1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

cơ sở kinh tế và những giải pháp giải quyết đình công tại thành phố hồ chí minh

43 163 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 18,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo luật QHLĐ của Thái Lan thì “Đình công là việc những NLĐ ngừng công việc hàng loạt với tính chất tạm thời do có tranh chấp lao động”điều 5 [6, 15] Cuốn Bách khoa toàn thư của Cộng H

Trang 1

TRƯỜNG NĐẠI HỌC KINH TẾ Tp HCM

Trang 2

1.1.3 Phân loại đình công - 2+ +52 +++x+rerxetererkrrerrkrrrrrkrrerree 10

1.2 Quan hệ lao động và đình công - - + x‡x+xevexeketerersrrrrrerree 12 1.2.1 Quan hệ lao đỘng: - + «+ xxx vn ng ng grgrrrerrre 12

1.3.3 Quan hệ giữa tiền lương - giá cả hàng hóa SLĐ và đình công 24

1.3.3.1 Tiền lương - giá cả hàng hóa SLĐ cc ©cccccccc2 24

1.3.3.2 Tác động của quan hệ cung — cầu và giá cả hàng hóa SLĐ tới đình công

2.1 Khái quát về tình hình đình công ở Việt Nam -c++ 29

2.2 Thực trạng đình công ở TP HCM - - + + + +5 +x+k+k+xevzxexevexereee 32 2.2.1 QHLĐ trong các doanh nghiệp tại TP.HCM thời gian qua 32 2.2.1.1 QHLD trong cdc 09))0)0 0 5.4 32

2.2.1.2 QHLĐ trong các doanh nghiệp tư nhân - 5s + 33 2.2.1.3 QHLĐ trong các doanh nghiệp có vốn ĐTNN - 33

Trang 3

2.2.2 Thực trạng đình công tại TP.HCM từ 1990 đến TIAY: s55 S< sex 34

2.3 Nguyên nhân và bản chất kinh tế của đình công ở TP.HCM: 39

2.3.1 Chậm điều chỉnh chính sách tiền lương tối thiểu - 39

2.3.2 NSDLĐ vi phạm lợi ích kinh tế hợp pháp của NLĐ - 44

2.3.3 Cung— cầu lao động -+-©22++etECEkEetEEEEEeeErrkerrrrrrrerrrrkee 51 2.3.4 Tác động của đình công và kết quả giải quyết đình công tại TP.HCM thời gian qua 2.3.4.1 Tác động của đình công - «+ + sssxsxxxrrrrrerkreereree 56 2.3.4.2 Kết quả giải quyết các vụ đình công tại TP.HCM thời gian qua 58

CHƯƠNG 3: QUAN ĐIÊM VÀ GIẢI PHÁP GIẢI QUYÉT ĐÌNH CÔNG TẠI THÀNH PHÓ HỒ CHÍ MINH . ++++t+eeeeekktrrrrrrrrirrrrrrrie 62 3.1 Quan điểm giải quyết van đề đình công -2-++ze+ccvveerrrrz 62 3.1.1 — Dự báo về tình hình đình công trong những năm tới - 62

3.1.2 Quan điểm giải quyết vấn đề đình công ©7222 63 3.2 Một số giải pháp giải quyết vấn đề đình công tại TP.HCM 65

3.2.1 Cải tiến, đổi mới chính sách tiền lương tối thiểu: . - 66

3.2.2 Các giải pháp đảm bảo lợi ích kinh tế hợp pháp của NLĐ 70

3.2.2.1 Về phía doanh nghiỆp: -2-©+z2+E++eetevvxerrrvseeree 70 3.2.2.2 Về phía công đoàn: -+++22E22++rr+ztrvvrrrrrrrrrrree 74 3.2.3 Củng có và thực hiện hiệu quả cơ chế ba bên:

3.2.4 Điều tiết cung - cầu lao h0 78

k7 con ẽ.ẽ.ẽ.ẽẽ.ẻ 4+AADHgH) , 81

3.3.1 Tiép tục hoàn thiện các quy định của pháp luật về lao động: 81

3.3.2 Tăng cường công tác quản lý và thanh tra Nha nước về lao động 84

3.3.3 Xây dựng bản hướng dẫn lương hàng năm: . - + 85

x00 87

Trang 4

sản phẩm .); có nhiều đoanh nghiệp để xảy ra đình công trái luật nhiều lần trong thời gian ngắn, với số người tham gia ngày càng đông (có vụ lên tới 18.000 người tham gia) và thời gian đình công ngày càng dài; NLĐ bị trù dập sau đình công, đã

bắt đầu xuất hiện vụ đình công đầu tiên để phản đối quy định của nhà nước (chứ

không phải là tranh chấp giữa NLĐ và NSDLĐ) Đình công ở TP.HCM là một hiện tượng xã hội điễn biến phức tạp, đã và đang gây hậu quả xấu cho cả phía NSDLĐ

va NLD, déng thoi de dọa đến sự ổn định kinh tế — chính trị — xã hội, ảnh hưởng

xấu đến môi trường đầu tư Vì vậy, đình công đang trở thành vấn đề thời sự nóng

bỏng cần quan tâm giải quyết, chính quyền TP.HCM cũng đã xác định đình công là vấn đề cần quan tâm nghiên cứu trong chương trình khoa học xã hội nhân văn

(chương trình số 11) năm 2005

Với mong muốn góp phần giải quyết vấn đề này tôi quyết định chọn đề tài

“Cơ sở kinh tế và những giải pháp giải quyết đình công tại TP.HCM” làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành Kinh tế Chính trị của mình Tôi cho rằng việc nghiên cứu vấn

đề này là một việc làm ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn

Trang 5

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn cần đạt được là:

“ Nghiên cứu những vấn đề lý luận liên quan đến đình công, QHLĐ, tranh

chấp lao động trong nền KTTT

s* Nghiên cứu bản chất và cơ sở kinh tế của đình công trong nền KTTT

s* Nghiên cứu và phân tích thực trạng đình công ở TP.HCM từ năm 1990 đến nay Lý giải các nguyên nhân cơ bản và những ảnh hưởng của đình công tại TP

HCM Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp giải quyết đình công

Để đạt được mục tiêu nên trên, các câu hỏi nghiên cứu cần trả lời:

* Đình công có phải là một hiện tượng khách quan trong nền KTTT? Đặc điểm của đình công là gì? Đình công có tác động tích cực, tiêu cực như thế nào?

s* Bản chất của đình công gì? Đình công ở TP.HCM có những đặc điểm gì nỗi

bật? Đâu là nguyên nhân dẫn đến các cuộc đình công ở TP.HCM thời gian qua?

