Luận án hướng đến một nguyện vọng thiết thực: góp phần nghiên cứu những đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa Quảng Bình bằng việc khảo sát hệ thống địa danh trên địa bàn, đóng góp cho việc nghiê
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN ĐÌNH HÙNG
NGHIÊN CỨU ĐỊA DANH TỈNH QUẢNG BÌNH
Chuyên ngành: Lý luận ngôn ngữ
Mã số: 62220101 TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Thành phố Hồ Chí Minh - năm 2014
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN – ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Trần Trí Dõi
Trang 31.3 Luận án hướng đến một nguyện vọng thiết thực: góp phần nghiên cứu những đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa Quảng Bình bằng việc khảo sát hệ thống địa danh trên địa bàn, đóng góp cho việc nghiên cứu vùng lãnh thổ, một cách tiếp cận đang được ưa chuộng hiện nay trong các khoa học xã hội và nhân văn
2 Lịch sử vấn đề
Trên thế giới, việc nghiên cứu địa danh đã có từ rất lâu Sách lịch sử, địa lý
Trung Quốc ghi chép địa danh, chỉ ra cách đọc, ý nghĩa, vị trí, diễn biến quy luật của tên gọi Đầu thời Đông Hán (32-92 SCN), Ban Cố đã ghi chép hơn 4000 địa danh
Thời Bắc Ngụy (380-535), Lịch Đạo Nguyên viết Thuỷ kinh chú sớ, ghi chép và miêu
tả hơn hai vạn địa danh
- Địa danh học xuất hiện ở phương Tây vào cuối thế kỷ XIX với việc thành lập các cơ quan nghiên cứu địa danh, xuất bản những tác phẩm chú trọng về khảo chứng
nguồn gốc ngôn ngữ và ghi chép địa danh: Địa danh học (1872) của Eggli, Địa danh
học (1903) của Nagh Bắt đầu từ thế kỷ XX, J.Gilliéron (1854 - 1926) đã viết Atlat ngôn ngữ Pháp, nghiên cứu địa danh theo hướng phát triển địa lý học A.Dauzat với
tác phẩm Nguồn gốc và sự phát triển của địa danh, đề xuất phương pháp địa lý học
để nghiên cứu niên đại của địa danh
- Đi tiên phong trong việc xây dựng hệ thống lý thuyết về địa danh học là các
nhà địa danh học Xô Viết: N.I.Niconov với Các khuynh hướng nghiên cứu địa danh (1964); A.I.Popov nêu ra Những nguyên tắc cơ bản của công tác nghiên cứu địa danh (1964) Đáng chú ý nhất là tác phẩm Địa danh học là gì? của A.V.Superanskaja
(1985), công trình mang tính tổng hợp, trình bày toàn diện những kết quả nghiên cứu, làm cơ sở vững chắc cho nghiên cứu địa danh trong những năm tiếp theo
- Ở châu Âu, châu Mỹ cũng có những công trình nghiên cứu về nguồn gốc ý
nghĩa của địa danh Tiêu biểu là Toponymy - the Lore, Laws and Language of
Geographical Names của Naftali Kadmon, đã đưa ra hệ thống lí luận nghiên cứu địa
danh về cả lý thuyết lẫn thực tiễn, được xem như cẩm nang về nguyên tắc và ngôn ngữ đặt tên cho các đối tượng địa lý, có giá trị về mặt phương pháp luận đối với nghiên cứu địa danh hiện nay
Ở nước ta, địa danh cũng đã được đề cập nhiều trong các công trình về lịch sử,
địa lý, địa chí như Dư địa chí của Nguyễn Trãi, Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú (1821), Việt sử thông giám cương mục (1878), Đại Nam nhất thống
Trang 4chí của Quốc sử quán triều Nguyễn, Việt sử xứ Đàng Trong của Phan Khoang, Đại Việt địa dư toàn biên của Phương Đình Nguyễn Văn Siêu v.v
