- Bởi vì độc tố trong nọc độc bọ cạp làm tăng cường kích thích điện, một phương pháp thay thế để điều trị bọ cạp chất kháng độc sẽ có thể giảm tính kích thích, đặc biệt trong hệ thống t
Trang 1WELLCOME TO GROUP 3
GVHD: Phạm Thị Đan Phượng Lớp: 53TP3
Chủ đề
TÍNH CHẤT VÀ Ảnh HƯỞNG CỦA ĐỘC TỐ TỰ NHIÊN VÀ NỌC ĐỘC
1
Trang 3b Zoanthids ( độc tố Palytoxin) c Hải quỳ
3 Độc tố của những loài không có xương sống ở biển
a Một số loài nhím biển(Chủ yếu là ở các IndoPacific)
Trang 4I NỌC ĐỘC VÀ ĐỘC TỐ ĐỘNG VẬT
1 Chất độc và nọc độc của động vật chân đốt
a Nọc độc bò cạp
Nọc độc bọ cạp chứa nhiều chất độc làm hủy hệ thần kinh
Những độc tố ảnh hưởng đến hệ thần kinh này chứa một lượng nhỏ protein, natri và cation kali
Bọ cạp nhanh chóng cố định con mồi, côn trùng, bằng cách tiêm một hỗn phức tạp của các peptide hoạt động trên các kênh natri và kali điện áp-gated, sau đó tạo ra điện thế hoạt động
Có hai loại độc là: α-scorpion scorpion và β-scorpion scorpion cả hai tăng cường
kích điện, làm các kênh natri vẫn mở cửa, khi điện thế của màng là
ở trạng thái nghỉ (khoảng 60-90 mV trên các bề mặt bên trong của màng tế bào)
4
Trang 5Antivenins (Chất kháng độc) có trong các bọ cạp nguy
hiểm nhất và cung cấp các phương pháp điều trị hiệu quả nhất
Bothriurid sống trong
Trang 6- Bởi vì độc tố trong nọc độc bọ cạp làm tăng cường
kích thích điện, một phương pháp thay thế để điều trị
bọ cạp chất kháng độc sẽ có thể giảm tính kích thích, đặc biệt trong hệ thống thần kinh ngoại biên (các
peptide không dễ dàng vượt qua hàng rào máu não) Điều này có thể đạt được ít nhất một phần bằng cách giảm synap đáp ứng màng ACh với nicotinic và
muscarinic thuốc đối kháng thụ thể Phương pháp điều trị tiềm năng có thể bổ sung việc sử dụng
6
Trang 7Cơ chế tác dụng độc:
-scorpion Các độc tố α-scorpion bất hoạt, do đó các kênh natri tự động
đóng mở quá trình khử cực màng (thời gian khoảng một phần nghìn giây) và khả năng hoạt động được chuyển thành một tín hiệu dài bất thường cỡ vài trăm mili giây Do đó, gây quá tải cho dẫn truyền thần kinh ở cuối dây thần kinh ngoại biên,
xương và cơ bắp làm co giật, liệt, và đôi khi tử vong
- Các độc tố β-scorpion có cơ chế khác nhau, tác động tới hệ thống thần kinh ngoại vi hyperexcitability bằng cách kích
thích các dây thần kinh và cơ bắp để tạo ra nhiều khả năng
hoạt động để đáp ứng với kích thích khử cực
7
Trang 8Triệu chứng nhiễm độc:
- Đối với hầu hết các loại bọ cạp, chỉ gây tổn thương tại chỗ bị chích
và có cảm giác đau rát bỏng, sưng nề, dị cảm tại chỗ
- Đối với các loài bọ cạp nguy hiểm như Centruroid, sau khi bị chích
xuất hiện các triệu chứng toàn thân như yếu cơ, mất ngủ, vã mồ hôi, nhìn đôi, rung giật nhãn cầu, nhãn cầu lang thang, tăng kích thích, máy cơ, người ưỡn cong, cường dương, vã mồ hôi, nói nhíu, nhịp nhanh, tăng huyết áp Đôi khi co giật, liệt cơ và ngừng thở
8
Vết bọ cạp cắn
Trang 9Phương pháp điều trị: Khi bị bọ cạp cắn cần làm sạch vết
thương, sát trùng tại vết chích bằng Povidine 10% hoặc cồn 700,chườm lạnh để giảm sưng Uống thuốc giảm đau như aspirin,
paracetamol và thuốc kháng histamin H1 làm dịu như
phenergan, chlorpheniram, diphenhydramin Đôi khi phải dùng tới orticosteroid, dapson để cải thiện tổn thương da
9
Trang 10b Nhện độc
Thường nhện chỉ độc với con mồi của
nó là côn trùng May mắn là, các thụ
thể của hệ thần kinh xương sống khác
nhau, nên chất độc của nhện chỉ ảnh
hưởng tới côn trùng, còn đối với con
người thì tác động rất nhỏ và hầu như
không có Nhưng nọc độc của nó lại rất
có hiệu quả với con mồi của nó vì con
mồi quá nhỏ.Tuy nhiên có một số con
nhện lại cực kì nguy hiểm
10
Nhện độc
I NỌC ĐỘC VÀ ĐỘC TỐ ĐỘNG VẬT
Trang 11Hai loại nhện có mặt trong khu vực các bang liền kề của Hoa Kỳ (contiguous United States), thường hay gặp hơn ở các bang miền Nam là nhện góa phụ đen và nhện nâu ẩn dật Cả hai loài này đều thích khí hậu ấm áp, những nơi tối, khô và có nhiều ruồi Chúng thường sống ở nơi khô, bừa bộn, không bị quấy nhiễu như tủ quần áo, đống gỗ và dưới những bồn rửa.