$* Đình công là “vũ khí cuối cùng” của NLĐ khi có tranh chấp xảy ra giữa NLĐ và NSDLPĐ, vậy nên khuyến khích hay hạn chế đình công xảy ra? Giải pháp nào cho vấn đề này?

3 Đối tượng và phạm vỉ nghiên cứu

‹* _ Đối tượng nghiên cứu: đối tượng nghiên cứu của luận văn là các cuộc đình công trong các loại hình doanh nghiệp diễn ở TP.HCM

% Phạm vỉ nghiên cứu:

- Về nội dung: luận văn tập trung làm rõ cơ sở kinh tế của đình công và trên cơ

sở đó đưa ra các giải pháp cơ bản đề giải quyết đình công nhằm đảm bảo quyền lợi

của các bên tham gia QHLĐ trong các loại hình doanh nghiệp Tuy nhiên, luận văn

sẽ phân tích kỹ van đề đình công trong các doanh nghiệp có vốn ĐTNN vì đây là khu vực các vụ đình công xảy ra nhiều nhất thời gian qua

- Về thời gian: Luận văn nghiên cứu đình công ở TP.HCM từ năm 1990 đến

nay, trong đó tập trung chủ yếu trong giai đoạn 1998 đến nay

- Về không gian: Luận văn nghiên cứu đình công trên địa bàn TP.HCM

Trang 6

4 Phương pháp nghiên cứu :

Để đạt được những mục tiêu đề ra, đựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ

nghĩa Mac — Lénin, tư tưởng Hồ Chí Minh, luận văn được thực hiện bởi một số

phương pháp nghiên cứu cụ thể là:

- Sử dụng phương pháp logic — lịch sử để nghiên cứu sự thay đổi trong nhận thức về nền KTTT, về sự tồn tại khách quan cơ cấu kinh tế nhiều thành phan, thừa nhận còn tồn tại quan hệ bóc lột trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam

- Sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp các kết quả thống kê và các tài liệu liên quan đến vấn đề này để làm rõ nguyên nhân bản chất của đình công, từ đó

có cơ sở dé đề xuất những giải pháp giải quyết đình công tại TP.HCM

5 Tình hình nghiên cứu đề tài:

Đình công là hiện tượng xã hội nóng bỏng trong thời gian qua cũng như hiện nay đang được các cơ quan thống tấn báo chí, các nhà nghiên cứu, các cơ quan quản

lý Nhà nước về lao động, các tổ chức chính trị xã hội quan tâm Vì vậy, đã có khá

nhiều bài báo đề cập đến những vụ đình công được đăng tải trên các nhật báo, tuần

báo và các tạp chí chuyên ngành

Bên cạnh đó, đã có một số công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề đình công, vấn đề tranh chấp lao động (nhất là tranh chấp lao động trong các đoanh

nghiệp có vốn ĐTNN) như:

- “Van đề đình công của công nhân ở nước ta hiện nay” Luận án tiến sĩ nghiên

cứu sinh Phạm Thị Xuân Hương - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2001

- “Co sé ly luận và thực tiễn hoàn thiện pháp luật về quyền của NLĐ trong doanh nghiệp có vốn ĐTNN ở Việt Nam hiện nay”, Luận văn thạc sỹ của Lê Thị

Anh Đào, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2002

- “Tình hình đình công tại Tp HCM - Thực trạng và giải pháp” Luận văn Cử

nhân chính trị của Mai Đức Chính, 2001

- _ “Đình công tại Tp HCM - Thực trạng và giải pháp” Đề tài nghiên cứu khoa

học cấp thành phố do PGS.TS Phan An làm chủ nhiệm đề tài đã nghiệm thu giai

đoạn 1

Trang 7

Đặc biệt, vấn đề đình công và giải quyết đình công đã được Ủy ban các vấn

đề xã hội của Quéc héi, B6 LD — TB & XH, Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam

quan tâm sâu sắc và đã tổ chức một số cuộc hội thảo về đình công và giải quyết vấn

đề đình công

Những công trình trên, trong phạm vi nghiên cứu của mình đã có những đóng góp đáng trân trọng Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào

nghiên cứu riêng về khía cạnh kinh tế của đình công mà nghiên cứu chủ yếu đưới

góc nhìn bao quát và góc độ pháp lý của vấn đề đình công Do đó, đề tài này được thực hiện sẽ có sự kế thừa nhất định những công trình trên và đi sâu nghiên cứu vấn

đề đình công đưới góc độ kinh tế

6 Những đóng góp khoa học mới của luận văn

- — Nghiên cứu một cách có hệ thống cơ sở lý luận về QHLĐ, tranh chấp lao

tham gia QHLĐ theo nguyên tắc thị trường có sự quản lý của Nhà nước XHCN

7 Kết cầu của luận văn

Luận văn được kết cấu gồm phần mở đầu, 3 chương về nội dung, phần kết

luận và phụ lục Trong đó, các chương của luận văn gồm:

Chương 1 : Cơ sở lý luận về đình công trong nền kinh tế thị trường

Chương 2 : Thực trạng đình công tại TP HCM thời gian qua

Chương 3 : Quan điểm và giải pháp giải quyết đình công tại TP.HCM

Trang 8

việc hay điều kiện làm việc” [6, 14]

Theo luật QHLĐ của Thái Lan thì “Đình công là việc những NLĐ ngừng

công việc hàng loạt với tính chất tạm thời do có tranh chấp lao động”(điều 5) [6, 15]

Cuốn Bách khoa toàn thư của Cộng Hòa Pháp định nghĩa “Đình công là ngừng việc có ban tính, nhằm nhấn mạnh những yêu sách mà NSDLĐ không muốn làm thỏa mãn”