- Vấn đề nghiên cứu địa danh ở Việt Nam được đặt ra từ thế kỷ trước Những
công trình tiêu biểu gần đây là: Địa danh ở thành phố Hồ Chí Minh (1991) và Địa
danh học Việt Nam (2006) của Lê Trung Hoa, Sổ tay địa danh Việt Nam của Đinh
Xuân Vịnh, Việt Nam - những thay đổi địa danh và địa giới hành chính 1945 - 1997 của Nguyễn Quang Ân, Một số vấn đề địa danh học Việt Nam của Nguyễn Văn Âu,
Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX thuộc các tỉnh từ Nghệ An trở ra của Dương
Thị The và Phạm Thị Thoa Tiếp sau đó là các luận án khảo sát địa danh của Nguyễn
Kiên Trường, Từ Thu Mai, Phan Xuân Đạm
- Gần đây, tác giả Hoàng Thị Châu, Trần Trí Dõi, Lê Trung Hoa với những công trình về địa danh theo hướng nghiên cứu so sánh lịch sử, ngôn ngữ-văn hóa, đã
có những đóng góp sâu sắc khi tiếp cận vấn đề địa danh dưới góc nhìn ngôn ngữ học, cung cấp một cách khá toàn diện về phương pháp nghiên cứu địa danh theo hướng khoa học liên ngành
Liên quan đến địa danh ở Quảng Bình có Ô Châu cận lục của Dương Văn An,
Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn, Hoàng Việt nhất thống dư địa chí của Lê Quang
Định (1806), Đồng Khánh dư địa chí (1885) của Quốc sử quán triều Nguyễn, Quảng
Bình thắng-tích-lục của Trần Kinh và Nguyễn Kinh Chi (1998) Những tác phẩm đó
đã giới thiệu về địa danh làng xã, mô tả cảnh quan vùng đất, đề cập đến địa danh ở Quảng Bình dưới góc độ văn hóa, địa lý, lịch sử và du lịch
- Tuy nhiên, vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu một cách qui mô, toàn
diện về địa danh tỉnh Quảng Bình dưới góc độ ngôn ngữ học Chính vì thế, luận án
Nghiên cứu địa danh tỉnh Quảng Bình là một công trình bù đắp cho tình trạng đó
3 Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Mục đích:
- Luận án sẽ góp phần nghiên cứu ngôn ngữ văn hóa xã hội của vùng đất, cung cấp dữ liệu cho việc nghiên cứu lý thuyết về địa danh cả nước
- Từ những cứ liệu được thu thập, tiếp tục đi sâu nghiên cứu xây dựng từ điển
từ nguyên địa danh tỉnh Quảng Bình
Luận án có 4 nhiệm vụ giải quyết:
- Trình bày cơ sở lí luận và tổng quan nghiên cứu địa danh, về địa bàn nghiên cứu và phương pháp tiếp cận địa danh tỉnh Quảng Bình
- Khảo sát điền dã địa danh trong phạm vi tỉnh Quảng Bình, kể cả những vùng rừng núi có dân tộc thiểu số sinh sống
- Nhận diện đặc điểm cấu trúc địa danh tỉnh Quảng Bình qua thống kê miêu tả thành tố chung và tên riêng địa danh tỉnh Quảng Bình
- Nhận diện đặc điểm định danh địa danh tỉnh Quảng Bình ở các khía cạnh phương thức định danh, đặc điểm ý nghĩa
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án là những vấn đề về cấu tạo và ý
nghĩa của địa danh tự nhiên và xã hội tỉnh Quảng Bình
4 Đóng góp mới của luận án
- Luận án cho thấy địa danh ở Quảng Bình vừa là sự phản ánh chung địa danh của người Việt, vừa mang dấu ấn đặc thù của cư dân đã cư trú ở vùng đất này từ thời
xa xưa
