Vì các lí do trên nên tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu "Xây dựng hệ thống bài tập và hướng dẫn hoạt động giải bài tập chương “Dao động cơ học” – nhằm bồi dưỡng học sinh giỏi chuyê
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN VĂN MÃO
XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP VÀ HƯỚNG DẪN HOẠT ĐỘNG GIẢI BÀI TẬP CHƯƠNG “DAO ĐỘNG CƠ HỌC” – NHẰM BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI CHUYÊN
VẬT LÝ
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM VẬT LÝ
HÀ NỘI – 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN VĂN MÃO
XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP VÀ HƯỚNG DẪN HOẠT ĐỘNG GIẢI BÀI TẬP CHƯƠNG “DAO ĐỘNG CƠ HỌC” – NHẰM BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI CHUYÊN
Trang 3LỜI CẢM ƠN Luận văn được hoàn thành dưới sự hướng dẫn tận tình của GS.TS Nguyễn Quang Báu Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy Xin trân trọng cảm ơn thầy đã nhiệt tình hướng dẫn em trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài
Em xin chân thành cảm ơn Phòng đào tạo trường Đại học Giáo dục – Đại Học Quốc Gia Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình học tập và làm luận văn tốt nghiệp
Em xin chân thành cảm ơn các giảng viên trường Đại học Giáo dục và thầy cô trong khoa Vật lý Đại học KHTN Hà Nội cùng các thầy cô trong khoa Vật lý Đại học Sư Phạm Hà Nội đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ và đóng góp nhiều ý kiến quý báu về mặt chuyên môn và phương pháp cho em trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn ban giám hiệu cùng các đồng nghiệp trường THPT C Hải Hậu – Nam Định đã giúp đỡ và trao đổi chuyên môn trong quá trình tôi học tập và nghiên cứu
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong tổ bộ môn Vật lý trường THPT Chuyên Nguyễn Trãi – Hải Dương cùng các em học sinh yêu quý đã tạo điều kiện giúp đỡ và cộng tác với tôi trong quá trình thực nghiệm sư phạm
và hoàn thành luận văn
Hà Nội, ngày 21 tháng 11 năm 2014
Học viên
Nguyễn Văn Mão
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ĐHQG
THCS
KHTN
Nhà xuất bản Trung học cơ sở Khoa học Tự Nhiên TNSP
THPT
Thực nghiệm sư phạm Trung học phổ thông
Trang 5MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Danh mục chữ viết tắt ii
Mục lục iii
Danh mục bảng vi
Danh mục các sơ đồ hình vẽ vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DẠY GIẢI BÀI TẬP VẬT LÝ PHỔ THÔNG NHẰM BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI 5
1.1 Vấn đề bồi dưỡng học sinh giỏi và phát huy năng khiếu Vật lý 5
1.1.1 Tầm quan trọng của giáo dục để phát triển của đât nước và vai trò của người giáo viên trong việc bồi dưỡng nhân tài 5
1.1.2 Tầm quan trọng của công tác phát hiện, đào tạo bồi dưỡng học sinh giỏi nói chung 7
1.1.3 Học sinh giỏi Vật lý và chuyên Vật lý 8
1.1.3.1 Học sinh giỏi và học sinh giỏi vật lý 8
1.1.3.2 Học sinh chuyên vật lý 9
1.1.4 Rèn luyện trí thông minh và giáo dục học sinh giỏi 10
1.1.5 Những năng lực, phẩm chất cần có của học sinh giỏi Vật lý 10
1.1.6 Một số biện pháp phát hiện, bồi dưỡng học sinh giỏi và phát huy năng khiếu Vật lý 12
1.1.6 1 Tổ chức phát hiện và tuyển chọn đội học sinh giỏi 13
1.1.6 2 Tuyển chọn và phân công giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi 13
1.1.6.3 Biện pháp phát huy hành vi hứng thú học tập môn Vật lý cho học sinh 14
1.1.6.4 Rèn luyện những đức tính cần thiết cho công tác khoa học cho học sinh giỏi và học sinh năng khiếu 16
1.2 Bài tập Vật lý trong dạy học ở trường trung học phổ thông 19
1.2.1 Khái niện bài tập vật lý 19
1.2.2 Vai trò, mục đích sử dụng bài tập Vật lý trong dạy học 19
1.2.3 Phân loại bài tập Vật lý 20
1.2.3.1 Phân loại theo nội dung 21 1.2.3.2 Phân loại theo phương thức cho điều kiện và phương thức giải 21
Trang 61.2.3.3 Phân loại theo yêu cầu mức độ phát triển tư duy 22
1.2.4 Phương pháp giải bài tập Vật lý 23
1.2.4.1 Lựa chọn bài tập Vật lý 23
1.2.4.2 Phương pháp giải bài tập Vật lý 23
1.2.5 Hướng dẫn học sinh giải bài tập Vật lý 25
1.2.5.1 Hướng dẫn theo mẫu 25
1.2.5.2 Hướng dẫn tìm tòi 25
1.2.5.3 Định hướng khái quát chương trình hóa 26
1.3 Tình hình thực tế công tác bồi dưỡng học sinh giỏi Vật lý trường THPT chuyên Nguyễn Trãi - Hải Dương 26
1.3.1 Đội ngũ giáo viên Vật lý và thành tích của học sinh giỏi Vật lý ở trường THPT chuyên Nguyễn Trãi - Hải Dương 26
1.3.2 Thực trạng công tác bồi dưỡng học sinh giỏi Vật lý ở trường THPT chuyên Nguyễn Trãi - Hải Dương 28
1.3.2.1 Thuận lợi trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi Vật lý ở trường THPT chuyên Nguyễn Trãi - Hải Dương 29
1.3.2.2 Một số yếu tố bất lợi trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi Vật lý ở trường THPT chuyên Nguyễn Trãi - Hải Dương 30
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 31
CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP VÀ HƯỚNG DẪN HOẠT ĐỘNG GIẢI BÀI TẬP CHƯƠNG DAO ĐỘNG ĐIỀU HÒA – VẬT LÝ 12 33
2.1 Nội dung kiến thức chương Dao đông điều hòa 33
2.1.1 Cấu trúc nội dung chương Dao động điều hòa 33
2.1.2 Phân tích sơ lược nội dung chương Dao Động Điều Hòa 34
2.1.2.1 Con lắc lò xo 34
2.1.2.2 Con lắc đơn 35
2.2 Mục tiêu chương Dao động điều hòa: 35
2.2.1 Kiến thức: 35
2.2.2 Kỹ năng: 36
2.3 Phương pháp xây dựng và hướng dẫn giải hệ thống bài tập chương Dao động điều hòa 37
Trang 72.3.1 Phương pháp xây dựng hệ thống bài tập chương Dao động điều hòa.
37
2.3.2 Phương pháp hướng dẫn giải bài tập chương Dao động điều hòa 37
2.4 Xây dựng hệ thống bài tập Vật lý và hướng dẫn hoạt động giải chương Dao động điều hòa 39
2.4.1 Bài tập có hướng dẫn giải: 39
2.4.2 Bài tập tự giải có lời giải: 65
2.4.3 Bài tập tự giải: 73
KẾT LUẬN CHƯƠNG II 77
CHƯƠNG III:THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 79
3.1 Mục đích, đối tượng và phương pháp thực nghiệm sư phạm 79
3.1.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm 79
3.1.2 Đối tượng và phương pháp của thực nghiệm sư phạm 79
3.1.2.1 Đối tượng 79
3.1.2.2 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 79
3.1.2.3 Tiêu chí đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 81
3.1.2.4 Thời gian tiến hành thực nghiệm 81
3.2 Tiến hành hực nghiệm sư phạm 81
3.3 Kết quả và xử lý kết quả 82
3.3.1 Phân tích định tính diễn biến các giờ học trong quá trình TNSP 82
3.3.2 Phân tích bài kiểm tra 83
3.4 Đánh giá chung về thực nghiệm sư phạm 86
KẾT LUẬN CHƯƠNG III 88
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 90
1.KẾT LUẬN 90
2.KHUYẾN NGHỊ 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 3.1: Bảng xếp loại học tập các mức: Giỏi, Khá, Trung bình, Yếu, Kém
81
Bảng 3.2 Bảng thống kê điểm số 83
Bảng 3.3 Bảng các tham số thống kê 84
Bảng 3.4 Bảng thống kê số học sinh đạt từ điểm trở xuống 84
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Sơ đồ 1.1 Cấu trúc nội dung chương Dao Động Điều Hòa 34 Hình ảnh về lớp TNSP 98
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đào tạo nhân tài giúp nâng cao dân trí là một trong những mục tiêu quan trọng nhất của ngành giáo dục nói riêng và cho nền khoa học cả nước nói chung, trong đó các trường chuyên đóng một vai trò quan trọng và là một trong những mũi nhọn tiên phong trong quá trình đào tạo nhân tài cho đất nước Trải qua nhiều năm xây dựng và phát triển, hệ thống các trường chuyên THPT đóng vai trò quan trọng trong việc đào tạo nhân tài, bồi dưỡng học sinh giỏi để đào tạo các nhà khoa học, nhà quản lý, doanh nhân giỏi
Đào tạo học sinh Chuyên, học sinh giỏi ở bậc Trung học Phổ thông (THPT) là một quá trình mang tính khoa học đòi hỏi phải có chiến lược lâu dài và có phương pháp phù hợp ,phải có một hệ thống kiến thức và bài tập ,hướng dẫn giải bài tập cụ thể và phù hợp với kiến thức cần cung cấp
Trong quá trình giảng dạy ở trường phổ thông nhiệm vụ phát triển tư duy cho học sinh là nhiệm vụ rất quan trọng, đòi hỏi tiến hành đồng bộ ở các môn, trong đó Vật lý là môn khoa học TN đề cập đến nhiều vấn đề của khoa học, sẽ góp phần rèn luyện tư duy cho học sinh ở mọi góc độ đặc biệt là qua phần giải bài tập Vật lý Bài tập Vật lý không những có tác dụng rèn luyện kỹ năng vận dụng, đào sâu và mở rộng kiến thức đã học một cách sinh động, phong phú
mà còn thông qua đó để ôn tập, rèn luyện một số kỹ năng cần thiết về Vật lý, rèn luyện tính tích cực, tự lực, trí thông minh sáng tạo cho học sinh, giúp học sinh hứng thú trong học tập Cũng thông qua bài tập Vật lý giáo viên kiểm tra, đánh giá việc nắm vững kiến thức và kỹ năng Vật lý của học sinh
Ngoài ra giáo viên phải luôn tìm tòi ,học hỏi để luôn luôn có sự thay đổi
và hoàn thiện hệ thống kiến thức và bài tập nâng cao góp phần cho việc đào tao nhân tài và phát triển tư duy cho học sinh
Trong các lớp chuyên Vật lý THPT của nước ta hiện nay, học sinh được luyện nhiều bài tập khó dẫn đến quen, còn nặng về tính toán đôi khi chưa phát
Trang 11huy được óc quan sát, khả năng phát hiện vấn đề Việc thực hiện mục tiêu phát hiện, bồi dưỡng và phát triển học sinh năng khiếu chưa được đầy đủ
Vì các lí do trên nên tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu "Xây dựng hệ
thống bài tập và hướng dẫn hoạt động giải bài tập chương “Dao động cơ
học” – nhằm bồi dưỡng học sinh giỏi chuyên vật lý" như là một hướng đi
thích hợp, hữu ích cho giáo viên trong việc giảng dạy ở các lớp chuyên Vật lý THPT hiện nay
2 Lịch sử nghiên cứu
Có nhiều công trình nghiên cứu khác đề cập đến hệ thống bài tập chương Dao động cơ học, nhưng các công trình đó với mục đích chủ yếu là trình bày các dạng toán để luyện thi tốt nghiệp và luyện thi đại học, chưa quan tâm đến học sinh giỏi cấp tỉnh, cấp quốc gia và phát huy năng khiếu ở khối chuyên
3 Mục tiêu nghiên cứu
Vận dụng lý luận hiện đại, xây dựng hệ thống bài tập và hướng dẫn hoạt động giải bài tập chương Dao động cơ học – Vật lý 12 nhằm bồi dưỡng học sinh giỏi THPT và phát huy các năng lực cần thiết cho học sinh khối chuyên
4 Câu hỏi nghiên cứu
- Vận dụng lý luận hiện đại, xây dựng hệ thống bài tập và hướng dẫn hoạt động giải bài tập chương Dao động cơ học – Vật lý 12 nhằm bồi dưỡng học sinh giỏi THPT và phát huy các năng lực cần thiết cho học sinh khối chuyên như thế nào?