Điều 172 Bộ luật lao động Việt Nam cũng đưa ra định nghĩa “Đình công là

sự ngừng việc tạm thời, tự nguyện và có tổ chức của tập thể lao động để giải quyết

tranh chấp lao động tập thể” [12, tr 77)

Hầu như ở quốc gia nào cũng đưa ra khái niệm về đình công và thừa nhận

quyền đình công của NLĐ trong Hiến pháp (như ở Cộng hòa liên bang Đức, Pháp) hoặc trong Bộ luật lao động (Như ở Liên bang Nga, Philippin, Thái Lan ) Tuy có nhiều khái niệm khác nhau về đình công nhưng nhìn chung có thể nhìn nhận vấn đề

đình công dưới hai góc độ sau:

- Dưới góc độ kinh tế — xã hội, đình công được coi là quyền kinh tế — xã hội

cua NLD trong nền KTTT, là biện pháp đấu tranh kinh tế được thực hiện bởi những

NLĐ, nhằm gây sức ép đề đạt những yêu sách nhất định gắn với lợi ích kinh tế hoặc lợi ích nghề nghiệp phát sinh trực tiếp từ QHLĐ như tiền lương, tiền thưởng, thời

giờ làm việc, nghỉ ngơi, bảo đảm các chế độ BHXH, BHYT Đình công xảy ra có thể gây thiệt hại về kinh tế hay đe dọa gây thiệt hại về kinh tế nên đình công có thể

Trang 9

gây được áp lực với NSDLĐ, giúp tập thể NLĐ đạt được các yêu sách về quyền và

lợi ích Đình công không phải là biện pháp đuy nhất để những NLĐ đạt được mục

đích của mình, nhưng với sức ép mà đình công có khả năng tạo ra, đình công

thường được những NLĐÐ coi là cách thức có hiệu quả, là “vũ khí lợi hại” mà tập thể lao động sử đụng trong cuộc đấu tranh kinh tế với NSDLĐ để bảo vệ các quyền và lợi ích của họ

Đình công là hành vi ngừng việc được thực hiện bởi ý chí tự nguyện của nhiều NLĐ Khả năng liên kết và tập hợp sự tham gia đông đảo của những NLĐ là

một trong những nhân tố quyết định thắng lợi cuả một cuộc đình công

- _ Dưới góc độ pháp lý, đình công là một quyền của NLĐ được pháp luật thừa nhận (theo điều 8 công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa của

Liên hiệp quốc) Quyền đình công được hiểu là quyền nghỉ việc tập thể nhằm buộc

NSDLĐ hoặc các chủ thể khác phải thỏa mãn những yêu sách chính đáng của mình Tuy nhiên, quyền đình công này chỉ giới hạn trong khuôn khổ pháp luật cho phép

và phải tuân theo những trình tự, thủ tục nhất định do pháp luật quy định Vì là một

loại quyền của NLĐ nên đình công phải được thực hiện thông qua hành vi ngừng

việc của chính những NLĐ, nhằm hướng tới những lợi ích nghề nghiệp và xuất phát

từ QHLĐ Quan điểm của tô chức Lao động quốc tế (ILO) và đa số các quốc gia đều cho rằng, các cuộc đình công kinh tế được thực hiện vì những lợi ích gắn với QHLĐ mới thuộc phạm vi cho phép của quyền đình công Những cuộc đình công chính trị đều không thuộc phạm vi QHLĐ và vượt ra ngoài khuôn khổ của quyền đình công

NLĐ có quyền tự quyết định tham gia hay không tham gia đình công, tự do ý trí trong việc đưa ra yêu sách Nhưng việc thực hiện quyền đình công của NLĐ lại không thể thông qua hành vi cá nhân, mà phải thực hiện thông qua hành động đồng loạt ngừng việc của tập thể lao động Việc một cá nhân NLĐ ngừng việc nhằm nêu

yêu sách mang tính cá nhân, không được sự ủng hộ của những NLĐ khác không

được coi là biểu hiện của quyền đình công và nằm ngoài phạm vi được phép thực hiện của quyền đình công Như vậy, đình công là một loại quyền cho phép NLĐ

Trang 10

~9-

được tự đo lựa chọn cách xử sự trong khuôn khổ pháp luật, nhưng việc thực hiện quyền này phải thông qua hành vi mang tinh tap thể, là sự tự nguyện ngừng việc của

những NLĐ

Trên cơ sở những vấn đề nên trên, có thể thấy đặc điểm chung nhất của đình

công đó là biện pháp đấu tranh kinh tế của những NLĐ, được thực hiện bằng cách

ngừng việc tập thể và có tổ chức, nhằm gây sức ép buộc NSDLĐ phải chấp nhận

các yêu sách gắn với quyền và lợi ích của NLĐ

1.12 Đặc điểm cơ bản của đình công

Tuy có nhiều quan điểm khác nhau về đình công, nhưng nhìn chung tất cả

đều thống nhất ở một số đặc điểm sau của đình công:

> Dinh cong biéu hién thông qua sự ngừng việc triệt để của NLĐ và do tập thể

NLD tién hành

Sự ngừng việc của NLĐ được thể hiện ở nhiều dang va nhiều mức độ khác nhau Nhưng đình công thường được biểu hiện ở sự ngừng việc một cách triệt để của tập thé NLD mà đúng ra họ phải thực hiện công việc theo HDLD, theo thỏa ước lao động và theo quy chế của nơi làm việc Vì vậy, tất cả những sự ngừng việc

không triệt để như nghỉ việc lẻ tẻ, làm việc cầm chừng, lãn công không được xác

định là đình công

Ngừng việc trong đình công khác với việc chấm đứt QHLĐ Đình công chỉ là

việc những NLĐÐ tạm thời không thực hiện nghĩa vụ lao động với mục đích gây thiệt hại với chủ thể cần thiết để tạo ra sức ép về kinh tế Những NLĐ khi đình công không nhằm mục đích chấm dứt QHLD và luôn sẵn sàng trở lại làm việc nếu được chấp nhận các yêu sách về quyền và lợi ích Vì vậy, đình công biểu hiện ra bên ngoài là hành vi ngừng việc tạm thời (tạm ngưng QHLĐ), không phải là hành vĩ