Trang 5- Theo đó, địa danh Quảng Bình có đặc điểm cấu tạo, ý nghĩa, phương thức định danh và đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa riêng mang đặc trưng của tiếng địa phương Quảng Bình
5 Tư liệu và phương pháp nghiên cứu
Nguồn tư liệu:
- Tư liệu lưu trữ hành chính ở tỉnh, huyện, xã; trên các loại bản đồ
- Tư liệu điều tra điền dã trực tiếp ở các địa phương Quảng Bình
Các phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu điền dã của ngôn ngữ học; phương pháp miêu tả
phân tích
-Thủ pháp thống kê, so sánh; trong đó có so sánh lịch đại để nghiên cứu nguồn
gốc và nhận diện giá trị văn hóa địa danh tỉnh Quảng Bình
6 Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, luận án có cấu trúc 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về địa danh và những vấn đề hữu quan về địa danh tỉnh
Quảng Bình
Chương 2: Những đặc điểm về cấu tạo và ý nghĩa của địa danh tỉnh Quảng Bình Chương 3: Một vài đặc điểm ngôn ngữ - văn hóa của địa danh tỉnh Quảng Bình
Chương 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐỊA DANH VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ HỮU QUAN
VỀ ĐỊA DANH TỈNH QUẢNG BÌNH
1.1 Cơ sở lý thuyết về địa danh
Những nội dung của luận án được giải quyết trên cơ sở kế thừa, vận dụng một
cách hợp lý lý thuyết về địa danh, địa danh học của các tác giả trong và ngoài nước
1.1.1 Về khái niệm địa danh
Hiện vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về địa danh Do đó, khái niệm
được chúng tôi sử dụng: Địa danh là những từ, cụm từ dùng làm tên riêng cho các
đối tượng địa lý khác nhau, có vị trí xác định thiên về không gian hai chiều trên bề mặt trái đất
1.1.2 Vấn đề phân loại địa danh
Luận án đã giới thiệu cách phân loại địa danh của các tác giả trong và ngoài nước: G.P.Xmolixkaja, A.V.Superanskaja, A.Dauzat, Ch.Rostaing, Nguyễn Văn Âu, Trần Thanh Tâm, Lê Trung Hoa, Nguyễn Kiên Trường, Từ Thu Mai, Phan Xuân Đạm Mỗi tác giả tùy theo mục đích và phương pháp nghiên cứu riêng mà đưa ra những tiêu chí phân loại khác nhau
Căn cứ vào mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và tình hình thu thập cứ liệu địa danh ở tỉnh Quảng Bình, luận án phân loại địa danh tỉnh Quảng Bình theo 2
tiêu chí tự nhiên - không tự nhiên và nguồn gốc ngôn ngữ Theo tiêu chí thứ nhất, địa danh ở Quảng Bình được chia thành: địa danh chỉ địa hình tự nhiên gồm những đối tượng địa lý nổi trên bề mặt (rú/núi, đồi, cồn, đôộng, bại ) và những đối tượng lõm
so với bề mặt quả đất (sông, hồ, đầm, phá, hói, khe ); địa danh không tự nhiên gồm:
địa danh cư trú-hành chính và địa danh công trình xây dựng Theo tiêu chí thứ hai,
địa danh tỉnh Quảng Bình được phân chia thành: địa danh Hán Việt, địa danh thuần
Trang 6Việt (tiếng Việt phổ thông và tiếng địa phương Quảng Bình), địa danh có nguồn gốc ngôn ngữ các dân tộc thiểu số
1.1.3 Về chức năng của địa danh
Địa danh có ba chức năng cơ bản: Chức năng cá thể hóa đối tượng; chức năng phản ánh hiện thực; chức năng bảo tồn
1.1.4 Vị trí của địa danh học trong ngôn ngữ học
Luận án đã mô hình hóa vị trí của địa danh học trong ngôn ngữ học theo quan điểm tán đồng với sơ đồ vị trí địa danh của Lê Trung Hoa