- Để phát bồi dưỡng học sinh giỏi và phát huy năng lực của học sinh chuyên phải có một hệ thống bài tập như thế nào? Phương pháp giải và hướng dẫn hoạt động giải như thế nào để đạt hiệu quả cao nhất?
5 Giả thuyết khoa học
- Nếu xây dựng được hệ thống kiến thức lý thuyết và bài tập đa dạng, phong phú có chất lượng kết hợp với phương pháp hướng dẫn hoạt động giải bài tập trong dạy học phát huy năng lực cần thiết như năng lực sáng tạo cho
Trang 12học sinh; qua đó giúp học sinh nâng cao được kiến thức, thì có thể sáng tạo góp phần nâng cao chất lượng bộ môn,vận dụng kiến thức vào thực tế hiệu quả và đạt được chất lượng cao trong quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi và chuyên Vật lý THPT
- Xây dựng hệ thống bài tập gồm nhiều bài khó liên quan tới kiến thức, mảng kiến thức trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi Kết hợp vào phương pháp thực tiễn phát huy năng lực sáng tạo cho học sinh chuyên định hướng hoạt động giải bài tập cho học sinh giỏi và tính tư duy khi nghiên cứu bài tập
6 Đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Học sinh Chuyên Lý lớp 12 THPT chuyên
- Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống bài tập và quá trình giải bài tập chương Dao động cơ học - Vật lý lớp 12 THPT
7 Phạm vi nghiên cứu
Áp dụng với chương Dao động cơ học lớp 12 THPT
Nghiên cứu cho học sinh học môn Vật lý ở khối chuyên Vật lý 12 THPT
8 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu lý luận về vai trò, tác dụng, phương pháp giải bài tập Vật lý
- Tìm hiểu đặc điểm, năng lực của học sinh giỏi, học sinh chuyên Vật lý THPT
- Tìm hiểu các dạng bài tập và phân loại bài tập có kiến thức khó về mặt Vật lý hay khó về mặt toán học
- Các bài tập đưa ra không những bồi dưỡng kiến thức cho học sinh giỏi
mà còn phải phát huy năng lực sáng tạo cho học sinh khối chuyên
- Nghiên cứu nội dung kiến thức chương Dao động cơ học – Vật lý 12 THPT
- Lựa chọn, xây dựng hệ thống bài tập chương Dao động cơ học – Vật lý
12 THPT
Trang 13- Định hướng, xây dựng phương pháp giải bài tập và hướng dẫn hoạt động giải bài tập chương Dao động cơ học – Vật lý 12 THPT
- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá ưu điểm, nhược điểm, tính hiệu quả
và việc phát huy năng lực cho học sinh của hệ thống bài tập và phương pháp hướng dẫn hoạt động giải bài tập chương Dao động cơ học
9 Các bước nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Tham khảo sách báo, tạp chí chuyên ngành, các đề chọn học sinh giỏi cấp quốc gia hằng năm sưu tầm tài liệu về bài tập Vật lý – vai trò của bài tập Vật lý trong dạy học
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phương pháp thực nghiệm, phương pháp điều tra
- Phương pháp thống kê toán học
10 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 03 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về dạy bài tập Vật lý phổ thông Chương 2: Hệ thống bài tập và hướng dẫn hoạt động giải bài tập chương Dao động cơ học – Vật lý 12 THPT
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 14CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DẠY GIẢI BÀI TẬP VẬT LÝ
PHỔ THÔNG NHẰM BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI
1.1 Vấn đề bồi dưỡng học sinh giỏi và phát huy năng khiếu Vật lý
1.1.1 Tầm quan trọng của giáo dục
Ngày nay loài người tiến bộ đang khao khát hướng tới một mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội nhằm nâng cao đáng kể chất lượng sống cho con người trong sự kết hợp hài hoà giữa điều kiện vật chất và điều kiện tinh thần, giữa mức sống cao và nếp sống đẹp, vừa an toàn, vừa bền vững cho tất cả mọi người, cho thế hệ ngày nay và muôn đời con cháu mai sau Nói cách của Việt Nam: Thực hiện “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”
Để đạt được mục tiêu tốt đẹp trên đây, cần phải tìm cho được động lực
cơ bản của sự phát triển Vào thời kỳ của những thế kỉ trước, khi lao động thủ công đóng vai trò chủ yếu, thì các yếu tố lao động và đất đai đóng vai trò động lực Nếu biết kết hợp đúng đắn lao động và đất đai thì của cải sẽ sinh sôi, nảy nở Chính vì vậy mà nhà kinh tế học Adam Smit đã nhận định: “Đất
là mẹ, lao động là cha” Đến thời kỳ cách mạng công nghiệp, lao động, vốn,
kĩ thuật và phương pháp quản lí được xem là những yếu tố chủ chốt của tăng trưởng kinh tế Trong thời đại của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại với sự tiến đến nền văn minh trí tuệ, đến các “xã hội thông tin”, trong
đó “thông tin” trở thành nguồn tài nguyên quan trọng của mọi quốc gia, việc
“tin học hoá” tạo nên những chuyển biến nhanh chóng về lượng cũng như về chất của nền kinh tế thế giới, thì con người được vũ trang bằng những tri thức hiện đại sẽ là động lực cơ bản của sự phát triển
Ngày nay, khi mà trí tuệ đã trở thành yếu tố hàng đầu thể hiện quyền lực
và sức mạnh của một quốc gia, thì các nước trên thế giới đều ý thức được rằng giáo dục không chỉ là phúc lợi xã hội, mà thực sự là đòn bẩy quan trọng
Trang 15để phát triển kinh tế, phát triển xã hội Các nước chậm tiến muốn phát triển nhanh phải hết sức quan tâm đến giáo dục và đầu tư cho giáo dục chính là đầu
tư cho phát triển Chỉ có một chiến lược phát triển con người đúng đắn mới giúp các nước thuộc thế giới thứ ba thoát khỏi sự nô lệ mới về kinh tế và công nghệ Tổng Bí thư Đỗ Mười cũng đã nói nhân dịp khai giảng năm học 1995 - 1996: “Con người là nguồn lực quý báu nhất, đồng thời là mục tiêu cao cả nhất Tất cả do con người và vì hạnh phúc của con người, trong đó trí tuệ là nguồn tài nguyên lớn nhất của quốc gia Vì vậy, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng
và trọng dụng nhân tài là vấn đề có tầm chiến lược, là yếu tố quyết định tương lai của đất nước” Do vậy, giáo dục, đào tạo giữ vai trò cốt tử đối với mỗi quốc gia
Trong giáo dục, vấn đề nổi lên hàng đầu là giáo viên Giáo viên là nhân
tố quyết định chất lượng của giáo dục Ở đây vấn đề giáo viên được đặt ra dưới góc độ năng lực, phẩm chất, điều kiện sống, điều kiện làm việc, quan niệm của xã hội đối với nghề dạy học và thái độ đối với giáo viên Người Việt Nam có truyền thống tôn sư, trọng đạo: “Không thầy đố mày làm nên”,
“Muốn sang thì bắc cầu Kiều, muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy”, “Nhất tự
vi sự, bán tự vi sư” Vai trò quan trọng của người thầy cũng được đại thi hào Ta-go diễn tả trong câu nói nổi tiếng của mình: “Giáo dục một người đàn ông được một con người Giáo dục một người đàn bà được một gia đình Giáo dục một người thầy được cả một thế hệ” Người thầy cần được đảm bảo có cuộc sống tốt cho bản thân và gia đình để yên tâm làm nhiệm vụ Khác với các ngành nghề khác trong xã hội, trong nghề dạy học, người thầy với tư cách mô phạm không thể tùy tiện làm thêm bất cứ việc gì để kiếm sống Tốt nhất, có hiệu quả nhất là tạo điều kiện để người thầy đủ sống với nghề dạy học và các công việc xoay quanh việc đào tạo Việc để cho người thầy sống thiếu thốn sẽ càng gia cố thêm những quan niệm sai lệch của xã hội, đặc biệt là của thế hệ trẻ về nghề dạy học và ngành sư phạm, sẽ càng làm cho nguy cơ tụt hậu của ngành giáo dục lớn lên mãi
Trang 16Ngày nay, yêu cầu về chất lượng đối với người thầy cũng rất cao Đồng thời với dạy chữ, người thầy còn phải dạy người Dạy chữ không chỉ đơn thuần là truyền đạt kiến thức, mà quan trọng hơn là phải tạo cho người học khả năng sáng tạo, khả năng tự thích nghi với mọi hoàn cảnh Muốn vậy người học phải nắm được những điều bản chất nhất, những cái cơ bản nhất Người thầy còn phải là một điển hình tốt về tinh thần tự học, tự vươn lên, một tấm gương sáng ngời về đạo đức, về nhân cách đối với học sinh Như vậy, chất lượng đòi hỏi ở người thầy là rất cao, rất toàn diện