đơn phương chấn đứt QHLĐ (bỏ việc vĩnh viễn)

Đình công là hiện tượng phản ứng có tính chất tập thể được tiến hành bởi

những NLĐ Tính tập thể của một cuộc đình công phải đồng thời thể hiện ở hai đấu hiệu là có sự tham gia của nhiều NLĐ và giữa họ có sự liên kết mật thiết, cùng

ngừng việc vì mục tiêu chung

Trang 11

> Dinh công phải phát sinh từ tranh chấp lao động tap thé NLD được tiễn hành

đình công khi tập thể NLĐ không đồng ý với việc giải quyết tranh chấp lao động

tập thể của cơ quan có thấm quyền Do đó, không có tranh chấp lao động tập thé thi

không phát sinh đình công

> _ Đình công luôn có tính tổ chức: đình công là sự ngừng việc triệt dé cua NLD

nhưng sự ngừng việc này đòi hỏi phải có sự phối hợp về mặt ý chí và tổ chức của

những NLĐ với nhau Nghĩa là sự ngừng việc này phải có sự lãnh đạo, chỉ đạo, sự

tổ chức và điều hành chung của một cá nhân, một nhóm người hay sự phối hợp của

tap thé NLD

> Dinh công bao giờ cũng đi liền với các yêu sách, trong đó chủ yếu là những

yêu sách liên quan đến lợi ích kinh tế: tiền lương, tiền thưởng, chế độ BHXH, thời

giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, ký kết và thực hiện đúng HĐLĐ Ngoài ra còn

có các yêu sách khác như yêu sách về chấm dứt các hành vi đối xử thô bạo, chống

xa thải tùy tiện, yêu sách về vệ sinh, an toàn lao động

Đình công là một quyền cơ bản của giai cấp công nhân và những NLĐ, là

phương tiện cuối cùng dé họ có thé tự bảo vệ mình khi cần thiết, nhất là trong điều

kiện của nền KTTT Đối với những nước có nền kinh tế phát triển và ổn định thì đình công là một vấn đề hết sức quen thuộc và được pháp luật cho phép

1.1.3 Phân loại đình công

> Đình công hợp pháp: Cuộc đình công được coi là hợp pháp khi hội đủ các điều kiện sau đây:

- Thứ nhất: phải phat sinh từ tranh chấp lao động tập thé và trong phạm vi QHLĐ, tức là về chủ thể phải là tranh chấp của tập thê lao động trong doanh nghiệp hoặc trong bộ phận kết cấu của đoanh nghiệp Về nội dung, tranh chấp lao động phải liên quan đến quyền và lợi ích chung của tập thể lao động trong doanh nghiệp

hoặc trong kết cầu của đoanh nghiệp và không vượt ra ngoài phạm vi QHLĐ (phạm

vi QHLĐ gồm: tiền lương, thỏa ước lao động tập thể, HĐLĐ, thời giờ làm việc, thời

giờ nghỉ ngơi, BHXH, kỷ luật lao động, những quy định riêng đối với lao động nữ,

trách nhiệm vật chất, vệ sinh lao động, an toàn lao động )

Trang 12

— 11—

- Thứ hai: cuộc đình công được tập thể những NLĐÐ làm việc tại doanh nghiệp tiến hành trong phạm vi doanh nghiệp (có thể là trong toàn bộ doanh nghiệp hoặc một bộ phận của doanh nghiệp)

- Thứ ba: tập thé lao động không đồng ý với quyết định của hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh mà không khởi kiện tòa án giải quyết

- Thứ tư: lay y kién NLD vé dinh céng theo quy dinh tai điều 172a, điều 174a

và khoản 1, khoản 3, điều 174b của Bộ luật lao động sửa đổi, bổ sung có hiệu lực từ

ngày 01/07/2007 về kết quả lấy ý kiến của NLĐ và gửi bản yêu cầu đình công Cụ

thể như sau: Việc đình công do Ban chấp hành Công đoàn cơ sở tổ chức và lãnh

đạo Đối với doanh nghiệp chưa có ban chấp hành công đoàn cơ sở thì việc tổ chức

và lãnh đạo đình công phải do đại diện được tập thể lao động cử tổ chức và lãnh

đạo Đình công được quyết định sau khi lấy ý kiến của tập thể lao động tán thành

bằng cách bỏ phiếu kín hoặc lấy chữ ký Đối với doanh nghiệp hoặc bộ phận doanh

nghiệp có dưới 300 NLĐ thì lấy ý kiến trực tiếp của NLĐ Đối với doanh nghiệp hoặc bộ phận đoanh nghiệp có từ 300 NLĐ trở lên thì lấy ý kiến của thành viên Ban

chấp hành công đoàn cơ sở, Tổ trưởng tổ công đoàn và Tổ trưởng tổ sản xuất; trường hợp không có công đoàn cơ sở thì lấy ý kiến của Tổ trưởng, Tổ phó tô sản xuất Ban chấp hành Công đoàn cơ sở hoặc đại diện tập thể lao động ra quyết định đình công khi có ý kiến đồng ý của trên 50% tổng số NLĐ đối với doanh nghiệp

hoặc bộ phận doanh nghiệp có dưới 300 NLĐ hoặc trên 75% số người được lấy ý

kiến đối với doanh nghiệp hoặc bộ phận doanh nghiệp có từ 300 NLĐ trở lên Trong bản yêu cầu và bản thông báo phải nêu rõ các vấn đề bất đồng, nội đung yêu cầu giải quyết, kết quả bỏ phiếu hoặc lấy chữ ký tán thành đình công và thời điểm bắt đầu đình công

- Thứ năm: Việc tỗ chức và lãnh đạo đình công phải tuân theo quy định trong

Bộ luật lao động

- Thứ sáu: doanh nghiệp nơi tập thê NLĐ tiến hành đình công không thuộc doanh nghiệp cung ứng các sản phẩm, dịch vụ công ích và doanh nghiệp thiết yếu cho nền kinh tế quốc dân hoặc an ninh quốc phòng do chính phủ quy định Các

