1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội của nghề nuôi cá mú chấm đen Epinephelus malabaricus (Bloch & Schneider,1801) thương phẩm tại Khánh Hòa

92 632 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG LÂM THỊ PHƯƠNG OANH ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ, XÃ HỘI CỦA NGHỀ NUÔI CÁ MÚ CHẤM ĐEN Epinephelus malabaricus Bloch & Schneider, 1801 THƯƠNG PHẨM TẠI TỈNH KHÁNH

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

LÂM THỊ PHƯƠNG OANH

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ, XÃ HỘI CỦA NGHỀ NUÔI

CÁ MÚ CHẤM ĐEN Epinephelus malabaricus (Bloch &

Schneider, 1801) THƯƠNG PHẨM TẠI TỈNH KHÁNH HÒA

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Khánh Hòa – 2015

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

LÂM THỊ PHƯƠNG OANH

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ, XÃ HỘI CỦA NGHỀ NUÔI CÁ

MÚ CHẤM ĐEN Epinephelus malabaricus (Bloch & Schneider, 1801)

THƯƠNG PHẨM TẠI TỈNH KHÁNH HÒA

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của bản thân với sự giúp

đỡ của giáo viên hướng dẫn Các thông tin, số liệu và kết quả sử dụng trong luận văn

là trung thực và khách quan do chính tác giả thu thập và phân tích Các kết quả này chưa được sử dụng để bảo vệ một báo cáo hay một công trình nghiên cứu khoa học nào khác

Nha Trang, tháng 11 năm 2014

Học viên cao học

Lâm Thị Phương Oanh

Trang 4

LỜI CÁM ƠN

Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn vô cùng sâu sắc đến quí Thầy (Cô) giáo trường Đại học Nha Trang, nhất là các cán bộ và giảng viên Khoa Kinh tế, Khoa Sau đại học đã tạo điều kiện và giúp đỡ cho tôi hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp này Đặc biệt tôi xin trân trọng cảm ơn giảng viên hướng dẫn – TS Quách Thị Khánh Ngọc đã hết lòng ủng hộ và tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp này

Tôi cũng xin trọng cảm ơn Cục thống kê tỉnh Khánh Hòa, Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Khánh Hòa, Hội nghề cá Khánh Hòa, Trung tâm khuyến ngư Khánh Hòa; Phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Cam Lâm, Phòng kinh

tế Thành phố Nha Trang, Thị xã Cam Ranh; và đặc biệt là các cơ sở nuôi cá mú thương phẩm đã quan tâm giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thu thập thông tin đầy đủ nhằm phục vụ tốt cho công tác nghiên cứu hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn bạn bè trong lớp cao học QTKD 2012-4 và gia đình

đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn cao học này

Trân trọng cảm ơn!

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CÁM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC BẢNG v

DANH MỤC CÁC HÌNH vii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 4

1.1 Cơ sở lý thuyết về hiệu quả kinh tế, xã hội và vận dụng trong NTTS 4

1.1.1 Khái niệm về hiệu quả 4

1.1.2 Các quan điểm truyền thống hiệu quả kinh tế - xã hội 4

1.1.3 Các quan điểm mới về hiệu quả kinh tế 5

1.1.4 Bản chất và tiêu chuẩn của hiệu quả kinh tế 6

1.1.5 Đánh giá hiệu quả kinh tế nghề nuôi cá mú thương phẩm 8

1.2 Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài 15

1.3 Mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sản lượng cá mú chấm đen 17

1.3.1 Cơ sở lý thuyết đề xuất mô hình 17

1.3.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất 19

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

2.1 Đặc điểm của địa bàn nghiên cứu 21

2.2 Tổng quan nuôi cá mú trên thế giới và ở Việt Nam 25

2.3 Sơ lược một vài đặc điểm sinh học của đối tượng nuôi 31

2.4 Quy trình nghiên cứu 35

2.5 Phương pháp thu thập số liệu 36

2.6 Phương pháp tổng hợp đánh giá các chỉ tiêu 36

2.7 Thiết kế bảng câu hỏi, điều tra sử dụng trong nghiên cứu 37

2.8 Thiết kế nghiên cứu 37

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 39

3.1 Hiện trạng nghề nuôi cá mú thương phẩm 39

3.1.1 Tuổi tác của chủ hộ nuôi cá mú thương phẩm 39

3.1.2 Thông tin về giới tính 39

Trang 6

3.1.3 Trình độ học vấn và chuyên môn của các chủ trại nuôi 39

3.1.4 Vốn chủ sở hữu và vốn vay: 41

3.1.5 Lao động và tiền lương bình quân: 42

3.1.6 Số năm kinh nghiệm của chủ hộ nuôi: 42

3.2 Hiệu quả kinh tế, xã hội nghề nuôi cá mú thương phẩm tại tỉnh Khánh Hòa 43

3.2.1 Vốn đầu tư xây dựng, mua sắm TSCĐ, máy móc thiết bị: 43

3.2.2 Các khoản chi phí cố định 45

3.2.3 Chi phí biến đổi 49

3.2.4 Doanh thu từ hoạt động nuôi cá mú thương phẩm 52

3.2.5 Lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận 53

3.2.6 Hiệu quả kinh tế nuôi cá mú trên 1 ha diện tích của vụ nuôi năm 2013 55

3.2.7 Đánh giá hiệu quả về mặt xã hội 57

3.3 Phân tích các nhân tố tác động đến sản lượng cá mú nuôi thương phẩm 58

3.3.1 Phân tích tương quan 60

3.3.2 Phân tích hồi qui 61

3.3.3 Kiểm định độ phù hợp của mô hình 64

3.3.4 Dò tìm các vi phạm giả định cần thiết 65

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 72

1 Kết luận 72

2 Một số khuyến nghị nhằm phát triển nghề nuôi cá mú tại khánh hòa 74

3 Hạn chế của đề tài 76

TÀI LIỆU THAM KHẢO 78

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1 1: Khung thời gian sử dụng tài sản 9

Bảng 2 1: Một số thông số cho ngành thủy sản toàn tỉnh Khánh Hòa 24

Bảng 2 2: Sản lượng thủy sản trong toàn tỉnh Khánh Hòa 24

Bảng 2 3: Sản lượng thủy sản nuôi trồng và sản lượng cá nuôi theo huyện, thị xã, thành phố 25

Bảng 3.1 Bảng thống kê tuổi của chủ cơ sở/trại nuôi 39

Bảng 3.2 Cơ cấu về giới tính của chủ cơ sở/trại nuôi 39

Bảng 3.3 Trình độ học vấn và chuyên môn của các chủ trại nuôi 40

Bảng 3.4 Mức độ tham khảo thông tin về kỹ thuật nuôi của chủ trại nuôi 41

Bảng 3.5 Vốn chủ sở hữu và vốn vay của các hộ tham gia nuôi cá mú thương phẩm 41

Bảng 3.6 Số lao động và tiền lương bình quân/tháng của lao động gia đình từng vùng 42

Bảng 3.7 Bảng thống kê kinh nghiệm của chủ hộ nuôi 42

Bảng 3.8 Vốn đầu tư mua sắm máy móc thiết bị phục vụ nuôi cá mú của các hộ 44

Bảng 3.9 Bảng phân bổ số lượng ao/lồng tại các khu vực khảo sát ở Khánh Hòa 45

Bảng 3.10 Bảng phân bổ chi phí khấu hao theo khoản mục đầu tư 47

Bảng 3.11 Chi phí tiền lương của các hộ nuôi cá mú thương phẩm/vụ 48

Bảng 3.12 Tiền vay của các hộ nuôi của vụ nuôi năm 2013 49

Bảng 3.13 Chi phí biến đổi trong nuôi cá mú của các hộ nuôi 50

Bảng 3.14 Tổng hợp chi phí của vụ nuôi của các hộ nuôi tại Khánh Hòa năm 2013 51

Bảng 3.15 Tổng hợp chi phí, giá thành của các vùng nuôi cho các vụ nuôi 51

Bảng 3.16 Doanh thu nuôi cá mú thương phẩm của các vùng nghiên cứu của vụ nuôi năm 2013 52

Bảng 3.17 Lợi nhuận nuôi cá mú thương phẩm của các vùng nghiên cứu vụ nuôi năm 2013 53

Bảng 3.18 Cơ cấu vốn của các hộ nuôi 54

Bảng 3.19 Tỷ suất lợi nhuận bình quân trên vốn chủ sở hữu của các hộ nuôi theo vùng 54

Bảng 3.20 Tổng hợp một số chỉ tiêu hiệu quả kinh tế trên 1 ha mặt nước của hộ nuôi 56 Bảng 3.21 Tên biến và dấu kỳ vọng của các hệ số hồi qui mô hình của nghiên cứu sau khi điều chỉnh 60

Trang 8

Bảng 3.22 Ma trận tương quan 61

Bảng 3.23 Thủ tục chọn biến trong phân tích hồi qui OLS 62

Bảng 3.24 Mô hình tổng quát trong phân tích hồi qui 63

Bảng 3.25 Phân tích ANOVA của mô hình 64

Bảng 3.26 Các hệ số 68

Bảng 3.27 Các biến bị loại sau khi phân tích 70

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1 Sơ đồ khối mô hình các nhân tố tác động đến sản lượng cá mú nuôi thương

phẩm trong tại Khánh Hòa 19

Hình 2.1: Xu hướng sản lượng khai thác cá mú trên thế giới 26

Hình 2.2: Sản lượng cá mú khai thác theo quốc gia ở khu vực châu Á 27

Hình 2.3: Giá trị sản lượng cá mú nuôi theo quốc gia 27

Hình 2.4: Sản lượng cá mú nuôi theo quốc gia 28

Hình 2.5: Cá mú chấm đen Epinephelus malabaricus 33

Hình 2.6: Bản đồ phân bố của cá mú chấm đen Epinephelus malabaricus trên thế giới 34

Hình 2.7 Sơ đồ khối quy trình nghiên cứu 35

Hình 3.1: Mô hình nghiên cứu điều chỉnh 59

Hình 3.2: Đồ thị phân tán giữa các phần dư và giá trị dự doán chuẩn hóa 65

Hình 3.3: Biểu đồ Histogram (tần số) của phần dư chuẩn hóa 66

Hình 3.4: Biểu đồ phân phối tích lũy của phần dư 67

Trang 10

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CPCĐ: Chi phí cố định

ĐVT: Đơn vị tính

FAO: Food and Agriculture Organization of the United Nation – Tổ chức Nông

lương Liên hiệp quốc GTTB: Giá trị trung bình

HQKT: Hiệu quảkinh tế

NTTS: Nuôi trồng thủy sản

Trang 11

MỞ ĐẦU

Tính cấp thiết của đề tài

Theo dự đoán của FAO, mức tiêu thụ các sản phẩm thủy sản tính trên đầu người trung bình của cả thế giới sẽ tăng từ 16 kg/năm trong năm 1997 lên 19-20kg/người/năm trước năm 2030, để tổng sản lượng cá sử dụng cho nhu cầu thực phẩm lên 150-160 triệu tấn Vì sản lượng khai thác hàng năm của cá biển và các loại hải sản khác không thể vượt qua con số 100 triệu tấn (nếu muốn duy trì sản lượng này một cách lâu dài), phần gia tăng này chủ yếu là nhờ vào NTTS (Hoàng Tùng, 2001) Ngành NTTS thế giới tăng trưởng rất nhanh, từ sản lượng ít hơn 1 triệu tấn ở đầu những năm 1950, đã đạt đến 59,4 triệu tấn với giá trị 70,3 tỉ USD năm 2004; đạt 51,7 triệu tấn, 78,8 tỉ USD năm 2006; đạt 95,2 tỉ USD năm 2011 Riêng nghề nuôi cá biển trong năm 2011 đã đóng góp 4% vào tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản thế giới với 9% giá trị kim ngạch Trong thời gian 2005-2011, tốc độ tăng trưởng hàng năm của nghề nuôi cá biển là 9,6% Tại nước ta, rất nhiều mô hình NTTS ven biển đã được phát triển cho từng nhóm đối tượng có đặc tính phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của từng vùng Toàn quốc có 6 vùng nuôi chính: Trung du miền núi phía Bắc, Đồng bằng sông hồng, Bắc Trung Bộ, duyên hải miền Trung, Tây Nguyên, Đông Nam