1.1.2 Tầm quan trọng của công tác phát hiện, đào tạo bồi dưỡng học sinh giỏi nói chung.
Thực tiễn trong nhiều năm qua cho thấy, ngành Giáo dục và Đào tạo nước ta đã có những chủ trương nâng cao dân chí bồi dưỡng nhân tài là quan trọng hang đầu, biện pháp quan trọng nhằm phát hiện, bồi dưỡng nhân tài và đến nay đã thu được những kết quả nhất định Hàng năm, số học sinh năm cuối của các trường THPT khối năng khiếu thi đỗ đại học với tỷ lệ đạt khoảng trên 80%[2, tr.9] Khối trường, lớp chuyên đã có những đóng góp to lớn trong việc phát hiện bồi dưỡng nhân tài, tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước, đồng thời góp phần tích cực nâng cao chất lượng và thành tích các kỳ thi học sinh giỏi Quốc gia, các kỳ thi Olympic Quốc tế Số học sinh đạt giải trong các kỳ thi học sinh giỏi Quốc Gia, Quốc tế ngày càng tăng
Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi là một công tác mũi nhọn trong việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài nhà trường nói riêng, cho địa phương và cho nước nhà nói chung Bồi dưỡng HSG là một công việc khó khăn và lâu dài, đòi hỏi nhiều công sức của thầy và trò
Tại đại hội Đảng toàn quốc lần VIII và IX Đảng ta đều xác định và nhấn mạnh: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu là một trong những động lực quan trọng tạo sự chuyển biến toàn diện trong phát triển giáo dục và đào tạo”
Xuất phát từ quan điểm chỉ đạo của Đảng về giáo dục - đào tạo, thực hiện chiến lược phát triển giáo dục trong giai đoạn hiện nay, ngành giáo dục đang
Trang 17tích cực từng bước đổi mới nội dung chương trình đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới công tác quản lý giáo dục nâng cao chất lượng quản lý dạy bồi dưỡng học sinh giỏi nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, nhằm hoàn thành mục tiêu: “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” Cũng trong nghị quyết TW II khoá VIII đã nêu những giải pháp phát triển giáo dục cùng với việc cải tiến các vấn đề về công tác giáo dục toàn diện học sinh
1.1.3 Học sinh giỏi Vật lý và chuyên Vật lý
1.1.3.1 Học sinh giỏi và học sinh giỏi vật lý
Học sinh giỏi trước tiên là học sinh có trí thông minh Từ các tài liệu khoa học giáo dục có thể rút ra một số quan niệm về trí thông minh:
- “ Trí thông minh là tổng hợp các năng lực của trí tuệ của con người (quan sát, ghi nhớ, tưởng tượng, tư duy .) mà đặc trưng cơ bản nhất là tư duy độc lập và sáng tạo nhằm ứng phó với tình huống mới ”
- “ Trí thông minh xét trong bản chất của nó là một phẩm chất cao của tư duy sáng tạo đưa đến việc giải quyết vấn đề một cách mau lẹ và thích hợp trong tình huống mới cho nên nó không chỉ thể hiện ở sự nhận thức mà biểu hiện trong cả hành động thực tiễn ”
- Trí thông minh là phẩm chất cao của năng lực tư duy nhằm giải quyết vấn đề một cách nhanh chóng và sáng tạo Đặc trưng cơ bản nhất của trí thông minh là tính độc lập, sáng tạo trong suy nghĩ và trong hành động.Một học sinh thông minh là một học sinh có năng lực quan sát tốt, có trí nhớ logic nhạy bén, có óc tưởng tượng linh hoạt phong phú, ứng đối sắc sảo đối với vấn
Trang 18+ Có năng lực suy nghĩ độc lập tự nhìn thấy vấn đề và phát hiện được vấn đề, đặt vấn đề và giải quyết vấn đề, kiểm tra và đánh giá được cách giải quyết của bản thân, phê phán cách đặt và cách giải quyết vấn đề của người khác
+ Có năng lực suy nghĩ linh hoạt, sáng tạo, phát hiện được mối liên hệ khăng khít giữa những sự kiện đã có trong thực nghiệm, trong bài tập hoặc trong thực tế sản xuất, đời sống để tìm ra phương pháp đúng, hợp lí, độc đáo
để giải quyết vấn đề đặt ra
+ Do đó một học sinh học giỏi vật lý sẽ nắm được kiến thức cơ bản về vật lý một cách chính xác, hành động tự giác: hiểu, nhớ, vận dụng tốt những kiến thức đó trong học tập và đời sống
1.1.3.2 Học sinh chuyên vật lý
Học sinh được tuyển chọn vào các trương THPT chuyên hầu hết là các học sinh có trí thông minh, ham học hỏi, tích cực và chủ động trong quá trình học tập nghiên cứu và kém theo năng khiếu Học sinh năng khiếu có ưu thế
về khả năng trực giác Vì vậy nếu một học sinh năng khiếu được học tập một cách hệ thống chu đáo, thì anh ta sẽ trở thành học sinh xuất sắc trong lĩnh vực
đó và làm bước đầu của tài năng
Mục tiêu của cá trương THPT chuyên là phải phát hiện những học sinh
có tư chất thông minh, đạt kết quả xuất sắc trong học tập và phát triển năng khiếu của các em về một số môn học trên cơ sở đảm bảo giáo dục phổ thông toàn diện; giáo dục các em thành người có lòng yêu nước, tinh thần vượt khó,
tự hào, tự tôn dân tộc; có khả năng tự học, nghiên cứu khoa học và sáng tạo;
có sức khỏe tốt để tiếp tục đào tạo thành nhân tài đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước Nghiên cứu vận dụng phù hợp, hiệu quả các phương pháp quản lý, dạy học, kiểm tra đánh giá tiên tiến; tổ chức hiệu quả các hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống và kỹ năng hoạt động xã hội của học sinh; tạo điều kiện cho học sinh nghiên cứu khoa học, sáng tạo kỹ thuật, vận dụng kiến thức vào
Trang 19giải quyết những vấn đề thực tiễn và sử dụng ngoại ngữ trong học tập, giao tiếp
1.1.4 Rèn luyện trí thông minh và giáo dục học sinh giỏi
Thực chất của việc rèn luyện trí thông minh cho học sinh là bồi dưỡng năng lực suy nghĩ linh hoạt, sáng tạo mà bước đầu là giải các bài toán nhận thức độc lập sáng tạo
Trong việc rèn luyện trí thông minh cũng như bồi dưỡng các thuộc tính tâm lí khác điều quan trọng là phải thường xuyên, liên tục và có hệ thống Việc rèn luyện trí thông minh không tách rời óc quan sát, phát triển trí tưởng tượng, trau dồi ngôn ngữ, bồi dưỡng chú ý, cung cấp những tri thức và phương pháp làm việc, hình thành những kĩ năng, kĩ xảo Những năng lực này
tự nó chưa phải là rèn luyện trí thông minh nhưng ở mỗi giai đoạn phát triển thì một năng lực nào đó trong số ấy sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển trí thông minh
Rèn trí thông minh cần đi song song với xây dựng tình cảm tốt đẹp rèn luyện ý chí và những phẩm chất khác của nhân cách Những phẩm chất này có thể bù trừ phần nào cho trí thông minh nhưng không thể thay thế hoàn toàn nó trong cấu trúc nhân cách của một con người có đức có tài
Như vậy trí thông minh của học sinh phải được rèn luyện qua tất cả các khâu của quá trình dạy học và thường xuyên chú ý trên cơ sở vận dụng tốt các nguyên tắc dạy học, giáo dục và các quy luật tâm lý của học sinh Việc rèn luyện trí thông minh cho học sinh phải thông qua những việc làm cụ thể có tác động đến tư duy học sinh đặc biệt là tư duy sáng tạo
1.1.5 Những năng lực, phẩm chất cần có của học sinh giỏi Vật
Theo các tài liệu về tâm lý học và phương pháp dạy học vật lý thì năng khiếu vật lý được thể hiện qua một số năng lực và phẩm chất sau:
- Năng lực tiếp thu kiến thức:
Khả năng nhận thức vấn đề nhanh, rõ ràng
Luôn hứng thú trong các tiết học, nhất là bài học mới
Trang 20Có ý thức tự bổ sung, hoàn thiện những tri thức đã thu được ngay từ dạng sơ khai
- Năng lực suy luận logic:
Biết phân tích sự vật, hiện tượng qua các dấu hiệu đặc trưng của chúng Biết thay đổi góc nhìn khi xem xét một sự vật hiện tượng
Biết cách tìm con đường ngắn để sớm đi đến kết luận cần thiết
Biết xét đủ các điều kiện cần thiết để đạt được kết luận mong muốn Biết xây dựng các ví dụ để loại bỏ một số miền tìm kiếm vô ích
Biết quay lại điểm vừa xuất phát để tìm đường đi mới
- Năng lực đặc biệt:
Biết diễn đạt chính xác điều mình muốn
Sử dụng thành thạo hệ thống kí hiệu, các qui ước để diễn tả vấn đề Biết phân biệt thành thạo các kĩ năng đọc, viết và nói
Biết thu gọn các vấn đề và trật tự hóa các vấn đề để dùng khái niệm trước mô tả cho các khái niệm sau
- Năng lực lao động sáng tạo:
Biết tổ hợp các yếu tố, các thao tác để thiết kế một dãy các hoạt động nhằm đạt kết quả mong muốn
