cao năng lực hấp thu nguồn vốn vay nói trên Mặt khác, phải tìm mọi cách huy động các nguồn lực xã hội để phát triển kết cấu hạ tầng nhằm đáp ứng nhu cầu đang tăng trưởng nhanh về dịch vụ công cộng đô thị, thực hiện chủ trương xã hội hóa việc cung ứng loại hình dịch vụ này Xã hội hóa dịch vụ công cộng đô thị theo nhiều hình thức phù hợp như cổ phần, hợp đồng hợp tác công - tư… là giải pháp tích cực, phù hợp với xu thế phát triển, theo quyết định của chính phủ Nhà đầu tư của các thành phần khác rất quan tâm đến lĩnh vực dịch vụ công cộng đô thị và sẵn sàng tham gia khi có được thể chế rõ ràng và minh bạch, trong đó đặc biệt quan tâm đến mối quan hệ bình đẳng về chia sẻ lợi ích, chia sẻ trách nhiệm và chia sẻ rủi ro trong quản lý vận hành kinh doanh Muốn vậy, chính quyền đô thị tập trung thực hiện việc lập và điều chỉnh quy hoạch phát triển đô thị, trong đó có quy hoạch phát triển dịch vụ công cộng đô thị Phải công khai các dự án phát triển đầu tư cơ sở hạ tầng dịch vụ theo mục tiêu phát triển; cụ thể hóa các chính sách khuyến khích ưu đãi đầu tư vào lĩnh vực đầu tư hạ tầng dịch vụ công cộng

về vốn, về đất đai, phí dịch vụ… đối với các thành phần kinh tế khi tham gia đầu

tư Chính phủ, các chính quyền đô thị bỏ vốn đầu tư vào hạ tầng có quy mô vốn lớn, kỹ thuật phức tạp, có tác dụng phục vụ phạm vi vùng, địa phương

Tóm lại, có nhiều tài liệu và công trình nghiên cứu về dịch vụ công nói

chung Trong đó các tài liệu và công trình này đã đưa ra các khái niệm khác nhau

về dịch vụ công Tuy nhiên về bản chất cũng như lý do cũng như lợi ích của việc thực hiện xã hội hóa dịch vụ công, thì vẫn chưa được nghiên cứu một cách kỹ

Trang 23

lưỡng Đồng thời, các nghiên cứu về dịch vụ công cộng đô thị cũng còn rất ít Một số nghiên cứu dưới dạng các bài báo khoa học chỉ mới nêu lên mục tiêu, ý nghĩa của phát triển dịch vụ công cộng đô thị mà chưa đi vào nghiên cứu sự cần thiết, các yếu tố ảnh hưởng cũng như cách thức xã hội hóa dịch vụ này trên địa bàn các thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Huế…

1.2 Cơ sở lý luận của xã hội hóa dịch vụ công cộng đô thị

1.2.1 Đặc điểm và phân loại dịch vụ công

1.2.1.1 Đặc điểm dịch vụ công

Dịch vụ công cộng đô thị là một trong các hình thức của dịch vụ công Do

đó, cần phải phân tích khái quát đặc điểm và phân loại dịch vụ công trước khi phân tích cụ thể về dịch vụ công cộng đô thị

Dịch vụ công có các đặc điểm chung như sau:

Thứ nhất, đây là những hoạt động phục vụ nhu cầu và lợi ích chung thiết

yếu, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của các tổ chức và công dân, Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm các dịch vụ này cho xã hội Trách nhiệm bảo đảm ở đây hàm ý rằng hoặc Nhà nước tổ chức các đơn vị công lập đảm nhiệm cung cấp hoặc Nhà nước không trực tiếp tổ chức cung ứng thì ủy nhiệm cho một chủ thể khác thực hiện Tuy nhiên, trong trường hợp Nhà nước ủy nhiệm việc cung ứng các dịch vụ này cho khu vực tư nhân thì Nhà nước vẫn có vai trò điều tiết đặc biệt nhằm bảo đảm sự công bằng trong phân phối, bảo đảm khả năng tiếp cận bình đẳng cho mọi công dân, nhất là với các dịch vụ cơ bản, khắc phục các khiếm khuyết của thị trường

Thứ hai việc Nhà nước cung ứng dịch vụ công thường không thông qua

quan hệ thị trường đầy đủ Người sử dụng có thể phải thanh toán một phần hoặc toàn bộ chi phí; tuy nhiên, trong mọi trường hợp, Nhà nước vẫn có trách nhiệm bảo đảm các dịch vụ này không nhằm mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận

Trang 24

Về lý thuyết, dịch vụ công là những dịch vụ có đặc tính không loại

trừ (nonexcludable) và không cạnh tranh (non-rival) trong tiêu dùng Không loại

trừ có nghĩa là tất cả mọi người đều có quyền sử dụng, tiêu dùng dịch vụ này, không loại trừ bất cứ ai, bất kể họ có trả tiền cho dịch vụ đó hay không Không cạnh tranh có nghĩa là việc sử dụng, tiêu dùng của người này không làm giảm đi hoặc ảnh hưởng đến việc sử dụng, tiêu dùng của những người khác; hay nói cách khác là dịch vụ đó khi được một người sử dụng hay nhiều người sử dụng cũng thế Trong trường hợp này, chi phí cận biên cho thêm một người sử dụng là bằng không; do đó không việc gì phải ngăn cản bất cứ ai tiêu dùng, sử dụng nó, và cũng chẳng phải phân chia, phân phối để làm gì

Theo cách quan niệm này, những dịch vụ có cả hai đặc tính trên là dịch vụ

công thuần khiết (pure public services), hay có thể gọi tắt là dịch vụ thuần công

Quốc phòng, đèn biển hoặc phòng chống dịch bệnh là những ví dụ điển hình cho loại dịch vụ thuần công này Đối với dịch vụ thuần công, tất cả mọi người đều được hưởng lợi, đều được tiêu dùng, sử dụng, bất kể họ có trả tiền hay không;

và cũng chẳng có ảnh hưởng gì nếu có thêm một hoặc nhiều người cùng sử dụng

Rõ ràng xã hội cần đến những dịch vụ thuần công như vậy Nhưng chỉ có Nhà nước mới cung ứng được loại dịch vụ này; vì đối với khu vực tư nhân thì việc cung ứng các dịch vụ đó vừa không thực thi vừa không kinh tế