1.1.5 Hướng tiếp cận khi nghiên cứu địa danh tỉnh Quảng Bình
Hướng tiếp cận địa danh dưới góc độ ngôn ngữ - văn hóa là vấn đề thời sự hiện
nay; nó phân tích xem địa danh đã phản ánh những đặc điểm văn hóa, thực tiễn cuộc
sống như thế nào, và ngược lại, văn hóa được phản ánh qua địa danh ra sao Nghiên
cứu địa danh tỉnh Quảng Bình trong sự tìm hiểu khả năng tương tác giữa địa danh và các thành tố văn hóa là điểm đến của luận án với mong muốn góp phần bổ sung cho
sự nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa trong từng vùng lãnh thổ
1.2 Những vấn đề có liên quan đến địa danh tỉnh Quảng Bình
Luận án đã trình bày những đặc điểm chính về văn hóa, lịch sử, địa lý, địa giới hành chính, nguồn gốc dân cư, tiếng địa phương Quảng Bình
- Lịch sử Quảng Bình là lịch sử đầy biến động vì sự nghiệp mở mang bờ cõi của dân tộc
- Văn hóa Quảng Bình là kết quả của sự giao thoa tiếp biến, phân chia và hội tụ
của nhiều luồng văn hóa, là ga trung chuyển các giá trị văn hóa truyền thống từ Bắc vào Nam và ngược lại Cùng với tầng văn hóa vỏ ốc, văn hóa Bàu tró, văn hóa Chăm v.v nơi đây là một tiểu vùng văn hóa riêng, và tất yếu còn lưu lại trong địa danh
- Tiếng địa phương Quảng Bình còn lưu giữ những đảo thổ ngữ, thể hiện một quá trình tiếp xúc ngôn ngữ riêng ở địa bàn
1.3 Kết quả thu thập và phân loại địa danh tỉnh Quảng Bình
Luận án đã thu thập được 7009 địa danh, các địa danh này được xác định trên
sự phân bố theo không gian trên địa bàn toàn tỉnh
1 Các đối tượng địa lý tự nhiên 2742 39,12
2 Các đối tượng địa lý cư trú-hành chính 2985 42,59
3 Các công trình xây dựng 1282 18,29
Cộng 7009 100
1.3.1 Địa danh tỉnh Quảng Bình theo tiêu chí tự nhiên - không tự nhiên
Tiêu chí Phân loại dịa danh Số lượng Tỷ lệ %
Tự nhiên Loại hình địa danh tự nhiên 2742 39,12
Không tự
nhiên
Địa danh
cư trú hành chính
Liên quan đến đời sống
tinh thần
Trang 71.3.2 Địa danh tỉnh Quảng Bình theo tiêu chí nguồn gốc ngôn ngữ
Địa danh có nguồn gốc thuần Việt xuất hiện ở 2804 trường hợp, chiếm 40% Trong đó các địa danh tự nhiên là 1437 trường hợp (20,50%); địa danh cư trú hành chính có 895 trường hợp (12,77%); địa danh công trình xây dựng là 472 trường hợp
(6,73%) Ví dụ: đồng Bàu, đồng Côi…
Địa danh có nguồn gốc Hán Việt là 3612 trường hợp, chiếm 51,53% Trong
đó, địa danh tự nhiên có 1131 trường hợp (16,13%); địa danh cư trú hành chính gồm 1905 trường hợp (27,18%); địa danh công trình xây dựng có 576 trường hợp
(8,22%) Ví dụ: làng Thuận Bài, làng Thổ Ngọa, xã Quang Phú, xã Bảo Ninh
Địa danh có nguồn gốc hỗn hợp gồm 425 trường hợp, chiếm 6,06%, địa danh tiếng dân tộc thiểu số 96 trường hợp (1,37%) Một số địa danh tạm thời chưa xác
định nguồn gốc: động Chấn, xóm Dum, xóm Đồm, Chày Lập, Hà Lời, Trằm Mé,
bản Lòm, bản Rì Rị, bản Ón, Ta Leng, Rôông, Noòng
1.4 Tiểu kết
1 Luận án đã cung cấp một bức tranh toàn cảnh lí luận về vấn đề địa danh học