- Năng lực kiểm chứng:
Biết suy xét sự đúng sai từ một loạt sự kiện
Biết tạo ra các tương tự hay tương phản để khẳng định hoặc bác bỏ một đặc trưng nào đó trong sản phẩm do mình làm ra
Biết chỉ ra một cách chắc chắn các dữ liệu cần phải kiểm nghiệm sau khi thực hiện một số lần kiểm nghiệm
- Năng lực thực hành:
Vật lý là bộ môn khoa học thực nghiệm nên học sinh có năng khiếu vật
lý không chỉ có các năng lực trên mà cần có khả năng về thực nghiệm, năng lực tiến hành các thực nghiệm vật lý:
Biết thực hiện dứt khoát một số động tác trong khi làm thí nghiệm
Trang 21Biết kiên trì, kiên nhẫn trong quá trình làm sáng tỏ một số vấn đề lí thuyết qua thực nghiệm hoặc đi đến một số vấn đề lí thuyết mới dựa trên thược nghiệm
Vấn đề về năng khiếu vật lý và những thành tố chủ yếu của năng khiếu hóa học còn cần được tiếp tục nghiên cứu thêm Trước mắt cần xác định những phẩm chất và năng lực quan trọng nhất của một học sinh giỏi vật
1.1.6 Một số biện pháp phát hiện, bồi dưỡng học sinh giỏi
Bên cạnh việc nâng cao nhận thức việc tổ chức bồi dưỡng học sinh giỏi,
để công tác bồi dưỡng học sinh giỏi đạt kết quả tốt, người cán bộ quản lý cần phải xây dựng kế hoạch một cách khoa học, cụ thể, tương đối dài hạn và có tính khả thi cao
Trong đó phải chú ý đến mặt mạnh, mặt yếu của nhà trường ở tất cả các yếu tố: đội ngũ giáo viên và học sinh, tình tình cơ sở vật chất, tài chính, nguồn lực Để phục vụ cho công tác bồi dưỡng đội học sinh giỏi
Trong kế hoạch phải thể hiện được mục tiêu, chương trình, đối tượng tham gia, thiết bị, phương tiện, đồ dùng dạy học, hình thức thi đua khen thưởng kinh phí cần sử dụng
Mặt khác, kế hoạch cũng cần thể hiện được phương thức thành lập đội tuyển, cơ cấu mỗi đội, thời gian tuyển chọn, thời gian khảo sát chất lượng đội tuyển, kế hoạch hội thảo rút kinh nghiệm trong việc dạy đội tuyển học sinh
Trang 22giỏi của nhà trường Đồng thời, phải được toàn thể cán bộ, giáo viên và học sinh nắm vững
1.1.6 1 Tổ chức phát hiện và tuyển chọn đội học sinh giỏi
Việc phát hiện và tuyển chọn học sinh vào đội tuyển học sinh giỏi là một trong những khâu rất quan trọng, quyết định phần lớn chất lượng của đội học sinh giỏi Tuy nhiên, khâu này đòi hỏi đầu tư nhiều công sức, đòi hỏi năng lực
và tâm huyết của các thầy cô giáo
Có thể thực hiện khâu này theo 3 bước:
Bước 1: Tập hợp các học sinh giỏi, kể cả một số em làm đơn xin dự thi vào đội tuyển Tổ chức kì thi chọn đội tuyển học sinh giỏi để khảo sát kiến thức học sinh.Xem xét kết quả học tập ở những năm trước hoặc kết quả thi tuyển đầu vào, lấy ý kiến của các giáo viên bộ môn
Bước 2: Tiến hành kiểm tra những tố chất của học sinh năng khiếu: Thông tuệ, sáng tạo, phẩm chất ưu việt thông qua thi trắc nghiệm
Bước 3: Đo một số chỉ số sinh lý có liên quan đến học sinh năng khiếu
và xem xét phả hệ gia đình (nếu có điều kiện)
1.1.6.2 Tuyển chọn và phân công giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi
Vai trò của người giáo viên trong công tác phát hiện, bồi dưỡng học sinh giỏi là hết sức quan trọng Giáo viên bồi dưỡng phải là một người thầy vừa hồng vừa chuyên, hay nói cách khác phải đủ tâm, đủ tầm; phải có ý thức tích cực trau dồi, tích lũy chuyên môn, đọc nhiều, hiểu sâu vấn đề mà mình dạy
học sinh theo phương châm biết mười dạy một
“Có thể nói giáo viên bồi dưỡng là một trong những yếu tố quan trọng quyết định kết quả bồi dưỡng”
Việc tuyển chọn và phân công giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi là một trong những công việc quan trọng của nhà quản lý giáo dục
Công việc này cần dựa trên các tiêu chí: Giáo viên có trình độ kiến thức chuyên môn cao, được công nhận là giáo viên giỏi từ cấp trường trở lên; có phẩm chất đạo đức tốt, yêu nghề và hăng say với công tác bồi dưỡng học sinh
Trang 23giỏi; có kỹ năng thiết kế bài dạy tốt, có ý thức tìm tòi, nghiên cứu về chuyên môn
Công tác phân công lao động sư phạm hợp lý sẽ giúp cho người giáo viên phát huy tốt năng lực, sở trường của mình Giáo viên giảng dạy ở những môn thi học sinh giỏi được bố trí giảng dạy theo học sinh đến hết khóa học
Có như vậy giáo viên mới có điều kiện phát hiện học sinh giỏi ngay từ đầu cấp và có kế hoạch bồi dưỡng ngay từ lớp 10 Hơn nữa, việc bố trí giảng dạy như vậy giáo viên sẽ có tinh thần trách nhiệm hơn với học sinh khóa mình dạy nói chung và đội tuyển được đảm nhận nói riêng
Công tác bồi dưỡng giáo viên dạy học sinh giỏi cũng vô cùng quan trọng Nội dung bồi dưỡng giáo viên gồm: Bồi dưỡng tư tưởng, chính trị, đạo đức, phẩm chất nghề nghiệp; năng lực chuyên môn; kỹ năng sư phạm; kiến thức kinh nghiệm thực tế và bồi dưỡng các kiến thức bổ trợ
Người quản lý cần phải có kế hoạch bồi dưỡng cho giáo viên, xác định
rõ từng nội dung bồi dưỡng cho từng giáo viên và thời gian, thời lượng, bồi dưỡng Đồng thời, tham mưu với cấp trên để cử giáo viên đi học trên chuẩn
và bồi dưỡng theo chuyên đề
Cùng với đó, tổ chức hội nghị về phương pháp, kinh nghiệm bồi dưỡng học sinh giỏi; mời chuyên gia về nói chuyện, phổ biến những kiến thức cập nhật; dự giờ, rút kinh nghiệm trong tổ, nhóm chuyên môn;
Tổ chức giao lưu với các trường bạn, trao đổi kinh nghiệm trong giảng dạy, học tập, nghiên cứu; động viên giáo viên tự học thêm về ngoại ngữ; tổ chức cho giáo viên học những kiến thức cơ bản về tin học để vận dụng công nghệ thông tin vào dạy học
1.1.6.3 Biện pháp phát huy hành vi hứng thú học tập môn Vật lý cho học sinh
Để các em có thái độ học tập tích cực đối với môn Vật lý, trước hết phải làm cho các em hiểu tầm quan trọng của môn học Chúng ta phải giúp các em hiểu rằng các thành tựu khoa học ngày nay có những đóng góp không nhỏ của Vật lý Nền văn minh mà nhân loại có được không thể thiếu những công
Trang 24trình, những nghiên cứu khoa học của các nhà Vật lý vĩ đại như: Aristotle, Ixac Newton, Kepler, Anbe Anhxtanh… Giáo viên nên giới thiệu và kể nhiều
về các câu chuyện liên quan đến môn vật lý, bởi khi đó sẽ kích thích tính tò
mò muốn tìm hiểu của các em, khuyến khích các em tìm đọc nhiều hơn tài liệu môn vật lý Từ đó cho các em hiểu rằng môn Vật Lý không phải môn học khô khan và khó hiểu như các em nghĩ, mà nó là một môn học rất lý thú,
là một môn khoa học để khám phá thế giới và tầm ảnh hưởng của nó đến đời sống là rất lớn
Phải có sự động viên, giám sát, kiểm tra từ gia đình và thầy cô đối với việc học và chuẩn bị bài của các em,điều đó giúp các em có thái độ học tâp nghiêm túc hơn
Ở lứa tuổi này các em có tâm lý rụt rè, không thích tạo sự chú ý nên các
em thường thụ động trong giờ học, ngại phát biểu vì cho rằng các bạn cùng lớp sẽ nghĩ mình “chơi trội”, mình “thích thể hiện” , vì thế đa số các em chọn phương án ngồi nghe giáo viên giảng một cách thụ động, không hề phát biểu hay có một phản hồi nào khác dù hiểu hay chưa hiểu, từ đó tạo nên thói quen không chịu suy nghĩ và làm cho giờ học không sôi nổi và hiệu quả, vì vậy giáo viên cần thay đổi cách học đó của học sinh, tạo điều kiện cho các em hoạt động nhiều hơn, suy nghĩ nhiều hơn, khuyến khích các em đặt câu hỏi xây dựng bài học…
Nhà trường cần trang bị các thiết bị học tập giảng dạy hiện đại, các bộ thí nghiệm như trong sách giáo khoa nêu ra để tự các em kiểm nghiệm lại những
gì mình được học từ lý thuyết, từ đó để các em hiểu rằng kiến thức vật lý là được rút ra từ thực nghiệm Các buổi thí nghiệm hay các giờ ngoại khóa chính
là cơ hội để các em khám phá khoa học, trao đổi thông tin, kiến thức về môn học với thầy cô, bạn bè, qua đó tạo sự hứng, khơi dạy trí tò mò trong các em
về môn học Các thầy cô giáo nên nhấn mạnh vào phần mở đầu bài giảng một cách tốt nhất, thú vị nhất, sao cho có thể cuốn hút học sinh vào bài học ngay
từ đầu Trong quá trình dạy học nên tạo cho các em cảm giác thoải mái Các