Bên cạnh các dịch vụ thuần công còn có những dịch vụ công không thuần

khiết (impure or quasi-public services), hay gọi tắt là dịch vụ á công hoặc bán

công, đây là các dịch vụ không phải ai cũng tự nhiên được sử dụng, tiêu dùng và

việc sử dụng, tiêu dùng của người này cũng có thể làm ảnh hưởng ở mức độ nhất định đến việc sử dụng, tiêu dùng của người khác Đối với những dịch vụ á công, khu vực tư nhân cũng không muốn làm, phần vì không hiệu quả, phần vì bất tiện; chẳng hạn như sẽ phải tốn rất nhiều công sức để tổ chức thu phí hoặc lệ phí từ người sử dụng, tiêu dùng Điều đó giải thích vì sao thường thì Nhà nước chứ

Trang 25

không phải tư nhân đứng ra đảm nhiệm việc cung ứng các dịch vụ công như đường xá, cầu cống, công viên, thoát nước, an dưỡng, dịch vụ bảo vệ, bảo hiểm Ngoài hai nhóm dịch vụ thuần công và á công nêu trên đây còn có một nhóm

thứ ba cũng rất đáng chú ý, đó là các sản phẩm, dịch vụ khuyến dụng (merit goods

and) Xét về bản chất, mục tiêu của Nhà nước là phải tổ chức các chương trình

phúc lợi cho dân Chương trình đó được bao quát trên nhiều lĩnh vực cụ thể, như

y tế, giáo dục, xoá đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường, đường xá, cầu cống, thoát nước, bảo hiểm thất nghiệp, nhà trẻ, mẫu giáo, vệ sinh đô thị, thu gom và xử lý chất thải v.v Được gọi là dịch vụ công vì Nhà nước là bộ máy công quyền do người dân lập ra; ngân sách nhà nước do dân đóng thuế, một phần ngân sách dùng

để nuôi bộ máy công quyền, một phần dùng để thực hiện các phúc lợi xã hội, toàn thể dân chúng đều được hưởng

Trong thực tế ở Việt Nam, khái niệm dịch vụ công được hiểu theo nghĩa hẹp hơn so với quốc tế; tức là không bao gồm các chức năng công quyền, như lập pháp, hành pháp, tư pháp, an ninh, quốc phòng, ngoại giao Xét về phạm vi thì khái niệm dịch vụ công theo nghĩa rộng mà quốc tế thường dùng bao gồm hầu như toàn bộ khu vực hành chính - sự nghiệp (theo cách gọi thông dụng ở Việt Nam) Còn khái niệm dịch vụ công theo nghĩa hẹp mà Việt Nam đang dùng thì

có phạm vi gần trùng với khu vực sự nghiệp và những dịch vụ hành chính công

1.2.1.2 Phân loại dịch vụ công

Trong nội hàm khái niệm dịch vụ công theo nghĩa hẹp mà Việt Nam đang sử

dụng, có thể phân biệt ba nhóm dịch vụ chủ yếu Một là nhóm dịch vụ hành chính

công; các dịch vụ thuộc nhóm này hầu hết là dịch vụ thuần công hoặc dịch vụ

khuyến dụng thoả mãn ở mức độ nhất định cả hai tiêu chí của dịch vụ công là không cạnh tranh và không loại trừ trong tiêu dùng (ví dụ: cấp phép, đăng ký,

đăng kiểm, công chứng ) Hai là, nhóm dịch vụ công cộng bao gồm những dịch

Trang 26

vụ công không thuần tuý, phần lớn chỉ thoả mãn tiêu chí không cạnh tranh trong

tiêu dùng (ví dụ: giáo dục, đào tạo, y tế, văn hoá ) Ba là, nhóm dịch vụ

công ích bao gồm những dịch vụ công không thuần tuý, phần lớn chỉ thoả mãn

tiêu chí không loại trừ trong tiêu dùng (ví dụ: vệ sinh môi trường, cấp thoát nước, giao thông công cộng )

Xem xét từ giác độ đối tượng phục vụ của dvc, sự phân biệt của ba nhóm

này còn thể hiện ở chỗ: Thuộc nhóm dịch vụ hành chính công phần lớn là dịch vụ

hành chính; thuộc nhóm dịch vụ công cộng phần lớn là dịch vụ xã hội; còn

thuộc nhóm dịch vụ công ích thì phần lớn là dịch vụ dân sinh, dịch vụ kinh tế

Xét theo giác độ vai trò nhà nước và vai trò thị trường, có thể thấy nhóm dịch vụ công cộng phân biệt với các nhóm dịch vụ công khác ở tính thị trường, theo hàm ý ít thị trường hơn so với nhóm dịch vụ hành chính công, nhưng lại nhiều thị trường hơn so với nhóm dịch vụ công ích

Cần thiết phải có sự phân loại đúng đắn các hình thức dịch vụ công để hình thành cơ chế quản lý phù hợp Ví dụ như đối với các loại hình dịch vụ công quan trọng nhất, thiết yếu nhất như y tế, giáo dục, cơ sở hạ tầng, xóa đói giảm nghèo…, nhà nước có trách nhiệm dành cho chúng những nguồn lực ưu tiên Dịch vụ công có thể phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau, xét theo tính chất của dịch vụ, hoặc theo các hình thức dịch vụ cụ thể,… Ví dụ xét theo tiêu chí chủ thể cung ứng, dịch vụ công được chia thành ba loại, như sau:

- Dịch vụ công do CQNN trực tiếp cung cấp: Đó là những dịch vụ công cộng

cơ bản do các cơ quan của nhà nước cung cấp Ví dụ, an ninh, giáo dục phổ thông, chăm sóc y tế công cộng, bảo trợ xã hội

- Dịch vụ công do các tổ chức phi chính phủ và khu vực tư nhân cung

cấp: Gồm những dịch vụ mà nhà nước có trách nhiệm cung cấp, nhưng không

trực tiếp thực hiện mà uỷ nhiệm cho tổ chức phi chính phủ và tư nhân thực hiện,

Trang 27

dưới sự đôn đốc, giám sát của nhà nước Ví dụ các công trình công cộng do chính phủ gọi thầu có thể do các công ty tư nhân đấu thầu xây dựng

- Dịch vụ công do tổ chức nhà nước, tổ chức phi chính phủ, tổ chức tư nhân

phối hợp thực hiện: Loại hình cung ứng dịch vụ này ngày càng trở nên phổ biến ở

nhiều nước Như ở Trung Quốc, việc thiết lập hệ thống bảo vệ trật tự ở các khu dân cư là do cơ quan công an, tổ chức dịch vụ khu phố và ủy ban khu phố phối hợp thực hiện

Dựa vào tính chất và tác dụng của dịch vụ được cung ứng, có thể chia dịch

vụ công thành các loại như sau:

- Dịch vụ hành chính công: Đây là loại dịch vụ gắn liền với chức năng

QLNN nhằm đáp ứng yêu cầu của người dân Do vậy cho đến nay đối tượng cung ứng duy nhất các dịch vụ công này là cơ quan công quyền hay các cơ quan do nhà nước thành lập được ủy quyền thực hiện cung ứng dịch vụ hành chính công Đây

là một phần trong chức năng QLNN Để thực hiện chức năng này, nhà nước phải tiến hành những hoạt động phục vụ trực tiếp như cấp giấy phép, giấy chứng nhận, đăng ký, công chứng, thị thực, hộ tịch,… (ở một số nước dịch vụ hành chính công được coi là một loại hoạt động riêng, không nằm trong phạm vi dịch vụ công Ở nước ta, một số nhà nghiên cứu cùng có quan điểm như vậy) Người dân được hưởng những dịch vụ này không theo quan hệ cung cầu, ngang giá trên thị trường, mà thông qua việc đóng lệ phí hoặc phí cho các cơ quan HCNN Phần lệ phí này mang tính chất hỗ trợ cho ngân sách nhà nước

- Dịch vụ sự nghiệp công: Bao gồm các hoạt động cung cấp phúc lợi xã hội

thiết yếu cho người dân như giáo dục, văn hóa, khoa học, chăm sóc sức khoẻ, thể dục thể thao, bảo hiểm, an sinh xã hội,…(Sự nghiệp là một từ gốc Trung quốc, được dùng theo nhiều nghĩa Theo nghĩa hẹp, từ "sự nghiệp" dùng để chỉ những hoạt động chuyên môn nhằm đáp ứng những nhu cầu của xã hội và cá nhân con

Trang 28

người, chủ yếu là về những lĩnh vực liên quan đến sự phát triển con người về văn hoá, tinh thần và thể chất) Xu hướng chung hiện nay trên thế giới là nhà nước chỉ thực hiện những dịch vụ công nào mà xã hội không thể làm được hoặc không muốn làm, nên nhà nước đã chuyển giao một phần việc cung ứng loại dịch vụ công này cho khu vực tư nhân và các tổ chức xã hội

- Dịch vụ công ích: Là các hoạt động cung cấp các hàng hoá, dịch vụ cơ bản,

thiết yếu cho người dân và cộng đồng như: vệ sinh môi trường, xử lý rác thải, cấp nước sạch, vận tải công cộng đô thị, phòng chống thiên tai chủ yếu do các doanh nghiệp nhà nước thực hiện Có một số hoạt động ở địa bàn cơ sở do khu vực tư nhân đứng ra đảm nhiệm như vệ sinh môi trường, thu gom vận chuyên rác thải ở một số đô thị nhỏ, cung ứng nước sạch ở một số vùng nông thôn…Về tác dụng của việc cung ứng dịch vụ công, chúng ta có thể lấy thí dụ trong lĩnh vực hành chính công Hành chính công có liên quan đến mức độ thoả mãn các nhu cầu công cộng của xã hội, liên quan đến tiến bộ kinh tế, xã hội của một quốc gia Theo các nhà nghiên cứu Trung Quốc, tác dụng của hành chính công chủ yếu

là tác dụng dẫn đường, tác dụng quản chế, tác dụng phục vụ và tác dụng giúp đỡ Nói về tác dụng quản chế, tức là nhà nước phát huy năng lực quản lý công cộng mang tính quyền uy, cưỡng chế để xứ lý, điều hòa các quan hệ xã hội và lợi ích

xã hội, đảm bảo cho xã hội vận hành tốt ; còn về tác dụng giúp đỡ, đó chính là sự giúp đỡ của nhà nước đối với các địa phương nghèo, những người có hoàn cảnh khó khăn, như giúp đỡ người nghèo, cứu tế xã hội, phúc lợi xã hội, bảo hiểm xã hội, y tế, Việc cung ứng dịch vụ hành chính công còn có tác dụng trực tiếp đến

sự phát triển KT-XH của đất nước Khi cung cấp các dịch vụ này, nhà nước sử dụng quyền lực công để tạo ra dịch vụ như cấp các loại giấy phép, đăng ký, chứng thực, thị thực Tuy xét về mặt hình thức, sản phẩm của các dịch vụ này chỉ là các loại văn bản giấy tờ, nhưng chúng lại có tác dụng chi phối quan trọng đến các hoạt động KT-XH của đất nước Chẳng hạn, giấy đăng ký kinh doanh của

Trang 29

doanh nghiệp thể hiện việc nhà nước công nhận doanh nghiệp đó ra đời và đi vào hoạt động, điều này dẫn đến những tác động và kết quả đáng kể về mặt KT-XH Ngoài ra, thông qua việc cung ứng dịch vụ công, nhà nước sử dụng quyền lực của mình để đảm bảo quyền dân chủ và các quyền hợp pháp khác của công dân

1.2.2 Đặc điểm và phân loại dịch vụ công cộng đô thị

1.2.2.1 Đặc điểm dịch vụ công cộng đô thị

Dịch vụ công cộng đô thị là một dạng của dịch vụ nên nó cũng mang những

đặc điểm của dịch vụ công là: có tính chất xã hội cao, có mục tiêu là phục vụ lợi

ích cộng đồng, không phân biệt giai cấp, địa vị xã hội, công bằng và có tính quần

chúng rộng rãi Vì vậy, tính kinh tế, lợi nhuận trong cơ chế thị trường không phải

là điều kiện cần có của hoạt động dịch vụ công Việc trao đổi dịch vụ công không thông qua hoặc không bao hàm quan hệ thị trường đầy đủ Cũng có những dịch

vụ công, người sử dụng phải trả một phần hay toàn bộ kinh phí mà nhà nước vẫn

có trách nhiệm cung cấp các dịch vụ này không nhằm mục tiêu lợi nhuận (như pháp luật, an ninh, quốc phòng, cấp các loại giấy tờ bảo đảm quyền sở hữu và các lợi ích khác của dân)

Thị trường dịch vụ công cộng rất khác với thị trường dịch vụ cá nhân về phương thức vận hành, do hàng hóa công cộng mà thị trường này cung ứng rất khác với hàng hóa dịch vụ cá nhân

Dịch vụ công ích trong đô thị bao gồm các dịch vụ hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội Dịch vụ hạ tầng kỹ thuật, còn gọi là dịch vụ thị chính, bao gồm các dịch vụ gắn liền với hạ tầng kỹ thuật đô thị như vận tải công cộng, cấp điện, viễn

thông, cấp thoát nước, thu gom rác…Chúng thường được cung ứng theo mạng

lưới (network) Còn dịch vụ hạ tầng xã hội như giáo dục y tế, văn hóa, thể thao…

thì gắn với các tiện ích (facilities) riêng rẽ như nhà trường, bệnh viện, rạp hát, sân

Trang 30

vận động…Vị trí của các tiện ích này có ý nghĩa quan trọng trong không gian đô thị

