1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

năng lực hành vi dân sự của cá nhân theo quy định của pháp luật hiện hành

16 6,5K 20

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 33,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong pháp luật dân sự Việt Nam, cá nhân là chủ thể quan trọng , tham gia vào tất cả các quan hệ pháp luật dân sự. Tư cách chủ thể của cá nhân chỉ đầy đủ, hoàn thiện và độc lập khi cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và năng lực pháp luật dân sự

Trang 1

A ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong pháp luật dân sự Việt Nam, cá nhân là chủ thể quan trọng , tham gia vào tất cả các quan hệ pháp luật dân sự Tư cách chủ thể của cá nhân chỉ đầy

đủ, hoàn thiện và độc lập khi cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và năng lực pháp luật dân sự Vì vậy để làm rõ hơn về năng lực hành vi dân sự

của cá nhân em xin được chọn đề tài: “Năng lực hành vi dân sự của cá nhân theo quy định của pháp luật hiện hành”

B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1 Khái niệm năng lực hành vi dân sự của cá nhân

- Cá nhân được hiểu là con người cụ thể Về phương diện vật chất, cá nhân là các hình hài con người cụ thể, nhận biết được bằng giác quan tiếp xuc Về mặt xã hội, cá nhân là chủ thể của các mối quan hệ giao tiếp, là nới phát ra các tín hiệu giao tiếp và là nơi nhận các tín hiệu giao tiếp của chủ thể khác, trong khuôn khổ đời sống xã hội Còn vệ phương diện pháp lý, cá nhân là thực thể có năng lực hưởng quyền, là chủ thể của quan hệ pháp luật Trong Luật dân sự Việt Nam, cá nhân là chủ thể thường xuyên, quan trọng, chủ yếu và phổ biến Có thể nói cá nhân tham gia vào tất cả các quan

hệ pháp luật dân sự, ngay cả các quan hệ pháp luật dân sự mà pháp nhân,

hộ gia đình, tổ hợp tác tham gia thì cũng phải thông qua hành vi của cá nhân Năng lực chủ thể của cá nhân được xác định bởi hai yếu tố đó là năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự

- Khái niệm năng lực hành vi dân sự của cá nhân được quy định tại Điều

17 BLDS năm 2005: “Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự.” Như vậy có thể hiểu năng lực hành vi là khả năng hành động của

chính chủ thể để tạo ra các quyền, cũng như khả năng thực hiện quyền và

Trang 2

nghĩa vụ của họ Ngoài ra năng lực hành vi dân sự còn bao hàm cả năng lực

tự chịu trách nhiệm dân sự khi vi phạm nghĩa vụ dân sự

2 Một số đặc điểm của năng lực hành vi dân sự.

- Thứ nhất, năng lực hành vi dân sự của cá nhân do Nhà nước quy định

dựa trên sự phát triển về độ tuổi cũng như khả năng nhận thức về hành vi

và hậu quả của hành vi, khả năng làm chủ hành vi của mình của cá nhân Việc quy định năng lực hành vi dân sự của mỗi nước có sự khác biệt Ví

dụ, tuổi trưởng thành về mặt pháp lý của Việt Nam là 18 tuổi, Hàn Quốc uy định là 19 tuổi, Cuba là 16 tuổi…(nhưng hầu hết các nước trên thế giới đều quy định là 18 tuổi)

- Thứ hai, năng lực hành vi dân sự của cá nhân là không giống nhau Vì

pháp luật xác định mức độ của năng lực hành vi dân sự căn cứ vào khả năng nhận thức và điều khiển được hành vi và hậu quả của hành vi của cá nhân Mà những cá nhân khác nhau có nhận thức khác nhau về hành vi và hậu quả của hành vi mà họ thực hiện Việc nhận thức đó được hình thành trong quá trình sống, mà mỗi cá nhân có một cuộc sống khác nhau nên sự phát triển về tâm sinh lý cũng như sự hiểu biết của các cá nhân là khác nhau, dẫn đến sự khác nhau trong nhận thức Việc nhận thức và làm chủ hành vi của cá nhân phụ thuộc vào ý chí và lý chí của cá nhân đó phụ thuộc vào khả năng “nhận thức và điều khiển hành vi” của chính họ

Tuy nhiên khó có tiêu chí nào để xác định và phân chia khả năng nhận

thức và điều khiển hành vi của cá nhân thành các mức nhất định Do đó, độ tuổi của cá nhân được xem là tiêu chí chung nhất để phân biệt mức độ năng lực hành vi của cá nhân

- Thứ ba, năng lực hành vi dân sự của cá nhân chỉ có khi cá nhân đạt đến

một độ tuổi nhất định và được hoàn thiện dần Năng lực hành vi dân sự của

cá nhân có thể bị mất hoặc bị hạn chế khi cá nhân còn sống Khác với năng

Trang 3

lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi sinh ra, năng lực hành vi dân sự của cá nhân chỉ có khi cá nhân đó đạt đến một độ tuổi nhất định Vì chỉ đến một độ tuổi nhất định, cá nhân mới có năng lực nhận thức và làm chủ hành

vi của mình Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân không thay đổi trừ một

số trường hợp do pháp luật quy định, còn năng lực hành vi dân sự của cá nhân từ khi bắt đầu có thì trong một khoảng nhất định sẽ thay đổi và hoàn thiện dần Mặt khác, trong quá trình sống cá nhân có thể bị mất hoặc bị hạn chế khả năng nhận thức và làm chủ hành vi của mình từ đó cá nhân có thể

bị tuyên bố mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự khi có đủ những điều kiện nhất định

3 Các quy định của pháp luật về năng lực hành vi dân sự của cá nhân

Năng lực hành vi dân sự của cá nhân chủ yếu được quy định tại BLDS năm 2005 Trong đó, khái niệm về năng lực hành vi dân sự của cá nhân được quy định tại Điều 17 BLDS

Căn cứ vào các quy định của pháp luật có thể chia năng lực hành vi dân

sự của cá nhân thành các mức độ sau:

3.1.Năng lực hành vi dân sự đầy đủ

Căn cứ vào Điều 18 và Điều 19 của BLDS ta có thể xác định được các điều kiện của người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ

“Điều 18 Người thành niên, người chưa thành niên

Người từ đủ mười tám tuổi trở lên là người thành niên Người chưa đủ mười tám tuổi là người chưa thành niên.

Điều 19 Năng lực hành vi dân sự của người thành niên

Trang 4

Người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp quy định tại Điều 22 và Điều 23 của Bộ luật này.”

(Điều 22 BLDS quy định về mất năng lực hành vi dân sự và Điều 23 BLDS quy định hạn chế năng lực hành vi dân sự)

Như vậy, cá nhân từ đủ 18 tuổi trở lên, không bị Tòa án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, không bị Tòa án ra quyết định hạn chế năng lực hành vi dân sự thì có năng lực hành vi dân sự đầy đủ Cá nhân có năng lực hành vi dân sự đầy đủ có toàn quyền trong việc xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự và có nghĩa vụ phải thực hiện các giao dịch dân sự mà mình xác lập, phải tự chịu trách nhiệm về những hành vi mà mình thực hiện (Ví dụ: gây thiệt hại thì phải tự bồi thường)

3.2.Năng lực hành vi dân sự một phần

Năng lực hành vi dân sự một phần hay có thể hiểu là năng lực hành vi dân sự chưa đầy đủ Người có năng lực hành vi dân sự một phần bắt đầu có

sự nhân thức về hành vi và hậu quả của hành vi mà mình thực hiện nhưng còn nhiều hạn chế và đang trong quá trình phát triển của nhận thức Người

có năng lực hành vi dân sự một phần chỉ có thể xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm trong một giới hạn nhất định do pháp luật dân sự quy định Căn cứ vào Điều 20 BLDS năm 2005 ta có thể xác định được các điều kiện để xác định người có năng lực hành vi dân sự một phần

“Điều 20 Năng lực hành vi dân sự của người chưa thành niên từ đủ sáu

tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi

1 Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao

Trang 5

dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi hoặc pháp luật có quy định khác.

2 Trong trường hợp người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi

có tài sản riêng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thì có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự mà không cần phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.”

Như vậy, cá nhân từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi là người có năng lực hành vi dân sự một phần Họ có thể sử dụng hành vi của mình tạo ra quyền

và phải chịu những nghĩa vụ khi tham gia giao dịch với những giao dịch có giới hạn nhất định theo quy định của luật dân sự Theo Khoản 1 Điều 20 BLDS 2005 quy định thì người từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có thể tự thực hiện một số giao dịch dân sự được coi là người đại diện của họ cho phép thực hiện mà không cần sự đồng ý trực tiếp của những người đại diện với mục đích phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt hằng ngày phù hợp với lứa tuổi hoặc pháp luật có quy định khác Tuy pháp luật không quy định những

giao dịch nào là giao dịch “phục vụ nhu cầu hằng ngày” và “phù hợp với lứa tuổi” nhưng chúng ta có thể hiểu đó là các giao dịch có giá trị nhỏ,

nhằm phục vụ cho hoạt động vui chơi, học tập trong cuộc sống (như mua

đồ dùng học tập, ăn quà…)

Nếu cá nhân từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi thực hiện các giao dịch dân

sự mà các giao dịch đó không được sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật thì người đại diện theo pháp luật có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu theo quy định tại Điều 130 BLDS năm 2005:

“Khi giao dịch dân sự do người chưa thành niên, người mất năng lực hành

vi dân sự hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện

Trang 6

thì theo yêu cầu của người đại diện của người đó, Toà án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu nếu theo quy định của pháp luật giao dịch này phải do người đại diện của họ xác lập, thực hiện.” Còn nếu người đại hiện theo

pháp luật của cá nhân đó không yêu cầu Tòa án xem xét tính hiệu lực của những giao dịch dân sự này thì những giao dich đó mặc nhiên được coi là

có hiệu lực, và người đại diện phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh trong những giao dịch dân sự đó

Theo Khoản 2 Điều 20 BLDS năm 2005 thì người từ đủ 15 tuổi đến chưa

đủ 18 tuổi có thể tự mình xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự mà không cần sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật nếu tài sản riêng của họ đảm bảo việc thực hiện các nghĩa vụ phát sinh trong giao dịch dân sự đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Pháp luật dân sự quy định như vậy vì: người từ đủ 15 tuổi trở lên đã có thể tham gia lao động, có thu nhập

do căn cứ theo quy định tại Điều 6 Bộ luật lao động năm 1994, sửa đổi bổ

sung năm 2007: “Người lao động là người ít nhất đủ 15 tuổi, có khả năng lao động và có giao kết hợp đồng lao động.” (em sử dụng quy định tại Bộ

luật lao động năm 1994 chứ không sử dụng Bộ luật lao động năm 2012 vì

em đang áp dụng Bộ luật dân sự năm 2005) Với các trường hợp khác mà

pháp luật quy định ví dụ như quy định tại Khoản 2 Điều 652 BLDS: “ Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.” 3.3.Không có năng lực hành vi dân sự

Người không có năng lực hành vi dân sự được quy định tại Điều 21

BLDS: “Người chưa đủ sáu tuổi không có năng lực hành vi dân sự Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện.” Họ được xem là không có năng lực hành vi dân sự

Trang 7

vì họ chưa bao giờ có năng lực hành vi dân sự bởi với những người chưa đủ

6 tuổi họ không có khả năng nhận thức và năng lực hành vi do chưa đủ ý chí cũng như lý trí để hiểu được hành vi và hậu quả của những hành vi đó

3.4.Mất năng lực hành vi dân sự và hạn chế năng lực hành vi dân sự

Mất năng lực hành vi dân sự

Có thể hiểu “mất” là một sự vật, hiện tượng đang tồn tại nhưng do một nguyên nhân nào đó mà không còn sự vật, hiện tượng đó nữa Một cá nhân

có năng lực hành vi dân sự khi đạt đến một độ tuổi nhất định (là từ đủ 6 tuổi theo quy định của pháp luật Việt nam) Thông thường, năng lực hành

vi của cá nhân chấm dứt cùng với sự chấm dứt của năng lực pháp luật của

cá nhân đó (chết hoặ bị Tòa án tuyên bố đã chết), nhưng năng lực hành vi dân sự đó còn có thể bị mất đi do những điều kiện nhất định Các điều kiện

đó thường là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng nhận thức và điều khiển hành vi và làm mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của cá nhân Vì vậy, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của những người liên quan đến cá nhân mất năng lực hành vi dân sự thì Nhà nước ta quy định về mất năng lực hành vi dân sự tại Điều 22 BLDS:

“1 Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành

vi dân sự trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định.