Trang 25thầy cô nên gần gũi, tâm sự , trò chuyện, trao đổi cùng các em không chỉ những những vấn đề trong học tập mà cả trong cuộc sống
Để các em có một tâm lý thoải mái trong học tập, không bị ảnh hưởng bởi các nhân tố bên ngoài thì cần có sự quan tâm chăm sóc của cả gia đình và
Các kĩ năng ,kinh nghiệm cần rèn luyện cho học sinh giỏi và học sinh năng khiếu
Kinh nghiệm là vốn kiến thức có được qua quá trình trải nghiệm thực tếcủa chính bản thân mình Lịch sử của từ “kinh nghiệm” gắn kết chặt chẽ với khái niệm thử nghiệm Khái niệm kinh nghiệm thường nói về biết - như - thế -nào hoặc kiến thức về cách thức, chứ không phải là kiến thức xác định Kinh nghiệm do được đào tạo tại nơi làm việc hơn là học tập theo sách vở Người
có nhiềukinh nghiệm trong một lĩnh vực nhất định có thể được mang danh là một chuyên gia.Sự phát triển các năng lực, hay như Mác nói “các lực lượng bản chất” của con người, không phải là sự bộc lộ của các phẩm chất tâm lí nội tại vốn có ở trong con người, mà là quá trình chủ thể (có thể dưới sự hướng dẫn của người khác) tự tạo ra các cấu tạo mới Muốn có các cấu tạo ấy chủ thể
Trang 26phải thực hiện một hoạt động tương ứng với hoạt động đã chứa đựng trong đối tượng của hoạt động Theo tâm lí học Marxist, muốn hình thành và phát triển năng lực ở trẻ, phải tổ chức cho trẻ có điều kiện tiếp xúc với tri thức, với thế giới đối tượng để trẻ biến những cái đó thành các thuộc tính tâm lí bản thân Vấn đề bản chất năng lực người chính là vấn đề lĩnh hội kinh nghiệm của các thế hệ trước đã chứa trong các đối tượng (tri thức, công cụ lao động, công trình kiến trúc, v.v ) Do đó, kinh nghiệm học tập của học sinh giỏi Lý
là kết quả của việc các em có khả năng Vật lý học, được các thầy/cô hướng dẫn, làm việc trực tiếp với Vật lý học và tự tạo ra các cấu trúc mới.Cấu trúc của năng lực là một vấn đề khá phức tạp Ở đây chỉ nhấn mạnh hai ý:
+ Tri thức, kỹ năng, kỹ xảo là chất liệu để tạo ra năng lực tương ứng Năng lực chính là tổ hợp đặc điểm cá nhân tiếp nhận hoặc sử dụng tri thức, kỹ năng, kỹ xảo vào một hoạt động nào đó Do đó, ở đây còn có cả vai trò của động cơ, hứng thú
+ Việc lĩnh hội và sử dụng tri thức, kỹ năng, kỹ xảo diễn ra theo các quy luật xã hội - lịch sử chứ không theo quy luật sinh vật Từ những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo này mới tạo ra kết quả mà người ta gọi là kết quả “hình thức”, tức là kết quả chưa gắn vào một tri thức hay kỹ năng được vận dụng vào một hoạt động cụ thể nào Từ kết quả “hình thức” ấy, trải qua quá trình vận dụng thực tế nhiều lần mớichuyển thành năng lực đặc thù Năng lực của con người bao gồm hai loại là năng lực tổng quát và năng lực đặc thù Năng lực tiếp thu tinh hoa của xã hội, năng lực truyền đạt, năng lực đặt ra mục đích và kiên trì theo đuổi mục đích đó Đây là những năng lực chung nhất, là cơ sở để tạo ra một năng lực cụ thể nào đó như năng lực toán học, năng lực âm nhạc, năng lực tổ chức, năng lực học tập, năng lực lao động, năng lực giao tiếp, năng lực đấu tranh, v.v là các năng lực đặc thù của người Đây cũng là năng lực cần thiết cho con người và loài người tồn tại, phát triển Các năng lực chung và năng lực đặc thù có những mức độ khác nhau, mà đỉnh cao là thiên tài.Đối với con người thì những năng lực đặc thù giữ vai trò chính, còn các thành phần
Trang 27khác chỉ là chất liệu tham gia vào việc tạo thành năng lực đặc thù người Trong mối quan hệ này, ta sẽ hiểu rõ vai trò của tư chất, tri thức, kỹ năng đối với năng lực Ngoài ra, quan hệ giữa số lượng và chất lượng trong năng lực,
kỹ năng cũng như quan hệ giữa các tĩnh tại và động thái trong năng lực, tài năng là vấn đề phức tạp Sau đây là một số kết quả rút ra từ những nghiên cứu hiện nay về việc tiếp thu các chiến lược tư duy và những năng lực then chốt độc lập với nội dung
- Trí thông minh và sự sáng tạo được coi là các hệ thống phức hợp của các năng lực học tập và tư duy chung, không thể học và cải thiện về lâu dài thông qua các
chương trình huấn luyện mang tính hình thức và bị giới hạn về thời gian
- Việc học tư duy hay phương pháp học là việc tiếp thu một hệ thống phương pháp để sử dụng một cách linh hoạt các chiến lược học tập, ghi nhớ
và tái hiện tổng quát thì việc sử dụng này chỉ ở mức độ hạn chế và lợi ích thực tiễn của nó ít hơn so với những gì mong đợi
- Nếu người ta cho rằng học cách học là sự tiếp thu những quy tắc, chiến lược và phương pháp học tập, cách giải quyết vấn đề mang tính chất chung diễn ra trong mối liên quan với việc hình thànhhệ thống các tri thức có nội dung mang tính đặc thù, thì đó là một chiến lược hữu hiệu để cải thiện những năng lực mang tính khái quát đối với việc giải quyết các mức độ khác nhau của các vấn đề mới
- Nếu người nào càng ý thức được sự hiểu biết, sự tiếp thu và sử dụng tri thức của mình thì người đó càng có thể sử dụng sự hiểu biết này trong tư duy
và trong việc tiếp thu tri thức mới bấy nhiêu Một cách ngắn gọn, năng lực trí tuệ gồm:
+ Khả năng đáp ứng và ứng dụng vào tình huống mới một cách nhanh chóng và hiệu quả;
+ Khả năng sử dụng các khái niệm trừu tượng một cách hiệu quả;
+ Khả năng nắm bắt các mối liên hệ và học tập nhanh chóng
Trang 28Ba khả năng này không độc lập với nhau, chúng chỉ nhấn mạnh các mặt khác nhau của một quá trình Tóm lại, khi nói đến năng lực trí tuệ, chúng
ta không thể bao hàm tất cả các mặt của nó trong một định nghĩa do tính đa dạng và phong phú của nó Nếu chúng ta chú ý nhiều đến mặt nhận thức thì bị coi là duy trí, vì nó không nói đến các mặt khác như hành động có hiệu quả, tính thích ứng, v.v… của trí óc Ngược lại, nếu chúng ta chú ý đến tính hiệu quả của năng lực trí tuệ, thì có thể bị cho là xem nhẹ nội dung của khả năng trí tuệ, là chủ nghĩa hành vi vì không phân biệt được giữa sự thành thục với tri thức và kỹ năng, kỹ xảo của một hoạt động nhất định
1.2 Bài tập Vật lý trong dạy học ở trường trung học phổ thông
1.2.1 Khái niện bài tập vật lý [8, tr 7 ]
Bài tập vật lý được hiểu là một vấn đề được đặt ra đòi hỏi phải giải quyết nhờ những suy luận logic, những phép toán và thí nghiệm dựa trên cơ sở khái niệm, các thuyết, các định luật và các phương pháp Vật lý vì nó cho phép hình thành và làm phong phú các khái niệm Vật lý, phát triển tư duy Vật lý và thói quen vận dụng kiến thức Vật lý vào thực tiễn
1.2.2 Vai trò, mục đích sử dụng bài tập Vật lý trong dạy học [8, tr 7 – 11]
“Trong quá trình dạy học ở trung học phổ thong bài tập Vật lý đóng vai trò đặc biệt quan trọng Ở mỗi góc độ, mỗi trường hợp cụ thể bài tập vật lý đề thể hiện những vai trò đặc thù của mình:
- Trong quá trình giải quyết các tình huống cụ thể do các bài tập Vật lý đặt ra, học sinh phải sử dụng các thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, trừu tượng hóa… để giải quyết vấn đề, do đó tư duy học sinh có điều kiện để phát triển Việc rèn luyện, hướng dẫn học sinh làm bài tập Vật lý là biện pháp rất hiệu quả phát triển tư duy Vật lý cho học sinh
- Về phương diện giáo dục, giải các bài tập Vật lý sẽ giúp hình thành các phẩm chất cá nhân của học sinh như tình yêu lao động, trí tò mò sự khéo léo, khả năng tự lực, hứng thú với học tập, ý chí và sự kiên trì đạt tới mục đích đặt
ra
Trang 29- Giải các bài tập Vật lý góp phần giáo dục kỹ thuật tổng hợp cho học sinh Các bài tập Vật lý gắn với cuộc sống, với kỹ thuật, với thực tiễn sản xuất thường đem lại nhiều hứng thú cho học sinh
- Giải các bài tập Vật lý là một phương pháp đơn giản để kiển tra, hệ thống hóa kiến thức, kỹ năng và thói quen thực hành, cho phép mở rộng và làm sâu sắc thêm kiến thức đã học
- Vận dụng các định luật Vật lý, đặc biệt là các định luật bảo toàn, sẽ tạo
cơ hội hình thành thế giới quan duy vật biện chứng cho học sinh, phát triển tư duy biện chứng đồng thời với tư duy logic hình thức.”