Bộ và ĐBSCL Trong đó vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung là vùng trọng điểm phát triển NTTS ven biển Theo báo cáo của Tổng cục thủy sản, trong 10 năm qua (2001-2011), sản lượng NTTS đã tăng 4 lần – từ hơn 700 nghìn tấn lên khoảng 3 triệu tấn, với tốc độ tăng bình quân 15,7%/năm Trong đó, sản lượng NTTS ven biển (mặn, lợ) chiếm gần 30%, tính riêng sản lượng cá nuôi đạt được 2,255 triệu tấn trong năm 2011 và sơ bộ năm 2012 khoảng 2,402 triệu tấn (Niên giám thống kê, 2013)

Khánh Hòa là một một trong những tỉnh duyên hải miền trung có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển NTTS Sản lượng nuôi trồng thủy sản trên biển và nội địa

ở Khánh Hòa đã đạt 13,881 tấn năm 2006 và tăng lên 13,910 tấn năm 2011; trong đó sản lượng cá nuôi chiếm 1,396 tấn năm 2006 và tăng lên 3,501 tấn năm 2011 Trong

số các loài cá được nuôi ở khánh Hòa, thì cá mú là một trong những loài khá được quan tâm vì giá trị dinh dưỡng cũng như giá trị kinh tế cao mà nó mang lại

Họ cá mú (Serranidae) là một trong những họ có nhiều giống, loài có giá trị kinh

tế và phân bố rộng Ở những vùng có rạn san hô, rạn đá và cửa sông thường bắt gặp các

loài thuộc giống Epinephelus, Plectropomus và Cromileptes Phần lớn những loài cá

Trang 12

thuộc các giống này đều có giá trị cao trên thị trường cá tươi sống ở Singapore, Hồng Kông, Trung Quốc và Việt Nam Giá của chúng dao động từ 140.000 VNĐ/kg đối với

cá mú loài Epinephelus coioides, E malabaricus, E bleekeri và E merra và lên đến 840.000 VNĐ/kg đối với cá mú chuột Cromileptes altivelis Do giá cả cao và tiềm năng

lợi nhuận lớn nên việc phát triển nuôi cá mú được quan tâm nhiều trên thế giới, nhất là ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (Awang, 2002; Bunlipatanon, 2002; Chu, 2002; Liao và Leano, 2008; Rimmer, 2002; Sugama, 2002; Ukhin, 2002; Yongzhong, 2003)

Cá mú thường được nuôi trong các ao đìa, nhưng việc nuôi lồng ở biển hiện cũng rất phổ biến khắp khu vực Khánh Hòa là một tỉnh ven biển miền trung có tiềm năng đất và mặt nước có khả năng phát triển NTTS rất lớn Phát triển NTTS đặc biệt là NTTS mặn,

lợ được coi là hướng phát triển mũi nhọn để tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu nông nghiệp của tỉnh nhà NTTS trong thời gian qua thực sự đã đem lại nhiều lợi ích cho người dân và góp phần quan trọng phát triển kinh tế của tỉnh Với những lợi thế riêng biệt, nhất là từ khi có chính sách chuyển đổi cơ cấu sản xuất kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn, NTTS mặn lợ ven biển đã và đang đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với tỉnh Khánh Hòa Trong thời gian qua, các mô hình NTTS đã chuyển hóa rất nhanh cùng với quá trình phát triển của ngành NTTS Phương thức nuôi trồng đã chuyển từ nuôi quảng canh và quảng canh cải tiến sang nuôi bán thâm canh và thâm canh, nhằm tạo ra sản phẩm lớn phục vụ cho tiêu dùng và xuất khẩu Tuy nhiên, việc tiếp cận các phương thức nuôi trồng mới với mật độ nuôi cao, năng suất lớn, sử dụng nhiều năng lượng, chi phí và đầu tư cho phương thức nuôi này đã tạo ra sự mất cân bằng của hệ thống tự nhiên, tạo ra sự tổn thất sinh thái, ảnh hưởng nhiều đến môi trường Trong những năm gần đây nhiều người dân đã tự phát hình thức nuôi cá mú để thay thế cho con tôm sú tuy có những kết quả đáng kể nhưng việc nuôi tự phát không theo qui hoạch này ít nhiều đã ảnh hưởng đến ngành nuôi cá mú của tỉnh nhà Bên cạnh đó, muốn mở rộng diện tích nhiều hơn để nuôi cá mú, cũng cần tính toán lại nguồn thức ăn, nơi tiêu thụ ổn định, thì mới thật sự có lãi và cũng cần phải đánh giá đầy đủ về hiệu quả kinh tế, xã hội mà đối tượng nuôi này đem lại Có như vậy mới khuyến cáo người dân chuyển nhanh số diện tích tôm bị dịch bệnh sang nuôi cá mú Xuất phát từ những vấn đề

nêu trên, đề tài: “Đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội của nghề nuôi cá mú chấm đen

Epinephelus malabaricus (Bloch & Schneider, 1801) thương phẩm tại Khánh Hòa”

được thực hiện Kết quả của đề tài này là một trong những căn cứ giúp cho các cơ quan

Trang 13

chức năng có cơ sở cho công tác quy hoạch và chuyển đổi sang nuôi đối tượng này có hiệu quả và theo hướng bền vững

Mục tiêu của đề tài

Mục tiêu chung: Điều tra hiện trạng nghề nuôi cá mú chấm đen thương phẩm nhằm đánh giá hiệu quả kinh tế và xã hội của nghề nuôi đối tượng này tại tỉnh Khánh Hòa

- Xây dựng mô hình các nhân tố tác động đến sản lượng cá mú nuôi thương phẩm của các hộ nuôi tại Khánh Hòa

Nội dung nghiên cứu

- Hiện trạng nghề nuôi cá mú chấm đen thương phẩm

- Hiệu quả kinh tế xã hội nghề nuôi cá mú chấm đen thương phẩm

- Phân tích các nhân tố tác động đến sản lượng cá mú chấm đen nuôi thương phẩm tại Khánh Hòa

Trang 14

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Cơ sở lý thuyết về hiệu quả kinh tế, xã hội và vận dụng trong NTTS

1.1.1 Khái niệm về hiệu quả

Để xem xét hiệu quả của một lĩnh vực nào đó, người ta thường xem xét vấn đề hiệu quả trên các lĩnh vực: kinh tế, chính trị và xã hội

Hiệu quả kinh tế: Hiệu quả kinh tế thông thường được xét trên phạm vi từng khía cạnh, từng yếu tố và từng ngành Hiệu quả kinh tế có thể hiểu là hệ số giữa kết quả thu về và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó Kết quả thu về được đề cập trong khái niệm này có thể là doanh thu, lợi nhuận, sản phẩm,…

Hiệu quả chính trị, xã hội: Nếu đứng trên phạm vi toàn xã hội và nền kinh tế quốc dân thì ta có hai phạm trù hiệu quả chính trị và xã hội Hai phạm trù này phản ánh ảnh hưởng của hoạt động sản xuất kinh doanh đối với việc giải quyết những yêu cầu và mục tiêu chung của toàn bộ nền kinh tế xã hội Hai loại hiệu quả này có vị trí quan trọng trong việc phát triển đất nước một cách toàn diện và theo hướng bền vững Thêm vào đó, hiệu quả chính trị, xã hội phản ánh trình độ phát triển của nền kinh tế xã hội ở các mặt như trình độ, tổ chức sản xuất, trình độ quản lý và mức sống bình quân

Sự cân đối giữa hiệu quả kinh tế với hiệu quả chính trị xã hội, là một nguyên tắc để phát triển kinh tế, xã hội của một quốc gia một cách ổn định và theo hướng bền vững Bất kỳ một sự mất cân đối nào sẽ dẫn tới một hậu quả nghiêm trọng như ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững của nền kinh tế, ảnh hưởng tới tài nguyên thiên nhiên của đất nước, đời sống nhân dân gặp khó khăn và môi trường bị ô nhiễm

1.1.2 Các quan điểm truyền thống hiệu quả kinh tế - xã hội

“Hiệu quả là kết quả đạt được trong nền kinh tế, là doanh thu trong tiêu thụ hàng hóa” (Tạ Duy Bộ, 2003) Theo quan điểm này thì hiệu quả là tốc độ tăng của kết

quả đạt được như: Tốc độ tăng của doanh thu và lợi nhuận Vì thế hiệu quả được đồng nhất với các chỉ tiêu kết quả và nhịp độ tăng của các chỉ tiêu Quan điểm này thực sự không còn phù hợp với điều kiện ngày nay Kết quả sản xuất có thể tăng lên do chi phí

và mở rộng sử dụng các nguồn sản xuất (đầu vào của quá trình sản xuất) Nếu hai doanh nghiệp có cùng một kết quả sản xuất nhưng có hai mức chi phí khác nhau, theo quan điểm này thì hiệu quả sản xuất kinh doanh là như nhau

Theo Đặng Đình Hào và Hoàng Đức Thân (2002) cho rằng “Hiệu quả kinh tế được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả

Trang 15

đó” Quan điểm này cho rằng: nói đến hiệu quả kinh tế tức là nói đến phần còn lại của

kết quả sản xuất kinh doanh sau khi đã trừ đi chi phí Nó được đo bằng các chi phí và lời lãi Và cũng nhiều tác giả cho rằng, hiệu quả kinh tế được xem như là tỷ lệ giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra, hay ngược lại là chi phí trên một sản phẩm hay giá trị của sản phẩm Những chỉ tiêu hiệu quả kinh tế này thường là giá thành sản phẩm hay mức sinh lời của đồng vốn Nó chỉ được tính toán khi kết thúc một quá trình sản xuất kinh doanh

“Hiệu quả kinh tế của một hiện tượng (hoặc một quá trình kinh tế) phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực (nhân tài, tiền vốn, vật lực) để đạt được những mục tiêu xác định” là quan điểm của Nguyễn Thị Thu (1989) Hiệu quả sản xuất kinh

doanh thể hiện qua công thức:

Trong đó:

H : Hiệu quả sản xuất kinh doanh

K : Kết quả của quá trình sản xuất kinh doanh

C : Chi phí của quá trình sản xuất kinh doanh

Như vậy hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phản ánh chất lượng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Kết quả của quá trình sản xuất kinh doanh (doanh thu, lợi nhuận) thì phản ảnh số lượng của hoạt động sản xuất kinh doanh Vì thế khi xem xét, đánh giá hoạt động của một doanh nghiệp thì phải quan tâm cả kết quả cũng như hiệu quả của doanh nghiệp đó Quan điểm này đã được đánh giá tốt nhất trình độ lợi dụng các nguồn lực ở mọi điều kiện “động” của hoạt động sản xuất kinh doanh

1.1.3 Các quan điểm mới về hiệu quả kinh tế

Gần đây các nhà kinh tế đã đưa ra một quan điểm mới về hiệu quả, nhằm khắc phục những điểm yếu của các quan điểm truyền thống

Theo Hoàng Hùng (2001): Hiệu quả kinh tế căn cứ vào tổ hợp các yếu tố: Thứ nhất, trạng thái động của mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra Cần phân biệt rõ ba

phạm trù: Hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân bổ các nguồn lực và hiệu quả kinh tế Hiệu quả kỹ thuật là số sản phẩm (O) thu thêm trên một đơn vị đầu vào (I) đầu tư thêm Tỷ

số dO/dI được gọi là sản phẩm biên Hiệu quả phân bổ nguồn lực là giá trị sản phẩm thu thêm trên một đơn vị chi phí đầu tư thêm Thực chất nó là hiệu quả kỹ thuật có tính đến các yếu tố giá sản phẩm và giá đầu vào Nó đạt tối đa khi doanh thu biên bằng với

C

H = K

Trang 16

chi phí biên Hiệu quả kinh tế là phần thu thêm trên một đơn vị đầu tư thêm Nó chỉ

đạt được khi hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả sử dụng nguồn lực là tối đa Thứ hai, Yếu

tố thời gian: các nhà kinh tế hiện nay coi thời gian là yếu tố trong tính toán hiệu quả Cùng đầu tư một lượng vốn như nhau và tổng doanh thu bằng nhau nhưng hai dự án có thể có hiệu quả khác nhau,…