Trang 13

doanh nghiệp không được đình công được quy định chỉ tiết tại Nghị định số

122/2007/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 27/07/2007 [Phu luc 18]

- Thứ bảy: không vi phạm quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc hoãn hoặc ngừng cuộc đình công trong trường hợp xét thấy đình công có nguy cơ nghiêm

trọng cho nền kinh tế quốc đân, an ninh quốc phòng hoặc an toàn công cộng Sau đó giao cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phối hợp với công đoàn cùng giải quyết, nếu tập thể lao động không nhất trí với việc giải quyết đó thì có quyền yêu cầu tòa

án giải quyết

> Dinh cong bat hợp pháp: bất kỳ một cuộc đình công nào, nếu thiếu một trong bảy điều kiện nói trên đều không được pháp luật thừa nhận và là cuộc đình công bất hợp pháp

1.2 Quan hệ lao động và đình công

1.2.1 Quan hệ lao động:

QHLD 1a quan hệ xã hội phát sinh từ quá trình lao động, là tất cả những mối quan hệ giữa NLĐ với các chủ thể khác dẫn đến việc sử dụng SLĐ QHLĐ là một

nội dung của quan hệ sản xuất, và tính chất của mỗi loại QHLĐ sẽ tùy thuộc vào

hình thức sở hữu gắn với nó Loài người đã trải qua hai hình thức sở hữu chính về

tư liệu sản xuất là tư hữu và công hữu Tư hữu gồm tư hữu nô lệ, tư hữu phong kiến

và tư hữu TBCN; còn công hữu thì có công hữu XHCN QHLĐ được xác định tương ứng với các chế độ sở hữu trên là: quan hệ giữa chủ nô — nô lệ, chủ đất — người nông dân, giữa chủ tư bản — lao động làm thuê, chủ quản lý điều hành - NLĐ

và mỗi mối quan hệ có vai trò quan trọng nhất định trong tiến trình phát triển của xã

hội

QHLĐ vừa phô biến, vừa đặc thù, chịu ảnh hưởng bởi yếu tố khách quan và chủ quan Yếu tố khách quan là tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Lực lượng lao động có chất lượng sẽ là điều kiện cần thiết để thiết lập và củng

cố QHLĐ Yếu tố chủ quan là sự nhận thức và hành vi của các chủ thể tham gia

QHLĐ.

Trang 14

- 13—

Các chủ thé tham gia QHLĐ bao gồm: NSDLĐ (hay còn gọi là giới chủ) và

tổ chức đại diện quyền lợi cho họ; NLĐ và tổ chức đại diện cho họ; Nhà nước Trong mối quan hệ này, NLĐ và NSDLĐ thương lượng với nhau để đạt tới các mục

tiêu của mỗi bên, còn Nhà nước thiết lập hệ thống pháp luật và có biện pháp làm

sao cho pháp luật có hiệu lực, tức là để hai chủ thể phải tôn trọng luật Trong quá trình thực hiện các quy định pháp luật của Nhà nước, NLĐ và NSDLĐ có thể phản hồi lại để Nhà nước xem xét và kịp thời điều chỉnh

Một số biếu hiện cụ thể của QHLĐ:

> _ HĐLĐ là hình thức pháp ly dé xác lập QHLĐ, là sự thỏa thuận giữa NLĐ và

NSDLĐ về việc làm có trả công với những điều khoản nhất định, là cơ sở để đảm

bảo lợi ích cho các chủ thể của QHLD

Theo hợp đồng, NLĐ có nghĩa vụ thi hành công việc được giao trong thời

gian mà NSDLĐ đã dự kiến và ấn định Ngoài thời gian này, NLĐ có thể làm việc ở

những nơi khác, miễn là không ảnh hưởng gì tới công việc đã cam kết NSDLĐ

cũng có nghĩa vụ: cung cấp việc làm theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng; trả

lương và các khoản phúc lợi theo đúng cam kết; đảm bảo các tiêu chuẩn vệ sinh, an toàn cho NLD theo đúng quy định của pháp luật

Khi một trong hai bên vi phạm các điều khoản đã thỏa thuận trong hợp đồng,

bên bị thiệt hại có thể tính toán và đòi bồi thường những tốn thất về vật chất và tinh

thần do bên kia gây ra Với hệ thống luật lao động, với chế độ HĐLĐ, QHLĐ trở

nên lành mạnh hơn, tranh chấp trong QHLĐ sẽ giảm đáng kể nhờ ràng buộc đôi bên

Những nguyên tắc của HĐLĐ là tự do và tự nguyện, bình đẳng trước pháp luật, không trái với luật lao động và phù hợp với thỏa ước lao động tập thể

> Thương lượng và thỏa ước lao động tập thé

Thương lượng tập thể được tiến hành đề cải thiện những tiêu chuẩn làm việc

tối thiểu khi cần thiết Thương lượng tập thể cũng là cơ hội để NSDLĐ và NLĐ

hiểu nhau hơn và quan hệ giữa họ, ở một số khía cạnh nhất định, được điều chỉnh theo chiều hướng tốt đẹp hơn

Trang 15

Đích cuối cùng của thương lượng tập thể là một văn bản gọi là thỏa ước lao

động tập thể Cũng như HĐLĐ cá nhân, thỏa ước lao động tập thể là một văn kiện

sống chỉ phối các mối QHLD hang ngày Thỏa ước lao động tập thể là sự thỏa thuận giữa tập thể NLĐ với NSDLĐ theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng và công khai

Nó không được trái với luật lao động, nhưng cần tránh hình thức, tránh trường hợp

trích sao y luật lao động Nhà nước khuyến khích việc ký kết thỏa ước lao động tập

thể với những quy định có lợi cho NLD so với quy định của pháp luật lao động Quyền lợi và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia QHLĐ:

> NSDLĐ có quyền đưa ra các điều kiện tuyển chọn đội ngũ lao động với số

lượng và năng lực cần thiết phù hợp với yêu cầu của mình hay theo nhu cầu của

công việc; có quyền bé trí, điều hành, kiểm tra lao động theo yêu cầu sản xuất kinh doanh; có quyền khen thưởng, kỷ luật và chấm đứt HĐLĐ theo đúng quy định của

luật pháp; có quyền thương lượng, ký kết thỏa ước lao động tập thể; có quyền yêu

cầu cơ quan nhà nước chức năng giải quyết tranh chấp lao động

NSDLĐ có nghĩa vụ thực hiện đúng HĐLĐ, thỏa ước lao động tập thể; tôn trọng danh dự, nhân phẩm của NLĐ, cải thiện điều kiện môi trường lao động, cải

thiện đời sống vật chất và tinh thần cho NLĐ, cộng tác với công đoàn đề giải quyết

các vấn đề về QHLĐ

> NLDcO quyén tu do tim kiém việc làm một cách trực tiếp hoặc thông qua các trung tâm dịch vụ việc làm; có quyền thương lượng, giao kết hay chấm dứt HĐLĐ, được tham gia thỏa ước lao động tập thể, được hưởng phúc lợi và BHXH theo quy định, được tham gia quản lý doanh nghiệp theo nội quy của doanh nghiệp;

có quyền tham gia hoạt động công đoàn theo luật công đoàn để bảo vệ quyền lợi

hợp pháp của mình; có quyền đình công theo quy định của pháp luật

Nghĩa vụ của NLĐ là làm tốt công việc theo HĐLĐ đã ký kết, tuân thủ nội

quy, quy định về an toàn kỷ luật lao động của doanh nghiệp và phục tùng sự điều hành hợp pháp của NSDLĐ

QHLĐ không nên chỉ trên cơ sở pháp luật và thị trường mà còn cả trong tình cảm NSDLĐ nếu nhận thức rằng công nhân là người mang lại lợi nhuận, uy tín cho

Trang 16

Mối QHLĐ là hợp lý, tốt đẹp nếu đảm bảo sự hài hòa trên cơ sở đôi bên

cùng có lợi, tiến tới phấn đấu cho lợi ích chung của đoanh nghiệp Đứng trên cơ sở phân công lao động xã hội vừa vì lợi ích xã hội, vừa vì lợi ích của các chủ thé Nếu đôi bên hiểu quyền lợi và nghĩa vụ của nhau, cùng đấu tranh thang thắn trên cơ sở hài hòa lợi ích, doanh nghiệp vừa lòng với lợi nhuận, công nhân hải lòng

với thu nhập thì sự thống nhất sẽ bền vững Người chủ phải bảo đảm nâng cao đời

sống vật chất và tỉnh thần cho công nhân, có bon phận tạo cơ hội để NLĐ tự hoàn thiện mình và NLĐ cũng có trách nhiệm về sự thăng tiến của bản thân mình cũng như của đoanh nghiệp Khi lợi ích của NLĐ không được đảm bảo, đời sống của họ không được cải thiện thì họ sẽ thực thi quyền sở hữu SLĐ của họ bằng cách tìm

kiếm mối QHLĐ khác

1.2.2 Tranh chấp lao động và đình công

Tranh chấp lao động: là những biểu hiện vi phạm thỏa thuận về quyền và lợi ích của các bên liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác trong quá trình thực hiện HĐLĐ, thỏa ước lao động tập thể Như vậy, tranh chấp lao động không phải là một nội dung của QHLĐ mà là một vấn đề nảy sinh do vi phạm các nội dung QHLĐ, trong việc thực hiện quyền, nghĩa vụ và lợi

ích của bên này hoặc bên kia dẫn đến bat đồng, mâu thuẫn, xung đột xảy ra

Trong nền KTTT, QHLĐ ngày càng phức tạp, sống động và đa dang Bén

nào tham gia QHLĐ cũng muốn thu được lợi ích tối đa, nên những bất đồng giữa họ

là không thể tránh khỏi: lợi ích của bên này lại thường là thiệt hại của bên kia, quyền của bên này lại là nghĩa vụ của bên kia Trong những bất đồng phát sinh từ

trong QHLĐ, có những bất đồng người ta có thể thương lượng với nhau, nhưng

cũng có những bất đồng không thể dung hòa, không thể thỏa thuận bằng thương

Trang 17

lượng Trong những trường hợp như thế, tranh chấp lao động nảy sinh, các bên

tham gia QHLĐ có thể mời bên thứ ba làm trung gian giải quyết và cũng có thể

thông qua cơ quan có thấm quyền giải quyết

Nếu căn cứ vào quy mô và mức độ tham gia của các chủ thể QHLĐ, tranh chấp lao động chia làm hai loại: tranh chấp lao động cá nhân và tranh chấp lao động

- Tranh chấp lao động tập thể về quyên: là tranh chấp về việc thực hiện các quy định của pháp luật lao động, thỏa ước lao động tập thể, nội quy lao động đã

được đăng ký với cơ quan Nhà nước có thâm quyền hoặc các quy chế, thỏa thuận

hợp pháp khác ở doanh nghiệp mà NLĐ cho rằng NSDLĐ vi phạm

- Tranh chap lao động tập thể về lợi ích: là tranh chấp về việc tập thể lao động

yêu cầu xác lập các điều kiện lao động mới so với quy định của pháp luật lao động,

thỏa ước lao động tập thể, nội quy lao động đã được đăng ký với cơ quan Nhà nước

có thâm quyền hoặc các quy chế, thỏa thuận hợp pháp khác ở doanh nghiệp trong

quá trình thương lượng giữa tập thể lao động với NSDLĐ [12, 61]