Thị trường dịch vụ công cộng đô thị cung ứng cho cộng đồng những hàng

hóa công cộng thiết yếu cho đời sống vật chất và tinh thần Đặc điểm của thị trường này phụ thuộc vào đặc điểm của hàng hóa công cộng thiết yếu, bao gồm hàng hóa công cộng thuần túy và không thuần túy, chứ không phải phụ thuộc vào việc kinh doanh chúng có lãi hay không có lãi nếu theo cơ chế thị trường (như cách định nghĩa dịch vụ công ích theo Luật Doanh nghiệp nước ta!) Vì là dịch vụ công cộng thiết yếu (basic services) nên dù do ai cung ứng thì chính quyền đô thị cũng phải kiểm soát giá cả và chịu trách nhiệm trước nhân dân về sự cung ứng kịp thời hàng hóa đó với số lượng và chất lượng theo đúng quy định của chính quyền Trong các dịch vụ thiết yếu đó còn có một bộ phận được gọi là hàng hóa khuyến dụng, với ý nghĩa là mọi người dân dù có thu nhập ít đến mấy cũng có quyền được hưởng dụng chúng, chẳng hạn nước sạch, giáo dục tiểu học hay tiêm chủng…, vì vậy chính quyền phải có chính sách để cung ứng chúng cho người nghèo

Dù dịch vụ công ích là hàng hóa đặc thù nhưng việc cung ứng chúng cách này hay cách khác cũng gắn với cơ chế thị trường, chẳng hạn doanh nghiệp phải

có quyền tự chủ quản lý và phải hạch toán giá thành sản xuất, chính quyền phải xúc tiến cạnh tranh bằng cách tổ chức đấu thầu để lựa chọn nhà thầu thiết kế, xây dựng tiện ích, và nhà thầu sản xuất dịch vụ hoặc bên quản lý vận hành tiện ích…,

vì vậy mà vẫn hình thành thị trường dịch vụ công ích Các chủ thể chính của thị trường này là chính quyền địa phương cùng các bên tiêu thụ và bên cung ứng

Vì dịch vụ công cộng là bộ phận chủ yếu của ngành dịch vụ cho nên có vai trò quan trọng trong kinh tế đô thị hiện đại Dịch vụ cá nhân trong đô thị tăng trưởng là do thu nhập bình quân của người dân đô thị tăng lên nhờ đô thị ngày

Trang 31

càng phồn vinh hơn, mà sự phồn vinh của đô thị lại phụ thuộc nhiều vào năng lực cạnh tranh của đô thị, trong đó có năng lực cung ứng các dịch vụ công ích như hệ thống hè đường và vận tải công cộng, chiếu sáng công cộng, cấp thoát nước và thu gom rác, công viên cây xanh v.v Như vậy dịch vụ công cộng và sự phồn vinh của đô thị có quan hệ qua lại với nhau rất mật thiêt, mặt này vừa là kết quả vừa là điều kiện cho sự phát triển của mặt kia Kinh tế dịch vụ thường chiếm vị trí hàng đầu trong GDP của phần lớn đô thị hiện đại, ngoại trừ các đô thị công nghiệp

1.2.2.2 Các loại dịch vụ công cộng đô thị

- Dịch vụ vận tải công cộng tại các đô thị: Bao gồm vận tải hành khách công cộng, đặc biệt là các phương thức vận tải hành khách công cộng khối lượng lớn như gồm tàu điện mặt đất, đường sắt trên cao, tàu điện ngầm

- Dịch vụ quản lý công viên, trồng và quản lý chăm sóc cây xanh, hoa

cảnh, Bao gồm việc quản lý các công viên cây xanh, trồng các loại cây cảnh, cắt

tỉa, uốn sửa, tạo dáng cây cảnh, bồn hoa, cây đường viền, thảm cỏ, Cắt cỏ, làm sạch cỏ, tưới nước, bón phân, phun thuốc trừ sâu cho cây được tươi tốt, phát triển cây xanh sử dụng công cộng đô thị nhằm mục đích phục vụ lợi ích công cộng

- Dịch vụ cấp, thoát nước đô thị: Dịch vụ cấp nước là khai thác, sản xuất và

cung cấp nước sạch không phụ thuộc vào địa giới hành chính Ưu tiên khai thác các nguồn nước để cấp nước cho mục đích sinh hoạt của cộng đồng

Dịch vụ thoát nước là hoạt động quản lý, vận hành hệ thống thoát nước nhằm đáp ứng yêu cầu thoát nước mưa, nước thải và xử lý nước thải của các đối tượng có nhu cầu thoát nước theo các quy định của pháp luật

- Dịch vụ cấp điện, chiếu sáng đô thị Hoạt động chiếu sáng đô thị bao gồm:

quy hoạch, đầu tư phát triển và tổ chức chiếu sáng đô thị; quản lý và vận hành hệ thống chiếu sáng công cộng đô thị Chiếu sáng đô thị bao gồm: chiếu sáng các công trình giao thông; chiếu sáng không gian công cộng; chiếu sáng mặt ngoài

Trang 32

công trình; chiếu sáng quảng cáo, trang trí và chiếu sáng khu vực phục vụ lễ hội; chiếu sáng trong khuôn viên công trình do các tổ chức, cá nhân sở hữu, quản lý

và sử dụng Hệ thống chiếu sáng công cộng đô thị bao gồm chiếu sáng các công trình giao thông, chiếu sáng không gian công cộng trong đô thị Quản lý, vận hành hệ thống chiếu sáng công cộng đô thị là những hoạt động về đầu tư, nâng cấp, cải tạo, duy trì, bảo dưỡng, phát triển hệ thống chiếu sáng công cộng đô thị

- Dịch vụ thu gom, phân loại, xử lý chất thải rắn, vệ sinh công cộng,… Dịch

vụ phục vụ công cộng về vệ sinh, thoát nước đường phố và khu dân cư cung cấp cho tổ chức, cá nhân (kể cả tổ chức, cá nhân trong và ngoài khu công nghiệp) bao gồm các hoạt động thu, dọn, vận chuyển, xử lý rác và chất phế thải; thoát nước,

xử lý nước thải; bơm hút, vận chuyển và xử lý phân bùn, bể phốt; thông tắc công trình vệ sinh, hệ thống thoát nước thải; quét dọn nhà vệ sinh công cộng; duy trì vệ sinh tại các nhà vệ sinh lưu động và thu gom, vận chuyển xử lý chất thải khác Trong đó, thu gom chất thải rắn là hoạt động tập hợp, phân loại, đóng gói và lưu giữ tạm thời chất thải rắn tại nhiều điểm thu gom tới địa điểm hoặc cơ sở được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận Lưu giữ chất thải rắn là việc giữ chất thải rắn trong một khoảng thời gian nhất định ở nơi được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận trước khi vận chuyển đến cơ sở xử lý

Vận chuyển chất thải rắn là quá trình chuyên chở chất thải rắn từ nơi phát sinh, thu gom, lưu giữ, trung chuyển đến nơi xử lý, tái chế, tái sử dụng hoặc bãi chôn lấp cuối cùng Xử lý chất thải rắn là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật làm giảm, loại bỏ, tiêu hủy các thành phần có hại hoặc không có ích trong chất thải rắn; thu hồi, tái chế, tái sử dụng lại các thành phần có ích trong chất thải rắn

Trang 33

1.2.3 Sự hình thành quan điểm xã hội hóa dịch vụ công cộng đô thị

Ở Việt Nam, các hoạt động do các cơ quan nhà nước thực hiện, cung cấp cho các nhu cầu thiết yếu của xã hội, của cộng đồng dân cư: giao thông, quét rác, vận chuyển rác, xử lý rác, cung cấp nước sạch, trồng và chăm sóc cây xanh…Lâu nay được nhìn nhận như là trách nhiệm đương nhiên của Nhà nước và Nhà nước

là chủ thể duy nhất thực hiện các hoạt động trên và đương nhiên được xã hội công nhận và tin tưởng

Từ những năm 1986, khi Đảng và Nhà nước Việt Nam bắt đầu chủ chương phát triển nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa, hàng loạt vấn đề liên quan đến vai trò của nhà nước, cách thức đổi với các tổ chức hoạt động của nền hành chính, mối quan hệ giữa nhà nước với các tổ chức, các thành phần kinh

tế và công dân trong xã hội đang được xem xét, tiếp cận lại theo nguyên tắc mới cho phù hợp với đặc điểm và nguyên tắc vận hành mới Khái niệm dịch vụ công xuất hiện như là một cách tiếp cận lạo về các hoạt động do Nhà nước thực hiện thông qua bộ máy các cơ quan công quyền và các doanh nghiệp Nhà nước trong bối cảnh mới; đặc biệt là bối cảnh khi đất nước ta gia nhập tổ chức thương mại quốc tế WTO từ năm 2007 đến nay; vận hành theo nguyên tắc thị trường có sự điều tiết của Nhà nước có tác động của lộ trình thực hiện các cam kết, định chế quốc tế mà Việt Nam tham gia trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới

Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm “Dịch vụ công”, song tựu chung các định nghĩa về dịch vụ công đều đề cập đến các vấn đề sau:

Dịch vụ công là những hoạt động phục vụ các lợi ích chung thiết yếu, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của người dân Trong đó có những dịch vụ phục vụ nhu cầu thiết yếu của người dân như các nhu cầu về y tế, giáo dục, cấp nước, về an sinh xã hội…; có những nhu cầu phục vụ lợi ích công cộng (lợi ích chung của cộng đồng ) như dịch vụ vệ sinh môi trường, dịch vụ đô thị (văn hóa, quy hoạch,

Trang 34

an toàn xã hội….) do nhà nước trực tiếp đảm nhiệm (thông qua hệ thống các cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp nhà nước) hay ủy quyền cho các tổ chức ngoài Nhà nước thực hiện (thông qua các hình thức giao khoán, ký hợp đồng, đấu thầu) nhằm đảm bảo trật tự và công bằng xã hội Qua đó thấy rằng nguồn lực tài chính cho các dịch vụ công, về cơ bản là từ nguồn của ngân sách của Nhà nước; tức là

sự đóng góp của toàn xã hội cho các hoạt động cung ứng dịch vụ công Có nghĩa

là “Dịch vụ công” mang bản chất là quy luật cung – cấp giữa một bên là Nhà nước, với vai trò là “Nhà cung ứng dịch vụ” với một bên là công dân, các tổ chức

xã hội với tư cách là “Khách hàng” sử dụng dịch vụ

Do đó, việc xác định khái niệm “xã hội hoá” có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc hoạch định chủ trương xã hội hoá và cơ chế gắn liền với chủ trương ấy (cũng có thể gọi là cơ chế xã hội hoá) trong việc cung ứng và hưởng thụ dịch vụ công ở nước ta Mặc dù “xã hội hoá” thường được nói đến với các ý nghĩa khác nhau trên các phương tiện thông tin đại chúng thời gian qua, song khi điểm qua chủ trương “xã hội hoá” cung ứng dịch vụ công ở nước ta từ nửa cuối những năm

1990 trở lại đây thì thấy rằng các cơ quan hoạch định chính sách cố gắng làm rõ khái niệm “xã hội hoá” theo những nội dung như trình bày trên đây

Trước hết, về thuật ngữ “xã hội hóa” Đi tìm trong các từ điển tiếng Việt, không tìm thấy cuốn từ điển nào giải nghĩa đầy đủ cho thuật ngữ“xã hội hoá” trên

tư cách là một thuật ngữ độc lập Tuy nhiên, chúng ta có thể tìm thấy những sự giải nghĩa thuật ngữ “xã hội hoá” khi nó được ghép với các thuật ngữ khác như:

“xã hội hoá sản xuất”; “xã hội hoá cá nhân”; “xã hội hoá hình thức”; “xã hội hoá thực tế”; “xã hội hoá thặng dư” Qua nghiên cứu các thuật ngữ trên có thể suy ra một cách khái quát rằng: “Xã hội hoá” một hoạt động nào đó chính là sự gia tăng tính chất “xã hội” của hoạt động ấy thông qua sự tham gia của nhiều chủ thể khác nhau trong xã hội dựa trên những điều kiện và trong khuôn khổ cơ chế nhất định Điều kiện và cơ chế cụ thể như thế nào là phụ thuộc vào bối cảnh của xã hội hoá

Trang 35

Những điều kiện và cơ chế đóng vai trò then chốt đối với sự thành công của xã hội hoá Chúng quy định hình thức, phương thức “tham gia” của các chủ thể khác nhau trong xã hội vào hoạt động được xã hội hoá Như vậy, điều kiện và cơ chế gắn với bối cảnh xã hội hoá sẽ quyết định ý nghĩa của “xã hội hoá” trong bối cảnh