- Để phát huy tối ưu các vai trò đó, trong quá trình dạy học giáo viên cần phải chú ý lựa chọn, xây dựng hệ thống bài tập và phương pháp hướng dẫn giải bài tập Vật lý đa dạng và phù hợp với mỗi mục đích sử dụng Bài tập Vật
lý có thể sử dụng với những mục đích cụ thể sau:
Ôn tập, củng cố, mở rộng kiến thức, kỹ năng học sinh
- Huy động kiến thức cũ, kiến thức nền tảng, đặt vấn đề khởi đầu kiến thức mới
- Phát triển tư duy suy luận, tư duy sáng tạo của học sinh và bồi dưỡng phương pháp nghiên cứu khoa học cho học sinh
- Rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo vận dụng kiến thức lý thuyết vào thực tiễn, phát triển thói quen vận dụng kiến thức một cách khái quát
- Rèn luyện đức tính tự lập, kiên trì vượt khó và năng lực tự học của học sinh
- Kiển tra mức độ nắm vững kiến thức và kỹ năng của học sinh
1.2.3 Phân loại bài tập Vật lý [9, tr.12]
“Bài tập vật lý có thể khác nhau về nội dung, về phương thức giải, về mục tiêu dạy học Do đó việc phân loại bài tập Vật lý dựa trên cơ sở phân loại như sau: Phân loại theo nội dung, phân loại theo phương thức cho điều kiện
và phương thức giải, phân loại theo yêu cầu luyện tập kỹ năng, phát triển tư duy sáng tạo của học sinh.”
Trang 301.2.3.1 Phân loại theo nội dung
Bài tập có nội dung lịch sử: là bài tập chứa đựng những kiến thức có liên quan tới lịch sử như những dữ liệu về các thí nghiệm vật lý cổ điển, những phát minh, hay những câu chuyện có tính chất lịch sử
Bài tập có thể có nội dung cụ thể hoặc trừu tượng Trong đó bài tập có nội dung cụ thể: là bài tập có dữ liệu là các con số cụ thể, thực tế và học sinh đưa ra lời giải dựa vào vốn kiến thức Vật lý cơ bản đã có Bài tập Vật lý có nội dung trừu tượng: là những bài tập có dữ kiện dưới dạng chữ Trong đó bài tập này, bản chất được nêu bật trong đề bài, những chi tiết không bản chất đã được loại bỏ bớt Học sinh có thể nhận ra được cần sử dụng công thức, định luật vật lý nào để giải bài tập đã cho
Đề tài vật lý: cơ học, nhiệt học, điện học, quang học
Kỹ thuật tổng hợp: là các bài tập có nội dung chứa đựng các kiến thức
1.2.3.2 Phân loại theo phương thức cho điều kiện và phương thức giải
Theo cách này, người ta phân các bài tập Vật lý thành 5 loại: Bài tập định tính, bài tập định lượng, bài tập thí nghiệm, bài tập đồ thị Phân loại này cho phép giáo viên lựa chọn bài tập tương ứng với sự chuẩn bị toán học của học sinh, mức độ kiến thức và sáng tạo của học sinh
Bài tập đinh lượng: Bài tập đinh lượng là những bài tập khi giải phải sử dụng các phương pháp toán học dựa trên các định luật, quy tắc hoặc thuyết Vật lý Đây là dạng bài tập phổ biến nhất, sử dụng rộng rãi trong chương trình trung học phổ thông Dạng bài tập này có điểm nổi bật lớn nhất là khắc sâu kiến thức của học sinh, rèn luyện cho học sinh những phương pháp nhận thức đặc thù của Vật lý, đặc biệt là suy luận toán học
Bài tập thí nghiệm: Đây là dạng bài tập mà trong đó thí nghiệm là công
cụ để tìm ra các đại lượng trong bài toán, hoặc để kiểm chứng một định luật, một thuyết trong Vật lý Bài tập thí nghiệm có thể là thí nghiệm biểu diễn hoặc thí nghiệm thực tập của học sinh
Trang 31Bài tập đồ thị: Là dạng bài tập phân tích đồ thị từ đó tìm ra các điều kiện giải bài toán Dạng bài tập này chủ yếu rèn kỹ năng vẽ và đọc đồ thị cho học sinh Việc áp dụng phương pháp đồ thị cho phép diễn đạt trực quan hiện tượng Vật lý, cho cách giải trực quan hơn, phát triển kỹ năng vẽ và đọc đồ thị
là những kỹ năng rất cần thiết trong kỹ thuật
Bài tập trắc nghiệm khách quan: Bài tập trắc nghiệm khách quan thường dùng để kiểm tra kiến thức trong phạm vi rộng, số lượng người được kiểm tra nhiều, kết quả thu được khách quan không phụ thuộc vào người chấm Bài tập này yêu cầu học sinh phải nhớ, hiểu và vận dụng đồng thời nhiều các kiến thức liên quan
1.2.3.3 Phân loại theo yêu cầu mức độ phát triển tư duy
Căn cứ vào mức độ hoạt động tư duy của học sinh trong quá trình tìm kiếm lời giải bài tập Vật lý phân chia bài tập Vật lý thành 2 loại: bài tập cơ bản và bài tập tổng hợp
Bài tập cơ bản: Là loại bài tập Vật lý mà để tìm được lời giải chỉ cần phải lập mối quan hệ trực tiếp, tường minh giữa cái đã cho và một cái phải tìm dựa vào một kiến thức cơ bản vừa học mà học sinh chỉ cần tái hiện kiến thức chứ không thể tạo ra
Bài tập tổng hợp: Là loại bài tập Vật lý trong đó việc tìm kiếm lời giải phải thực hiện một chuỗi các lập luận logic, biến đổi toán học qua nhiều mối liên hệ giữa những cái đã cho, cái cần tìm không cho trong dữ kiện Bản thân việc xác lập mối liên hệ trung gian đó là một bài tập cơ bản Và do đó, muốn giải được bài tập tổng hợp buộc người học phải giải được thành thạo các bài tập cơ bản, ngoài ra còn phải biết cách phân tích bài tập tổng hợp để quy nó
về bài tập đơn giản đã biết
Cũng có các nhà sư phạm phân loại bài tập theo yêu cầu này và thành hai mức bài tập luyện tập và bài tập sáng tạo
Trang 321.2.4 Phương pháp giải bài tập Vật lý [9, tr 21 - 27]
1.2.4.1 Lựa chọn bài tập Vật lý
Do bài tập Vật lý có nhiều cách phân loại, nhiều mục đích sử dụng khác nhau nên để phát huy hiệu quả các vai trò và tác dụng của bài tập Vật lý trong quá trình dạy học việc lựa chọn bài tập Vật lý cần dựa trên những cơ sở sau: Mục đích sử dụng, trình độ xuất phát của học sinh và thời gian cho phép sử dụng
Việc lựa chọn bài tập cần đáp ứng các yêu cầu về số lượng và nội dung như sau:
+ Phù hợp với mức độ nội dung các kiến thức cơ bản và kỹ năng giải bài tập
+ Hệ thống bài tập gồm nhiều thể loại
+ Chú ý thích đáng về số lượng và nội dung các bài tập nhằm giúp học sinh vượt qua những khó khăn chủ yếu, khắc phục những sai làm phổ biến + Các bài tập đưa ra phải có tính hệ thống mỗi bài tập đưa ra là một mắt xích trong hệ thống bài tập
+ Các bài tập phải đảm bảo tính vừa sức đối với đa số học sinh, đồng thời có chú ý tới phân hóa học sinh
1.2.4.2 Phương pháp giải bài tập Vật lý
“Mặc dù các bài tập Vật lý khác nhau về loại và mục đích sử dụng trong dạy học, song trong thực tế người ta cùng thừa nhận một quan điểm chung về một quá trình giải một bài tập Vật lý Theo quan điểm đó, người thầy không chỉ đơn giản trình bày cho học sinh cách giải mà phải thực hiện nhiệm vụ giáo dục, giáo dưỡng học sinh trong quá trình giải bài tập, cần dạy học sinh tự lực giải bài tập Vật lý” Quá trình giải các bài tập vật lý có thể chia thành các bước, quy trình tiến hành cho từng dạng bài cụ thể Tuy nhiên có thể khái quát thành bốn bước sau:
Trang 33Bước 1- Tìm hiểu đề bài: Đọc đúng đề bài, mô tả hiện tượng Vật lý nêu trong đề bài (có thể vẽ hình), xác định xem trong bài hiện tượng Vật lý đã cho
có những đại lượng vật lý nào đã cho, đại lượng nào cần tìm
Bước 2- Xây dựng lập luận:
Xây dựng lập luận trong bài tập vật lý định tính: Có thể làm theo hai cách với hai loại bài tập định tính là giải thích hiện tượng và dự đoán hiện tượng
“Xây dựng lập luận trong giải bài tập giải thích hiện tượng
+ Giải thích hiện tượng thực chất là cho biết một hiện tượng và lý giải xem vì sao hiện tượng lại xảy ra như thế
+ Trong các bài tập này, bắt buộc phải thiết lập được mối quan hệ giữa hiện tượng cụ thể với một số đặc tính của sự vật hay với một số định luật vật
lý
+ Thưc hiện phép suy luận logic, luận ba đoạn trong đó tiền đề thứ nhất
là một đặc tính chung của sự vật hoặc định luật Vật lý tổng quát, tiền đề thứ hai là những điều kiện cụ thể, kết luận về hiện tượng được nêu ra.”
- Xây dựng lập luận trong giải bài tập dự đoán hiện tượng
+ Dự đoán hiện tượng thực chất là căn cứ vào những điều kiện cụ thể của
đề bài, xác định những định luật chi phối hiện tượng và dự đoán được hiện tượng gì xảy ra và xảy ra như thế nào
+ Ta thực hiện suy luận logic, thiết lập luận ba đoạn, trong đó ta mới biết tiền đề thứ hai (phán đoán khẳng định riêng), cần phải tìm tiền đề thứ nhất (phán đoán khẳng định chung) và kết luận (phán đoán khẳng định riêng) + Trong trường hợp hiện tượng xảy ra phức tạp, ta phải xây dựng một chuỗi luận ba đoạn liên tiếp ứng với các giai đoạn diễn biến của hiện tượng Xây dựng lập luận trong các bài toán định lượng: Có thể có hai phương pháp xây dựng lập luận
- Phương pháp phân tích: “ Tìm một định luật, một quy tắc diễn đạt bằng một công thức có chứa đại lượng cần tìm và một vài đại lượng khác chưa biết
Trang 34Tiếp tục tìm những định luật, công thức khác cho biết mối quan hệ giữa đại lượng chưa biết này với các đại lượng đã biết trong đề bài Cuối cùng tìm được một công thức chỉ chứa đại lượng cần tìm với đại lượng đã biết.”
- Phương pháp tổng hợp: “Từ những đại lượng đã cho ở đề bài Dựa vào các định luật, quy tắc Vật lý, tìm những công thức có chứa đại lượng đã cho với đại lượng trung gian mà ta dự kiến có liên quan đến đại lượng cần tìm Suy luận toán học, đưa đến công thức chỉ chứa đại lượng phải tìm với các đại lượng đã cho.”
Bước 3- Luận giải (tìm ra quy luật chung): Tính toán để tìm ra kết quả Bước 4- Biện luận: Phân tích kết quả cuối cùng để loại bỏ những kết quả không phù hợp với điều kiện đầu bài tập hoặc không phù hợp với thực tế và kết luận
1.2.5 Hướng dẫn học sinh giải bài tập Vật lý
Để hướng dẫn giải bài tập cho học sinh hiệu quả, thì trước hết giáo viên phải giải được bài tập đó, và phải xuất phát từ mục đích sư phạm để xác định kiểu hướng dẫn cho phù hợp Giáo viên cần xác định trước mục đích sử dụng bài tập, xác định những kiến thức áp dụng để giải bài tập, phát hiện những khó khăn mà học sinh có thể gặp khi giải bài tập và soạn sẵn câu hỏi hướng dẫn học sinh vượt qua khó khăn Giáo viên có thể lựa chọn hoặc kết hợp những kiểu hướng dẫn sau:
1.2.5.1 Hướng dẫn theo mẫu
Hướng dẫn angorit là sự hướng dẫn chỉ rõ cho học sinh những hành động
cụ thể cần thực hiện và trình tự thực hiện các hành động đó để đạt được kết quả mong muốn
Hướng dẫn angorit thường dùng khi cần dạy cho học sinh phương pháp giải một bài toán điển hình, luyện cho học sinh kỹ năng giải một dạng bài tập xác định
1.2.5.2 Hướng dẫn tìm tòi
Định hướng tìm tòi là kiểu định hướng mang tính chất gợi ý cho học sinh suy nghĩ tìm tòi phát hiện cách giải bài toán Hướng dẫn tìm tòi thường dùng
Trang 35khi cần giúp đỡ học sinh vượt qua khó khăn để giải quyết được bài tập đồng thời vẫn đảm bảo được yêu cầu phát triển tư duy học sinh muốn tạo điều kiện
để học sinh tự lực tìm tòi cách giải quyết
1.2.5.3 Định hướng khái quát chương trình hóa
Là định hướng tư duy của học sinh theo đường lối khái quát của việc giải quyết vấn đề
Kiểu hướng dẫn này áp dụng khi có điều kiện hướng dẫn tiến trình hoạt động giải bài tập, nhằm giúp cho học sinh tự giải được bài tập đã cho, đồng thời dạy cho học sinh cách suy nghĩ trong quá trình giải bài tập
Trong quá trình hướng dẫn học sinh giải bài tập không thể theo một khuôn mẫu nhất định, mà tùy thuộc vào nội dung, kiến thức, yêu cầu của bài toán và còn tùy thuộc vào đối tượng học sinh mà chúng ta có cách lựa chọn kiểu hướng dẫn cho phù hợp Đồng thời người giáo viên phải biết phối hợp cả
ba kiểu hướng dẫn trên để phát huy tối ưu tác dụng của việc hướng dẫn trong việc giải các bài tập tổng hợp
1.3 Tình hình thực tế công tác bồi dưỡng học sinh giỏi Vật lý trường THPT chuyên Nguyễn Trãi - Hải Dương
1.3.1 Đội ngũ giáo viên Vật lý và thành tích của học sinh giỏi Vật lý ở trường THPT chuyên Nguyễn Trãi - Hải Dương
Trong 25 năm qua, trường THPT chuyên Nguyễn Trãi chính thức được thành lập với tên gọi là trường phổ thông năng khiếu Hải Hưng (đặt tại khu trường THPT Hồng Quang cũ trên đường Nguyễn Văn Tố), với các lớp
chuyên toán, chuyên văn, chuyên Nga, chuyên lý và một số lớp chuyên cấp
2 Cơ sở vật chất tuy nghèo nàn, nhưng từ những năm học đầu tiên nhà trường
đã đạt được thành tích xuất sắc: nhiều học sinh đạt giải Quốc gia, có học sinh tham gia thi quốc tế môn vật lý Nền nếp học của học sinh, phương pháp dạy chuyên của các thầy cô giáo đã hình thành và được rèn luyện qua các năm học tiếp theo Năm 1994, trường được chuyển sang địa điểm mới nằm trên đường Thanh Niên Đây là cơ ngơi rộng rãi hơn rất nhiều so với ngôi trường cũ, và cũng là nơi đánh dấu một bước trưởng thành vượt bậc của nhà trường trong
Trang 36công tác giáo dục và đào tạo Lúc đó nhà trường có 28 lớp với 556 học sinh bao gồm các lớp chuyên toán tin, lý, hóa, sinh, văn, Anh, Nga, Pháp Giáo viên trực tiếp dạy là 45 thầy cô, trong đó có 13 thạc sỹ Cũng trong năm đó nhà trường đã vinh dự được đón Chủ tịch nước Lê Đức Anh về thăm và tập thể nhà trường đã đón nhận Huân chương Lao động hạng Ba Từ năm 1997, sau khi tách tỉnh, trường phổ thông năng khiếu Hải Hưng được đổi tên thành trường THPT chuyên Nguyễn Trãi, đây cũng là giai đoạn phát triển rực rỡ của nhà trường Các thầy cô đều tâm huyết với nghề, giỏi về chuyên môn nghiệp
vụ, hiệu quả giáo dục cao Hằng năm, trường THPT chuyên Nguyễn Trãi có
đủ số học sinh dự thi HSG quốc gia ở 11 bộ môn Năm học 2007-2008,trường được chuyển sang địa điểm mới, nằm trên đường Ngô Quyền với tổng diện tích là 32 nghìn m2 Nhà trường hiện có 36 lớp học tại 2 nhà B, C với đủ thiết
bị và phòng chờ giáo viên, nhà vệ sinh khép kín Có 1 nhà học bộ môn gồm 2 phòng tin, 2 phòng vật lý, 2 phòng hóa, 2 phòng sinh, 1 phòng công nghệ, 1 phòng nghe nhìn, 2 phòng học tiếng, 1 thư viện điện tử với 32 máy tính nối mạng, thư viện có trên 12 nghìn nghìn đầu sách cùng phòng đọc học sinh trên
100 chỗ ngồi và phòng đọc giáo viên Nhà trường đã khai thác tối đa các thiết
bị dạy và học để mang lại hiệu quả giáo dục cao nhất Áp dụng công nghệ thông tin rộng rãi trong trường từ công tác điều hành, quản lý đến các công tác kế toán, giáo vụ, y tế, thư viện, các công tác đoàn thể đều được triển khai một cách có hiệu quả và tiết kiệm Đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên
không ngừng lớn mạnh, lên tới 120 người, trong đó có gần 100 giáo viên đứng lớp, với 35% có trình độ thạc sỹ Học sinh toàn trường hiện nay là 1.135
em gồm 33 lớp chuyên, 3 lớp công lập không chuyên Tiếp nối truyền thống của các anh chị đi trước, các em luôn có ý thức giữ gìn và phát huy phong cách học sinh trường THPT chuyên Nguyễn Trãi: Chăm ngoan - Học giỏi - Năng động - Thành đạt Hơn 10 năm qua, nhà trường đã có học sinh đạt giải nhất quốc gia, 100% các đội tuyển đều có giải, xếp hạng (không chính thức);
về thành tích học sinh giỏi liên tục đứng thứ hạng từ thứ 4 đến thứ nhất (nằm
Trang 37trong tốp 5 trường mạnh nhất của cả nước) Đặc biệt từ năm 2001 đến nay, năm nào nhà trường cũng có học sinh đạt giải quốc tế và khu vực, bao gồm: 3 Huy chương vàng, 3 Huy chương bạc, 4 Huy chương đồng, 1 bằng khen Ô-lim-pích quốc tế; 3 Huy chương đồng châu Á Thái Bình Dương, 1 Huy