Xét theo quan điểm toàn diện hiệu quả kinh tế nên được đánh giá trên ba phương diện: Hiệu quả tài chính, xã hội và môi trường Hiệu quả tài chính trước đây thường thể hiện bằng những chỉ tiêu: lợi nhuận, giá thành, tỷ lệ hoàn vốn, thời gian hoàn vốn,… Hiệu quả xã hội của một dự án gồm lợi ích xã hội mà dự án mang lại như: việc làm, mức tăng về GDP do tác động của dự án, sự công bằng xã hội, sự tự lập của cộng đồng và sự được bảo vệ hoặc sự hoàn thiện hơn của môi trường sinh thái Một số tác giả khi đánh giá hiệu quả kinh tế cho rằng cần phân biệt hai khái niệm là hiệu quả kinh tế và hiệu quả

xã hội Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra Còn hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa các lợi ích xã hội và tổng chi phí bỏ ra Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có mối quan hệ mật thiết với nhau, là tiền đề của nhau và là phạm trù thống nhất

1.1.4 Bản chất và tiêu chuẩn của hiệu quả kinh tế

*Bản chất của hiệu quả kinh tế

Hiệu quả kinh tế là tiền đề vật chất của hiệu quả xã hội Nếu hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp giảm, tức là doanh nghiệp đó mất đi khả năng cạnh tranh, thiếu sức sống và trở thành gánh nặng cho đất nước Vì thế doanh nghiệp không thể đạt được mục tiêu xã hội Hiệu quả kinh tế có hai mặt định lượng và định tính:

+ Về mặt định lượng: Biểu hiện mối tương quan giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra, chênh lệch này càng lớn thì hiệu quả kinh tế càng cao và ngược lại

+ Về mặt định tính: Mức độ hiệu quả kinh tế cao thu được phản ánh sự cố gắng,

nỗ lực, trình độ và năng lực quản lý ở các khâu, các cấp quản lý và gắn bó của việc giải quyết những yêu cầu và mục tiêu kinh tế với những yêu cầu và mục tiêu chính trị xã hội

Đây chính là theo quan điểm của Nguyễn Kế Tuấn và Nguyễn Đình Phan (2007)

Khi xem xét bản chất hiệu quả kinh tế, không được đồng nhất giữa kết quả và hiệu quả Vì chỉ có kết quả mới làm cơ sở để tính toán hiệu quả

*Tiêu chuẩn của hiệu quả kinh tế

Trang 17

Tiêu chuẩn của hiệu quả kinh tế là cơ sở để đánh giá mức độ hiệu quả của các phương án khác nhau và chọn phương án có hiệu quả kinh tế cao Trong thực tế, nếu thiếu một tiêu chuẩn thống nhất sẽ không có căn cứ xác đáng để đưa ra những quyết định hợp lý nhất là trong điều kiện giải quyết một nhiệm vụ đòi hỏi thực hiện tổng hợp các biện pháp, mà ảnh hưởng của chúng đến kết quả cuối cùng không đồng nhất hoặc không đồng hướng như nhau Cần phải có một tiêu chuẩn chung để đánh giá hiệu quả kinh tế Tiêu chuẩn thể hiện hiệu quả kinh tế phải thể hiện mối quan hệ giữa thu và chi theo hướng cực đại cái thu và cực tiểu cái chi

Tiêu chuẩn hiệu quả kinh tế phải đảm bảo tính toàn diện Trước hết, là sự gắn

bó và ước định lẫn nhau giữa giá trị và giá trị sử dụng Một mặt, giảm chi phí lao động

xã hội sản xuất hàng hóa Mặt khác, đảm bảo chất lượng sản phẩm, không ngừng mở

rộng mặt hàng và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội Thứ hai, tính toàn diện

của tiêu chuẩn hiệu quả kinh tế đòi hỏi phải cùng lúc vừa giải quyết những vấn đề kinh

tế, kinh doanh, vừa giải quyết những vấn đề xã hội của đất nước Thứ ba, tính toàn

diện của hiệu quả kinh tế yêu cầu phải xem xét mỗi giải pháp, mỗi phương án một cách toàn diện về không gian và thời gian, để hiệu quả của từng phần tử, từng phân hệ

có tác động tích cực đến nâng cao hiệu quả của toàn bộ hệ thống, nâng cao hiệu quả hiện tại và lâu dài cả nền kinh tế quốc dân

Trong cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đối với mọi tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh, việc tạo ra và không ngừng làm tăng lợi nhuận là hết sức cần thiết Nhưng không được đơn giản coi lợi nhuận như

là tiêu chuẩn duy nhất đánh giá hiệu quả kinh tế Điều quan trọng là phải xem xét lợi nhuận đạt được bằng cách nào và được phân phối sử dụng như thế nào Mọi tổ chức kinh doanh, cá nhân kinh doanh là một tế bào của hệ thống kinh tế quốc dân, sự vận động của nó phải nằm trong quỹ đạo chung và góp phần thực hiện mục tiêu chung của

cả hệ thống Do đó, lợi nhuận mà mọi tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh thu được phải thể hiện sự gắn bó đối với sự vận động của thị trường, vừa phải thể hiện sự tuân thủ pháp luật nhà nước, góp phần vào sự chuyển dịch kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đồng thời lợi nhuận được phân phối theo hướng kết hợp hài hòa các lợi ích khác nhau: lợi ích cá nhân người lao động, lợi ích người chủ sở hữu, lợi ích tập

thể là lợi ích toàn xã hội là theo Nguyễn Kế Tuấn và Nguyễn Đình Phan (2007)

Trang 18

1.1.5 Đánh giá hiệu quả kinh tế nghề nuôi cá mú thương phẩm

Hiệu quả kinh tế của các tiến bộ kỹ thuật, các phương án sản xuất hoặc các mô hình kinh tế (gọi tắt là các mô hình)…được biểu hiện bằng nhiều chỉ tiêu Các chỉ tiêu này chịu tác động của các nhân tố khác nhau và với cường lực không giống nhau Thậm chí cùng một loại nhân tố nhưng thời kỳ này mạnh, thời kỳ khác lại yếu hơn Mặt khác có loại chỉ tiêu trị số càng lớn càng tốt (được gọi là chỉ tiêu thuận), lại có chỉ tiêu càng nhỏ càng tốt (chỉ tiêu nghịch) Trong đánh giá hiệu quả kinh tế không thể sử dụng một chỉ tiêu mà phải sử dụng một hệ thống chỉ tiêu Các chỉ tiêu này lại trực tiếp không cộng lại được với nhau và mỗi chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả kinh tế ở một khía cạnh riêng, do đó cũng không sử dụng một chỉ tiêu làm đại diện để so sánh

Xác định hiệu quả kinh tế của nghề nuôi cá mú thương phẩm là xác định những chi phí bỏ ra cho yếu tố đầu vào như: chi phí cố định bao gồm chi phí khấu hao của giá trị đầu tư xây dựng ao, chi phí sửa chữa lớn, chi phí trả lãi vay và thuế Các khoản chi phí biến đổi gồm: Chi phí mua con giống, chi phí thức ăn, chi phí thuốc phòng trừ dịch bệnh, vi sinh, vi lượng, chi phí năng lượng, chi phí tiền lương công nhân, chi phí sửa chữa nhỏ, các khoản chi phí giao dịch khác Đồng thời xác định doanh thu từ nghề nuôi cá mú thương phẩm Cuối cùng là việc xác định lợi nhuận, lợi nhuận là hiệu số của tổng doanh thu – tổng chi phí, và sử dụng chỉ tiêu này để xác định tỷ suất sinh lợi

của nghề NTTS mang lại cao hay thấp (Hoàng Thu Thủy, 2008)

Chi phí từ hoạt động nuôi cá mú thương phẩm

Chi phí từ hoạt động nuôi cá mú thương phẩm là tổng khoản tiền đã chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn của các hộ nuôi

 Chi phí bất biến (chi phí cố định hay định phí – Fixed costs (FC))

Chi phí bất biến không thay đổi cùng với thay đổi của khối lượng hoạt động Chi phí bất biến của các hộ nuôi cá mú thương phẩm chủ yếu bao gồm: Chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí sửa chữa lớn, chi phí lãi vay và thuế

+ Chi phí khấu hao: Là khoản chi phí bù đắp sự giảm dần giá trị của TSCĐ

trong quá trình sử dụng, do bào mòn của tự nhiên, do tiến bộ của kỹ thuật,…Chi phí khấu hao là giá trị phân bổ của nguyên giá tài sản cố định qua thời gian sử dụng Khấu hao TSCĐ với nghề nuôi cá mú thương phẩm bao gồm khấu hao của tất cả các máy móc, nhà xưởng phục vụ cho việc nuôi cá mú thương phẩm Trong đề tài nghiên cứu này, quy ước tài sản cố định dùng cho nuôi cá mú thương phẩm là tài sản mua với giá

Trang 19

trị từ 10 triệu đồng trở lên và có thời gian sử dụng trên 1 năm Phân bổ khấu hao được tính toán dựa trên khung thời gian sử dụng theo thông tư số 203/2009/TT/BTC ban hành ngày 20/10/2009 của Bộ Tài chính và được phân bổ mức khấu hao theo từng năm

(Nguồn: Thông tư số 203/2009 /TT-BTC ngày 20/10/2009 của Bộ Tài chính)

Để khấu hao chính xác cần xác định giá trị (theo nguyên giá lúc mua, xây dựng),

số năm sử dụng tài sản, số vụ trong năm Số năm sử dụng của từng loại tài sản cố định khác nhau Tuy nhiên, do các máy móc thiết bị, TSCĐ hoạt động trong môi trường nước mặn rất mau xuống cấp nên việc trích khấu hao của máy móc, TSCĐ mà các hộ nuôi sử dụng sẽ vượt khung quy định của Bộ Tài chính nhưng tối đa không quá hai lần mức khấu hao xác định theo một phương pháp đường thẳng Phương pháp khấu hao tuyến tính cố định (Khấu hao đường thẳng): Theo phương pháp này, mức khấu hao cơ bản hàng năm của TSCĐ là đều nhau trong suốt thời gian sử dụng TSCĐ và được xác định như sau:

Trong đó:

MK : Mức khấu hao cơ bản bình quân hàng năm của TSCĐ

NG : Nguyên giá TSCĐ

TSd : Thời gian sử dụng TSCĐ

+ Chi phí sửa chữa lớn: Là những khoản chi phí có kế hoạch sửa chữa, đại tu

ban đầu nhằm phục hồi những bộ phận bị hao mòn, hư hỏng trong quá trình sử dụng TSCĐ Trong quá trình dùng nuôi cá mú thương phẩm các hộ nuôi sẽ có kế hoạch sửa chữa như: nạo vét ao, cải tạo đáy, bờ ao, sửa chữa cống hộc,…

+ Chi phí lãi vay: Là khoản chi phí trả cho chi phí sử dụng vốn vay trung, dài

hạn phục vụ cho việc nuôi cá mú thương phẩm

TSd

MK =

NG

Trang 20

+ Thuế: Là các khoản đóng góp vào ngân sách nhà nước

+ Chi phí thuê máy móc, ao đìa: Là khoản chi phí mà các chủ hộ nuôi cá mú

thương phẩm thuê máy móc, ao để phục vụ cho việc nuôi cá của mình

+ Chi phí tiền lương công nhân: Các khoản tiền lương nhân viên trả lương

theo thời gian, thông thường tính trả theo tháng làm việc

 Chi phí khả biến: (chí phí biến đổi hay biến phí – Variable costs (VC))

Chi phí khả biến là chi phí thay đổi cùng với thay đổi của khối lượng hoạt động theo một tỷ lệ thuận Khi khối lượng hoạt động tăng, làm chi phí khả biến tăng, khi khối lượng hoạt động giảm, làm giảm chi phí khả biến Khi khối lượng họat động bằng 0, chi phí khả biến cũng bằng 0 Chi phí khả biến của các đối tượng nuôi cá mú thương phẩm chủ yếu bao gồm: Chi phí mua con giống, chi phí thức ăn, chi phí thuốc phòng trừ dịch bệnh, vi sinh, vi lượng; chi phí năng lượng; chi phí tiền lương công nhân trực tiếp; chi phí sửa chữa nhỏ, các khoản chi phí giao dịch khác

+ Chi phí mua giống: Bao gồm tiền mua con giống và tiền vận chuyển

+ Chi phí thức ăn: Bao gồm toàn bộ tiền mua thức ăn cho cá ăn từ lúc thả

giống đến khi thu hoạch Tùy thuộc vào quan điểm và tiềm năng vốn của của từng hộ nuôi với từng loại thức ăn chất lượng khác nhau và số lần cho ăn trong ngày Với chất lượng tốt thì giá cả đắt hơn nhưng bù lại sẽ cho hiệu quả kinh tế hơn

+ Chi phí thuốc phòng trừ dịch bệnh, vi sinh, vi lượng: Bao gồm các khoản

chi phí, mua các loại thuốc phòng trị bệnh cá, các vi sinh vi lượng xử lý trong nước hoặc trộn vào thức ăn làm tăng sức đề kháng của cá

+ Chi phí năng lượng: Bao gồm chi phí điện năng, xăng dầu chạy máy

+ Chi phí sửa chữa nhỏ: Là những khoản chi phí phát sinh đột suất trong quá

trình nuôi cá mú chấm đen, giá trị nhỏ như sửa chữa máy móc thiết bị hư hỏng

+ Các khoản chi phí khác: Là các khoản đóng góp địa phương, chi phí thuê

thu hoạch, thuê lưới, ghe, thuê thiết bị,…

 Chi phí cơ hội (Opportunity costs)

Là lợi ích bỏ qua khi quyết định lựa chọn các phương án Lợi ích cao nhất của một trong các phương án bỏ qua trở thành chi phí cơ hội của phương án được chọn Khái niệm chi phí cơ hội là một yếu tố quan trọng và chủ yếu khi tính toán hiệu quả của một dự án, nhất là về mặt giá trị kinh tế, mặc dù chúng không được hoặc chưa từng được phản ánh trong sổ sách của kế toán chi phí

Trang 21

Chi phí cơ hội được tính cho các hộ nuôi cá mú thương phẩm được tính toán dựa trên mức lãi suất bình quân từ nhiều nguồn khác nhau như ngân hàng, dự án nhỏ, quỹ xóa đói giảm nghèo,… tại thời điểm các hộ nuôi bỏ vốn để đầu tư Tuy nhiên, việc đầu tư vốn vào nuôi cá mú thương phẩm dàn trải trên các tháng nuôi và không đều nhau; các tháng đầu chủ yếu đầu tư vào TSCĐ, máy móc thiết bị, phục vụ nuôi, hóa chất xử lý, cải tạo ao đìa chuẩn bị nuôi, con giống,… chi phí đầu tư cho cá nuôi cao thường tập trung vào giai đoạn cá được 1 tháng tuổi Vì vậy chi phí cơ hội tác giả không tính toán để hạch toán lợi nhuận kinh tế

Doanh thu từ hoạt động nuôi cá mú thương phẩm

Doanh thu từ hoạt động nuôi cá mú thương phẩm là tổng giá trị các lợi ích kinh

tế mà các cơ sở nuôi thu được từ việc nuôi cá mú thương phẩm và tiêu thụ cá mú

Doanh thu của các hộ nuôi được thay đổi theo sản lượng cá thương phẩm mà các hộ nuôi đạt được Sản lượng cá thương phẩm càng lớn thì doanh thu càng cao (trong điều kiện cố định giá) Tuy nhiên, cá mú thương phẩm khi thu hoạch phải đạt được độ đồng đều về kích cỡ (size), khối lượng trung bình mỗi con khi thu hoạch đạt

>500 gram/con mới bán được giá cao

Lợi nhuận từ hoạt động nuôi cá mú thương phẩm

Lợi nhuận của hoạt động nuôi cá mú thương phẩm là chỉ tiêu phản ánh kết quả cuối cùng của hoạt động nuôi cá mú thương phẩm của các hộ nuôi; là phần còn lại của doanh thu sau khi đã trừ đi các khoản chi phí để nuôi cá mú thương phẩm

Hệ thống chỉ tiêu xác định kết quả kinh tế nghề nuôi cá mú thương phẩm

Giá trị sản xuất (GO): Là giá trị bằng tiền của toàn bộ sản lượng cá mú thương

phẩm thu được trong một chu kỳ nuôi tính trên một năm

Trang 22

+ Chi phí trung gian (IC): Là toàn bộ các khoản chi phí được sử dụng trong

quá trình nuôi cá mú thương phẩm trong một chu kỳ nuôi, không tính khấu hao TSCĐ

và tiền công lao động trả cho công nhân viên; bao gồm: Chi phí mua con giống, chi phí thức ăn, chi phí thuốc phòng trừ dịch bệnh, vi sinh, vi lượng; chi phí năng lượng; chi phí sửa chữa nhỏ, các khoản chi phí giao dịch khác

Trong đó:

IC: Chi phí trung gian

Ci: Số lượng đầu tư vào sản phẩm thứ i

Gi: Đơn giá đầu tư vào sản phẩm i tương ứng

Giá trị gia tăng (VA): Là chênh lệch giữa giá trị sản xuất với chi phí trung gian

nó phản ánh phần giá trị mới tăng thêm do kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của

hộ nuôi trong một thời gian, hay một chu kỳ sản xuất nhất định

Trong đó:

VA : Giá trị gia tăng hay giá trị tăng thêm

IC : Chi phí trung gian

Thu nhập hỗn hợp (MI): Là phần thu nhập thuần túy của toàn bộ chu kỳ nuôi

cá mú thương phẩm gồm cả công của lao động gia đình và lợi nhuận có thể nhận được trong một chu kỳ sản xuất sau khi đã trừ đi chi phí trung gian, khấu hao TSCĐ, thuế

Trong đó:

MI : Thu nhập hỗn hợp

VA : Giá trị gia tăng hay giá trị tăng thêm

A : Khấu hao tài sản cố định

Trang 23

Pr : Lợi nhuận

MI : Thu nhập hỗn hợp

CL : Chi phí tiền lương công nhân

+ Năng suất diện tích mặt nước: Được tính bằng sản lượng cá mú thu hoạch

trên một ha diện tích mặt nước nuôi cá mú trong một năm

Hệ thống các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế nghề nuôi cá mú chấm đen thương phẩm

* Hiệu quả của chi phí sản xuất, thể hiện việc bỏ ra 1 đồng chi phí sản xuất sẽ

thu được bao nhiêu đồng giá trị sản xuất hoặc bao nhiêu đồng thu nhập hỗn hợp

Các công thức tính:

Tỷ suất giá trị sản xuất theo chi phí trung gian (TGI): là tỷ số giá trị sản xuất sản lượng cá chẽm thu được trong một chu kỳ nuôi so với chi phí trung gian

Tỷ suất Giá trị sản xuất/Chi phí cố định (TGF):

Tỷ suất Thu nhập hỗn hợp/Chi phí trung gian (TMI):

Tỷ suất Thu nhập hỗn hợp/Chi phí cố định (TMF):

*Hiệu quả sử dụng lao động: thể hiện giá trị sản xuất hoặc thu nhập hỗn hợp

của một người lao động hoặc của một lao động gia đình trong một năm

Các công thức tính:

Giá trị sản xuất/1 lao động/1 năm (TGL):

= Diện tích mặt nước nuôi cá mú

Sản lượng cá mú thu hoạch Năng suất

Trang 24

Giá trị sản xuất/ngày công lao động (TGN):

Thu nhập hỗn hợp/1 lao động/1 năm (TML):

Thu nhập hỗn hợp/ngày công lao động (TMN):

*Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp: được tính bằng giá trị sản xuất hoặc thu

nhập hỗn hợp trên một hecta (ha) diện tích mặt nước nuôi cá mú chấm đen thương phẩm trong một năm

Các công thức tính:

Giá trị sản xuất/1 ha diện tích mặt nước nuôi cá mú (TGD):

Thu nhập hỗn hợp/1 ha diện tích mặt nước nuôi cá mú (TMD):

Tỷ suất lợi nhuận trên tổng chi phí sản xuất (TPr):

Giá trị sản xuất

TGD

= Diện tích mặt nước nuôi cá mú

Thu nhập hỗn hợp

TMD

= IC+CL+A+T

Pr

TPr

Trang 25

CL : Chi phí tiền lương công nhân

A : Chi phí khấu hao TSCĐ

T : Thuế

Đánh giá chung về hiệu quả xã hội của nghề nuôi cá mú chấm đen thương phẩm

*Đánh giá về lao động, việc làm và một số vấn đề kinh tế, xã hội khác

Giải quyết việc làm là yếu tố quyết định để phát huy yếu tố con người, nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế, ổn định và lành mạnh hóa xã hội, đáp ứng nhu cầu cần giải quyết của xã hội…

*Đánh giá về vấn đề môi trường

Để hướng tới mục tiêu phát triển bền vững thì môi trường luôn là vấn đề được quan tâm, nghề nuôi có hiệu quả môi trường phải hạn chế thấp nhất sự ô nhiễm môi trường, duy trì và cải thiện điều kiện môi trường

1.2 Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài

Hiện nay trong nước và nước ngoài đã có nhiều nghiên cứu của các cá nhân và

tổ chức về cá mú chấm đen Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu này chủ yếu đề cập đến các vấn đề liên quan đến kỹ thuật nuôi như: đặc điểm sinh học, kỹ thuật sinh sản,

kỹ thuật ương và nuôi cá mú chấm đen thương phẩm mà chưa có nghiên nào đánh giá được về hiệu quả kinh tế – xã hội của nghề nuôi cá mú chấm đen thương phẩm (Lê Trọng Phấn, 1997; Lê Anh Tuấn, 2004; Liao và E.M Leano, 2008; Luu, 2002; Son, 1996; Tuan và CTV., 2000) Nghề nuôi cá mú chấm đen thương phẩm tại một số vùng nuôi tại Khánh Hòa đang giảm sút vì vậy vấn đề đặt ra cần phải có một nghiên cứu về đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội của nghề nuôi cá mú thương phẩm nhằm đề xuất các biện pháp giúp hộ nuôi mú thương phẩm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, và phát triển nghề nuôi cá mú chấm đen theo hướng bền vững

Một số đề tài nghiên cứu trong nước có liên quan tới nội dung điều tra hiện trạng

kỹ thuật và đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội của một số đối tượng nuôi thủy sản như:

Đề tài “Đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội của nghề nuôi tôm sú giống (Penaeus monodon) tại tỉnh Khánh Hòa (2008)” của tác giả Hoàng Thu Thủy, luận văn thạc sỹ,

Đại học Nha Trang Kết quả nghiên cứu được tác giả xác định nghề nuôi tôm sú giống

đã giải quyết được công ăn việc làm cho 3.387 lao động trực tiếp cho nghề nuôi tôm sú giống và 20.169 lao động cho nghề nuôi tôm thương phẩm trong 2 năm 2005 và 2006

Đề tài cũng xác định được một số nhân tố ảnh hưởng đến sản lượng sản xuất ấu trùng

Trang 26

tôm sú như: trình độ kỹ thuật của người nuôi; nguồn gốc tôm bố mẹ; sản lượng tôm

mẹ trong một chu kỳ sản xuất, tỷ lệ m3 bể chứa (Hoàng Thu Thủy, 2008)

Đề tài “Đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội của nghề nuôi cá chẽm (Lates calcarifer Bloch, 1790) thương phẩm tại tỉnh Khánh Hòa (2009)” của tác giả Nguyễn

Xuân Bảo Sơn, luận văn Thạc sỹ, trường Đại học Nha Trang Nghiên cứu này đã tìm

và xác định các nhân tố ảnh hưởng đến sản lượng cá chẽm nuôi thương phẩm của các

cơ sở/hộ nuôi tại Khánh Hòa dựa trên các số liệu điều tra về diện tích ao nuôi, mật độ thả giống, kích cỡ giống thả nuôi, số năm kinh nghiệm, năng suất, sản lượng, doanh thu, chi phí, lỗ, lãi… Kết quả nghiên cứu được tác giả xác định nghề nuôi cá chẽm thương phẩm đã giải quyết cho 957 lao động trực tiếp với sản lượng thu hoạch là 3.500 tấn sản lượng vào năm 2008, đề tài còn xác định được các nhân tố ảnh hưởng tới sản lượng nuôi cá hàng năm là mật độ thả, kích thước giống thả, số năm kinh nghiệm của chủ hộ nuôi và quy mô vốn đầu tư (Nguyễn Xuân Bảo Sơn, 2009)

Đề tài “Đánh giá hiện trạng kỹ thuật và hiệu quả kinh tế - xã hội của nuôi cá rô đồng trong ao, eo ngách vùng bán ngập ở lòng hồ Trị An, tỉnh Đồng Nai (2012)” của

tác giả Phan Thị Hoa, luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Nha Trang Kết quả nghiên cứu của tác này cho rằng năng suất trung bình cho 1ha ao nuôi cá Rô đồng tại vùng bán ngập hồ Trị An là 36,32 tấn/ha/năm Các hộ nuôi tại xã Phú Ngọc đạt cao nhất với 42,767 tấn/ha/năm và các hộ nuôi tại xã Mã Đà có năng suất thấp nhất với 29,66 tấn/ha/năm Doanh thu trung bình của 1ha ao nuôi cá Rô đồng tại vùng bán ngập hồ Trị An là 1.046,62 triệu đồng/ha/năm Các hộ nuôi tại xã Phú Ngọc đạt cao nhất với 1.297,19 triệu đồng/ha/năm và các hộ nuôi tại xã Mã Đà có doanh thu trung bình thấp nhất với 776,63 triệu đồng/ha/năm Lợi nhuận trung bình trên 1ha nuôi cá Rô đồng tại vùng bán ngập hồ Trị An là 93,18 triệu đồng/ha Các hộ nuôi tại xã Phú Ngọc đạt cao nhất với 112,38 triệu đồng/ha/năm và các hộ nuôi tại xã Mã Đà có lợi nhuận trung bình thấp nhất với 42,97 triệu đồng/ha/năm (Phan Thị Hoa, 2012)

Và một số tài liệu, báo cáo của FAO về các đặc điểm sinh học, kỹ thuật nuôi cá mú; các số liệu báo cáo thống kê của các nước hàng năm có liên quan tới cá mú

thương phẩm của FAO Do có những hạn chế nhất định của tác giả nên không thể tìm

và hiểu hết được các công trình nghiên cứu của các tác giả trên thế giới có liên quan tới vấn đề mà đề tài đề cập Trong quá trình nghiên cứu tác giả đã tham khảo một số

Trang 27

bài viết trên các website của FAO, mà các số liệu này tác giả sử dụng đã trích dẫn nguồn và tài liệu tham khảo được chỉ dẫn chi tiết tại mục “Tài liệu tham khảo”

1.3 Mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sản lượng cá mú chấm đen

1.3.1 Cơ sở lý thuyết đề xuất mô hình

H1: “Vùng nuôi” - Có vai trò quan trọng vì nó liên quan mật thiết đến một số nhân tố về lý, hóa, sinh học, thổ nhưỡng… “Vùng nuôi” là biến giả, biến này đo lường tác động các yếu tố vùng lên sản lượng cá mú nuôi thương phẩm Đề tài nghiên cứu 04 vùng nuôi là Ninh Hòa, Nha Trang, Cam Ranh và Vạn Ninh nên trong nghiên cứu này tác giả sử dụng 03 biến là D1, D2, D3, với D1 = 1 nếu vùng nuôi là Ninh Hòa, D1 =0 nếu vùng khác; D2 = 1 nếu vùng nuôi Nha Trang, D2 = 0 nếu vùng nuôi khác; D3 = 1 nếu vùng nuôi Cam Ranh, D3 = 0 nếu vùng nuôi khác Phân loại cơ sở là vùng nuôi Vạn Ninh, tức D1 = 0, D2 = 0 và D3 = 0 Tác giả kỳ vọng các biến giả này sẽ có quan

hệ tuyến tính với sản lượng cá mú chấm đen nuôi thương phẩm

H2: “Hình thức nuôi” – Xem xét đến hình thức nuôi lồng ngoài biển hay nuôi trong ao đất, với HT1 = 1 và HT2 = 0 nếu là nuôi trong ao đất, HT1 = 0 và HT2 = 1 nếu

là nuôi lồng ngoài biển, HT1 = 1 và HT2 = 1 nếu là hộ nuôi dùng cả 2 hình thức nuôi

ao đất và nuôi lồng ngoài biển Hình thức nuôi góp phần trong việc hiệu quả nuôi và sản lượng của mỗi hình thức khác nhau Vì vậy, tác giả kỳ vọng rằng với các yếu tố khác không đổi, khi nuôi bằng hình thức nuôi trong ao đất sẽ cho ra năng suất và hiệu quả cao hơn so với nuôi lồng ngoài biển

H3: “Quy mô diện tích nuôi” - Tác giả kỳ vọng rằng trong điều kiện các yếu tố khác không đổi thì tăng diện tích nuôi sẽ làm tăng năng suất cá mú chấm đen nuôi thương phẩm

H4: “Quy mô vốn đầu tư” - Đa số các hộ nuôi cá mú thương phẩm đều là những

cơ sở đã nuôi trước đây, đa phần đều đã thua lỗ trong các vụ nuôi tôm nên việc chuẩn

bị nguồn vốn để đầu tư cho việc nuôi cá mú theo mô hình bán thâm canh và thâm canh

là cực kỳ khó khăn đối với họ Hơn nữa, thời gian của một vụ nuôi dài và đầu tư lớn, nhất là ở những giai đoạn cuối gần thu hoạch Mặt khác, vốn là một yếu tố được trực tiếp sử dụng vào quá trình sản xuất; việc đầu tư bài bản, đúng, đủ nguồn thức ăn, máy móc trang thiết bị sẽ mang lại hiệu quả cao Do vậy, tác giả kỳ vọng rằng trong điều kiện các yếu tố khác không đổi thì tăng tổng số vốn đầu tư sẽ làm tăng sản lượng cá

mú chấm đen nuôi thương phẩm

Trang 28

H5: “Loại thức ăn” - Nhân tố này cũng là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến sản lượng, thức ăn cá tạp tương hay thức ăn công nghiệp có chất lượng tốt sẽ thúc đẩy nhanh chóng quá trình sinh trưởng và phát triển của cá giúp cho người nuôi rút ngắn thời gian nuôi, giảm chi phí “Loại thức ăn” là biến giả, biến này đo lường tác động của loại thức ăn chính sử dụng lên sản lượng cá mú nuôi thương phẩm Có 2 loại thức ăn chính mà các hộ nuôi sử dụng là thức ăn cá tạp và thức ăn viên công nghiệp nên trong nghiên cứu này tác giả sử dụng 02 biến giả là Z1 và Z2, với Z1 = 1 và Z2 = 0 nếu là thức ăn cá tạp, Z1 = 0 và Z2 = 1 nếu là thức ăn viên công nghiệp, Z1 = 1 và Z2 =

1 nếu là hộ nuôi dùng cả 2 loại thức ăn là thức ăn cá tạp và viên công nghiệp Tác giả

kỳ vọng biến giả này sẽ có quan hệ tuyến tính với biến năng suất cá mú chấm đen nuôi thương phẩm

H6: “Mật độ nuôi” - Là số lượng cá hoặc khối lượng cá được thả trên một đơn

vị diện tích mặt nước Để xác định mật độ thả thích hợp cho diện tích nuôi và từng phương thức nuôi, các yếu tố cần quan tâm là diện tích mặt nước, nguồn thức ăn, năng lực của người nuôi… Nhiều thí nghiệm trên thế giới đã kết luận rằng năng suất cá tỷ lệ thuận với mật độ cá thả, tới một điểm cực đại thì năng suất bắt đầu giảm (Lê Anh Tuấn, 2004) Vì vậy, chúng ta phải xem xét đến yếu tố này vì mật độ nuôi cao quá ngưỡng cho phép sẽ ảnh hưởng rất lớn đến năng suất nuôi cá mú chấm đen thương phẩm

H7: “Kích cỡ giống” - Có vai trò quan trọng trong sản xuất các sản phẩm chăn nuôi cũng như trong nuôi trồng thủy sản Con giống có chất lượng tốt, khỏe mạnh sẽ mau ăn chóng lớn, ít bệnh và ít hao hụt Và đặc biệt hơn, nếu thả giống với kích cỡ nhỏ thì tỷ lệ sống của cá thả sẽ thấp hơn và ảnh hưởng đến năng suất nuôi Vì vậy, tác giả kỳ vọng nhân tố này sẽ có một mối quan hệ dương (+) với năng suất cá mú chấm đen nuôi thương phẩm

H8: “Số năm kinh nghiệm” cũng như kỹ thuật của người nuôi là một trong những khâu quan trọng có ảnh hưởng xuyên suốt trong quá trình nuôi, nó góp phần vào sự thành công hay thất bại của nghề nuôi Kinh nghiệm được tích lũy qua nhiều năm từ những vụ nuôi, học hỏi kinh nghiệm của bạn bè, càng trải qua nhiều vụ nuôi thì người dân sẽ càng hiểu rõ được đối tượng nuôi của mình Những kinh nghiệm đó sẽ giúp cho người nuôi nắm bắt kịp thời và xử lý một cách có hiệu quả trong vụ nuôi, biết được mùa vụ thích hợp, thời điểm thả giống, cách cho ăn và quản lý chăm sóc ao,…Vì

Trang 29

vậy, nhân tố này tác giả kỳ vọng rằng sẽ có một mối quan hệ dương (+) với năng suất

cá mú chấm đen nuôi thương phẩm

H9: “thuốc” là số tiền mua kháng sinh, thuốc men để bổ sung vào thức ăn nhằm tăng sức đề kháng của cá mú trong quá trình nuôi Tác giả kỳ vọng rằng có sự ảnh hưởng của loại chi phí này lên sản lượng của cá mú ở một mức độ nào đó

1.3.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất

Để nghiên cứu các nhân tố tác động đến sản lượng cá mú nuôi thương phẩm trong ao đất tại Khánh Hòa thì tiến hành theo sơ đồ khối sau:

Hình 1 1 Sơ đồ khối mô hình các nhân tố tác động đến sản lượng cá mú nuôi

thương phẩm tại Khánh Hòa

Mô hình được cụ thể hóa thông qua phương trình hồi quy như sau:

Yi=β0 +β1*SN_KNi+β2*KCGi+β3*Matdoi + β4*TGnuoii + β5* DT1i + β6* DT2i+β7*Qm_Voni + β8*thuoci + β9*D1j + β10 *D2j + β11 *D3j + β12 *Z1 + β13 *Z2 + β14

*HT1 + β15 *HT2 +ei

Trong đó:

Yi : Sản lượng cá mú chấm đen nuôi thương phẩm của hộ nuôi thứ i (kg) SN_KNi : Số năm kinh nghiệm của hộ nuôi thứ i (năm)

KCGi : Kích cỡ giống thả nuôi của hộ nuôi thứ i (cm/con)

Matdoi : Mật độ thả giống của hộ nuôi thứ i (con/m2)

TGnuoii : Thời gian nuôi/vụ của hộ nuôi thứ i (tháng)

DTj : Quy mô diện tích nuôi của hộ nuôi thứ i (m2), (j=1, 2)

Qm_Voni : Quy mô vốn đầu tư của hộ nuôi thứ i (đồng)

thuoci : Số tiền mua thuốc của hộ nuôi thứ i (đồng)

(H6)

Vùng nuôi

Loại thức ăn

Sản lượng cá mú nuôi thương phẩm tại Khánh Hòa

(H5) Thuốc

(H9)

Trang 30

Dj : Biến giả của vùng nuôi (j=1, 2, 3)

Zj : Biến giả của loại thức ăn sử dụng (j=1, 2)

HTj : Biến giả của hình thức nuôi (j=1, 2)

ei : Là sai số ngẫu nhiên của hàm hồi qui tổng thể

β0 : Hằng số (C)

β1, β2, β3, β4, β5, β6, β7, β8, β9, β10, β11, β12, β13, β14, β15: Là các hệ số góc của các biến độc lập

Với i = (1, 60)

Trang 31

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đặc điểm của địa bàn nghiên cứu

Khánh Hòa là một tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ Việt Nam, giáp với tỉnh Phú Yên về hướng Bắc, tỉnh Đắk Lắk về hướng Tây Bắc, tỉnh Lâm Đồng về hướng Tây Nam, tỉnh Ninh Thuận về hướng Nam và Biển Đông về hướng Đông; có mũi Hòn Ðôi trên bán đảo Hòn Gốm huyện Vạn Ninh, là điểm cực Ðông trên đất liền của nước ta

Dân số Khánh Hòa (theo số liệu đến ngày 1-4-2011) là 1.174.848 người với 32 dân tộc đang sinh sống (Kinh, Raglai, Hoa, Ê-đê, Cơ-ho, một nhóm nhỏ dân tộc Tày, Nùng, Mường, Thái, Chăm, Khmer, Thổ )

Diện tích tự nhiên của Khánh Hòa, cả trên đất liền và hơn 200 đảo và quần đảo

là 5.197 km2 Bờ biển dài 385 km với nhiều cửa lạch, đầm, vịnh, nhiều đảo và vùng biển rộng lớn Ðặc biệt, Khánh Hòa có Trường Sa là huyện đảo, nơi có vị trí kinh tế,

an ninh quốc phòng trọng yếu

Khánh Hòa hiện nay bao gồm 2 thành phố trực thuộc tỉnh (Nha Trang và Cam Ranh), 1 thị xã (Ninh Hòa) và 6 huyện (Vạn Ninh, Diên Khánh, Khánh Vĩnh, Khánh Sơn, Cam Lâm và huyện đảo Trường Sa) với tổng diện tích 5217,6 km²

Tỉnh Khánh Hòa nằm ở vị trí thuận tiện về giao thông đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không Việc giao lưu kinh tế, văn hóa giữa Khánh Hòa và các tỉnh thuận lợi nhờ đường sắt và Quốc lộ 1A xuyên suốt chiều dài của tỉnh

Khánh Hòa có bờ biển dài và gần 200 hòn đảo lớn nhỏ cùng nhiều vịnh biển đẹp như Vân Phong, Nha Trang, Cam Ranh với khí hậu ôn hòa, nhiệt độ trung bình 26⁰C, có hơn 300 ngày nắng trong năm và nhiều di tích lịch sử văn hóa nổi tiếng khác Bên cạnh đó, Khánh Hòa còn có nguồn tài nguyên thiên nhiên đa dạng, phong phú, đặc biệt tài nguyên biển có nhiều loại hải sản quý hiếm có thể khai thác, nuôi trồng, chế biến xuất khẩu với khối lượng lớn, có yến sào, là nguồn nguyên liệu đặc biệt để xuất khẩu và bào chế các sản phẩm bổ dưỡng quý hiếm cho con người

Ðiều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, lịch sử văn hóa đã đem đến cho tỉnh Khánh Hòa một tiềm năng lớn để phát triển du lịch, dịch vụ Nha Trang - Khánh Hòa hiện được xác định là một trong 10 trung tâm du lịch - dịch vụ lớn của cả nước Tháng 5-

2003, vịnh Nha Trang được công nhận là thành viên chính thức của Câu lạc bộ các vịnh đẹp nhất thế giới

Trang 32

Vị trí địa lý

Khánh Hòa là một tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ của nước ta, có phần lãnh thổ trên đất liền nhô ra xa nhất về phía biển Đông Phía Bắc giáp tỉnh Phú Yên, điểm cực bắc: 12052'15'' vĩ độ Bắc Phía Nam giáp tỉnh Ninh Thuận, điểm cực nam: 11042' 50''

vĩ độ Bắc Phía Tây giáp tỉnh Đăk Lắk, Lâm Đồng, điểm cực tây: 108040’33'' kinh độ Đông Phía Đông giáp Biển Đông, điểm cực đông: 109027’55'' kinh độ Đông; tại mũi Hòn Đôi trên bán đảo Hòn Gốm, huyện Vạn Ninh, cũng chính là điểm cực đông trên đất liền của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Ngoài phần lãnh thổ trên đất liền, tỉnh Khánh Hòa còn có vùng biển, vùng thềm lục địa, các đảo ven bờ và huyện đảo Trường Sa Bên trên phần đất liền và vùng lãnh hải là không phận của tỉnh Khánh Hòa

Vị trí địa lý của tỉnh Khánh Hòa có ảnh hưởng lớn đến các yếu tố tự nhiên khác như: khí hậu, đất trồng, sinh vật Vị trí địa lý của tỉnh Khánh Hòa còn có ý nghĩa chiến lược về mặt quốc phòng vì tỉnh Khánh Hòa nằm gần đường hàng hải quốc tế, có huyện đảo Trường Sa, cảng Cam Ranh và là cửa ngõ của Tây Nguyên thông ra Biển Đông

Hình dạng - diện tích

Tỉnh Khánh Hòa có hình dạng thon hai đầu và phình ra ở giữa, ba mặt là núi, phía Đông giáp biển Nếu tính theo đường chim bay, chiều dài của tỉnh theo hướng Bắc Nam khoảng 160km, còn theo hướng Đông Tây, nơi rộng nhất khoảng 60km, nơi hẹp nhất từ 1 đến 2km ở phía Bắc, còn ở phía Nam từ 10 đến 15km

Diện tích của tỉnh Khánh Hòa là 5.197km2 (kể cả các đảo, quần đảo), đứng vào loại trung bình so với cả nước Vùng biển rộng gấp nhiều lần đất liền Bờ biển dài 385km, có khoảng 200 hòn đảo lớn nhỏ ven bờ và các đảo san hô trong quần đảo Trường Sa

Địa hình

Khánh Hòa là tỉnh nằm sát dãy núi Trường Sơn, đa số diện tích là núi non, miền đồng bằng rất hẹp, khoảng 400 km², chiếm chưa đến 1/10 diện tích toàn tỉnh Miền đồng bằng bị chia thành từng ô, cách ngăn bởi những dãy núi ăn ra biển Núi ở Khánh Hòa tuy hiếm những đỉnh cao chót vót, phần lớn chỉ trên dưới một ngàn mét nhưng gắn với dãy Trường Sơn, lại là phần cuối phía cực Nam nên địa hình núi khá đa dạng Đỉnh núi cao nhất là đỉnh Hòn Giao (2.062m) thuộc địa phận huyện Khánh Vĩnh Các đồng bằng lớn ở Khánh Hòa gồm có đồng bằng Nha Trang, Diên Khánh nằm ở hai

Trang 33

bên sông Cái với diện tích khoảng 135 km²; đồng bằng Ninh Hòa do sông Dinh bồi đắp, có diện tích 100 km² Ngoài ra, Khánh Hòa còn có hai vùng đồng bằng hẹp là đồng bằng Vạn Ninh và đồng bằng Cam Ranh ở ven biển, cùng với lượng diện tích canh tác nhỏ ở vùng thung lũng của hai huyện miền núi Khánh Sơn và Khánh Vĩnh

Khánh Hòa là một trong những tỉnh có đường bờ biển đẹp của Việt Nam Đường bờ biển kéo dài từ xã Đại Lãnh tới cuối vịnh Cam Ranh, có độ dài khoảng

385 km tính theo mép nước với nhiều cửa lạch, đầm, vịnh, cùng khoảng 200 đảo lớn, nhỏ ven bờ Khánh Hòa có sáu đầm và vịnh lớn là: vịnh Vân Phong, Nha Trang, Cam Ranh, Hòn Khói, đầm Nha Phu, Đại Lãnh Trong đó, nổi bật nhất vịnh Cam Ranh với chiều dài 16 km, chiều rộng 32 km, thông với biển thông qua eo biển rộng 1,6 km, có

độ sâu từ 18 - 20m và thường được xem là cảng biển có điều kiện tự nhiên tốt nhất Đông Nam Á

Sông ngòi

Sông ngòi ở Khánh Hòa nhìn chung ngắn và dốc, cả tỉnh có khoảng 40 con sông dài từ 10 km trở lên, tạo thành một mạng lưới sông phân bố khá dày Hầu hết các con sông đều bắt nguồn tại vùng núi phía Tây trong tỉnh và chảy xuống biển phía Đông Dọc bờ biển, cứ khoảng 5 - 7 km có một cửa sông Các con sông lớn ở Khánh Hòa phải kể đến: sông Cái Nha Trang, sông Dinh (hay còn gọi là sông Cái Ninh Hòa), sông Tô Hạp (huyện Khánh Sơn)

Khí hậu

Khánh Hòa là một tỉnh ở vùng duyên hải cực Nam Trung Bộ, nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới xavan Song khí hậu Khánh Hòa có những nét biến dạng độc đáo với các đặc điểm riêng biệt So với các tỉnh, thành phía Bắc từ đèo Cả trở ra và phía Nam từ Ghềnh Đá Bạc trở vào, khí hậu ở Khánh Hòa tương đối ôn hòa hơn do mang tính chất của khí hậu đại dương Thường chỉ có 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa nắng Mùa mưa ngắn, từ khoảng giữa tháng 9 đến giữa tháng 12 dương lịch, tập trung vào 2 tháng 10 và tháng 11, lượng mưa thường chiếm trên 50% lượng mưa trong năm Những tháng còn lại là mùa nắng, trung bình hàng năm có tới 2.600 giờ nắng Nhiệt độ trung bình hàng năm của Khánh Hòa cao khoảng 26,7 °C

Khánh Hòa là vùng ít gió bão, tần số bão đổ bộ vào Khánh Hòa thấp chỉ có khoảng 0,82 cơn bão/năm so với 3,74 cơn bão/năm đổ bộ vào bờ biển Việt Nam

Thủy sản trong toàn tỉnh Khánh Hòa

Trang 34

Thủy sản trong toàn tỉnh Khánh Hòa được thể hiện thông qua bảng 2.1

Bảng 2 1: Một số chỉ tiêu cho ngành thủy sản toàn tỉnh Khánh Hòa (Cục thống kê)

Chỉ tiêu ĐVT 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012*

Diện tích mặt nước

nuôi trồng thuỷ sản Nghìn ha 6,5 6,5 6,1 4,9 5,6 6,0 6,2 Sản lượng thủy sản Nghìn

tấn 79,2 83,0 83,7 86,6 88,9 89,1 93,9 Sản lượng cá biển

khai thác

Nghìn tấn 57,6 59,2 59,0 66,3 68,7 68,7 71,9 Sản lượng thủy sản

nuôi trồng

Nghìn tấn 13,9 15,9 15,1 12,2 13,7 13,9 13,8 Sản lượng cá nuôi Nghìn

tấn 1,4 2,2 1,4 1,5 2,8 3,5 3,5

* Ước tính sơ bộ

Thông qua bảng trên có thể thấy rằng diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản trong toàn tỉnh trong những năm qua không thay đổi nhiều nhưng sản lượng cá nuôi có xu hướng gia tăng từ 1,4 nghìn tấn vào năm 2006 và tăng cao vào năm 2011 khoảng 3,5 nghìn tấn và con số ước tính sơ bộ vào năm 2012 cũng gần tương đương so với năm 2011

Sản lượng thủy sản trong toàn tình Khánh Hòa được minh họa ở bảng 2.2

Bảng 2 2: Sản lượng thủy sản tỉnh Khánh Hòa, năm 2006-2012

1 Sản lượng thủy

sản khai thác Tấn 65.266 67.056 68.638 74.356 75.243 75.178 - 1.1 Cá

59.238

655 7.163

59.049

567 9.022

66.467 1.066

6823

68.813

884 5.546

68.809

943 5.426

2.2 Tôm

2.3 Thủy sản khác

Tấn

1.396 6.368 6.117

2.192 6.478 7.258

1.430 7.569 6.071

1.535 6.949 3.728

2.787 7.189 3.710

3.501 7.857 2.552

TP Nha Trang Tấn 32.018 33.200 33.630 38.163 39.194 38.526 -

TP Cam Ranh Tấn 26.874 23.396 22.874 21.855 21.381 21.260 - Thị xã Ninh Hòa Tấn 11.906 12.828 13.183 12.444 14.045 15.466 - Huyện Vạn Ninh Tấn 8.190 9.063 10.122 9.941 11.042 10.484 -

Trang 35

Từ bảng trên ta thấy sản lượng thủy sản nuôi trồng thủy sản biển và nội địa có chiều hướng gia tăng Trong đó tăng rõ rệt nhất là tôm và cá Theo phân chia sản lượng thủy sản theo huyện, thị xã và thành phố thì có thể thấy cụ thể ở TP Nha Trang, Thị xã Ninh Hòa, TP Cam Ranh và Huyện Vạn Ninh có sản lượng thủy sản chiếm tỷ

lệ cao so với các khu vực khác Đây cũng chính là cơ sở để tác giả lựa chọn các khu vực này cho nghiên cứu về đánh giá hiệu quả kinh tế đến nghề nuôi cá mú chấm đen thương phẩm

Cụ thể hơn về sản lượng thủy sản nuôi trồng và sản lượng cá nuôi theo huyện, thị xã, thành phố cũng được thể hiện ở bảng 2.3

Bảng 2 3: Sản lượng thủy sản nuôi trồng và sản lượng cá nuôi theo huyện, thị xã,

thành phố của tỉnh Khánh Hòa, năm 2006-2012

Chỉ tiêu ĐVT 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012*

Sản lượng thủy sản

nuôi trồng

Nghìn tấn 13,9 15,9 15,1 12,2 13,7 13,9 13,8

372 4.365 4.650 3.057

425 3.538 4.597 3.651

297 3.432 3.062 2.742

545 3.845 3.720 2.842

564 3.628 4.645 3.266

-

-

-

- Sản lượng cá nuôi Nghìn

797

221

110

901 1.475

tỷ lệ cao Đây cũng chính là căn cứ để tác giả lựa chọn 04 khu vực này cho nghiên cứu Tác giả hy vọng 04 khu vực này sẽ đại diện được và đánh giá được hiệu quả kinh tế nghề nuôi cá mú chấm đen thương phẩm tại Khánh Hòa

2.2 Tổng quan tình hình nuôi cá mú trên thế giới và ở Việt Nam

Trên thế giới

Nhiều loài cá mú được xem là những loài có giá trị kinh tế ở các nước châu Á, Bắc và Nam Mỹ, Trung Đông và Đại Trung Hải, và nó tiếp tục phát triển nhanh ở khu vực Đông Nam Á (Hambrey và Cristina, 1997; Rimmer, 2002).Cá mú là một trong những loài quan trọng cho NTTS trong cả ao nước mặn và lợ và cả trong các lồng nuôi biển Phần lớn sản lượng cá mú trên thế giới là do khai thác thủy sản Sản lượng đánh

Trang 36

bắt trong những năm gần đây dường như không đổi Trong năm 2011, sản lượng cá mú

khai thác ước tính đạt trên 190.000 tấn so với năm 2001 chỉ trên 130.000 (Hình 2.1)

Những nước khai thác các mú hàng đầu thế giới chủ yếu ở châu Á như Trung Quốc,

Indonesia, Malaysia, Đài Loan và Thái Lan (Hình 2.2) (FAO (Food and Agriculture

Organization of the United Nations), 2013)

Trong tương lai, nuôi trồng thủy sản được xem sẽ giữ vai trò quan trọng trong việc làm giảm áp lực lên khai thác thủy sản Việc nuôi cá mú đã được triển khai với mức

độ thành công khác nhau trên thế giới Cá mú chủ yếu được nuôi ở các nước Đông Nam

Á bao gồm: Indonesia, Malaysia, Philippines, Đài Loan, Thái Lan, Hồng Kông, Trung Quốc và Việt Nam (Liao và Leano, 2008) Chúng cũng được nuôi ở các nước khác thuộc châu Á (Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Sri Lanka) và Úc Các loài cá mú thường

được nuôi bao gồm: Cromileptes altivelis, Epinephelus akaara, E amblycephalus, E areolotus, E bleekeri, E coioides, E fuscoguttatus, E lanceolatus, E malabaricus, E rivulatus, E tauvina, Plectropomus leopardus, P maculates(Hambrey và Cristina,

1997)

Hình 2 1: Xu hướng sản lượng khai thác cá mú trên thế giới(FAO (Food and

Agriculture Organization of the United Nations), 2013)

Trang 37

Hình 2 2: Sản lƣợng cá mú khai thác theo quốc gia ở khu vực châu Á(FAO (Food

and Agriculture Organization of the United Nations), 2013)

Hình 2 3: Giá trị sản lƣợng cá mú nuôi theo quốc gia(FAO (Food and

Agriculture Organization of the United Nations), 2013)

Trang 38

Hình 2 4: Sản lượng cá mú nuôi theo quốc gia(FAO (Food and Agriculture

Organization of the United Nations), 2013)

Những nước và vùng lãnh thổ có triển khai hoạt động nuôi cá mú với quy mô lớn cũng nằm ở châu Á như Trung Quốc, Indonesia, Đài Loan và Thái Lan (Hình 2.4) Trong năm 2011, giá trị sản lượng cá mú nuôi đạt trên 198 triệu USD sau khi đã đạt mức cao nhất là trên 12 triệu USD vào năm 2001 (Hình 2.3) (FAO (Food and Agriculture Organization of the United Nations), 2013) Trong quá trình nuôi thương phẩm, tại hầu hết các nước châu Á, cá mú thường được cho ăn cá tươi Đây là lý do tại sao việc sinh trưởng thông qua sử dụng thức ăn cá tươi đôi khi tốt hơn so với một số thức ăn viên

(Bech và Steenfeldt, 1993; Tacon và CTV., 1991) Tuy nhiên, nhiều tác giả đã chỉ ra

những bất tiện của việc sử dụng thức ăn cá tươi như nguồn cung cấp không ổn định, giá cao, hệ số chuyển hóa thức ăn biến động (Khoảng 3-20) (Lê Xân, 2005; Chao và Chou,

1996; Chua và Teng, 1978; 1982; Li, 1996; Son, 1996; Taconvà CTV., 1991; Yashiro,

1996), ô nhiễm (đặc biệt nơi cá tươi được xay hoặc nghiền) và lan truyền mầm bệnh

Cá mú giống và trưởng thành có thể tương đối dễ dàng được luyện ăn thức ăn

ẩm hoặc thức ăn viên khô, đặc biệt ở các giai đoạn sớm Phần lớn người nuôi cá mú ở châu Á chưa quen tiếp cận với thức ăn tổng hợp có chất lượng cao Họ có khuynh hướng nghi ngờ thức ăn khô vì nguồn gốc và chất lượng không thể đảm bảo Tác dụng của thức ăn viên có thể được cải thiện nếu tăng tính hấp dẫn đối với cá nuôi (Bech và Steenfeldt, 1993) Ở một số nước châu Á hiện có thức ăn viên chìm chậm chứa khoảng 43% protein (Boonyaratpalin, 1997) Việc cho cá mú ăn bằng thức ăn dành cho tôm

Trang 39

hoặc cá chẽm được bán trên thị trường cũng đã được thử nghiệm (Boonyaratpalin,

1993; Chu, 1996; Taconvà CTV., 1991)

Trong thực tế, việc lựa chọn loại thức ăn nuôi cá mú tùy thuộc vào điều kiện của từng vùng, nhưng về lâu dài những thức ăn được tổng hợp tốt, ít gây ô nhiễm có thể sẽ là sự lựa chọn tốt nhất

Ở Việt Nam

Nghề nuôi cá mặn lợ như cá đối, cá măng biển, cá chẽm đã phát triển ở nước ta

từ những năm đầu của thập kỷ 60 của thế kỷ trước Cá mú thỉnh thoảng cũng được nuôi khi người dân có con giống Nghề nuôi cá mú chính thức phát triển vào năm 1988

(Edwards vàCTV., 2004), khi các doanh nhân Trung Quốc đến Nha Trang đặt vấn đề

mua bán cá mú sống Nghề này đã phát triển mạnh từ Bắc vào Nam, nhưng tập trung chủ yếu ở Quảng Ninh – Hải Phòng, Phú Yên – Khánh Hòa và gần đây là Vũng Tàu Hiện nay cả nước có khoảng 6800 lồng nuôi cá biển, trong đó có đến 80% là lồng nuôi cá mú và khoảng 500 ha đìa nuôi cá mú với sản lượng ước tính khoảng 3000 tấn, trong đó nuôi lồng chiếm 2/3 sản lượng Các lồng và đìa nuôi cá mú tạo ra khoảng 300

tỷ đồng (trên 20 triệu USD Mỹ) trong năm 2003 (Lê Anh Tuấn, 2004)

Các loài cá mú được nuôi hiện nay bao gồm cá mú chấm đen Epinephelus malabaricus, cá mú chấm nâu E coioides, cá mú chấm đỏ E akaara, cá mú sỏi E bleekeri, cá mú sáu vạch E sexfasciatus, cá mú chấm tổ ong E merra, cá mú mỡ E tauvina, ngoài ra còn cá mú đỏ Cephalopholis miniata và cá mú chấm xanh Plectropomus leopardus thường được lưu tạm để xuất khẩu Gần đây, cá mú hoa nâu, còn gọi là cá mú cọp E fuscoguttatus đã được nuôi tại các tỉnh phía Nam (Lê Anh

Tuấn, 2004)

Con giống cá mú chủ yếu được đánh bắt từ ngoài tự nhiên Trong các năm 1994-1995 Viện nghiên cứu Hải sản Hải Phòng đã sản xuất thành công con giống cá

mú Sau ba tháng ương, con giống đã đạt được kich cỡ khoảng 13 cm với khối lượng

50 g (Tuan và CTV., 2000) Viện nghiên cứu NTTS II và III (RIA2 và RIA3) đã

nghiên cứu sản xuất thử nghiệm giống cá mú Tuy nhiên, lượng giống cá mú sản xuất

tại các cơ quan này không đáng kể và chủ yếu là loài E coioides, trong khi người nuôi

lại chuộng loài cá mú chấm đen hơn vì chúng dễ dàng nuôi trong các ao nước lợ và có tốc độ tăng trưởng nhanh Gần đây, công ty Hoằng Ký, một công ty nuôi cá biển có 100% vốn nước ngoài đã sản xuất thành công con giống cá mú và đáp ứng phần nào

Trang 40

nhu cầu con giống tại một số tỉnh phía Nam Nhu cầu con giống cá mú hiện nay ước khoảng 3.000.000 – 5.000.000 con/năm (Lê Anh Tuấn, 2004)

Trong nuôi thương phẩm, người nuôi hầu như chỉ sử dụng cá tươi làm thức ăn

cho cá mú Cá tươi dùng nuôi cá mú thường là cá mối (Saurida spp), cá sơn (Priacanthus macracanthus), cá nục (Decapterus sp), cá trích (Clupea leiogaster), rô phi (Oreochromis mossambicus), cá cơm (Stolephorus sp), cá liệt (Leiognathus spp),

cá bơn (Solea sp) Trong đó, cá mối, cá sơn và cá nục là những loại cá được sử dụng

phổ biến trong nuôi cá mú thương phẩm ở các tỉnh phía Nam Ngoài ra, còn có các loài

cá khác với số lượng ít hơn cũng như cua và tôm nhỏ

Ở Việt Nam mặc dù sản lượng cá mú nuôi tăng lên hàng năm, nhưng quy mô của nghề nuôi đối tượng này vẫn còn khiêm tốn nên các công ty thức ăn vẫn chưa thực

sự tham gia vào Cá tươi vì thế vẫn sẽ được sử dụng làm thức ăn chủ yếu trong nuôi cá

mú ở nước ta trong một số năm nữa Đây là một nguồn thức ăn tương đối sẵn có ở các địa phương, mặc dù số lượng và giá của nó luôn biến động trong năm (Lê Anh Tuấn, 2005b) Nguồn thức ăn này có thể trở nên khan hiếm và đắt đỏ vào những ngày biển động Bên cạnh đó, kỹ thuật cho ăn và chăm sóc quản lý kém cũng có thể làm cho một lượng lớn thức ăn bị thất thoát vào kéo theo đó nó có thể gây ra các vấn đề ô nhiễm nghiêm trọng cho vùng nước (Lê Anh Tuấn, 2005a; New, 1996) Mặt khác, theo tổng cục thủy sản thì việc nuôi cá mú ở khu vực Nam Trung Bộ chưa đúng qui hoạch và phát triển chưa theo hướng bền vững (Báo cáo tổng cục) Vì những lý do này, việc đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội của nghề nuôi cá mú tại Khánh Hòa là rất cần thiết cho việc qui hoạch lại hộ nuôi và đưa ra những giải pháp phát triển theo hướng bền vững đối tượng này tại nước ta nói chung và Khánh Hòa nói riêng UBND tỉnh Khánh Hòa vừa phê duyệt quy hoạch phát triển ngành Thủy sản của tỉnh đến năm 2015 có tính đến năm 2020 Theo đó, ngành Thủy sản trong những năm tới vẫn là ngành kinh

tế mũi nhọn của tỉnh Khánh Hòa Đặc biệt với chiến lược “hướng ra biển lớn”, nghề nuôi hải sản là một trong những lĩnh vực đang giành được nhiều sự quan tâm Việc phát triển sản xuất con giống các đối tượng cá biển có giá trị kinh tế như cá mú chấm đen là một trong những bước đi thiết thực nhằm góp phần thực hiện chiến lược phát triển ngành thủy sản chung của tỉnh nhà Về giá trị kinh tế: cá mú chấm đen hiện đang

là đối tượng hải đặc sản Giá cá mú chấm đen thương phẩm trên thị trường dao động từ 250.000 – 300.000 đ/kg thuộc loại có giá trị cao so với các đối tượng cá biển khác như

Ngày đăng: 13/06/2015, 09:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
6. Nguyễn Xuân BảoSơn, 2009. Đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội của nghề nuôi cá Chẽm (Lates calcarifer Bloch, 1790) thương phẩm tại tỉnh Khánh Hòa. Luận văn Thạc sỹ, trường Đại học Nha Trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lates calcarifer
9. Hoàng Thu Thủy, 2008. Đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội của nghề nuôi tôm sú giống (Penaeus monodon) tại tỉnh Khánh Hòa. Luận văn thạc sỹ, Đại học Nha Trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Penaeus monodon
12. Lê Anh Tuấn, 2005b. Nguồn lợi "cá tạp" ở biển Việt Nam: thành phần, sản lƣợng, các hướng sử dụng chính và tính bền vững khi làm thức ăn trong nuôi trồng thủy sản.Kỷ yếu hội thảo toàn quốc về bảo vệ môi trường và nguồn lợi thủy sản ngày 14- 15/1/2005 tại Hải Phòng, nxb Nông Nghiệp, Hà Nội:379-387 Sách, tạp chí
Tiêu đề: cá tạp
Nhà XB: nxb Nông Nghiệp
15. Lê Xân, 2005. Nghiên cứu công nghệ sản xuất giống và nuôi thương phẩm một số loài cá song (Epinephelus spp) phục vụ xuất khẩu. Viện nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản I, Bắc Ninh.Tài liệu Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Epinephelus spp
24. Chua, T.E., Teng, S.K., 1978. Effects of feeding frequency on the growth of young estuary grouper, Epinephelus tauvina (Forskal), cultured in floating net-cages.Aquaculture 14:31-47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Epinephelus tauvina
25. Chua, T.E., Teng, S.K., 1982. Effect of food ration on growth, condition factor, food conversion efficiency, and net yield of estuary grouper, Epinephelus salmoides Maxwell, cultured in floating net-cages. Aquaculture 27:273-283 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Epinephelus salmoides
26. Doi, M., Munir, H.M.N., Nik Razali, N.L., Zulkilfi, T., 1991. Artificial propagation of the grouper, Epinephelus suillus at the marine finfish hatchery in Tangong Demong, Terengganu, Malaysia. Kertas Pengembangan Bil 167:Department of Fisheries, Malaysia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Epinephelus suillus
37. Tacon, A.G.J., Rausin, N., Kadari, M., Cornelis, P., 1991. The food and feeding of tropical marine fishes in floating net cages: Asian seabass, Lates calcarifer (Bloch), and brown spotted grouper, Epinephelus tauvina (Forskal). Aquaculture and Fisheries Management 22:165-182 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lates calcarifer "(Bloch), and brown spotted grouper, "Epinephelus tauvina
14. Hoàng Tùng, 2001. Thực trạng và xu hướng phát triển nghề nuôi trồng thủy sản thế giới. Truy cập từ: http://www.longdinh.com, ngày 18/05/2013 Link
1. Tạ DuyBộ, 2003. Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh ở Công ty Dụng cụ cắt và đo lường cơ khí. Luận văn tốt nghiệp cử nhân Quản trị kinh doanh, Khoa Quản trị Kinh doanh, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội Khác
3. Phan ThịHoa, 2012. Đánh giá hiện trạng kỹ thuật và hiệu quả kinh tế - xã hội của nuôi cá Rô đồng trong ao, eo ngách vùng bán ngập ở lòng hồ Trị An, tỉnh Đồng Nai.Luận văn Thạc sỹ, Đại học Nha Trang Khác
4. HoàngHùng, 2001. Hiệu quả kinh tế trong các dự án phát triển nông học. Truy cập tại: http:www.clts.ac.vn/AP/tapchitrongnuoc/hdkh/2001/so01/16.htm,ngày20/06/2013 Khác
5. Lê TrọngPhấn, 1997. Nghiên cứu sơ bộ họ cá mú Serranidae ở vùng biển Việt Nam. Báo cáo hội nghị khoa học sinh vật biển toàn quốc lần thứ nhất tại Nha Trang Khác
8. Nguyễn ThịThu, 1989. Xây dựng hệ thống chỉ tiêu kinh tế trong các đơn vị sản xuất kinh doanh nông nghiệp. Luận án Phó tiến sĩ khoa học kinh tế, trường Đại học kinh tế quốc dân, Hà Nội Khác
10. Lê Anh Tuấn, 2004. Tình hình nuôi cá mú ở Việt Nam: hiện trạng và các trở ngại về mặt kỹ thuật. Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số đặc biệt kỷ niệm 45 năm thành lập Trường, Trường Đại học Thủy sản:174-179 Khác
11. Lê Anh Tuấn, 2005a. Các nguồn dinh dưỡng và vấn đề môi trường liên quan đến hoạt động nuôi tôm hùm lồng ở Xuân Tự, Vạn Ninh, Khánh Hòa. Tuyển tập Hội thảo toàn quốc về nghiên cứu và ứng dụng khoa học và công nghệ trong nuôi trồng thủy sản 22-23/12/2004 tại Vũng Tàu:643-653 Khác
13. Nguyễn Kế Tuấn, Nguyễn Đình Phan, 2007. Giáo trình Kinh tế và Quản lý công nghiệp. NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Khác
16. Awang, A., 2002. Status of marine finfish aquaculture in Malaysia. Paper presented at the Regional Workshop on Sustainable marine finfish Aquaculture for Asia-Pacific, Ha Long City, Vietnam (30th September to 3rd October 2002) Khác
17. Bech, M., Steenfeldt, S., 1993. Growth and survival of grouper fingerlings in an experimental unit at Phuket Marine Bilological Center, in Grouper culture. National Institute of Coastal Aquaculture and Japan International Cooperation Agency:120-125 Khác
18. Boonyaratpalin, M., 1993. Nutritional requirements of grouper Epinephelus, In: Grouper Culture. The proceeding of grouper culture, Nov. 30 - Dec. 1, 1993, Songkla, Thailand:50-55 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. 1 Sơ đồ khối mô hình các nhân tố tác động đến sản lƣợng cá mú nuôi  thương phẩm tại Khánh Hòa - Đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội của nghề nuôi cá mú chấm đen Epinephelus malabaricus (Bloch & Schneider,1801) thương phẩm tại Khánh Hòa
Hình 1. 1 Sơ đồ khối mô hình các nhân tố tác động đến sản lƣợng cá mú nuôi thương phẩm tại Khánh Hòa (Trang 29)
Bảng 2. 2: Sản lƣợng thủy sản tỉnh Khánh Hòa, năm 2006-2012 - Đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội của nghề nuôi cá mú chấm đen Epinephelus malabaricus (Bloch & Schneider,1801) thương phẩm tại Khánh Hòa
Bảng 2. 2: Sản lƣợng thủy sản tỉnh Khánh Hòa, năm 2006-2012 (Trang 34)
Bảng 2. 1: Một số chỉ tiêu cho ngành thủy sản toàn tỉnh Khánh Hòa (Cục thống kê) Chỉ tiêu  ĐVT  2006  2007  2008  2009  2010  2011  2012* - Đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội của nghề nuôi cá mú chấm đen Epinephelus malabaricus (Bloch & Schneider,1801) thương phẩm tại Khánh Hòa
Bảng 2. 1: Một số chỉ tiêu cho ngành thủy sản toàn tỉnh Khánh Hòa (Cục thống kê) Chỉ tiêu ĐVT 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012* (Trang 34)
Hình 2. 3: Giá trị sản lƣợng cá mú nuôi theo quốc gia(FAO (Food and  Agriculture Organization of the United Nations), 2013) - Đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội của nghề nuôi cá mú chấm đen Epinephelus malabaricus (Bloch & Schneider,1801) thương phẩm tại Khánh Hòa
Hình 2. 3: Giá trị sản lƣợng cá mú nuôi theo quốc gia(FAO (Food and Agriculture Organization of the United Nations), 2013) (Trang 37)
Hình 2. 2: Sản lƣợng cá mú khai thác theo quốc gia ở khu vực châu Á(FAO (Food  and Agriculture Organization of the United Nations), 2013) - Đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội của nghề nuôi cá mú chấm đen Epinephelus malabaricus (Bloch & Schneider,1801) thương phẩm tại Khánh Hòa
Hình 2. 2: Sản lƣợng cá mú khai thác theo quốc gia ở khu vực châu Á(FAO (Food and Agriculture Organization of the United Nations), 2013) (Trang 37)
Hình 2. 4: Sản lƣợng cá mú nuôi theo quốc gia(FAO (Food and Agriculture  Organization of the United Nations), 2013) - Đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội của nghề nuôi cá mú chấm đen Epinephelus malabaricus (Bloch & Schneider,1801) thương phẩm tại Khánh Hòa
Hình 2. 4: Sản lƣợng cá mú nuôi theo quốc gia(FAO (Food and Agriculture Organization of the United Nations), 2013) (Trang 38)
Hình 2. 5: Cá mú chấm đen Epinephelus malabaricus - Đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội của nghề nuôi cá mú chấm đen Epinephelus malabaricus (Bloch & Schneider,1801) thương phẩm tại Khánh Hòa
Hình 2. 5: Cá mú chấm đen Epinephelus malabaricus (Trang 43)
Hình 2. 6: Bản đồ phân bố của cá mú chấm đen Epinephelus malabaricus trên thế giới - Đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội của nghề nuôi cá mú chấm đen Epinephelus malabaricus (Bloch & Schneider,1801) thương phẩm tại Khánh Hòa
Hình 2. 6: Bản đồ phân bố của cá mú chấm đen Epinephelus malabaricus trên thế giới (Trang 44)
Bảng 3. 3: Trình độ học vấn và chuyên môn của các chủ trại nuôi - Đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội của nghề nuôi cá mú chấm đen Epinephelus malabaricus (Bloch & Schneider,1801) thương phẩm tại Khánh Hòa
Bảng 3. 3: Trình độ học vấn và chuyên môn của các chủ trại nuôi (Trang 50)
Bảng 3. 5: Vốn chủ sở hữu và vốn vay của các hộ tham gia nuôi cá mú thương  phẩm - Đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội của nghề nuôi cá mú chấm đen Epinephelus malabaricus (Bloch & Schneider,1801) thương phẩm tại Khánh Hòa
Bảng 3. 5: Vốn chủ sở hữu và vốn vay của các hộ tham gia nuôi cá mú thương phẩm (Trang 51)
Bảng 3. 8: Vốn đầu tƣ mua sắm máy móc thiết bị phục vụ nuôi cá mú của các hộ - Đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội của nghề nuôi cá mú chấm đen Epinephelus malabaricus (Bloch & Schneider,1801) thương phẩm tại Khánh Hòa
Bảng 3. 8: Vốn đầu tƣ mua sắm máy móc thiết bị phục vụ nuôi cá mú của các hộ (Trang 54)
Bảng 3. 10: Bảng phân bổ chi phí khấu hao theo khoản mục đầu tƣ - Đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội của nghề nuôi cá mú chấm đen Epinephelus malabaricus (Bloch & Schneider,1801) thương phẩm tại Khánh Hòa
Bảng 3. 10: Bảng phân bổ chi phí khấu hao theo khoản mục đầu tƣ (Trang 57)
Bảng 3. 11: Chi phí tiền lương của các hộ nuôi cá mú thương phẩm/vụ  Đối - Đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội của nghề nuôi cá mú chấm đen Epinephelus malabaricus (Bloch & Schneider,1801) thương phẩm tại Khánh Hòa
Bảng 3. 11: Chi phí tiền lương của các hộ nuôi cá mú thương phẩm/vụ Đối (Trang 58)
Bảng 3. 12: Tiền vay của các hộ nuôi của vụ nuôi năm 2013 - Đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội của nghề nuôi cá mú chấm đen Epinephelus malabaricus (Bloch & Schneider,1801) thương phẩm tại Khánh Hòa
Bảng 3. 12: Tiền vay của các hộ nuôi của vụ nuôi năm 2013 (Trang 59)
Bảng 3. 15: Tổng hợp chi phí, giá thành của các vùng nuôi cho các vụ nuôi  Các chỉ tiêu  Số - Đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội của nghề nuôi cá mú chấm đen Epinephelus malabaricus (Bloch & Schneider,1801) thương phẩm tại Khánh Hòa
Bảng 3. 15: Tổng hợp chi phí, giá thành của các vùng nuôi cho các vụ nuôi Các chỉ tiêu Số (Trang 61)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w