ấy

Về thuật ngữ: “Xã hội hoá” cung ứng dịch vụ công Điều được xem xét ở đây là “cung ứng dịch vụ công” Từ “cung ứng” hiểu đầy đủ có nghĩa là cả sản xuất và phân phối Muốn thật rõ nghĩa, có thể viết: cung ứng và phân phối dịch vụ công (hoặc cung ứng và hưởng thụ dịch vụ công) Cung ứng dịch vụ công tức là hoạt động cung ứng các dịch vụ vốn được thực hiện bởi Nhà nước Như vậy, theo nghĩa chung nhất, “xã hội hoá” ở đây có nghĩa là mở rộng sự tham gia của các chủ thể kinh tế ngoài nhà nước vào việc cung ứng dịch vụ công Trước đây hoạt động cung ứng dịch vụ công chỉ do một mình Nhà nước đảm nhiệm thì nay nó được mở rộng cho sự tham gia của nhiều chủ thể kinh tế khác dựa trên điều kiện

và cơ chế nhất định Điều kiện và cơ chế thực hiện xã hội hoá như thế nào là tuỳ thuộc vào tình hình cụ thể của từng quốc gia Với cách tiếp cận như vậy, có thể hiểu khái niệm “xã hội hoá” áp dụng trong bối cảnh cung ứng dịch vụ công, được

đề cập nhiều trong các văn bản của Đảng và Nhà nước và trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời gian qua là:

- Quá trình vận động và tổ chức để nhân dân và toàn xã hội tham gia (về vốn, tài sản, sức lao động, trí tuệ ), hình thành cộng đồng trách nhiệm của các tổ chức Đảng, Nhà nước, đoàn thể, các tổ chức chính trị xã hội và các tầng lớp nhân dân Mỗi bên tham gia có thể có mục đích riêng của mình, tuy nhiên tất cả các bên đều hướng tới một mục đích chung quan trọng nhất là nâng cao hiệu quả của hoạt động cung ứng dịch vụ công, đáp ứng tốt hơn nhu cầu hưởng thụ dịch vụ của nhân dân Quá trình vận động nhân dân tham gia cũng có nghĩa là tạo ra các

Trang 36

phong trào lành mạnh sâu rộng trong xã hội như: học tập, tập luyện thể dục thể thao, rèn luyện thân thể, vệ sinh phòng dịch, xây dựng đời sống văn hoá mới

- Quá trình đa dạng hoá các hình thức hoạt động, mở ra cơ hội để mọi người chủđộng và bình đẳng tham gia Dịch vụ công không còn chỉ được cung ứng bởi Nhà nước nữa, mà được mở rộng cho sự tham gia của các tổ chức ngoài nhà nước với nhiều hình thức đa dạng, phong phú (có thể hoạt động độc lập, liên kết với Nhà nước hoặc quan hệ bạn hàng với Nhà nước) và bình đẳng

- Quá trình đa dạng hoá các nguồn đầu tư để thu hút, khai thác mọi tiềm năng trong xã hội Gắn với việc đa dạng hoá các hình thức hoạt động cung ứng dịch vụ công là quá trình đa dạng hoá các nguồn đầu tư trong xã hội Cùng với Nhà nước, các tổ chức ngoài nhà nước có thể bỏ vốn đầu tư vào hoạt động cung ứng dịch vụ công

- Xã hội hoá dịch vụ công bao gồm cả xã hội hoá việc cung ứng dịch vụ công, huy động toàn xã hội và thu hút cả đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực hoạt động này và cả xã hội hoá hưởng thụ dịch cụ công, thực hiện công bằng xã hội, bảo đảm cho mọi người dân được hưởng những dịch vụ công cơ bản, thiết yếu

Về xã hội hóa dịch vụ công cộng đô thị Đối với việc xã hội hóa dịch vụ

công cộng đô thị bắt nguồn từ sự hình thành và phát triển của của các đô thị Các

đô thị cận đại xuất hiện đồng thời với cuộc cách mạng công nghiệp bắt đầu từ năm 1784 với phát minh ra máy hơi nước tại Anh Kinh tế đô thị lúc đó dựa chủ yếu vào kinh tế công nghiệp, tuy vậy kinh tế dich vụ cũng bắt đầu phát triển để phục vụ cho việc tiêu thụ các sản phẩm công nghiệp

Các đô thị cận đại chuyển thành đô thị hiện đại từ sau Thế chiến II, tức là từ giữa Thế kỷ 20 đến ngày nay, với sự chiếm ưu thế của kinh tế dịch vụ trong kinh

tế đô thị

Trang 37

Vì dịch vụ công cộng là bộ phận chủ yếu của ngành dịch vụ cho nên có vai trò quan trọng trong kinh tế đô thị hiện đại Dịch vụ cá nhân trong đô thị tăng trưởng là do thu nhập bình quân của người dân đô thị tăng lên nhờ đô thị ngày càng phồn vinh hơn, mà sự phồn vinh của đô thị lại phụ thuộc nhiều vào năng lực cạnh tranh của đô thị, trong đó có năng lực cung ứng các dịch vụ công ích như hệ thống hè đường và vận tải công cộng, chiếu sáng công cộng, cấp thoát nước và thu gom rác, công viên cây xanh… Như vậy dịch vụ công cộng và sự phồn vinh của đô thị có quan hệ qua lại với nhau rất mật thiết, mặt này vừa là kết quả vừa là điều kiện cho sự phát triển của mặt kia Kinh tế dịch vụ thường chiếm vị trí hàng đầu trong GDP của phần lớn đô thị hiện đại, ngoại trừ các đô thị công nghiệp Khi xem xét vấn đề đầu tư phát triển dịch vụ công ích đô thị thì trước hết cần nghiên cứu vai trò mang tính truyền thống của chính quyền đô thị đối với cung ứng dịch vụ công ích Khi sinh sống ta ̣i đô thị thì ngay từ đầu đã phải hình thành một số dịch vụ công ích tối thiểu cần thiết để phục vụ cuộc sống và đảm bảo sức khỏe của cộng đồng sinh sống tập trung với mật độ cao, như cung ứng nước sạch, xây cống thoát nước mưa và nước thải, lát đường để khỏi lầy lội, thắp đèn đường ban đêm… Việc cung ứng các dịch vụ không thể thiếu nhưng lại không trực tiếp sinh lợi nhuâ ̣n nhưng viê ̣c đầu tư cho lĩnh vực này la ̣i cần chi phí lớn cho nên không thể do tư nhân đảm nhiệm Vì lợi ích chung nên chính quyền

đô thị xem chức trách đương nhiên của mình là phải cung ứng miễn phí cho dân rồi thu tiền thuế để trang trải Trên thực tế, khi đô thị càng phát triển thì mức sống người dân càng được nâng cao, nhu cầu về dịch vụ công ích càng rộng lớn và đa dạng do đó nhu cầu về cơ sở ha ̣ tầng để phu ̣c vu ̣ cho hoa ̣t đô ̣ng di ̣ch vu ̣ công ích càng lớn và đến lúc nào đó ngân sách đô thị không đáp ứng nổi, khiến chính quyền đô thị phải tìm cách thu phí đối với các dịch vụ để bù đắp phần nào cho ngân sách

Trang 38

Như vậy xã hội hóa dịch vụ công cộng đô thị chính là mở rộng sự tham gia của các thành phần kinh tế vào việc cung cấp các dịch vụ này

1.2.4 Sự cần thiết xã hội hóa dịch vụ công cộng đô thị trong bối cảnh Việt Nam gia nhập WTO

Sau khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO, những cam kết

về tự do hóa thương mại dịch vụ đã và đang được thực hiện theo lộ trình Mặc dù các dịch vụ công, trong đó có dịch vụ công cộng đô thị không nằm trong trong lộ trình cam kết mở cửa thị trường, nhưng nhu cầu của việc mở rộng và đa dạng hóa các nhà cung cấp dịch vụ công cộng đô thị để nâng cao chất lượng dịch vụ này ngày càng tăng do các nguyên nhân sau:

Thứ nhất, hội nhập quốc tế nói chung và hội nhập WTO nói riêng, Việt

Nam phải tiến hành những cải cách về thể chế để tận dụng những cơ hội mà quá trình hội nhập mang đến Bên cạnh đó, những điều kiện kinh tế mới, điều kiện thị trường và công nghệ mới đã và đang làm thay đổi tính chất của những thất bại của thị trường, đặt ra những vấn đề mới về phạm vi và mức độ can thiệp của nhà nước trong việc giải quyết việc xã hội hóa dịch vụ công cộng đô thị Ngày nay, một chính phủ không cần thiết phải can thiệp vào thị trường với tư cách là nhà cung cấp một hàng hóa hoặc dịch vụ công ích nào đó khi mà các cá nhân trong nước có thể tiếp cận với nhiều sự lựa chọn từ bên ngoài một cách dễ dàng hơn và với giá rẻ hơn

Đồng thời, việc chuyển giao một số dịch vụ công cho các cơ sở ngoài nhà nước sẽ tạo ra môi trường cạnh tranh, tạo điều kiện cho người tiêu dùng lựa chọn

và sử dụng những dịch vụ tốt nhất Qua đó, tổ chức ngoài Nhà nước có điều kiện

để khẳng định chính mình, đáp ứng nhu cầu tốt hơn và ngày càng cao của công dân Các tổ chức này luôn phải đổi mới quản lý, nâng cao hiệu quả để tồn tại và phát triển Trên thực tế, có nhiều dịch vụ công Nhà nước làm được, nhưng xét

Trang 39

chung thì tư nhân sẽ làm tốt hơn, tốc độ nhanh, trọn gói, gọn gàng, đội ngũ nhân viên làm việc nhiệt tình và thuận lợi hơn

Thứ hai, hội nhập WTO thúc đẩy sự mở cửa, đan xen và tuỳ thuộc lẫn nhau

giữa các nền kinh tế Quá trình này đang dẫn đến việc xem xét lại khái niệm và vai trò của nhà nước, vốn theo truyền thống dựa trên ba nguyên tắc cấu thành: chủ quyền, lãnh thổ và an ninh Sự phát triển nhanh chóng và sự bành trướng mạnh mẽ của các công ty xuyên quốc gia, sự vận động liên tục của các luồng tài chính, sức ép cạnh tranh, vai trò của các tổ chức phi chính phủ, cùng những quy tắc, luật lệ của các tổ chức chuyên cung cấp các dịch vụ công cộng đô thị quốc tế

và khu vực đang tạo ra những tác động, ảnh hưởng mạnh mẽ làm thay đổi vị thế

và vai trò của nhà nước trong cơ chế thực hiện xã hội hóa các dịch vụ công cộng

đô thị tại Việt Nam hiện nay

Bên cạnh đó, do yêu cầu phát triển chung của đời sống kinh tế xã hội: trong

sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ kỹ thuật, nền kinh tế thị trường và

xu hướng dân chủ hóa đời sống xã hội đã buộc Nhà nước một mặt nâng cao trách nhiệm quản lý xã hội, một mặt phải thu hút sự tham gia mạnh mẽ của người dân vào công tác quản lý nhà nước Đây là một động lực thúc đẩy tiến trình cải cảch hành chính nhằm tiến tới xây dựng một nền hành chính hiện đại, hướng tới hiệu quả phục vụ, đáp ứng nhu cầu của toàn xã hội và công dân Xã hội hóa dịch vụ công không chỉ diễn ra ở các nước đang phát triển mà hiện nay đó là một xu hướng tất yếu của các quốc gia trên thế giới

Thứ ba, hội nhập WTO cùng với yêu cầu phát triển kinh tế thị trường định

hướng XHXN Một đặc điểm quan trọng của nền kinh tế thị trường là hướng sự

chú ý tới khách hàng nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng, trong khi đó khu vực tư nhân là khu vực linh hoạt hơn khu vực nhà nước trong cung ứng dịch vụ

về thời gian, giá cả, phương thức thanh toán,… cũng như phương thức quản lý

Trang 40

như tuyển dụng, trả lương, huy động các nguồn tài chính,…Vì vậy, sự mở rộng

tham gia của các chủ thể khác ngoài nhà nước trong việc cung ứng dịch vụ công nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng của dịch vụ, thỏa mãn nhu cầu cao nhất của khách hàng Cùng với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của khu vực tư nhân

về phương diện kinh tế, những thành tựu khoa học công nghệ đã làm cho khu vực

tư nhân có thể tiếp nhận một số dịch vụ trước đây chỉ thuộc về nhà nước Ví dụ

kỹ thuật truyền hình cáp phát triển cho phép nắm được thời gian sử dụng của từng máy thu hình, hoặc qua thiết bị tự ghi có thể đo chính xác lượng sử dụng khí ga, điện, nước của từng hộ tiêu thụ (để thu tiền)

Nhà nước phải có những chuyển biến để giao một số lĩnh vực cung ứng dịch

vụ công cho khu vực ngoài nhà nước là vì điều đó sẽ giúp nhà nước giảm nhẹ được gánh nặng ngân sách, huy động được các nguồn lực của xã hội và hướng tới thực hiê ̣n viê ̣c ai là người sử du ̣ng di ̣ch vu ̣ thì người đó trả chi phí Lấy ví dụ trong lĩnh vực y tế, mặc dù ở hầu hết các nước, nhà nước đều đảm nhận vai trò to lớn trong cung ứng dịch vụ y tế vì đây là một loại hàng hóa công cộng rất đặc biệt, song nhà nước không thể là người cung ứng duy nhất các dịch vụ này do mức độ chi phí lớn của nó Theo một tài liệu khảo sát, chi tiêu cho chăm sóc y tế trong GDP nói chung đã tăng lên đáng kể trong giai đoạn từ 1965 đến 1983 với mức tăng ít nhất là 50%, trong đó có năm nước đạt mức tăng trên 70% Với mức tăng như vậy, ngân sách nhà nước khó mà chịu nổi và sự tham gia của khu vực tư nhân là tất yếu Ở Mỹ, tỷ lệ chi của nhà nước trong tổng chi tiêu chăm sóc sức khỏe đạt khoảng 40% mỗi năm kể từ 1974 đến nay Phần chi còn lại đến từ các nguồn kinh phí của tư nhân, các tổ chức xã hội hoặc tiền bảo hiểm

Để thực thi có hiệu quả các chức năng của nhà nước, các cơ quan công quyền phải linh hoạt, mềm dẻo để thích ứng với các điều kiện phức tạp và thay đổi nhanh Kinh nghiệm từ nhiều nước cho thấy, nếu nhà nước tự thân thực thi toàn bộ các chức năng của mình mà bỏ qua các nhân tố thị trường và xã hội thì sẽ

Ngày đăng: 13/06/2015, 14:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Trung Chính (2012), Bàn về tính tất yếu của xã hội hóa dịch vụ công cộng đô thị, Tạp chí Đô thị Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về tính tất yếu của xã hội hóa dịch vụ công cộng đô thị
Tác giả: Trần Trung Chính
Năm: 2012
2. Trần Ngọc Hiên (2012): Xã hội hóa dịch vụ công: Quan điểm tiếp cận và kinh nghiệm từ một số nước, đăng trên Tạp chí Cộng sản số tháng 6/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội hóa dịch vụ công: Quan điểm tiếp cận và kinh nghiệm từ một số nướ
Tác giả: Trần Ngọc Hiên
Năm: 2012
3. Học viện hành chính quốc gia (2005), giáo trình quản lý nhà nước về đô thị , Nxb Giáo dục, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: giáo trình quản lý nhà nước về đô thị
Tác giả: Học viện hành chính quốc gia
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
5. Nguyễn Xuân Lan (2012), Xã hội hóa và cung ứng dịch vụ công, Tạp chí Pháp Luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội hóa và cung ứng dịch vụ công
Tác giả: Nguyễn Xuân Lan
Năm: 2012
6. Phạm Sỹ Liêm (2008), Tổ chức và các giải pháp phát triển không gian dịch vụ công cộng tại các đô thị Việt Nam trong tương quan vùng đô thị, Đề tài Khoa học cấp Nhà nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức và các giải pháp phát triển không gian dịch vụ công cộng tại các đô thị Việt Nam trong tương quan vùng đô thị
Tác giả: Phạm Sỹ Liêm
Năm: 2008
9. Lê Chi Mai (2003), Về hình thức thực hiện xã hội hóa dịch vụ công, Tạp chí Hành chính Nhà nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về hình thức thực hiện xã hội hóa dịch vụ công
Tác giả: Lê Chi Mai
Năm: 2003
13. Hương Ngọc (2013), Phát triển dịch vụ công trong nền kinh tế thị trường, Tạp chí Hành chính Nhà nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển dịch vụ công trong nền kinh tế thị trường
Tác giả: Hương Ngọc
Năm: 2013
16. Chu Văn Thành (chủ biên) (2004) “Dịch vụ công và xã hội hoá dịch vụ công- Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Nxb. Chính trị quốc gia Hồ chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dịch vụ công và xã hội hoá dịch vụ công- Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia Hồ chí Minh
17. Trường Đại học kinh tế quốc dân (2003), Giáo trình quản lý đô thị, Nxb. thống kê, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản lý đô thị
Tác giả: Trường Đại học kinh tế quốc dân
Nhà XB: Nxb. thống kê
Năm: 2003
4. Hội thảo Dịch vụ công – Nhận thức và thực tiễn do Học viện Hành chính quốc gia tổ chức tháng 10/2001 Khác
10. Nghị quyết 90/NĐ-CP ngày 21/8/1997 của Chính phủ về phương hướng và chủ trương xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa Khác
11. Nghị định 73/1999/NĐ-CP ngày 19/8/1999 của Chính phủ về chính sách khuyến khích đối với hoạt động trong lĩnh vực y tế, giáo dục, văn hóa và thể thao Khác
12. Nghị quyết 05/2005/NQ-CP ngày 18/4/2005 của Chính phủ về đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và thể thao Khác
18. Từ điển Petit Larousse của Pháp xuất bản năm 1992 Khác
19. Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới và hội nhập (ĐH VI, VII, VIII, IX, X), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT - Xã hội hóa dịch vụ công cộng đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh Việt Nam gia nhập WTO
BẢNG CHỮ VIẾT TẮT (Trang 7)
1  Hình 3.1  Kinh phí cho công tác duy tu giao thông  52 - Xã hội hóa dịch vụ công cộng đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh Việt Nam gia nhập WTO
1 Hình 3.1 Kinh phí cho công tác duy tu giao thông 52 (Trang 9)
Bảng 3.1: Chi phi ́ chi cho di ̣ch vu ̣ công về duy tu giao thông - Xã hội hóa dịch vụ công cộng đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh Việt Nam gia nhập WTO
Bảng 3.1 Chi phi ́ chi cho di ̣ch vu ̣ công về duy tu giao thông (Trang 61)
Bảng 3.2: Chi phí cho công tác duy tu cầu - Xã hội hóa dịch vụ công cộng đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh Việt Nam gia nhập WTO
Bảng 3.2 Chi phí cho công tác duy tu cầu (Trang 62)
Bảng 3.3: Chi phí cho công tác duy tu đường - Xã hội hóa dịch vụ công cộng đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh Việt Nam gia nhập WTO
Bảng 3.3 Chi phí cho công tác duy tu đường (Trang 63)
Hình 3.5: Kinh phí cho dịch vụ vệ sinh môi trường - Xã hội hóa dịch vụ công cộng đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh Việt Nam gia nhập WTO
Hình 3.5 Kinh phí cho dịch vụ vệ sinh môi trường (Trang 67)
Bảng 3.6: Chi phi ́ chi cho dịch vụ công về vê ̣ sinh môi trường - Xã hội hóa dịch vụ công cộng đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh Việt Nam gia nhập WTO
Bảng 3.6 Chi phi ́ chi cho dịch vụ công về vê ̣ sinh môi trường (Trang 67)
Hình 3.6: Kinh phí cho duy trì hệ thống chiếu sáng và mức độ tăng trưởng - Xã hội hóa dịch vụ công cộng đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh Việt Nam gia nhập WTO
Hình 3.6 Kinh phí cho duy trì hệ thống chiếu sáng và mức độ tăng trưởng (Trang 69)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w