và tình hình nghiên cứu địa danh ở Việt Nam, xác định cách tiếp cận hợp lý để nghiên cứu địa danh tỉnh Quảng Bình, góp phần khẳng định vai trò và giá trị của phương pháp miêu tả nội dung địa danh trên cơ sở vận dụng tri thức của nhiều ngành khoa học như: văn hóa, lịch sử, địa lí và ngôn ngữ
2 Quảng Bình là vùng đất có nhiều đặc điểm riêng về lịch sử, văn hóa, ngôn ngữ Là
vùng đất cổ, với sự có mặt của con người từ rất xa xưa, nhiều lần thay đổi địa giới hành chính và địa danh Từ lớp người Chăm, người Việt cổ thời sơ sử, Quảng Bình là nơi tụ cư của nhiều lớp cư dân Đại Việt Đến nay, đại đa số cư dân Quảng Bình là người Kinh với một nền văn hóa đặc sắc, tích hợp từ văn hóa Việt, văn hóa Hán, mang dấu ấn văn hóa của các dân tộc thiểu số, văn hóa Chăm, tạo nên một tiểu vùng văn hóa riêng
3 Khảo sát địa danh tỉnh Quảng Bình theo tiêu chí tự nhiên - không tự nhiên đã chỉ ra các đặc trưng phong phú về địa hình (đầy đủ các loại hình đồi núi, sông suối, đồng bằng và biển), về các vùng đất cư trú hành chính
4 Kết quả thống kê địa danh Quảng Bình theo nguồn gốc ngôn ngữ cho thấy ở Quảng Bình có một tỷ lệ lớn các địa danh có nguồn gốc thuần Việt (tiếng Việt phổ thông
và tiếng địa phương Quảng Bình), phản ánh việc bảo lưu được tiếng Việt địa phương, tiếng Việt cổ Nhưng quá trình “Hán Việt hóa” cũng đã diễn ra khá sâu sắc Tần số hoạt động của các yếu tố Hán Việt là cao nhất, yếu tố có nguồn gốc ngôn ngữ các dân tộc thiểu số không đáng kể
Chương 2
NHỮNG ĐẶC ĐIỂM VỀ CẤU TẠO VÀ Ý NGHĨA CỦA ĐỊA DANH TỈNH QUẢNG BÌNH
2.1 Giới thuyết chung về cấu tạo địa danh và phương thức định danh
- Về bản chất, phương thức định danh là nhằm trả lời câu hỏi dựa vào đâu và bằng cách nào để định danh (đặt tên cho đối tượng)
- Thao tác định danh gồm: xác định những đặc tính chung để phân nhóm, tức là lựa chọn thành tố chung (danh từ chung) và những đặc tính riêng (nét riêng) để xác lập tên riêng (địa danh) cho đối tượng
Trang 8- Phương thức định danh, cấu tạo và ý nghĩa của địa danh luôn có mối quan hệ
chặt chẽ, gắn bó Cấu tạo của một địa danh liên quan đến hai yếu tố: cấu trúc nội bộ và
nguyên tắc đặt tên Cấu trúc nội bộ là đặc điểm về cấu tạo (hình thức), nguyên tắc đặt
tên là đặc điểm về ý nghĩa (nội dung)
2.2 Cấu tạo địa danh tỉnh Quảng Bình
2.2.1 Mô hình cấu trúc phức thể địa danh
Khi xem xét mô hình cấu trúc của một phức thể địa danh, quan điểm của luận án
là một địa danh, hay một phức thể địa danh luôn gồm 2 thành tố: thành tố chung chỉ loại
và tên riêng cụ thể hóa loại hình địa danh Cả hai thành tố đều có vai trò và chức năng
khác nhau trong việc tạo lập một phức thể địa danh Mô hình cấu trúc phức thể địa
danh ở Quảng Bình như sau:
Thành tố chung (A)
(loại hình địa danh)
Tên riêng (B)
(địa danh - đối tượng khu biệt)
Số lượng âm tiết tối đa Số lượng âm tiết tối đa
1 2 3 4 1 2 3 4 5 6 7 Nghĩa trang liệt sỹ Thị Trấn Nông Trường Việt Trung Trận địa Đại Đội Nữ Pháo Binh Ngư Thủy
2.2.2 Thành tố chung
2.2.2.1 Khái niệm thành tố chung
Theo chúng tôi: thành tố chung trong phức thể địa danh là những danh từ (hay
danh ngữ) dùng để chỉ một lớp sự vật, đối tượng cùng loại hình và cùng thuộc tính bản chất Ví dụ: làng (trong làng Thổ Ngọa)
2.2.2.2 Cấu tạo của thành tố chung trong địa danh tỉnh Quảng Bình
Dựa vào các nguồn tư liệu, luận án đã thu thập 7009 địa danh ghi bằng tiếng Việt với 149 thành tố chung Kết quả thống kê cấu tạo:
TT Số lượng âm tiết Số lượng thành tố chung Tỷ lệ%
TT Số lượng âm tiết Tần số xuất hiện Tỷ lệ % Ví dụ
1 Một âm tiết 6344 90,51 Làng Thuận Bài
2 Hai âm tiết 455 6,49 Di chỉ Cồn Nền
3 Ba âm tiết 123 1,76 Khu kinh tế Hòn La
4 Bốn âm tiết 87 1.24 Nghĩa trang liệt sỹ Ba Dốc
Trang 92.2.2.3 Chức năng của thành tố chung
- Chức năng phân biệt các loại hình đối tượng địa lí
- Chức năng hạn định cho tên riêng
- Chức năng chuyển hoá
Kết quả về sự chuyển hóa của thành tố chung vào tên riêng địa danh:
Loại địa danh chia theo
thành tố chung
Tổng hợp sự chuyển hoá
Thành tên riêng
Vào một vị trí (VT) của B
Cộng VT1 VT 2 trở đi
Địa danh địa hình thiên nhiên 68 237 51 356 Địa danh cư trú hành chính 27 61 39 127 Địa danh công trình liên quan
đến đời sống vật chất 21 41 25 87 Địa danh công trình liên quan
2.2.3.1 Về số lượng các âm tiết trong tên riêng
Trong tổng số 7009 địa danh thu thập, số lượng các âm tiết trong tên riêng là khác nhau, tên riêng dài nhất có 7 âm tiết Dưới đây là bảng thống kê tên riêng địa danh theo số lượng âm tiết:
Địa danh cư trú hành chính
Địa danh công trình
1 Một âm tiết 1143 584 278 2005 28,60
2 Hai âm tiết 1506 2087 764 4357 62,08
3 Ba âm tiết 81 276 116 473 6,75
4 Bốn âm tiết 12 34 53 99 1,41
5 Năm âm tiết 0 3 46 49 0,72
6 Sáu âm tiết 0 1 24 25 0,42
7 Bảy âm tiết 0 0 1 1 0,02
Trang 102.2.3.2 Các kiểu cấu tạo tên riêng
Tên riêng trong địa danh Quảng Bình có hai kiểu cấu tạo: cấu tạo đơn và cấu tạo phức Căn cứ vào số lượng các loại hình địa danh thu thập được, có thể lập bảng thông
kê địa danh theo kiểu cấu tạo như sau:
Loại hình địa danh
Số lượng địa danh theo kiểu cấu tạo Cộng Cấu tạo
TL % 28,60 52,80 17,54 1,06
2.3 Phương thức định danh
Địa danh ở Quảng Bình được luận án miêu tả theo hai phương thức: tự tạo và
chuyển hóa Kết quả khảo sát tư liệu địa danh cho thấy phần lớn địa danh tỉnh Quảng
Bình được hình thành theo phương thức tự tạo (hơn 70% trong tổng số hơn 7000 địa danh), số còn lại được tạo ra theo phương thức chuyển hóa Chỉ có một vài địa danh được đặt theo tiếng nước ngoài do các khám phá khoa học đối với các đối tượng địa
lý mới như: hang Over, hang Pygmy (tiếng Anh) ở vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ
Bàng
2.3.1 Phương thức tự tạo
Là phương thức mà người định danh sử dụng các yếu tố ngôn ngữ có sẵn để tạo ra một tên gọi địa danh theo cách của mình Sau đây là một số cách thức cụ thể:
- Đặt tên dựa vào hình dáng của đối tượng: núi Răng Lược, rú Mồng Gà, vực
Tròn, cầu Bánh Tét, cầu Bôộng, chợ Ống
- Dựa vào tính chất, đặc điểm chính của đối tượng: vụng Lành, khe Gát, rào
Đá, suối Nước Mọoc, xóm Mới, cống Phóng Thủy
- Dựa vào thời gian hoạt động của đối tượng như: chợ Hôm, chợ Mai, chợ Rằm
- Dựa vào hoạt động đặc thù của đối tượng trong một hoàn cảnh và giai đoạn
cụ thể: đường Gùi, đường Xe Đạp Thồ, đường Kín, đường Hở
- Dựa vào kích thước của đối tượng: cầu Ngắn, cầu Dài, đôộng Nậy (lớn),
đôồng Mén (nhỏ), roọng Mọn (bé)
- Đặt tên gắn với màu sắc đối tượng: sông Son (màu phù sa), bản Đất Đỏ, sông
Vàng (Hoàng Giang), Lục Sơn, Hồng Giang, Lục Giang
Trang 11- Đặt tên theo vật liệu xây dựng:cầu Sắt, cầu Gỗ, cầu Ván
- Đặt tên theo vị trí của đối tượng này so với đối tượng khác: xã Tây Trạch, xã
Nam Trạch, đồng Đá Mài Trong, đồng Đá Mài Ngoài
- Đặt tên theo công trình xây dựng gần đối tượng: ngã ba Tam Tòa, bến đò
Cổng Thượng, đôồng Phủ, giếng Đình…
- Đặt theo tên vật thể có nhiều ở nơi đó: dốc Sỏi, khe Đá Mài, rú Đá Đen,
giăng Đá Chát
- Đặt tên theo cầm thú sống hoặc nuôi ở đó: lòi Hổ, cồn Trai, quán Hàu, cồn
Ngựa, cồn Thân, cồn Tý
- Đặt theo tên thực vật mọc hoặc trồng nhiều trong vùng: suối Khe Mưng, suối
Cây Sy, hói Tre, hoang Năn, làng Lệ Sơn (Núi Vải)
- Dựa vào các giai đoạn, biến cố lịch sử: khu Giao Tế, dinh Mười, thôn Nam
Tiến, thôn 19/5, tiểu khu Thống Nhất, làng Trung Nghĩa
- Địa danh dùng số từ chiếm số lượng nhiều: đường 20 Quyết Thắng, quốc lộ
15, tỉnh lộ 760, tổ dân phố 8, cống 10, Quốc lộ 12C, đồi 26…
- Ghép địa danh với số thứ tự và ngược lại: Cầu Trại Gà 1, cầu Trại Gà 2, thôn
1 Thanh Lạng, thôn 2 Thanh Lạng, thôn 3 Thanh Lạng
- Ghép địa danh với địa danh: bản Eo Bù - Chút Mút, khu du lịch Phong Nha -
Kẻ Bàng
- Đặt tên trên cơ sở ghép các yếu tố Hán Việt cho các đơn vị hành chính như:
Thọ Linh, Lộc Long, An Xá, Mỹ Cảnh, Mỹ Duyệt
2.3.2 Phương thức chuyển hóa
Chuyển hóa là phương thức chuyển một địa danh này thành một hoặc nhiều địa danh khác Sau khi chuyển hóa, địa danh cũ có thể mất đi hoặc cùng tồn tại với địa
danh mới Có những hình thức chuyển hóa như sau:
- Chuyển hóa từ địa danh chỉ địa hình tự nhiên sang địa danh cư trú hành
chính: bản Khe Giữa, bản Rào Con, thôn Cồn Năn, thôn Cồn Sẻ
- Chuyển hóa từ địa danh lịch sử văn hóa sang địa danh cư trú hành chính hoặc
ngược lại: chiến khu Trung Thuần – làng Trung Thuần, làng Văn La - địa đạo Văn
La
- Chuyển hóa từ nhân danh thành địa danh: thôn Hoàng Trung Lộc, thôn
Hoàng Đàm, thôn Ông Chinh, lũy Thầy, đường Mẹ Suốt
- Chuyển hóa từ tên các nhân vật trong truyền thuyết thần thoại, tín ngưỡng
dân gian: núi Cu Lôông (tên thần núi), eo Ôông Đùng (truyền thuyết người Nguồn),
thác Pụt (tín ngưỡng thờ Pụt của người Nguồn)
- Chuyển hóa trong nội bộ địa danh, lấy tên làng gốc đặt tên làng thành lập sau:
xã Cự Nẫm có tên gốc là làng Cự Nẫm, sau đó tách chia thành các thôn Sen Nẫm, Trung Nẫm, Tân Nẫm
- Chuyển hóa thành tố chung thành một yếu tố cấu tạo tên riêng địa danh: thôn
Bàu, xóm Bến, xóm Cồn, xóm Cầu, thôn Làng, xóm Thôn
- Chuyển hóa từ địa danh ở địa phương khác: làng Bắc Sơn, Bắc Giang, Hòa
Bình, Phú Xuân, Thuận hóa, Cảnh Dương
2.4 Đặc điểm về ý nghĩa của các yếu tố cấu tạo địa danh tỉnh Quảng Bình
2.4.1 Vấn đề ý nghĩa của địa danh
Trang 12Vấn đề “ý nghĩa” của địa danh chỉ mang tính tương đối Trong cách nhìn
