1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại Công ty TNHH Ứng dụng giải pháp công nghệ

98 829 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 548,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương pháp duy vật biện chứng: Xem xét các hiện tượng trong mối quan hệ ràng buộc và tác động lẫn nhau Kết quả đạt được của khóa luận Khóa luận đã tổng hợp và khái quát được một số vấn

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian nghiên cứu và hoàn thành khóa luận, em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới Cô giáo hướng dẫn TS Hoàng Thị Tuyết, Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ

em nghiên cứu, thực hiện và hoàn thành tốt bài khóa luận tốt nghiệp.

Em xin bày tỏ lòng cảm ơn đến các thầy cô Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông, đặc biệt là các Thầy Cô khoa Tài chính – Kế Toán đã trang bị cho em nền tảng kiến thức vững chắc về tài chính kế toán và nhiều lĩnh vực khác.

Đồng thời em xin chân thành cảm ơn Công ty TNHH Ứng dụng giải pháp công nghệ đã tạo điều kiện cho em được học tập làm việc tại đơn vị, thu thập số liệu, số liệu để hoàn thành khóa luận.

Qua đây em cũng xin cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã luôn ở bên động viên, khích lệ, giúp đỡ em hoàn thành bài khóa luận.

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 06 tháng 06 năm 2013

Sinh viên

Vi Thị Thùy Linh

Vi Thị Thùy Linh | D10KT1 1

Trang 2

MỤC LỤC

Trang 3

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

1 TNHH Trách nhiệm hữu hạn

2 SXKD Sản xuất kinh doanh

3 GTGT Giá trị gia tăng

Trang 4

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Trang 5

1.

Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Năm 2007, Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO điều đó đồng nghĩa với việc đứng trước những thách thức phải đổi mới để phù hợp hơn Trong bối cảnh đó, để tồn tại & phát triển đòi hỏi các doanh nghiệp phải không ngừng đổi mới, năng động, sáng tạo và chủ động tìm cho mình chỗ đứng không chỉ trong nước mà phải vươn ra khu vực và trên thế giới, phải tổ chức quản lý một cách có hiệu quả bằng các công cụ quản lý khác nhau Trong đó, vai trò của kế toán là không thể thiếu, đặc biệt là khâu kế toán bán hàng, xác định kết quả của quá trình bán hàng phản ánh kết quả cuối cùng của hoạt động sản xuất,

kinh doanh.

Trong nền kinh tế thị trường, sản xuất hàng hoá đóng vai trò quan trọng, nhưng khâu bán hàng lại càng quan trọng hơn, nó quyết định sự tồn tại & phát triển của doanh nghiệp Khi hàng hoá được bán tức là nó đã được người tiêu dùng chấp nhận để thoả mãn nhu cầu nào đó Sức tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp thể hiện uy tín của doanh nghiệp Tóm lại, để hoạt động sản xuất kinh doanh được tiến hành thường xuyên liên tục, hiệu quả thì công tác bán hàng phải được tổ chức tốt Cạnh tranh ngày càng gay gắt thì việc tiêu thụ hàng hoá, thành phẩm càng có ý nghĩa quan trọng quyết định sự sống còn của doanh nghiệp

Đó là những lý do cần thiết để hoàn thiện nghiệp vụ bán hàng, qua đó làm cơ sở để hoàn thiện công tác kế toán của doanh nghiệp

Trên cơ sở những kiến thức và phương pháp luận nghiên cứu đã được lĩnh hội trong thời gian đào tạo tại Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông đã học và qua thời gian tìm hiểu thực tế tại Công ty

Trang 7

TNHH Ứng dụng giải pháp công nghệ với sự hướng dẫn của Giảng viên TS Hoàng Thị Tuyết, em đã lựa chọn và thực hiện khóa luận tốt

nghiệp với đề tài “Hoàn thiện công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại Công ty TNHH Ứng dụng giải pháp công nghệ”

Với mong muốn đi sâu tìm hiểu công tác kế toán tại một doanh nghiệp thương mại từ đó rút ra những kinh nghiệm thực tiễn cho bản thân, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác này tại đơn

vị thực tập tốt nghiệp.

2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của khóa luận

Công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại Công

ty TNHH Ứng dụng giải pháp công nghệ trong giai đoạn 2011-2013 Khóa luận tập chung nghiên cứu công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả công tác bán hàng tại Công ty TNHH Ứng dụng giải pháp công nghệ trong giai đoạn 2011 – 2013

3. Mục đích, mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích của nghiên cứu: Thông qua việc nghiên cứu hệ thống hóa những vấn đề chung về công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng của Công ty có tuân thủ các chính sách, chế độ kế toán hiện hành Đồng thời rút ra những ưu điểm và hạn chế còn tồn tại cần được khắc phục trong Công ty để có thể đưa ra những giải pháp phù hợp.

Mục tiêu nghiên cứu: Đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại Công ty TNHH Ứng dụng giải pháp công nghệ trên cơ sở đánh giá thực trạng công tác kế

Trang 8

toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại Công ty TNHH Ứng dụng giải pháp công nghệ.

4. Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện khóa luận, sinh viên đã sử dụng tổng thể các phương pháp thích hợp để nghiên cứu và tổng hợp, trong đó coi trọng một số phương pháp Phương pháp thu thập thông tin: Thu thập số liệu, thông tin cần thiết phục vụ cho khóa luận

Phương pháp quan sát: Xem xét và tìm hiểu kinh nghiệp của cáctrao đổi, phỏng vấn cán bộ nhận viên trong Công ty TNHH Ứng dụng giải pháp công nghệ, đánh giá, phân tích các

Phương pháp duy vật biện chứng: Xem xét các hiện tượng trong mối quan hệ ràng buộc và tác động lẫn nhau

Kết quả đạt được của khóa luận

Khóa luận đã tổng hợp và khái quát được một số vấn đề cơ bản về kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại doanh nghiệp, Qua quá trình tìm hiểuĐồng thời, khóa luận đã mô tả được bức tranh toàn cảnh về

thực trạng công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại Công ty TNHH Ứng dụng và giải pháp công nghệ, nhận xét đánh giá thực trạng công tác này tại Công ty trên hai phương diện các mặt được

và chưa được trong công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại Công ty TNHH Ứng dụng giải pháp công nghệ , đặc biệt lưu ý các hạn chế, tồn tại để từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại Công ty.

5. Nội dung chínhKết cấu của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, nội dung của khóa luận được trình bày trong 3 chương

Trang 9

Chương 1: Tổng quan về kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng trong doanh nghiệp.

Chương 2: Thực trạng công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại Công ty TNHH Ứng dụng giải pháp công nghệ.

Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác kế toán bán hàng

và xác định kết quả bán hàng tại Công ty TNHH Ứng dụng giải pháp công nghệ.

Trang 11

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ BÁN HÀNG TRONG DOANH

NGHIỆP 1.1. Những vấn đề chung về bán hàng và xác định kết quả bán hàng

1.1.1. Khái niệm và vai trò bán hàng

a. Khái niệm về bán hàng

Bán hàng là quá trình trao đổi thực hiện giá trị của sản phẩm hàng hóa, dịch vụ, là việc người bán có nghĩa vụ chuyển giao quyền

sở hữu về hàng hóa cho người mua thông qua phương thức mua bán

và thanh toán tiền hàng theo một thể thức nhất định Người bán đã giao quyền sở hữu về hàng hóa cho khách hàng và khách hàng đã thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán cho doanh nghiệp Như vậy, sau khi kết thúc giai đoạn bán hàng thì doanh nghiệp mất quyền sở hữu về hàng hóa, đổi lại là quyền thu tiền hàng, có quyền sở hữu về tiền hàng.

Vậy bán hàng là khâu cuối cùng trong quá trình hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp, nó chuyển vốn kinh doanh từ hình thái vốn hàng hóa sang hình thái vốn tiền tệ và hình thái kết quả bán hàng.

b. Vai trò của bán hàng

Bán hàng là đầu ra của quá trình sản xuất, thương mại của doanh nghiệp Tại khâu này, kết quả của hoạt động của doanh nghiệp được doanh nghiệp ghi nhận dưới hình thức doanh thu bán hàng Kế toán bán hàng giữ vai trò vô cùng quan trọng trong doanh nghiệp, nhằm

ổn định doanh thu và hiệu quả kinh doanh.

Trang 12

Hoạt động bán hàng được thưc hiện thực hiện theo chiến lược và

kế hoạch kinh doanh đã đặt ra, bán hàng là khâu thực hiện có quan

hệ mật thiết với khách hàng, ảnh hưởng đến niềm tin, uy tín và sự tái tạo nhu cầu của người tiêu dung đối với hàng hóa của doanh nghiệp,

đó là vũ khí cạnh tranh mạnh mẽ của doanh nghiệp trên thị trường Bán hàng và xác định kết quả bán hàng có vai trò vô cùng quan trọng không chỉ đối với doanh nghiệp mà còn đối với nền kinh kế quốc dân Với bản thân doanh nghiệp có bán hàng thì mới có thu nhập để bù đắp những chi phí bỏ ra, có điều kiện mở rộng kinh doanh, nâng cao đời sống của người lao động, qua đó tạo nguồn tích lũy cho nền kinh tế quốc dân

1.1.2. Các phương thức tiêu thụ hàng hóa và phương thức thanh toán

a. Các phương thức tiêu thụ hàng hóa

Trong nền kinh tế thị trường, việc bán sản phẩm, hàng hóa của các doanh nghiệp được thực hiện bằng nhiều phương thức khách nhau, qua đó sản phẩm hàng hóa vận động đến tay người tiêu dùng Tùy thuộc và điều kiện ngành nghề kinh doanh, mỗi doanh nghiệp có thể lựa chon các phương thức tiêu thụ hàng hóa sau đây:

Phương thức bán buôn

Bán buôn hàng hóa là hình thức bán hàng cho các đơn vị thương mại, các doanh nghiệp sản xuất…Đặc điểm của hàng hóa bán buôn là hàng hóa vẫn nằm trong lĩnh vực lưu thông, chưa đi vào lĩnh vực tiêu dùng, do vậy, giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa chưa được thực hiện Hàng bán buôn thường được bán theo lô hàng hoặc bán với số lượng lớn Giá bán biến động vào số lượng hàng và phương thức thanh toán Trong bán buôn thường bao gồm 2 phương thức:

Trang 13

Phương thức bán buôn hàng qua kho: Bán buôn hàng qua kho là phương thức bán buôn hàng hóa mà trong đó, hàng bán phải được xuất từ kho bảo quản của doanh nghiệp Bán buôn hàng hóa qua kho

có thể thực hiện dưới hai hình thức sau:

- Bán buôn hàng hóa qua kho theo hình thức giao hàng trực tiếp: Theo hình thức này, bên mua cử đại diện đến kho của doanh nghiệp thương mại để nhận hàng Doanh nghiệp thương mại xuất hàng hóa giao trực tiếp cho đại diện bên mua Sau khi đại diện bên mua nhận

đủ hàng, thanh toán tiền hoặc chấp nhận nợ, hàng hóa được xác định

là tiêu thụ.

- Bán buôn hàng hóa qua kho theo hình thức chuyển hàng: Theo hình thức này, căn cứ vào hợp đồng kinh tế đã ký kết hoặc theo đơn đặt hàng, doanh nghiệp thương mại xuất kho hàng hóa, dùng phương tiện vận tải của mình hoặc đi thuê ngoài, chuyển hàng đến kho của bên mua hoặc một địa điểm nào đó bên mua quy định trong hợp đồng Hàng hóa chuyển bán vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp thương mại Chỉ khi nào được bên mua kiểm nhận, thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán thì số hàng chuyển giao mới được coi là tiêu thụ, người bán mất quyền sở hữu về số hàng đã giao Chi phí vận chuyển do doanh nghiệp thương mại chịu hay bên mua chịu

là do sự thỏa thuận từ trước giữa hai bên Nếu doanh nghiệp thương mại chịu phí vận chuyển, sẽ được ghi vào chi phí bán hàng Nếu bên mua chịu phí vận chuyển, sẽ phải thu tiền của bên mua.

Phương thức bán buôn hàng hóa vân chuyển thẳng: Theo phương thức này, doanh nghiệp thương mại sau khi mua hàng, nhận hàng mua, không đưa về nhập kho mà chuyển bán thẳng cho bên mua Phương thức này có thể thực hiện theo hai hình thức:

- Bán buôn hàng hóa vận chuyển thẳng theo hình thức giao hàng trực tiếp (còn gọi là hình thức giao tay ba): Theo hình thức này, doanh

Trang 14

nghiệp thương mại sau khi mua hàng, giao trực tiếp cho đại diện của bên mua tại kho người bán Sau khi đại diện bên mua ký nhận đủ hàng, bên mua đã thanh toán tiền hàng hoặc chấp nhận nợ, hàng hóa được xác định là tiêu thụ.

- Bán buôn hàng hóa vận chuyển thẳng theo hình thức chuyển hàng: Theo hình thức này, doanh nghiệp thương mại sau khi mua hàng, nhận hàng mua, dùng phương tiện vận tải của mình hoặc thuê ngoài vận chuyển hàng đến giao cho bên mua ở địa điểm đã được thỏa thuận Hàng hóa chuyển bán trong trường hợp này vẫn thuộc quyền

sở hữu của doanh nghiệp thương mại Khi nhận được tiền của bên mua thanh toán hoặc giấy báo của bên mua đã thận được hàng và chấp nhận thanh toán thì hàng hóa chuyển đi mới được xác định là tiêu thụ.

Phương thức bán lẻ

Bán lẻ hàng hóa là phương thức bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng hoặc các tổ chức kinh tế hoặc các đơn vị kinh tế tập thể mua về mang tính chất tiêu dùng nội bộ Bán hàng theo phương thức này có đặc điểm là hàng hóa đã được thực hiện Bán lẻ thường bán đơn chiếc hoặc bán với số lượng nhỏ Bán lẻ có thể thực hiện dưới các hình thức sau:

Bán lẻ thu tiền tập chung: Bán lẻ thu tiền tập chung là hình thức bán hàng mà trong đó tách rời nghiệp vụ thu tiền của người mua và nghiệp vụ giao hàng cho người mua Mỗi quầy hàng có một nhân viên thu tiền làm nhiệm vụ thu tiền của khách, viết hóa đơn cho khách hàng để khách hàng đến nhận hàng ở quầy giao hàng do nhận viên bán hàng giao Hết ca (hoặc hết ngày) bán hàng, nhân viên bán hàng căn cứ vào hóa đơn giao hàng cho khách hàng hoặc kiểm kê hàng hóa tồn quầy để xác định số lượng hàng đã bán trong ngày,

Trang 15

trong ca và lập Báo cáo bán hàng Nhân viên thu tiền làm giấy nộp tiền và nộp tiền bán hàng cho thủ quỹ.

Bán lẻ thu tiền trực tiếp: Theo hình thức này, nhân viên bán hàng trực tiếp thu tiền của khách hàng và giao hàng cho khách hàng Hết

ca, hết ngày bán hàng, nhân viên bán hàng làm giấy nộp tiền và nộp tiền cho thủ quỹ Đồng thời, kiểm kê hàng hóa tồn quầy để xác định

số lượng hàng đã bán trong ca, trong ngày và lập Báo cáo bán hàng.

Hình thức bán lẻ tự phục vụ (tự chọn): Theo hình thức này, khách hàng tự chon lấy hàng hóa, mang đến bàn tính tiền để tính tiền và thanh toán tiền hàng Nhân viên thu tiền kiểm hàng, tính tiền, lập hóa đơn bán hàng và thu tiền của khách hàng Nhân viên bán hàng

có trách nhiệm hướng dân khách hàng và bảo quản hàng hóa ở quầy

do mình phụ trách Hình thức này được áp dụng phổ biến ở các siêu thị.

Hình thức bán trả góp: Theo hình thức này, người mua được trả tiền mua hàng thành nhiều lần Doanh nghiệp thương mại ngoài số tiền thu được theo giá bán thông thường còn thu thêm ở người mua một khoản lãi chậm trả Đối với hình thức này, về thực chất, người bán chỉ mất quyền sở hữu khi người mua thanh toán hết tiền hàng; tuy nhiên, về mặt hạch toán, khi giao hàng cho người mua, hàng hóa bán trả góp được coi là tiêu thụ, bên bán nghi nhận doanh thu.

Hình thức bán hàng tự động: Bán hàng tự động là hình thức bán lẻ hàng hóa mà trong đó, doanh nghiệp thương mại sử dụng các máy bán hàng tự động chuyên dùng cho một hoặc một vài loại hàng hóa nào đó đặt ở các nơi công cộng Khách hàng sau khi bỏ tiền vào máy, máy sẽ tự động đẩy hàng ra cho người mua.

Trang 16

Hình thức gửi đại lý hay ký gửi hàng hóa:

Là hình thức bán hàng trong đó doanh nghiệp mại giao hàng cho

cơ sở đại lý, ký gửi để các cơ sở này trực tiếp bán hàng.

- Đối với bên đại lý: Số hàng nhận được không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp nhưng doanh nghiệp có trách nhiệm bảo quản gìn giữ

và bán hộ Số hoa hồng được hưởng là doanh thu trong hợp đồng bán

hộ của doanh nghiệp.

- Đối với bên giao đại lý: Hàng giao cho đơn vị đại lý vẫn thuộc quyền

sở hữu của doanh nghiệp và chưa xác định là đã bán Doanh nghiệp chỉ hạch toán vào doanh thu khi nhận được tiền thanh toán của bên nhận đại lý hoặc đã được chấp nhận thanh toán Doanh nghiệp có trách nhiệm nộp thuế GTGT, thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có) trên tổng giá trị hàng hóa gửi bán đã tiêu thụ mà không được trừ đi phần hoa hồng đã trả cho bên đại lý Khoản hoa hồng mà doanh nghiệp trả cho bên đại lý được coi là một khoản chi phí bán hàng.

b. Các phương thức thanh toán

Trong điều kiện hiện nay, thu tiền bán hàng được thể hiện qua nhiều phương thức tùy thuộc vào lượng hàng giao dịch, mỗi quan hệ giữa hai bên và hình thức bán hàng mà bên mua và bên bán sẽ lựa chọn một phương thức phù hợp nhất, tiết kiệm được chi phí và có hiệu quả nhất Thông thường các doanh ngiệp áp dụng hai phương thức sau:

- Phương thức thanh toán ngay: Là phương thức thanh toán mà quyền

sở hữu về hàng hóa được chuyển từ người mua bán sang người mua khi quyền sở hữu về tiền tệ được chuyển giao Có thể thanh toán ngay bằng tiền mặt, thanh toán qua ngân hàng, thanh toán bằng đổi

Trang 17

hàng Phương thức này thu hồi được vốn nhanh, tránh những rủi ro

về tiền tệ.

- Phương thức thanh toán chậm trả: Là phương thức thanh toán mà bên giao hàng cho bên mua, bên mua không thanh toán tiền ngay mà thanh toán tiền sau một thời hạn được thỏa thuận trên hợp đồng.

1.1.3. Các chỉ tiêu liên quan đến bán hàng và xác định kết quả bán hàng

a. Doanh thu bán hàng

Khái niệm doanh thu

Theo chuẩn mực kế toán số 14 “Doanh thu và thu nhập khác” trong hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam: “ Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm phát triển vốn chủ sở hữu ”.

Doanh thu thuần được xác định bẳng tổng doanh thu sau khi trừ

đi các khoản chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán và doanh thu hàng bán bị trả lại.

Doanh thu ở các doanh nghiệp thương mại có thể bao gồm các loại sau: Doanh thu bán hàng; doanh thu từ tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức và lợi tức được chia.

Ngoài ra còn có các khoản thu nhập khác

Các cách xác định doanh thu

Doanh thu tiêu thụ hàng hóa và cung cấp dịch vụ được xác định theo giá trị hợp lý của các khoản đã thu được tiền, sẽ thu được tiền từ

Trang 18

các hoạt động bán sản phẩm, hàng hóa, cung cấp dịch vụ cho khách hàng.

Doanh thu tiêu thụ hàng hóa và cung cấp dịch vụ thuần thực hiện được trong kỳ kế toán của doanh nghiệp được xác định bằng doanh thu tiêu thụ hàng hóa và cung cấp dịch vụ thực tế trừ các khoản chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán hoặc hàng đã bán bị trả lại do không đảm bảo về quy cách, phẩm chất ghi trong hợp đồng kinh tế, trừ các khoản thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu Thời điểm xác định doanh thu hàng hoá là thời điểm mà doanh ngiệp thực sự mất quyền sở hữu hàng hoá đó và người mua thanh toán tiền hoặc chấp nhận thanh toán Khi đó mới xác định là tiêu thụ, mới được ghi nhận doanh thu.

Xác định đúng thời điểm tiêu thụ để kịp thời lập Báo cáo tiêu thụ hàng hóa và phản ánh doanh thu, xác định đúng và tập hợp đầy đủ giá vốn chi phí tiêu thụ hàng hóa, chi phí quản lý phát sinh trong kỳ

và phân bổ chính xác các chi phí đó cho hàng tiêu thụ.

Căn cứ vào phương pháp tính thuế GTGT mà doanh thu tiêu thụ hàng hóa và cung cấp dịch vụ được xác định cụ thể như sau:

- Đối với sản phẩm, hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, doanh thu tiêu thụ hàng hóa và cung cấp dịch vụ là giá bán chưa có thuế GTGT.

- Đối với sản phẩm hàng hóa không thuộc diện chịu thuế GTGT hoặc thuộc diện chịu thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp thì doanh thu tiêu thụ hàng hóa là tổng giá thanh toán.

- Đối với sản phẩm, hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, hoặc thuế xuất khẩu thì doanh thu tiêu thụ hàng hóa là tổng giá thanh toán (bao gồm cả thuế tiêu thụ đặc biệt, hoặc thuế xuất khẩu).

Trang 19

- Đối với trường hợp sản phẩm bán theo phương thức trả chậm, trả góp thì doanh nghiệp ghi nhận doanh thu tiêu thụ hàng hóa theo giá bán trả ngay.

- Đối với thành phẩm, hàng hóa nhận bán đại lý, ký gửi theo phương pháp bán đúng giá hưởng hoa hồng thì hạch toán vào doanh thu tiêu thụ hàng hóa và cung cấp dịch vụ phần hoa hồng tiêu thụ hàng hóa

mà doanh nghiệp được hưởng.

- Trường hợp tiêu thụ hàng hóa theo phương thức trả chậm, trả góp thì doanh nghiệp ghi nhận doanh thu tiêu thụ hàng hóa theo giá bán trả ngay và ghi nhận vào doanh thu chưa thực hiện phần lãi tính trền khoản phải trả nhưng trả chậm phù hợp với thời điểm ghi nhận doanh thu được xác định.

- Phản ánh doanh thu tiêu thụ hàng hóa và cung cấp dịch vụ phải được hạch toán chi tiết cho từng hoạt động bán sản phẩm, hàng hóa.

- Doanh thu bán nội bộ phải được theo dõi chi tiết theo từng loại sản phẩm nhằm xác định chính xác, đầy đủ kết quả kinh doanh của từng mặt hàng khác nhau như: Giá trị các loại sản phẩm, hàng hóa được dùng để trả lương cho cán bộ công nhân viên, giá trị các sản phẩm đem biếu, tặng hoặc tiêu dùng trong nội bộ doanh nghiệp.

- Những sản phẩm, hàng hóa được xác định là đã bán nhưng vì lý do chất lượng, quy cách, phẩm chất mà người mua từ chối thanh toán, gửi trả lại cho người bán hoặc yêu cầu giảm giá và được doanh nghiệp chấp thuận, hoặc người mua mua hàng với số lượng lớn được chiết khấu thương mại thì các khoản giảm trừ này được theo dõi riêng trên TK 531, TK 532, hoặc TK 521 để cuối kỳ xác định doanh thu thuần.

Không hạch toán vào TK 511 trong các trường hợp sau:

Trang 20

- Trị giá hàng hóa, vật tư, bán thành phẩm xuất giao bên ngoài gia công chế biến.

- Trị giá hàng hóa, vật tư, bán thành phẩm, dịch vụ cung cấp giữa công

ty, tổng công ty với các đơn vị hạch toán phụ thuộc.

- Trị giá hàng hóa, vật tư, bán thành phẩm, dịch vụ cung cấp cho nhau giữa tổng công ty với các đơn vị thành viên.

- Trị giá sản phẩm, hàng hóa đang gửi bán, dịch vụ hoàn thành đã cung cấp cho khách hàng nhưng chưa được xác định là đã bán.

- Doanh thu hoạt động tài chính và các khoản thu nhập khác không được coi là doanh thu tiêu thụ hàng hóa và cung cấp dịch vụ.

Thời điểm và điều kiện ghi nhận doanh thu

Đối với hoạt động tiêu thụ hàng hóa hoá là thời điểm chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng hàng hoá cho người mua.

Doanh thu tiêu thụ hàng hóa được ghi nhận khi đồng thời thỏa mãn tất cả năm (05) điều kiện sau (theo chuẩn mực kế toán Việt Nam

số 14 doanh thu và thu nhập khác ban hành và công bố theo Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2001):

- Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hóa cho người mua;

- Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người

sở hữu hàng hóa hoặc quyền kiểm soát hàng hóa;

- Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn;

- Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch tiêu thụ hàng hóa;

- Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch tiêu thụ hàng hóa

b. Các khoản giảm trừ doanh thu

Các khoản làm giảm trừ doanh thu như: Chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại, thuế GTGT nộp theo phương pháp trực tiếp và thuế xuất nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt được

Trang 21

tính vào doanh thu ghi nhận ban đầu, để xác định doanh thu thuần làm cơ sở để tính kết quả kinh doanh trong kế toán Các khoản giảm trừ doanh thu nêu trên yêu cầu phải được phản ánh, theo dõi chi tiết riêng biệt trên những tài khoản kế toán phù hợp nhằm cung cấp các thông tin kế toán để lập báo cáo tài chính.

Chiết khấu thương mại: Là khoản tiền chênh lệch giá bán nhỏ hơn giá niêm yết doanh nghiệp đã giảm trừ cho người mua hàng do việc người mua hàng đã mua sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ với khối lượng lớn.

Giảm giá hàng bán: Là khoản giảm trừ cho người mua do hàng hóa kém phẩm chất, sai quy cách hoặc không đúng thời hạn, đã ghi trong hợp đồng.

Hàng bán bị trả lại: Là giá trị khối lượng hàng bán đã xác định là tiêu thụ, đã ghi nhận doanh thu nhưng bị khách hàng trả lại do vi phạm các điều kiện đã cam kết trong hợp đồng kinh tế hoặc theo chính sách bảo hành (hàng kém phẩm chất, sai quy cách, chủng loại).

c. Giá vốn hàng bán

Khái niệm: Giá vốn hàng bán phản ánh giá trị gốc của hàng hoá, thành phẩm, dịch vụ, lao vụ đã thực sự tiêu thụ trong kỳ, ý nghĩa của giá vốn hàng bán chỉ được sử dụng khi xuất kho hàng bán và tiêu thụ Khi hàng hoá đã tiêu thụ và được phép xác định doanh thu thì

Trang 22

đồng thời giá trị hàng xuất kho cũng được phản ánh theo giá vốn hàng bán để xác định kết quả Do vậy xác định đúng giá vốn hàng bán có ý nghĩa quan trọng vì từ đó doanh nghiệp xác định đúng kết quả kinh doanh Và đối với các doanh nghiệp thương mại thì còn giúp cho các nhà quản lý đánh giá được khâu mua hàng có hiệu quả hay không để từ đó tiết kiệm chi phí thu mua.

Các phương pháp xác định giá vốn hàng bán

Đối với doanh nghiệp thương mại giá vốn hàng bán là giá trị mua của hàng hóa đã tiêu thụ cùng với chi phí thu mua phân bổ cho hàng tiêu thụ đã thực hiện tiêu thụ trong kỳ báo cáo Do đó để xác định vốn hàng bán trong kỳ kế toán cần xác định giá trị mua của hàng tiêu thụ trong kỳ và chi phí thu mua phân bổ số hàng tiêu thụ đó.

Phương pháp Nhập trước - xuất trước (FIFO)

Theo phương pháp này, giả thuyết rằng số hàng nào nhập trước thì xuất trước, xuất hết số hàng nhập trước thì mới xuất số nhập sau theo giá thực tế của số hàng xuất Nói cách khác, cơ sở của phương pháp này là giá thực tế của hàng mua trước sẽ được dùng làm giá để tính giá thực tế của hàng xuất trước và do vậy giá trị hàng tồn kho cuối kỳ sẽ là giá thực tế của số hàng mua vào sau cùng Phương pháp thích hợp cho từng trường hợp giá cả ổn định hoặc có xu hướng giảm.

Phương pháp Nhập sau – xuất trước (LIFO)

Phương pháp này giả định hàng nhập sau được xuất trước Theo phương pháp này giá trị của hàng xuất kho được tính theo giá của lô hàng nhập kho thời điểm cuối kỳ hoắc gần cuối kỳ Phương pháp này thích hợp trong trường hợp nền kinh tế lạm phát.

Trang 23

- Ưu điểm: Đảm bảo tính chính xác về giá trị hàng hoá xuất kho và cập nhật với giá trị thị trường.

- Nhược điểm: Khó khăn trong việc tổ chức hạch toán chi tiết hàng tồn kho và công tác thiết lập tổ chức kho.

Phương pháp Giá đích danh

Theo phương pháp này hàng hóa được xác định theo đơn chiếc hay từng lô và giữ nguyên từ lúc nhập kho đến lúc xuất kho tiêu thụ Khi xuất kho hàng hóa nào hay lô hàng nào sẽ xác định theo giá thực

tế của hàng hay lô hàng đó.

- Ưu điểm: Phản ánh một cách chính xác giá thực tế của từng lô hàng

kể từng lần nhập, xuất.

- Nhược điểm: Công việc của thủ kho phức tạp đòi hỏi phải nắm bắt được chi tiết lô hàng Công việc của kế toán là cần phải theo dõi chi tiết từng loại giá của mỗi loại thành phẩm để có thể ghi giá xuất một cách chính xác Phương pháp này chỉ thích hợp với các mặt hàng có giá trị cao, có tính chất đơn chiếc, hàng hoá đặc biệt như: vàng, bạc,

đá quý Vì vậy phạm vi áp dụng khá hẹp và áp dụng với các doanh nghiệp áp dụng phương pháp kiểm kê định kỳ.

Phương pháp Giá đơn vị bình quân

Theo phương pháp này, giá thực tế hàng xuất kho trong kỳ được tính theo công thức:

Trang 24

Trong đó đơn giá bình quân có thể được tính theo các cách sau:

Cách 1: Giá đơn vị bình quân cả kỳ dự trữ

Giá đơn vị bình

quân cả kỳ dự

trữ

= Trị giá thực tế hàng tồn kho đầu kỳ và nhập trong kỳ

Số lượng thực tế hàng tồn kho đầu kỳ và nhập trong kỳ

Phương pháp này đơn giản, dễ làm nhưng độ chính xác không

cao Hơn nữa công việc tính toán dồn vào cuối kỳ nên ảnh hưởng tới

công tác quyết toán.

C

á ch 2: Giá đơn vị bình quân cuối kỳ trước: trị giá thực tế hàng xuất

dung kỳ này được tính theo giá đơn vị bình quân cuối kỳ trước.

Giá đơn vị bình

quân cuối kỳ trước =

Giá thực tế tồn hàng đầu kỳ (hoặc cuối kỳ trước)

Lượng hàng tồn đầu kỳ (hoặc cuối kỳ trước) Phương pháp này đơn giản, dễ làm đảm bảo tính kịp thời của số

liệu kế toán nhưng độ chính xác chưa cao vì chưa tính đến sự biến

động của giá cả kỳ này.

+ Trị giá hàng hoá

thực tế lần nhập N

Số lượng hàng hoá tồn kho trước lần nhập N

+ Số lượng hàng

hoá lần nhập N

Trang 25

Phương pháp này vừa đảm bảo tính kịp thời của số liệu kế toán

vừa phản ánh được tình hình biến động của giá cả Tuy nhiên khối

lượng tính toán lớn vì cứ sau mỗi lần nhập kho kế toán lại phải tiến

hành tính toán.

Phương pháp giá hạch toán:

Theo phương pháp này, toàn bộ hàng hoá biến động trong kỳ

được tính theo giá hạch toán (giá hạch toán là giá kế hoạch hoặc một

loại giá ổn định trong kỳ) Cuối kỳ, kế toán sẽ tiến hành điều chỉnh

hàng hoá xuất và tồn cuối kỳ từ giá hạch toán sang giá thực tế theo

công thức sau:

Giá thực tế hàng hoá

xuất bán (hoặc tồn kho trong

kỳ)

=

Giá hạch toán hàng hoá

xuất bán (hoặc tồn kho trong kỳ)

x Hệ số giá hàng hoá

Trong đó: Hệ số giá hàng hóa được tính theo công thức

Chi phí bán hàng là các chi phí phát sinh trong quá trình tiêu thụ

sản phẩm, hàng hoá để phục vụ cho khâu tiêu thụ hàng hóa Đó là

các khoản chi phí quảng cáo, tiếp thị, giao hàng, giao dịch, bảo hành

Trang 26

sản phẩm, hàng hoá, hoa hồng tiêu thụ hàng hóa, lương nhân viên

tiêu thụ hàng hóa và các chi phí gắn liền với việc bảo quản sản phẩm,

hàng hoá.

Chi phí quản lý doanh nghiệp

Chi phí quản lý doanh nghiệp là các chi phí quản lý chung của

doanh nghiệp gồm các chi phí về lương nhân viên, bộ phận quản lý

doanh nghiệp, khấu hao TSCĐ, bộ phận văn phòng, thuế nhà đất,

thuế môn bài, khoản lập dự phòng nợ phải thu đòi và các khoản chi

phí khác bằng tiền.

e. Xác định kết quả bán hàng

Xác định kết quả kinh doanh là việc so sánh giữa chi phí kinh

doanh đã bỏ ra và thu nhập kinh doanh đã thu về trong kỳ Nếu thu

nhập lớn hơn chi phí thì kết quả tiêu thụ hàng hóa là lãi, thu nhập

nhỏ hơn chi phí thì kết quả tiêu thụ hàng hóa là lỗ, được xác định

Chi phí quản lý doanh nghiệp Trong đó:

Giá vốn tiêu thụ hàng hóa Việc xác định kết quả kinh doanh thường được tiến hành vào cuối

kỳ kinh doanh thường là cuối tháng, cuối quý, cuối năm, tùy thuộc

vào từng đặc điểm kinh doanh và yêu cầu quản lý của từng doanh

nghiệp

Trang 27

1.2. Kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng trong doanh nghiệp

1.2.1. Vai trò và nhiệm vụ của kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng

a. Vai trò của kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng

Bán hàng đóng một vai trò rất quan trọng không chỉ đới với bản thân mỗi doanh nghiệp mà với cả sự phát triển chung của toàn bộ nền kinh tế xã hội Nó vừa là điều kiện để tiến hành tái sản xuất xã hội, vừa là cầu nối giữa nhà sản xuất với người tiêu dùng, phản ánh

sự gặp gỡ giữa cung và cầu về hàng hóa Qua đó, định hướng cho sản xuất, tiêu dùng và khả năng thanh toán Với một doanh nghiệp, việc tăng nhanh quá trình bán hàng tức là tăng vòng quay của vốn, tiết kiệm vốn và trực tiếp làm tăng lợi nhuận của doanh nghiệp Từ đó, sẽ nâng cao đời sống, thu nhập cho cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với Nhà nước.

Trong quản lý kinh doanh ở doanh nghiệp thương mại, kế toán bán hàng giữ vai trò rất quan trọng, là công cụ điều hành và quản lý các hoạt động, tính toán kinh tế và kiểm tra tình hình bảo vệ tài sản, vật tư, tiền vốn nhằm đảm bảo quyền chủ động kinh doanh và tự chủ tài chính của doanh nghiệp.

Kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng sẽ cung cấp các số liệu giúp doanh nghiệp năm bắt được tình hình hoạt động kinh doanh của mình, để từ đó có những biện pháp điều chỉnh đưa ra các chiến lược mới phù hợp hơn, hạn chế những thất thoát tổn hại tới lợi ích của doanh nghiệp Bên cạnh đó, còn giúp các nhà đầu tư, các nhà

Trang 28

cung cấp nắm bắt tình hình kinh doanh của doanh nghiệp để đưa ra các quyết định kinh doanh phù hợp.

b. Nhiệm vụ của kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng

Hiện nay, trong các doanh nghiệp, công tác kế toán nói chung và công tác kế toán bán hàng nói riêng đã giúp cho doanh nghiệp và các

cơ quan Nhà nước đánh giá mức độ hoàn thành kế hoạch về giá vốn hàng hóa, chi phí và lợi nhuận, từ đó khắc phục được những thiếu sót

và những hạn chế trong quá trình công tác quản lý Để đáp ứng được yêu cầu quản lý về thành hàng hóa, bán hàng xác định kết quả và phân phối kết quả của các hoạt động, kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng phải thực hiện tốt các nhiệm vụ sau đây:

- Phản ánh và ghi chép đầy đủ, kịp thời, chính xác tình hình hiện có và

sự biến động của từng loại hàng hóa theo chỉ tiêu số lượng, chất lượng, chủng loại, giá trị.

- Phản ánh và ghi chép đầy đủ, kịp thời, chính xác các khoản doanh thu, giảm trừ doanh thu và chi phí của từng hoạt động trong doanh nghiệp, đồng thời theo dõi và đôn đốc các khoản phải thu của khách hàng.

- Phản ánh và tính toán chính xác kết quả của từng hoạt động, giám sát tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước và tình hình phân phối kết quả các hoạt động.

- Cung cấp các thông tin kế toán phục vụ cho việc lập Báo cáo tài chính và định kỳ phân tích hoạt động kinh tế liên quan đến quá trình bán hàng, xác định và phân phối kết quả.

1.2.2. Chứng từ kế toán sử dụng

Theo quyết định số 15/2006/QĐ-BTC khi tiêu thụ hàng hóa doanh nghiệp phải sử dụng các chứng từ sau:

Trang 29

- Hóa đơn GTGT: Là chứng từ để đơn vị ghi nhận doanh thu Hóa đơn GTGT dùng cho các doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ Khi tiêu thụ hàng hóa, ghi đầy đủ các yếu tố quy định trên hóa đơn như: giá bán chưa có thuế GTGT, các khoản phụ thu

và tính thuế ngoài giá bán (nếu có), thuế GTGT và tổng giá thanh toán.

- Hóa đơn bán hàng: Là chứng từ ghi nhận doanh thu của các doanh nghiệp Hóa đơn bán hàng dùng trong các doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp hoặc những mặt hàng không thuộc diện chịu thuế GTGT Trên hóa đơn phải ghi đầy đủ các yếu tố như: giá bán, các khoản phụ thu và tổng giá thanh toán (đã có thuế GTGT).

Ngoài ra còn sử dụng những chứng từ khác liên quan:

- Bảng kê hóa đơn bán lẻ

- Phiếu thu, phiếu chi, giấy báo Có của Ngân hàng

- Phiếu xuất kho…

Tất cả các chứng từ trên đều phải có đầy đủ tên, chữ ký hợp lệ theo quy định.

1.2.3. Tài khoản kế toán sử dụng

a. Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ

Tài khoản 511 dùng để phản ánh doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp trong mợt ký kế toán của hoạt động SXKD

từ các giao dịch và nghiệp vụ sau:

- Bán hàng: Bán sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra, bán hàng hóa mua vào và bất động sản đầu tư;

- Cung cấp dịch vụ: Thực hiện công việc đã thỏa thuận theo hợp đồng kinh tế trong một kỳ, hoặc nhiều kỳ kế toán, như cung cấp dịch vụ vận tải, du lịch, cho thuê TSCĐ theo phương thức thuê hoạt động.

Trang 30

Kết cấu và nội dung phản ánh TK 511:

Bên Nợ:

- Số thuế thiêu thụ đặc biệt, hoặc thuế xuất khẩu phải nộp tính trên doanh thu bán hàng thực tế của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đã cung cấp cho khách hàng và đã được xác định là đã bán trong kỳ;

- Số thuế GTGT phải nộp của doanh nghiệp nộp thuế GTGT tính theo phương pháp trực tiếp;

- Doanh thu hàng bán bị trả lại kết chuyển cuối kỳ;

- Khoản giảm giá hàng bán kết chuyển cuối kỳ;

- Khoản chiết khấu thương mại kết chuyển cuối kỳ;

- Kết chuyển doanh thu thuần vào TK 911 - “Xác định kết quả kinh doanh”.

Bên Có: Doanh thu bán sản phẩm, hàng hóa, bất động sản đầu tư

và cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp trực hiện trong kỳ.

TK 511 không có số dư cuối kỳ và được chi tiết thành 5 TK cấp 2:

- TK 5111 – Doanh thu bán hàng hóa: Phản ánh doanh thu và doanh

thu thuần của khối lượng hàng hóa đã được xác định là đã bán trong một kỳ kế toán của doanh nghiệp.

- TK 5112 – Doanh thu bán các thành phẩm: Phản ánh doanh thu và

doanh thu thuần của khối lượng sản phẩm (thành phẩm, bán thành phẩm) đã được xác định là đã bán trong một kỳ kế toán của doanh nghiệp.

- TK 5113 – Doanh thu cung cấp dịch vụ: Phản ánh doanh thu và

doanh thu thuần của khối lượng dịch vụ đã hoàn thành, đã cung cấp cho khách hàng và đã được xác định là đã bán trong một kỳ kế toán.

- TK 5114 – Doanh thu trợ cấp, trợ giá: Dùng để phản ánh các khoản

doanh thu từ trợ cấp, trợ giá của Nhà nước khi doanh nghiệp thực hiện các nhiệm vụ cung cấp sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ theo yêu cầu của Nhà nước.

Trang 31

- TK 5117 – Doanh thu kinh doanh bất động sản đầu tư: Dùng để phản

ánh ánh doanh thu cho thuê bất dộng sản đầu tư và doanh thu bán, thanh lý bất động sản đầu tư.

b. Các khoản giảm trừ doanh thu

Các khoản giảm trừ doanh thu bao gồm: Chiết khấu thương mại, hàng bán bị trả lại, giảm giá hàng bán Các khoản giảm trừ doanh thu là cơ sở để tính doanh thu thuần và kết quả kinh doanh trong kỳ.

Theo quyết định 15/2006/QĐ-BTC, tài khoản phản ánh các khoản giảm trừ doanh thu bao gồm:

TK 521 – “Chiết khấu thương mại”

Tài khoản này dùng để phản ánh các khoản chiết khấu thương mại mà doanh nghiệp đã giảm trừ, hoặc đã thanh toán cho người mua hàng đã mua hàng (sản phẩm, hàng hóa), dịch vụ với khối lượng lớn theo thỏa thuận trên hợp đồng kinh tế.

Kết cấu và nội dung phản ánh TK 521

Bên Nợ: Số chiết khấu thương mại đã chấp nhận thanh toán cho

khách hàng.

Bên Có: Cuối kỳ kế toán, kết chuyển toán bộ số chiết khấu thương

mại sang TK 511 “Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ” để xác định doanh thu thuần của kỳ báo cáo.

TK 521 – Chiết khấu thương mại, không có số dư cuối kỳ.

TK 531 – “Hàng bán bị trả lại”

Tài khoản này dùng để phán ánh giá trị của số sản phẩm hàng hóa bị trả lại (do vi phạm cam kết, vi phạm hợp đồng kinh tế, hàng bị mất, kém chất lượng, không đúng chủng loại, quy cách) Tài khoản này chỉ phản ánh giá trị của số hàng bán bị trả lại (ghi theo đúng đơn giá bán ghi trên hóa đơn) không bao gồm các chi phí phát sinh liên quan đến qua trình trả lại hàng.

Giá trị hàng bán bị trả lại phản ánh trên tài khoản này sẽ điều chỉnh doanh thu bán hàng thực tế thực hiện trong kỳ kinh doanh để

Trang 32

tính doanh thu thuần của khối lượng sản phẩm, hàng hóa đã bán ra trong kỳ báo cáo.

Kết cấu và nội dung TK 531

Bên Nợ: Doanh thu của hàng bán bị trả lại, đã trả lại tiền cho

người mua hoặc tính trừ vào khoản phải thu của khách hàng về số sản phẩm, hàng hóa đã bán.

Bên Có: Kết chuyển doanh thu của hàng bán bị trả lại vào bên Nợ

TK 511 “Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ”, hoặc TK 512

“Doanh thu nội bộ” để xác định doanh thu thuần trong kỳ báo cáo.

TK 531 – Hàng bán bị trả lại, không có số dư cuối kỳ.

TK 532 – “Giảm giá hàng bán”

Tài khoản này dùng để phản ánh khoản giảm giá hàng bán thực tế phát sinh và việc xử lý khoản giảm giá hàng bán trong kỳ kế toán Giảm giá hàng bán là khoản giảm trừ cho người mua do sản phẩm, hàng hóa kém chất lượng, mất phẩm chất hay không đúng quy cách Chỉ phản ánh vào Tài khoản này các khoản giảm trừ do việc chấp thuận giảm giá sau khi đã bán hàng và phát hành hóa đơn (giảm giá ngoài hóa đơn) do hàng bán kém, mất phẩm chất…

Kết cấu và nội dung phản ánh TK 532

Bên Nợ: Các khoản giảm giá hàng bán đã chấp thuận cho người

mua hàng do bán kém, mất phẩm chất hoặc sai quy cách theo quy định trong hợp đồng kinh tế.

Bên Có: Kết chuyển toàn bộ số tiền giảm giá hàng bán sang bên

Nợ TK 511 “Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ”, hoặc TK 512

“Doanh thu nội bộ” để xác định doanh thu thuần trong kỳ báo cáo.

TK 532 – Giảm giá hàng bán, không có số dư cuối kỳ.

Theo quyết định 48/2006/QĐ-BTC, tài khoản các khoản giảm trừ doanh thu là tài khoản 521 được chi tiết thành 3 tài khoản cấp 2:

- TK 5211 – “Chiết khấu thương mại”: Tài khoản này có nội dung và

kết cấu tương tự như TK 521 – “Chiết khấu thương mại” theo quyết định 15/2006QĐ-BTC.

Trang 33

- TK 5212 – “Hàng bán bị trả lại” : Tài khoản này có nội dung và kết

cấu tương tự như TK 531 – “Hàng bán bị trả lại” theo quyết định 15/2006QĐ-BTC.

- TK 5213 – “Giảm giá hàng bán” : Tài khoản này có nội dung và kết

cấu tương tự như TK 532 – “Giảm giá hàng bán” theo quyết định 15/2006QĐ-BTC.

c. Giá vốn hàng bán

TK 632 dùng để phản ánh trị giá vốn của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, bất động sản đầu tư; giá thành sản xuất của sản phẩm xấy lắp (đối với doanh nghiệp xây lắp) bán trong kỳ.

Ngoài ra, tài khoản này còn dùng để phản ánh các chi phí liên quan đến hoạt động kinh doanh bất động sản đầu tư như: chi phí khấu hao; chi phí sửa chữa; chi phí nghiệp vụ cho thuê bất động sản đầu tư theo phương thức thuê hoạt động; chi phí nhượng bán, thanh

lý bất động sản đầu tư…

Kết cấu và nội dung TK 632

Trường hợp doanh nghiệp kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ

Bên Nợ:

Đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh, phản ánh:

- Trị giá vốn của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đã bán trong kỳ;

- Chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công vượt trên mức bình thường và chi phí sản xuất chung cố định không phân bổ được tính vào giá vốn hàng bán trong kỳ;

- Các khoản hao hụt, mất mát của hàng tồn kho sau khi trừ phần bồi thường do trách nhiệm cá nhân gây ra;

Trang 34

- Chi phí xây dựng, tự chế TSCĐ vượt trên mức bình thường không được tính và nguyên giá TSCĐ hữu hình tự xây dựng, tự chế hoàn thành;

- Số trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho (chênh lệch giữa số dự phòng giảm giá hàng tồn kho phải lập năm nay lớn hơn số dự phòng

đã lập năm trước chưa sử dụng hết).

Trường hợp doanh nghiệp kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ:

Đối với doanh nghiệp kinh doanh thương mại

Bên Nợ:

- Trị giá vốn của hàng hoá đã xuất bán trong kỳ;

- Số trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho (chênh lệch giữa số dự phòng phải lập năm nay lớn hơn số đã lập năm trước chưa sử dụng hết).

- Kết chuyển giá vốn của hàng hoá đã xuất bán vào bên Nợ TK 911 -

“Xác định kết quả kinh doanh”.

Đối với doanh nghiệp sản xuất và dịch vụ

Bên Nợ:

- Trị giá vốn của thành phẩm tồn kho đầu kỳ;

- Số trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho (chênh lệch giữa số dự phòng phải lập năm nay lớn hơn số đã lập năm trước chưa sử dụng hết).

- Trị giá vốn của thành phẩm sản xuất xong nhập kho và dịch vụ đã hoàn thành.

Bên Có:

- Kết chuyển giá vốn của thành phẩm tồn kho cuối kỳ vào bên Nợ

TK 155 – “Thành phẩm”;

Trang 35

- Hoàn nhập dự phòng giảm giá hàng tồn kho cuối năm tài chính (chênh lệch giữa số dự phòng phải lập năm nay nhỏ hơn số đã lập dự phòng năm trước chưa sử dụng hết);

- Kết chuyển giá vốn của thành phẩm đã xuất bán, dịch vụ hoàn thành được xác định là đã bán trong kỳ vào bên Nợ TK 911 - “Xác định kết quả kinh doanh”.

TK 632 – “Giá vốn hàng bán”, không có số dư cuối kỳ.

d. Tài khoản mua hàng

Tài khoản 611 dùng phản ánh trị giá nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ, hàng hóa mua vào, nhập kho hoặc đưa vào sử dụng trong kỳ.

Kết cấu và nội dung TK 611

Trang 36

TK 611 - Mua hàng, được chi tiết thành 2 tài khoản cấp 2:

- TK 6111 - Mua nguyên liệu, vật liệu: Tài khoản này dùng để phản ánh

giá trị nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ mua vào và xuất sử dụng trong kỳ kế toán và kết chuyển giá trị nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ tồn kho đầu kỳ và cuối kỳ kế toán.

- TK 6112 - Mua hàng hoá: Tài khoản này dùng để phản ánh giá trị

hàng hoá mua vào và xuất bán trong kỳ kế toán và kết chuyển giá trị hành hoá tồn kho đầu kỳ, tồn kho cuối kỳ kế toán.

e. Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp

Theo quyết định 15/2006/QĐ-BTC, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp được hạch toán vào các tài khoản sau:

TK 641 – “Chi phí bán hàng”

Tài khoản này phản ánh các chi phí thực tế phát sinh trong quá trình bán sản phẩm, hàng hóa, cung cấp dịch vụ bao gồm cáo chi phí chào hàng, giới thiệu sản phẩm, quảng cáo sản phẩm, hoa hồng bán hàng, chi phí bảo hành sản phẩm, hàng hóa (trừ hoạt động xây lắp), chi phí bảo quản, đóng gói, vận chuyển…

Kết cấu và nội dung phản ánh của TK 641

Bên Nợ: Các chi phí phát sinh liên quan đến quá trình tiêu thụ sản

phẩm, hàng hóa, cung cấp dịch vụ.

Bên Có: Kết chuyển chi phí bán hàng vào TK 911 - “Xác định kết

quả kinh doanh” để tính kết quả kinh doanh trong kỳ.

TK 641 – “Chi phí bán hàng” không có số dư cuối kỳ

TK 642 – “Chi phí quản lý doanh nghiệp”

Tài khoản này dùng để phản ánh các chi phí dùng cho bộ quận quản lý của doanh nghiệp

Kết cấu và nội dung phản ánh của TK 642

Trang 37

Bên Nợ

- Các chi phí quản lý doanh nghiệp thực tế phát sinh trong kỳ;

- Số dự phòng phải thu khó đòi, dự phòng phải trả (chênh lệch giữa số

dự phòng phải lập kỳ này lớn hơn số dự phòng đã lập kỳ trước chưa

- Kết chuyển chi phí quản lý doanh nghiệp vào Tài khoản 911 - “Xác định kết quả kinh doanh”.

TK 642 không có số dư cuối kỳ.

TK 642 - Chi phí quản lý doanh nghiệp, có 8 tài khoản cấp 2:

- TK 6421 - Chi phí nhân viên quản lý: Phản ánh các khoản phải trả

cho cán bộ quản lý doanh nghiệp, như tiền lương, các khoản phụ cấp, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn của Ban Giám đốc, nhân viên quản lý ở các phòng ban của doanh nghiệp.

- TK 6422 - Chi phí vật liệu quản lý: Phản ánh chi phí vật liệu xuất

dùng cho công tác quản lý doanh nghiệp như văn phòng phẩm, vật liệu sử dụng cho việc sửa chữa TSCĐ, công cụ, dụng cụ,…(giá có thuế, hoặc chưa có thuế GTGT).

- Tài khoản 6423 - Chi phí đồ dùng văn phòng: Phản ánh chi phí dụng

cụ, đồ dùng văn phòng dùng cho công tác quản lý (giá có thuế, hoặc chưa có thuế GTGT).

- TK 6424 - Chí phí khấu hao TSCĐ: Phản ánh chi phí khấu hao TSCĐ

dùng chung cho doanh nghiệp như: Nhà cửa làm việc của các phòng

Trang 38

ban, kho tàng, vật kiến trúc, phương tiện vận tải truyền dẫn, máy móc thiết bị quản lý dùng trên văn phòng…

- TK 6425 - Thuế, phí và lệ phí: Phản ánh chi phí về thuế, phí và lệ phí

như: thuế môn bài, tiền thuê đất,…và các khoản phí, lệ phí khác.

- TK 6426 - Chi phí dự phòng: Phản ánh các khoản dự phòng phải thu

khó đòi, dự phòng phải trả tính vào chi phí sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

- TK 6427 - Chi phí dịch vụ mua ngoài: Phản ánh các chi phí dịch vụ

mua ngoài phục vụ cho công tác quản lý doanh nghiệp; các khoản chi mua và sử dụng các tài liệu kỹ thuật, bằng sáng chế,…(không đủ tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ) được tính theo phương pháp phân bổ dần vào chi phí quản lý doanh nghiệp; tiền thuê TSCĐ, chi phí trả cho nhà thầu phụ.

- TK 6428 - Chi phí bằng tiền khác: Phản ánh các chi phí khác thuộc

quản lý chung của doanh nghiệp, ngoài các chi phí đã kể trên, như: Chi phí hội nghị, tiếp khách, công tác phí, tàu xe, khoản chi cho lao động nữ,…

Theo quyết định 48/2006/QĐ-BTC, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp được hạch toán các Tài khoản 642 – “Chi phí quản lý kinh doanh”

TK 642 – Chi phí quản lý kinh doanh, chi tiết thành 2 Tài khoản cấp 2

- TK 6421 – Chi phí bán hàng

- TK 6422 – Chi phí quản lý doanh nghiệp

f. Xác định kết quả kinh doanh

Tài khoản 911 dùng để xác định và phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh và các hoạt động khác của doanh nghiệp trong một kỳ kế toán (năm) Kết quả kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm: kết quả

Trang 39

hoạt động sản xuất, kinh doanh; kết quả hoạt động tài chính và kết quả hoạt động khác.

Kết cấu và nội dung TK 911

Bên Nợ:

- Trị giá vốn của sản phẩm, hàng hóa, bất động sản đầu tư và dịch vụ

đã bán;

- Chi phí hoạt động tài chính, chi phí thuế TNDN và chi phí khác;

- Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp;

Trang 40

1.2.4. Phương pháp kế toán

a. Kế toán doanh thu bán hàng và các khoản giảm trừ doanh thu

Kế toán doanh thu

Phương thức tiêu thụ trực tiếp

Sơ đồ 1 : Sơ đồ kế toán tiêu thụ hàng hóa theo phương pháp tiêu thụ trực tiếp

giảm trừ doanh thu khoản

Giảm trừ doanh thu

doanh thu thuần

Thuế GTGT

Thuế GTGT

Ngày đăng: 12/06/2015, 22:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Giáo trình Kế toán tài chính – GS.TS. NGND Ngô Thế Chi & TS. Trương Thị Thủy – NXB Tài Chính – Học viện Tài chính Khác
2. Giáo trình Kế toán doanh nghiệp – PGS.TS Phạm Văn Công – NXB ĐH Kinh tế quốc dân năm 2007 Khác
3. Các báo cáo tài chính Công ty TNHH Ứng dụng giải pháp công nghệ Khác
4. Chuẩn mực kế toán doanh nghiệp Việt Nam Khác
5. Trang web kế toán, tailieu.vn, danketoan.vn Khác
6. Tham khảo các báo cáo tốt nghiệp của anh chị khóa trên Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2. : Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức kế toán Nhật ký   chung - Hoàn thiện công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại Công ty TNHH Ứng dụng giải pháp công nghệ
Sơ đồ 2. Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức kế toán Nhật ký chung (Trang 60)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w