Đình công và tranh chấp lao động tập thé 1a hai hiện tượng khác nhau, nhưng

có mối quan hệ mật thiết với nhau Đình công là sự phản ánh về tranh chấp lao động

tập thể giữa một bên là tập thể NLĐ và một bên là NSDLĐ Do đó, không có tranh

chấp lao động tập thê thì không phát sinh đình công Tuy nhiên, tranh chấp lao động tập thể cũng không được vượt qua phạm vi QHLĐ và không được vượt ra ngoài

phạm vi của doanh nghiệp Nhưng cũng không phải tranh chấp lao động tập thể nào

cũng dẫn đến đình công Nếu có những cuộc tranh chấp lao động mà hai bên chủ

Trang 18

- 17—

thể có thể thương lượng, thỏa thuận hoặc được hòa giải thành công, cùng đồng ý với

quyết định của cơ quan Nhà nước có thâm quyền thì sẽ không có đình công xảy ra

Vì vậy, có thé nói rằng, đình công xuất phát từ tranh chấp lao động tập thẻ, không phải xuất phát từ tranh chấp lao động lẻ tẻ, cá nhân, nhưng sự tranh chấp lao động

tập thể đó không được giải quyết có kết quả thì đình công là một trong những giải

pháp đấu tranh bằng cách gây sức ép về kinh tế nhằm thúc đây quá trình giải quyết tranh chấp lao động nhanh hơn, theo hướng có lợi cho tập thể lao động

1.3 Cơ sở kinh tế của vấn đề đình công trong nền KTTT

1.3.1 Bản chất của đình công trong nền KTTT TBCN

CNTB ngay từ khi mới ra đời đã là một phương thức sản xuất tiên tiến, tiến

bộ hơn nhiều lần so với xã hội phong kiến Cùng với sự ra đời của CNTB, nền sản xuất xã hội cũng chuyên từ nền sản xuất hàng hóa giản đơn sang nền KTTT Trong phương thức sản xuất đó, NLĐ được tự do hoàn toàn về thân thể, được chọn nghề, chọn nơi làm việc, chọn nơi cư trú còn người chủ sản xuất kinh doanh cũng được quyền tự do kinh doanh, tự do lập xưởng, tự do mua bán SLĐ để sản xuất Nền KTTT TBCN đã tạo ra những tiền đề thúc đây sản xuất phát triển bởi thông qua thị trường nhà tư bản đễ đàng tìm được yếu tố đầu vào “SLĐ” để kết hợp với các yếu

tố đầu vào khác (tư liệu lao động và đối tượng lao động) nhằm đạt được lợi nhuận tối đa, còn NLĐ cũng dễ đàng tìm được nơi bán SLĐ để có thu nhập đảm bảo đời

sống

Nhưng chủ nghĩa Mác — Lênin cũng bóc trần mặt đối lập bản chất bóc lột nô

dịch của QHLĐ làm thuê dưới CNTB Trong CNTB, tư liệu sản xuất nằm trong tay

một thiểu số địa chủ và nhà tư bản, còn đại bộ phận nhân dân lao động thì không có

gì hoặc hầu như không có gì ngoài SLĐ của bản thân mình NLĐ trong CNTB, một

mặt được tự do về thân thể, nhưng lại bị tước đoạt hết tư liệu sản xuất Do đó, để

nuôi sống bản thân và gia đình mình, NLĐ buộc lòng phải bán SLĐ của mình cho

nhà tư bản

SLĐ là một hàng hóa đặc biệt, đặc biệt ở chỗ một khi lao động đạt đến trình

độ năng suất lao động nhất định thì nó có khả năng tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị

Trang 19

bản thân nó Nhà tư bản đã mua hàng hóa SLĐ với giá cả theo quy luật cung — cầu

trên thị trường và sử đụng SLĐ ấy vào vận hành quá trình sản xuất kinh doanh của

mình nhằm tước đoạt phần giá trị mới dôi ra ngoài giá trị của hàng hóa SLĐ đo người công nhân tạo ra (C.Mác gọi là giá trị thặng du) San xuất giá trị thặng du là quy luật kinh tế tuyệt đối của CNTB, là mục đích tối thượng của nhà tư bản Vì vậy,

mâu thuẫn về lợi ích, đặc biệt là lợi ích kinh tế của NLĐ và NSDLĐ là mâu thuẫn

cơ bản trong CNTB

Trong QHLĐ, lợi ích kinh tế của NLĐ là tiền công phan anh gid tri SLD ma

NSDLĐ phải trả Khoản tiền công này phải tương xứng với giá trị SLD, ba dap

được hao phí lao động, duy trì cuộc sống của bản thân và gia đình NLĐ Vì vậy, công nhân luôn đòi hỏi giới chủ phải trả lương đúng giá trị SLĐ của mình Mặt khác, SLĐ lại là yếu tố đầu vào của sản xuất vì vậy tiền công được tính vào chỉ phí

sản xuất của doanh nghiệp Lợi ích của giới chủ là lợi nhuận (là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị thặng dư), lợi nhuận là chênh lệch giữa đoanh thu và chỉ phí

sản xuất Như vậy, tăng lương làm tăng chỉ phí sản xuất, nếu doanh thu không tăng

sẽ làm giảm lợi nhuận Do đó, vì lợi ích của mình giới chủ tìm mọi cách để tối đa hóa lợi nhuận bằng cách hạn chế đến mức thấp nhất chỉ phí trả lương cho NLĐ như

giảm lương, tăng thời gian làm việc hay nghỉ ngơi hoặc cắt giảm các chỉ phí cho việc đảm bảo an toàn — vệ sinh lao động, BHXH Bên nào tham gia QHLĐ cũng muốn thu được lợi ích tối đa, nhưng lợi ích của bên này lại chính là thiệt hại của bên kia V.LLênin đã phân tích rõ mâu thuẫn này khi bàn về bãi công trong CNTB:

“Đương nhiên, bọn chủ bao giờ cũng ra sức giảm bớt tiền công: chúng trả cho công nhân cảng ít thì phần lợi nhuận còn lại cho chúng càng nhiều Còn công nhân thì ra sức đời cho được tiền công hết sức cao đề cung cấp cho toàn thể gia đình mình thức

ăn ngon lành và đồi đào, để được ở trong một gian nhà tử tế Vì thế, giữa chủ và

công nhân diễn ra một cuộc đấu tranh không ngừng về vấn đề tiền công Chủ có quyền tự do muốn thuê ai tùy thích, và vì thế họ tìm người công nhân nào thuê được

rẻ nhất Người công nhân có quyền tự đo làm thuê cho người chủ do mình lựa chọn,

Trang 20

Trong giai đoạn đầu của phương thức sản xuất TBCN, quan hệ chủ thợ đầy máu và nước mắt, giai cấp công nhân - những NLĐ làm thuê - luôn ở thế yếu, thế thua thiệt nên họ tìm cách phá hoại ngầm bằng cách phá máy móc, đốt nhà xưởng