chương bạc vật lý châu Á, 2 bằng khen vật lý châu Á, tiêu biểu là các em: Nguyễn Văn Khiêm, Nghiêm Viết Nam, Bùi Hữu Tài, Hoàng Trung Trí, Lê Thanh Tùng, Ngô Xuân Hoàng, Nguyễn Duy Mạnh, Phạm Thành Thái, Đỗ Thị Thu Thảo, Phạm Thành Long, Nguyễn Xuân Cương
Tính từ năm 1998 đến nay, năm nào nhà trường cũng có học sinh đạt giải Nhất Quốc gia, 100% các đội tuyển đều có giải, xếp hạng (không chính thức) từ năm 1998 đến nay về thành tích học sinh giỏi đứng thứ hạng thứ 4 đến thứ nhất, nằm trong top 5 trường mạnh nhất của cả nước Đặc biệt từ năm
2001 đến nay (2009) năm nào nhà trường cũng có học sinh đạt giải Quốc tế và khu vực, bao gồm 3 Huy chương Vàng, 3 Huy chương Bạc, 4 Huy chương Đồng, 1 bằng khen Olympic Quốc tế; 3 Huy chương Đồng châu Á Thái Bình Dương, 1 Huy chương Bạc Vật Lý châu Á, tiêu biểu là các em: Nguyễn Văn Khiêm, Nghiêm Viết Nam, Bùi Hữu Tài, Hoàng Trung Trí, Lê Thanh Tùng, Ngô Xuân Hoàng, Nguyễn Duy Mạnh, Phạm Thành Thái, Đỗ Thị Thu Thảo, Phạm Thành Long và Đỗ Xuân Cương
Tỷ lệ đỗ tốt nghiệp Trung học phổ thông của nhà trường 25 năm qua đều là 100%, 10 năm gần đây tỷ lệ đỗ đại học thường xuyên đạt 95% Tiếp tục phát huy những thành tích đã đạt được, năm học 2008-2009 là một năm thành công rực rỡ của nhà trường với 57/66 giải học sinh giỏi Quốc gia, trong
đó có 2 giải Nhất, 17 giải Nhì, 27 giải Ba và 11 giải Khuyến Khích, đứng thứ
3 toàn quốc về thành tích học sinh giỏi, 9 học sinh được gọi vào vòng 2, 4 học sinh được chọn vào đội tuyển Quốc gia dự thi khu vực và Quốc tế Kết quả:
em Phạm Thành Long đạt Huy chương Bạc Vật lý châu Á và Olympic Vật lý
Trang 38Quốc tế; em Nguyễn Trung Tùng được bằng khen Vật lý châu Á; em Nguyễn Xuân Cương đạt Huy chương Đồng Olympic Toán học Quốc tế
Năm 2009, nhà trường được tặng thưởng Huân chương Lao động hàng
Nhì Sự ghi nhận của các cấp lãnh đạo khẳng định vị thế của nhà trường,
nhưng đồng thời cũng đòi hỏi ở tập thể thầy cô giáo, cán bộ nhân viên và các thế hệ học sinh một trách nhiệm lớn lao hơn - trách nhiệm giữ vững và phát huy những gì làm được, trách nhiệm trở thành lá cờ đầu trong phong trào dạy
và học không phải ở trong phạm vi tỉnh Hải Dương mà ở trong phạm vi cả nước
1.3.2 Thực trạng công tác bồi dưỡng học sinh giỏi Vật lý ở trường THPT chuyên Nguyễn Trãi - Hải Dương
1.3.2.1 Thuận lợi trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi Vật lý ở trường THPT chuyên Nguyễn Trãi - Hải Dương
Nhà trường hiện có 36 lớp học tại 2 nhà B, C với đầy đủ thiết bị và phòng chờ giáo viên, nhà vệ sinh khép tín trong từng tầng nhà Có 1 nhà học
bộ môn bao gồm 2 phòng Tin, 2 phòng Vật lý, 2 phòng Hóa, 2 phòng Sinh, 1 phòng công nghệ, 1 phòng nghe nhìn, 2 phòng học tiếng, 1 thư viện điện tử với 32 máy tính nối mạng, thư viện có trên 12.000 đầu sách cùng phòng đọc học sinh trên 100 chỗ ngồi và phòng đọc giáo viên
Song hành với việc học tập, học sinh trường Nguyễn Trãi - Hải Dương Nam Định còn tổ chức rất nhiều hoạt động ngoại khóa bổ ích sau những giờ học căng thẳng Các giải thể thao của trường được tổ chức hàng năm như đá bóng, bóng chuyền, kéo co, đá cầu thu hút đông đảo học sinh tham gia Chuyên mục văn nghệ giữa các lớp chuyên thường được tổ chức vào mỗi thứ hai hàng tuần
Ngoài ra trường còn tổ chức rất nhiều hoạt động ngoại khóa khác như cuộc thi lăng kính khoa học, rung chuông vàng, làm bánh nhân ngày 20/10, cắm hoa nghệ thuật, thăm quan du lịch Các câu lạc bộ cũng hoạt động mạnh như CLB khoa học, CLB văn nghệ, CLB ngoại ngữ, CLB võ thuật
Trang 391.3.2.2 Một số yếu tố bất lợi trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi Vật lý ở trường THPT chuyên Nguyễn Trãi - Hải Dương
Qua nghiên cứu chúng tôi nhận thấy,trong số các nhóm rào cản thì nhóm rào cản liên quan đến học tập là những khó khăn chính mà hầu hết các học sinh lớp 12 gặp phải Qua khảo sát ta thấy có tới 36.64% số học sinh giỏi được hỏi cảm thấy lo lắng nhất về việc “phải thi đỗ đại học”.Có rất nhiều nguyên nhân tạo ra áp lực thi đại học cho các em như: do gia đình, bạn bè, thầy cô hay do mục tiêu đề ra cho chính bản thân mình…Trong đề tài nghiên cứu này, tôi đã khảo sát được nguyên nhân chính là từ phía gia đình: có 36.64% cha mẹ học sinh thường xuyên yêu cầu các con phải thi đỗ đại học Điều này chứng tỏ áp lực thi đỗ đại học của các em này phần lớn là do cha mẹ quá kỳ vọng vào con
Vì thế rất khó khăn tuyển chọn và đạo tạo chuyên sâu kiến thức cho các em có đủ kiến thức thi các kì thi học sinh giỏi quốc gia sự đam mê của các
em vào Vật lý bị giảm sút đáng kể
Ngoài các giờ học trên lớp,thời gian học thêm quá nhiều cũng là một nguyên nhân khiến nhiều học sinh cảm thấy căng thẳng, mệt mỏi gây những khó khăn tâm lý cho học sinh
Là một trường THPT chuyên nên ý thức tự học và tự tìm hiểu của các bạn học sinh ở đây là khá cao Sự liên hệ giữa gia đình và nhà trường là khá đều đặn.Tuy nhiên sự tiếp xúc của các thầy cô với các em là không nhiều so với các nhóm trường khác
Trang 40KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 Trên đây, tôi đã trình bày cơ sở lý luận của luận văn Tìm hiểu thực tiễn
và các phương pháp để hướng dẫn học sinh giỏi và học sinh chuyên, tìm hiểu
về các khái niệm các phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi và học sinh THPT chuyên, tìm hiểu về các bài tập vật lý trong dạy học ở trường trung học phổ thông và cơ sở thực tiễn của công việc bồi dưỡng học sinh giỏi ở THPT chuyên Tôi đã tóm lược lại các quan điểm sau:
Học sinh giỏi trước tiên là học sinh có trí thông minh, có khả năng phát huy nhiều năng lực cần thiết khi giải bài tập vật lý ,vì dụ như: Năng lực quan sát, Năng lực sáng tạo, Năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn, Năng lực
tự học, chủ động, tích cực và đặc biệt phát huy được năng lực tư duy sáng tạo vào bài học Ngoài ra còn phải nắm vững được bản chất của hiện tượng Vật
lý, mong muốn khám phá, tìm hiểu các hiện tượng Vật lý vân dụng kết hợp tối ưu các kiến thức Vật lý và Toán học để giải quyết bài tập Vật lý
Bài tập Vật lý là một phần rất quan trọng trong quá trình dạy học Vật lý
vì nó cho phép học sinh có thể hiểu sâu thêm lý thuyết đã học làm phong phú thêm khái niệm Vật lý đồng thời là giúp học sinh phát huy tất cả các năng lực cần thiết như phát triển năng lực tư duy, sáng tạo và thói quen vận dụng kiến thức Vật lý vào thực tiễn Bài tập Vật lý đóng vai trò rất quan trọng tùy thuộc vào mục đích sử dụng khác nhau Tóm lại bài tập Vật lý sẽ quyết định được các năng lực của học sinh giúp học sinh phát triển toàn diện về kiến thức của môn Vật lý Vì vậy để phát huy tốt vai trò quan trọng của bài tập Vật lý thì khi giảng dạy cho học sinh, giáo viên cần phải căn cứ vào mục đích và đối tượng học sinh để lựa chọn kết hợp sao cho có thể giúp học sinh phát huy cao
độ các năng lực cần thiết cho môn Vật lý
Trường THPT chuyên Nguyễn Trãi - Hải Dương là một trường chuyên
có bề dày kinh nghiệm đội ngũ giáo viên có năng lực và chuyên môn cực tốt Trường không những có thành tích cao trong các kì thi quốc gia mà trường còn là nơi đào tạo nhiều học sinh giỏi tham gia các cuộc thi học sinh giỏi cấp