Khi không còn căn cứ tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án ra quyết định huỷ bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành

vi dân sự.

Trang 8

2 Giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện.”

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 22 BLDS thì có thể thấy việc tuyên bố một cá nhân mất năng lực hành vi dân sự diễn ra theo trình tự sau:

người có quyền và lợi ích lien quan đến cá nhân đó đến Tòa án nhân dân

đó có bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm

tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không nhận thức, làm chủ được hành vi vủa mình thì Tòa án ra quyết định tuyên bố cá nhân đó mất năng lực hành

vi dân sự

Sau khi Tòa án ra quyết định tuyên bố một cá nhân là mất năng lực hành

vi dân sự thì người đại diện của cá nhân mất năng lực hành vi dân sự đó được xác định theo quan hệ giám hộ Việc xác định người giám hội cho người mất năng lực hành vi dân sự được quy định tại Điều 62 và Điều 63 BLDS:

Điều 62 Người giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân

sự

1 Trong trường hợp vợ mất năng lực hành vi dân sự thì chồng là người giám hộ; nếu chồng mất năng lực hành vi dân sự thì vợ là người giám hộ.

2 Trong trường hợp cha và mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự hoặc một người mất năng lực hành vi dân sự, còn người kia không có đủ điều kiện

Trang 9

làm người giám hộ thì người con cả là người giám hộ; nếu người con cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì người con tiếp theo là người giám hộ.

3 Trong trường hợp người thành niên mất năng lực hành vi dân sự chưa

có vợ, chồng, con hoặc có mà vợ, chồng, con đều không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì cha, mẹ là người giám hộ.

Điều 63 Cử người giám hộ

Trong trường hợp người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự không có người giám hộ đương nhiên theo quy định tại Điều 61

và Điều 62 của Bộ luật này thì Uỷ ban nhân Trong trường hợp người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự không có người giám dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú của người được giám hộ có trách nhiệm cử người giám hộ hoặc đề nghị một tổ chức đảm nhận việc giám hộ.

Mọi giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện Việc này được quy định rõ tại Điều 69 BLDS:

“Điều 69 Quản lý tài sản của người được giám hộ

1 Người giám hộ có trách nhiệm quản lý tài sản của người được giám hộ như tài sản của chính mình.

2 Người giám hộ được thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản của người được giám hộ vì lợi ích của người được giám hộ Việc bán, trao đổi, cho thuê, cho mượn, cho vay, cầm cố, thế chấp, đặt cọc và các giao dịch

Trang 10

khác đối với tài sản có giá trị lớn của người được giám hộ phải được sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ.

Người giám hộ không được đem tài sản của người được giám hộ tặng cho người khác.

3 Các giao dịch dân sự giữa người giám hộ với người được giám hộ có liên quan đến tài sản của người được giám hộ đều vô hiệu, trừ trường hợp giao dịch được thực hiện vì lợi ích của người được giám hộ và có sự đồng

ý của người giám sát việc giám hộ."

Về tình trạng pháp lý của một cá nhân sau khi bị tuyên bố mất năng lực hành vi cá nhân: đưa cá nhân bị tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự về tình trạng pháp lý đối với người chưa đủ 6 tuổi

Trong trường hợp không còn căn cứ để tuyên bố một cá nhân bị mất năng lực hành vi dân sự thì họ hoặc những người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án có thể hủy bỏ quyết định đó Tuy nhiên, việc giải quyết hủy bỏ quyết định tuyên bố cá nhân mất năng lực hành vi dân sự theo chính yêu cầu của cá nhân họ sẽ bị vướng mắc Do theo quyết định trước đó của Tòa án, cá nhân đó đã mất năng lực hành vi dân sự nên họ cũng sẽ mất năng lực hành vi tố tụng, họ không thể thực hiện được việc yêu cầu Tòa án trừ khi thực hiện thông qua hành vi của người có năng lực hành

vi tố tụng dân sự Từ đó ta có thể thấy điểm vướng mắc, chưa hợp lý này trong BLDS

Hạn chế năng lực hành vi dân sự

Ngày đăng: 12/06/2015, 23:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w