11
Trang 12I NỌC ĐỘC VÀ ĐỘC TỐ ĐỘNG VẬT
a Nhện độc góa phụ đen
Nhện góa phụ đen (Latrodectus) là loài xuất hiện trên toàn thế giới
Nọc độc của nó chủ yếu là độc thần kinh do có độc tố protein
cực mạnh được gọi là alpha – latrotoxin Protein này tăng
cường dẫn truyền xung thần kinh, cơn đau sẽ nhanh chóng lan tỏa khắp cơ thể
12
Nhện góa phụ đen
Trang 13Triệu chứng: Nạn nhân bị co giật kèm theo các triệu
chứng ra mồ hôi, tiết nước bọt, buồn nôn và tăng huyết
áp
Biện pháp điều trị: các triệu chứng như giãn cơ bắp dùng thuốc
diazepam, giảm các triệu chứng tiết mồ hôi, tiết nước bọt, tăng huyết áp, với muscarinic hoặc đối kháng adrenergic, tùy thuộc vào các triệu chứng
13
Nhện độc cắn
Trang 14góa phụ đen, vì nọc độc của nó
chủ yếu có chứa một loại
enzyme sphingomyelinase, gây
tổn thương mô Trong khi nọc
độc này là ít nguy hiểm hơn so
với nọc độc góa phụ đen, nó có
thể gây hoại tử diện tích lớn
xung quanh của các vết cắn
14
Nhện nâu
Trang 15Triệu chứng khi nhiễm độc:
Vết cắn gây đau châm chích nhẹ,
tiếp theo là gây đỏ tại chỗ và đau
dữ dội trong vòng tám giờ Những
buồn nôn và bơ phờ Hiếm có
trường hợp nào dẫn đến tử vong,
thường gặp ở trẻ em hơn.
15
Biến chứng khi bị nhện đốt
Trang 16Làm sạch vết thương bằng xà phòng Tới cơ sở y tế
Trang 17I NỌC ĐỘC VÀ ĐỘC TỐ ĐỘNG VẬT
c Nọc độc của ong
Nọc độc của ong đã được tìm thấy là một hỗn
hợp rất giàu các enzyme và các chất độc Các
enzyme chính quan trọng là phospholipase A,
có tác dụng với một peptide là chất tẩy rửa
mellitin để phá vỡ các phospholipid trong màng
tế bào, giải phóng các axit béo prolytic và
lysolecithin Trong khi mellitin có thể tự phá vỡ
màng tế bào, nó hoạt động nhờ sự có mặt của
các sản phẩm để phá vỡ phospholipid
17
Ong độc
Trang 18Cơ chế:
-scorpion Giống như nhiều nọc độc rắn, nọc ong cũng có chứa các enzyme
hyaluronidase, nó phá vỡ các mô liên kết và từ đó tạo điều kiện cho sự phát tán của nọc độc
- Nọc của ong cũng chứa hai chất độc peptide, apamin và tế bào mast degranulating peptide, lần lượt chặn các kênh kali canxi đặc hiệu và điện áp đặc hiệu
- Nọc ong bắp cày chủ yếu chứa các peptide nhỏ gọi là kinins , như bradykinin nội sinh của con người, có 3 tác động: kích thích dây thần kinh cảm giác gây viêm thần kinh, tăng tính thấm mao mạch và giãn cơ trơn mạch máu
18
Trang 19Biểu hiện khi bị ong đốt:
Nạn nhân rất đau buốt; vùng bị đốt sứng nề, tấy đỏ, phù cứng, vết đốt đỏ bầm sau chuyển màu đen, vùng da và mô mềm chung quanh phù nề nhanh chóng, nhất là khi bị đốt ở khu vực đầu, mặt,
cổ Các triệu chứng tiến triển nhanh và cũng giảm dần hoặc mất
đi hoàn toàn trong vòng 24 - 48h
19
Trang 20Biện pháp điều trị khi nhiễm độc:
Khi bị ong tấn công cần bình tĩnh và che đầu không để bị cắn, sau
đó dùng tay bới đất cát vung lên cao để xua đuổi( không dùng
cành cây hay quần áo để xua đuổi vì càng đuổi chúng càng tới
nhiều) Sau đó làm theo hai hướng sau:
-scorpion Theo y học hiện đại: lập tức nhổ kim ra hay dùng vật nhọn nhổ kim
ra.không dùng tay nặn sẽ vô tình làm túi độc lan tỏa và thấm sâu hơn vào cơ thể Rửa những vết chích bằng xà phòng hoặc dung
dịch sát trùng, dùng khăn lạnh hay túi nước đá chườm lên khoảng 15-20phút giúp giảm đau.không xối nước đá trực tiếp lên Bôi
calamin hoặc hồ bột natri lên vết thương để thấm hút độc và che kín vết thương Nếu nặng nên đưa đến bệnh viện nằm im không
cử động và cần thiết có thể tiêm huyết thanh kháng độc
20
Trang 21- Theo cổ truyền: nhổ kim chích và dùng cây cỏ chà xát lên vết
chích sẽ làm kết tủa với protein và sẽ giải độc
Dùng củ lá môn chà xát Nếu bị ong vàng đốt dùng đường đen hay giấm thoa lên Dùng bã trà còn ướt chà xát lên vết thương
để giảm đau Cũng có thể dùng lá rau sam hay hẹ giã nát đắp lên vết thương, gừng tươi cắt lát chà xát Đối với ong độc thì dùng
lá rau dền giặc nhuyễn xát vào vết đốt
21
Trang 22I NỌC ĐỘC VÀ ĐỘC TỐ ĐỘNG VẬT
d Kiến lửa
Kiến lửa (Solenopsis) khá phổ biến ở miền đông nam Hoa Kỳ, và nhiều người bị cắn mỗi năm
Cơ chế: Nọc độc có chứa alkaloids piperidin, đã được tìm thấy để
ngăn chặn các kênh ion receptor nicotinic
22
Trang 23mặt, run rẩy, buồn nôn,… thậm chí là các biểu hiện
nguy hiểm hơn nữa, có thể ảnh hưởng đến tính mạng
Do đó, trong trường hợp này thì nên đến bác sĩ để nhận được sự khám chữa và chăm sóc kịp thời
Biện pháp điều trị khi nhiễm độc: làm dịu vết cắn bằng nước
lạnh, dùng vôi ăn trầu hoặc vôi tôi đã để nguội rồi đắp lên vết
thương khoảng nửa tiếng rồi rửa sạch
23
Trang 24châm được gọi là nematocyst Các tế
bào này đều rất nhỏ và có độc Một số
loài sứa có đến hàng triệu nematocyst
trong xúc tu, được sử dụng khi sứa bắt
mồi và tự bảo vệ
24
Sứa Pelagia noctiluca
Trang 25- Loài sứa nguy hiểm nhất thế giới là
Chironex fleckeri, được tìm thấy dọc
theo bờ biển Úc.Người bơi lội đã bất
tỉnh chỉ trong vòng vài giây sau khi phát
hiện nhiều đốt của loài này Hầu hết các
loài sứa khác cũng có thể gây ra vết đốt
- Hầu hết các số liệu về các chất độc này
cho thấy rằng, chúng chủ yếu hoạt động
như pore-formers gây ra quá trình khử
các dây thần kinh, cơ bắp, và viêm
Sứa Chironex fleckeri
Trang 2626
Trang 27Triệu chứng nhiễm độc:
- Khi bị sứa cắn, các độc tố này sẽ ngấm qua da người xâm nhập vào cơ thể, nếu nhẹ, nạn nhân chỉ có phản ứng ngoài da, tại chỗ nổi rát, mẩn đỏ và ngứa nhiều Toàn thân chỉ cảm thấy khó chịu, không nên quá lo lắng
27
Mẩn đỏ xuất hiện trên vùng da bị cắn
Trang 28Ở thể nặng có thể gây đau đầu, tức ngực, tím tái, vã mồ
hôi, khó thở, buồn nôn, nôn khan, đau bụng và tiêu chảy
nhiều lần, mạch nhanh, nhỏ, huyết áp tụt
Biểu hiện lâm sàng khi bị sứa châm chia ra làm hai giai
đoạn:
- Giai đoạn sớm (7h đầu): vùng da tổn thương có màu đỏ,
đau rát như bị bỏng, sốt, thần kinh hoảng loạn
- Giai đoạn muộn (sau 7h-72h): vùng tổn thương có dịch
mủ màu vàng đục, loét rộng và sâu, sốt, sưng, đau hoạch
ngoại vi
28
Trang 29Biện pháp điều trị khi nhiễm độc:
Trang 30+ Sử dụng thuốc bôi tại chỗ để giảm ngứa, giảm sưng như
Diprosalic, Gentrison Nếu còn đau thì dùng thuốc an thần, thuốc giảm đau như: aspirin, eferalgan,…
- Giai đoạn muộn: Dùng gạc mềm lấy hết mủ ra, rửa bằng nước
muối sinh lý, oxy già, bentaclin hoặc các dug dịch sát khuẩn nhẹ,
sử dụng thuốc kháng sinh
30
Trang 31I NỌC ĐỘC VÀ ĐỘC TỐ ĐỘNG VẬT
b Zoanthids ( độc tố Palytoxin)
Zoanthids là tên gọi chỉ những vi sinh vật
sống ở các rạn san hô tổ ong và đá dưới đáy
biển Chúng mang trong mình chất độc tự
nhiên thuộc loại mạnh nhất thế giới -
palytoxin Qua nghiên cứu, một gram chất
độc này có thể giết chết tới hơn 100 triệu con
chuột.
Nguy hiểm hơn, các Zoanthids có khả năng
xâm nhiễm vào các loài thủy hải sản Điều đó
có nghĩa nếu ăn phải thịt của loài cá ăn nhiều
Zoanthids hoặc vô tình để Zoanthids xâm
nhiễm vào bể cá cảnh, nguy cơ bạn bị nhiễm
phải chất độc palytoxin là rất lớn.
31
Nọc độc Coelenterate
Trang 32Cơ chế:
Chất độc này, hoạt động bằng cách chuyển đổi các bơm natri-kali
vào một kênh ion Palytoxin sở hữu một độc tính mạnh mẽ, bởi vì nó
có tính chọn lọc có thể hoạt động trên màng tế bào Na+ , K -ATPase, kênh natri màng được mở và không thể được đóng lại Do đó, đẩy mạnh dòng Na+ , K+ vào dòng chảy, gây khử cực kéo dài, ảnh hưởng đến chứca năng tế bào, do đó gây ra một loạt các hiệu ứng độc dược, dẫn đến co thắt cơ tim
Triệu chứng khi nhiễm độc:
Khi vào cơ thể, chất này phát tác rất nhanh, phá vỡ cơ xương, làm
suy thận, trụy tim, cháy da, ngộ độc Nếu không được chữa trị kịp thời có thể dẫn đến tử vong
32
Trang 33
Biện pháp điều trị khi nhiễm độc:
Loại bỏ các xúc tu Khử trùng
bằng Clo hoạt tính (5.25% bột
hòa tan trong 1mol / L dung dịch
axit hydrochloric), hay
papaverine (thuốc giãn mạch cơ
trơn mạch máu) và isosorbide
dinitrate phun trược tiếp lên vết
thương, Đưa nạn nhân tới bệnh
viện ngay lập tức
33
Thuốc Papaverine
Trang 34I NỌC ĐỘC VÀ ĐỘC TỐ ĐỘNG VẬT
c Hải quỳ
Hải quỳ biển chiếm một loạt các
peptide và protein độc tố có ảnh hưởng
đến các kênh ion trong tế bào dễ bị
kích điện trong một cách tương tự như
bọ cạp
May mắn mà chỉ một tỷ lệ nhỏ các loài
hải quỳ chích con người khi họ đang
làm việc, có lẽ vì nematocysts hải quỳ
thường quá nhỏ để xâm nhập sâu vào
trong da Tuy nhiên, tốt nhất là không
tiếp xúc những sinh vật này với hai
bàn tay trần, một vài loài có thể gây ra
Trang 35I NỌC ĐỘC VÀ ĐỘC TỐ ĐỘNG VẬT
3 Độc tố của những loài không có xương sống ở biển
Những loài không có xương sống ít vận động hoặc di chuyển chậm, độc tố sẽ bảo vệ chúng trước những kẻ săn mồi, rất may chỉ có một lượng tương đối nhỏ các loài có hại cho con người.
a Một số loài nhím biển(Chủ yếu là ở các IndoPacific)
Có gai độc hoặc các cơ quan chứa độc như hoa gọi pedicellaria, bảo
vệ chúng trước những động vật ăn thịt nhỏ hoặc sinh vật có độc khác Gần đây, các độc tố viêm tính protein, co rút cơ đã được phân lập từ các pedicellaria.
35
Trang 36I NỌC ĐỘC VÀ ĐỘC TỐ ĐỘNG VẬT
b Bọt biển
Một số bọt biển, chẳng hạn
như miếng bọt biển nhảy lửa
Caribbean (Tedania nhạy lửa)
và các miếng bọt biển
nolitangere khi tiếp xúc với nó
dễ gây viêm da mãn tính, tác
động ngay lập tức; các thành
phần cấu tạo của những bọt
biển chưa được xác định
36
Bọt biển
Trang 37I NỘC ĐỘC VÀ ĐỘNG TỐ ĐỘNG VẬT
c Một số giun biển khá độc
Chúng gồm nhiều loại khác nhau, thuộc
phylum Annelida Các độc tố có trong vùng
biển Nhật Bản Lông giun thường được tìm
thấy trong các rạn san hô, gây ra vết đốt
khá khó chịu, mà có lẽ là do các chất độc
thoát ra bởi các lông giun còn dính trong da
Sử dụng làm mồi câu cá ở vùng New
Zealand, là giun máu Glycera dibranchiata Các
vòi "răng nanh" của giun khá lớn, tiêm độc
tố protein kích thích giải phóng dẫn truyền
thần kinh từ thiết bị đầu cuối dây thần
kinh và thường gây ra một số mô hoại tử
37
Giun biển
Trang 38Độc tố nhỏ, hoạt động trên các thụ thể đối kháng được bằng cách
sử dụng thuốc đối kháng nếu các chất độc là một chất chủ vận và ngược lại, phổ biến nhất khi dẫn truyền thần kinh có liên quan (ví
dụ, atropine có thể chống lại những hành động của độc tố nấm
muscarine) Khi thuốc giải độc không có tính cạnh tranh, nó có thể đối kháng về mặt ngộ độc sinh lý, dựa trên kiến thức của hệ
Trang 39II ĐỘC TỐ VÀ TRỊ NỌC ĐỘC
Tất nhiên, cơ sở điều trị hợp lý là sự hiểu biết sinh hóa và dược
lý của các thành phần hợp nhất Đối với một liệu pháp điều trị
hiệu quả, nó không chỉ dựa trên những kiến thức khoa học của các hoạt động riêng biệt của các thành phần nọc độc, mà còn phải dựa vào sự liên kết của nhiều thành phần
Tóm lại, một nọc độc thường thay đổi chứ không phải là chỉ là một chất độc hại duy nhất! các nghiên cứu độc tính cũng phải
được thực hiện với toàn bộ nọc độc cũng như các thành phần tinh chế của nó, nhằm phát hiện sự tương tác giữa các thành phần như nọc độc
39
Trang 40III CÁC ĐỘC TỐ DÙNG ĐỂ LÀM THUỐC
Bên cạnh việc phòng vệ và tấn công của các độc tố của sinh vậtq, một
số độc tố tự nhiên đang được sử dụng như công cụ hóa chất để nghiên cứu các vấn đề sinh hóa và làm nền tảng để tạo ra các loại thuốc mới Việc sử dụng các các độc tố và nọc độc như tác nhân điều trị không
phải là một điều mới mẻ, nhưng đúng hơn là một hoạt động mà có lẽ là như cũ như các loài giống người nguyên thủy nhất.
Trong thế kỷ XIX, phát triển thuốc dựa trên các sản phẩm tự nhiên đã được thực hiện Trong những năm gần đây, sự sẵn có của các ràng buộc chất phóng xạ và các kỹ thuật sinh học phân tử để điều tra thụ thuốc
trong ống nghiệm đã tiếp tục đẩy mạnh phát triển các loại thuốc từ tự nhiên Một số độc tố đã đề cập trong chương này được phục vụ mô hình như là phân tử cho thiết kế thuốc với cơ chế mới của hành động Ví dụ, các anabaseine độc worm đã được sửa đổi để loại bỏ hoạt động chủ vận nicotinic ngoại vi của nó, và kết quả là hợp chất, DMXB-anabaseine (còn được gọi là GTS-21), hiện đang được thử nghiệm lâm sàng của
con người như thuốc có thể một Alzheimer (Kem, 1995 ). 40