chung nhất, mỗi địa danh ra đời đều gắn với một lí do nhất định Hay nói cách khác,
mỗi địa danh đều mang một ý nghĩa khác nhau trong việc phản ánh hiện thực
2.4.2 Cách thức xác định nghĩa của địa danh
- Căn cứ vào ngữ nghĩa của từ, có chú ý đến sự biến đổi
- Dùng phương pháp so sánh lịch sử để xác lập mối quan hệ ngữ âm của các
đơn vị có liên quan
- Căn cứ vào kết quả điền dã tại địa bàn khảo sát, vận dụng tri thức liên ngành 2.4.3 Đặc điểm ý nghĩa của các yếu tố trong địa danh
2.4.3.1 Tính rõ ràng về nghĩa của các yếu tố thể hiện qua nguồn gốc ngôn ngữ của địa danh tỉnh Quảng Bình
Những địa danh có ý nghĩa rõ ràng là những địa danh được tất cả mọi người bản ngữ hiểu một cách dễ dàng, là những kiểu tên gọi rõ lí do tuyệt đối, thường được tạo ra từ sự lựa chọn các đặc trưng lí do khách quan để định danh Trong tổng số hơn
7000 địa danh thu thập được, có 90% địa danh rõ lí do tuyệt đối, có nghĩa rõ ràng Đa
số các địa danh Hán Việt, thuần Việt trên địa phận Quảng Bình đều rõ về nghĩa
2.4.3.2 Về hiện tượng địa danh chưa được xác định rõ ràng về nghĩa
Là những địa danh có ý nghĩa mờ nhạt, nghĩa của chúng không rõ ràng ngay cả với những người bản ngữ, thường chứa các yếu tố ngôn ngữ cổ, ngoại lai, những yếu
tố ngôn ngữ bị biến âm, hoặc các đặc điểm có liên quan đến đối tượng được định danh cũng không còn hiện diện Một số địa danh tiếng địa phương Quảng Bình và nhiều địa danh thuộc ngôn ngữ các dân tộc thiểu số thường không rõ ràng về nghĩa Những trường hợp này cần tiếp tục nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số đầy đủ hơn nữa mới có thể nhận biết được
2.4.3.3 Vấn đề phân loại ý nghĩa địa danh tỉnh Quảng Bình
a) Về tiêu chí phân loại ý nghĩa địa danh
Luận án sử dụng tiêu chí phân loại ý nghĩa địa danh của tác giả A.V
Superanskaja, phân chia ý nghĩa địa danh thành 4 loại:
- Địa danh kí hiệu về mặt hình thức là những kí hiệu, có thể là số hay chữ cái
Ví dụ: đồi A1, thôn 5
- Địa danh mô tả là địa danh chỉ dựa trên một trong những dấu hiệu của đối
tượng để định danh (màu sắc, hình dáng hoặc cách thức kiến tạo đối tượng địa lí) Ví
dụ: bản Đất Đỏ là bản có thổ nhưỡng màu đỏ
- Địa danh đăng kí xác định tình trạng nhất định của sự vật, gắn sự tồn tại của đối tượng với một đối tượng lân cận khác Ví dụ: đôồng Tiền Phủ là đồng có vị trí
phía trước phủ lỵ Quảng Ninh thời nhà Nguyễn
- Địa danh ước vọng thể hiện cách định danh trên cơ sở lí do chủ quan xuất phát từ tình cảm, mong muốn của chủ thể định danh Ví dụ: thôn Hòa Bình, thôn
Hưng Lộc (ước vọng sự bình yên, giàu có, phát triển)
b) Các nhóm ý nghĩa trong địa danh tỉnh Quảng Bình
Căn cứ vào tư liệu thu thập, luận án phân chia địa danh ở Quảng Bình thành:
b.1 Nhóm địa danh không có nghĩa từ vựng
Các địa danh bằng số, chữ cái (địa danh kí hiệu) gọi tên một số địa điểm, công
trình (đèo 1001, đường 12A, đường 10, kênh 186, bến phà 1, 2,…), tên hành chính các tổ, xóm, tiểu khu (bằng số 1, 2, 3,…), đều không có nghĩa mô tả (ý nghĩa từ
vựng) Chúng chỉ có chức năng đánh dấu, cá thể hóa đối tượng, không nói lên được