(thời kỳ này đình công bị cắm) Nhưng về sau, giai cấp công nhân đã biết liên kết

lại với nhau hình thành nghiệp đoàn Nghiệp đoàn được thành lập trở thành lực lượng đại điện và đấu tranh cho công nhân lao động Một khi những yêu sách của công nhân không được giải quyết thì nghiệp đoàn có thể lãnh đạo công nhân đình công Đình công lúc này trở thành vũ khí lợi hại của giai cấp công nhân “thấy rằng nếu hoạt động riêng rẽ thì mỗi người trong bọn họ sẽ hoàn toàn bất lực và có cơ bị tiêu vong đưới ách của tư bản, cho nên công nhân đi đến chỗ nhất trí cùng nhau đứng lên chống lại bọn chủ Những cuộc bãi công của công nhân né ra” [39, 367] Như vậy, có thể nói đình công là một hiện tượng QHLĐ tự nhiên trong nền KTTT TBCN, không có một nước tư bản nào lại không có đình công xảy ra Bởi vì,

quá trình hình thành và phát triển của CNTB luôn gắn liền với chế độ sở hữu tư

nhân TBCN về tư liệu sản xuất, do đó NLĐ và NSDLĐ một mặt cần có nhau đề tồn

tại nhưng có mối quan hệ ngược chiều nhau về lợi ích kinh tế; do đó, họ luôn nảy sinh ra những bất đồng, những tranh chấp quyết liệt trong lịch sử hình thành giai

cấp dưới nhiều hình thức đấu tranh khác nhau, trong đó có đình công

Đình công, xét trên nhiều khía cạnh nó vừa thể hiện quyền dân chủ đấu tranh đòi quyền lợi của giai cấp công nhân khi bị vi phạm Song, tác hại của nó cũng

không phải là nhỏ tới ca NSDLD va NLD Vi vay, ngay nay hau hết các nước kinh

tế phát triển đều đã xây dựng các luật lao động, luật về BHXH, luật về thời gian lao

động tạo điều kiện tiền đề cho những mâu thuẫn bat đồng giữa NLĐ và NSDLĐ

Trang 21

được giải quyết thông qua thương lượng và hòa giải Nhiều nước xây dựng và ban hành cả luật đình công, quy định trình tự, nguyên tắc giải quyết một cuộc đình công thế nào là hợp pháp, như thế nào là không hợp pháp Đặc biệt là các nước Tây Âu, Bắc Âu, Bắc Mỹ còn xây dựng cả luật ứng xử, quy chế về QHLĐ giữa chủ và thợ, ngăn cấm việc xâm hại, sỉ nhục hoặc cắm không có hành vi thô bạo thiếu văn hóa hoặc quấy rối tình đục đối với phụ nữ Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đã ban hành công ước quốc tế quy định quyền đình công của NLĐ Vì vậy, QHLĐ ở các nước tư bản hiện nay đã được cải thiện rất nhiều Nhưng về mặt bản chất, mâu thuẫn về lợi

ích kinh tế giữa NLĐ và NSDLĐ vẫn không thể nào được giải quyết triệt để vì vẫn

tồn tại sở hữu tư nhân, chính vì thế tranh chấp lao động và đình công vẫn luôn là

“căn bệnh” của nền KTTT TBCN Để giải quyết triệt để mâu thuẫn này, học thuyết

Mác — Lênin đã khẳng định: chỉ có xoá bỏ chế độ tư hữu — đặc biệt là chế độ chiếm

hữu tư nhân TBCN về tư liệu sản xuất, xác lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, thì mới xây dựng được QHLĐ mang tính tự giác, dân chủ, công bằng thật sự

1.3.2 Vấn đề đình công trong nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam:

Trước đây ở nước ta, cũng như các nước XHCN khác đã có nhận thức không

đúng về nền KTTT và CNXH vì cho rằng chúng đối lập nhau, không thể cùng tồn tại, cùng phát triển được, KTTT là sản phẩm của CNTB Với nhận thức nền kinh tế

dựa trên chế độ công hữu XHCN đơn nhất tồn tại hai hình thức sở hữu toàn đân và

tập thé, nền kinh tế tất yếu chỉ có ba loại lợi ích kinh tế: lợi ích kinh tế toàn dân, lợi

ích kinh tế tập thể và lợi ích cá nhân NLĐ đang làm việc trong các xí nghiệp quốc doanh và tập thể QHLD trong nén kinh té ké hoach hoa tập trung được xác lập,

điều chỉnh chủ yếu bằng biện pháp hành chính NLĐ trong khu vực kinh tế Nhà

nước không phải là người làm thuê mà là người chủ, họ không bán SLĐ mà là lao động cho mình và cho xã hội Việc làm đồng nghĩa với biên chế nhà nước, chưa có biên chế là chưa có việc làm Đó là xuất phát từ quan điểm cho rằng dưới CNXH không có bóc lột, lao động của cá nhân là bộ phận của lao động xã hội phải chịu sự phân bố sử đụng chung Cho nên về cơ bản trong giai đoạn này không có mâu thuẫn

về mặt lợi ích giữa NSDLĐ và NLĐ Thu nhập quốc dân được phân phối một phan

Ngày đăng: 12/06/2015, 23:26

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  2.1:  Số  liệu  tống  hợp  đình  công  trên  phạm  vỉ  cả  nước  từ  1989  —  1994 - cơ sở kinh tế và những giải pháp giải quyết đình công tại thành phố hồ chí minh
ng 2.1: Số liệu tống hợp đình công trên phạm vỉ cả nước từ 1989 — 1994 (Trang 30)
Hình  doanh  nghiệp  khác  (309/606  vụ)  [Phụ  lục  1].  Điều  này  cho  thấy,  đối  với  các - cơ sở kinh tế và những giải pháp giải quyết đình công tại thành phố hồ chí minh
nh doanh nghiệp khác (309/606 vụ) [Phụ lục 1]. Điều này cho thấy, đối với các (Trang 37)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm