Đặc biệt, sự phát triển của những phần mềm quản lý học tập điển hình là Moodle cho phép tích hợp nhiều khối kiến thức hỗ trợ bài học, mở ra những cơ hội mới cho người dạy ứng dụng CNTT v
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
PHẠM THỊ PHƯƠNG NHUNG
THIẾT KẾ KHÓA HỌC TRỰC TUYẾN
HỖ TRỢ TỰ HỌCPHẦN VĂN HỌC DÂN GIAN, CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 10, TẬP 1
LUẬN VĂN THẠC SỸ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
HÀ NỘI – 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
PHẠM THỊ PHƯƠNG NHUNG
THIẾT KẾ KHÓA HỌC TRỰC TUYẾN
HỖ TRỢ TỰ HỌCPHẦN VĂN HỌC DÂN GIAN CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 10, TẬP 1
LUẬN VĂN THẠC SỸ SƯ PHẠM NGỮ VĂN CHUYÊN NGÀNH LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập tại trường Đại học Giáo dục – ĐHQGHN nói
chung và triển khai đề tài Thiết kế khóa học trực tuyến hỗ trợ tự học phần Văn học
dân gian (Chương trình Ngữ Văn 10, tập 1) nói riêng, tác giả đã nhận được rất
nhiều sự quan tâm, giúp đỡ Tôi xin được dành những dòng chữ đầu tiên của luận văn này để bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới các Thầy, Cô giáo - những người thầy nhiệt tình, tận tâm đã để lại những ấn tượng hết sức tốt đẹp trong suốt 6 năm tôi học tập tại đây Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới TS Tôn Quang Cường và TS Dương Tuyết Hạnh - người hướng dẫn khoa học đã chỉ bảo, động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài
Xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp đang giảng dạy tại trường THPT Kim Liên (Hà Nội), trường THCS&THPT Phạm Văn Đồng (Hà Nội), trường THPT Mông Dương (Quảng Ninh) đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình triển khai đề tài Qua đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn gia đình, người thân và bạn bè đã dành cho tôi sự quan tâm khích lệ và chia sẻ trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu
Mặc dù có nhiều cố gắng, nhưng luận văn khó tránh khỏi thiếu sót Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các Thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp để luận văn ngày càng hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 11 năm 2014
Tác giả luận văn
Phạm Thị Phương Nhung
Trang 4DANH MỤC VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trang 5MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Danh mục viết tắt trong luận văn ii
Mục lục iii
Danh mục bảng v
Danh mục sơ đồ, biểu đồ, hình ảnh vi
MỞ ĐẦU 7
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 14
1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 14
1.1.1 Cơ sở lý thuyết của quá trình tự học 14
1.1.2 Ứng dụng E-Learning trong dạy học 19
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 28
1.2.1 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học phát huy tính tích cực của HS 28
1.2.2 Thực trạng dạy – học tự học và ứng dụng công nghệ thông tin trong hỗ trợ tự học môn Ngữ văn hiện nay của trường phổ thông 30
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 38
Chương 2: THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG HỖ TRỢ TỰ HỌC PHẦN VHDG (CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 10, TẬP 1) TRÊN HỆ QUẢN LÝ HỌC TẬP MOODLE 40
2.1 Phân tích nội dung chương trình phần VHDG ( Chương trình Ngữ văn 10, tập 1) 40
2.1.1 Vị trí 40
2.1.2 Cấu trúc nội dung 40
2.2 Thiết kế khóa học trực tuyến hỗ trợ tự học phần VHDG (Chương trình Ngữ văn 10, tập 1) trên LMS Moodle 42
2.2.1 Hệ thống quản lý học tập Moodle 42
2.2.2 Những yêu cầu chung khi thiết kế khóa học: 46
Trang 62.2.3 Khả năng áp dụng khóa học trực tuyến hỗ trợ tự học phần VHDG
(Chương trình Ngữ văn 10, tập 1) trên LMS Moodle 47
2.2.4 Quy trình thiết kế 50
2.3 Hướng dẫn tổ chức hoạt động hỗ trợ tự học trên khóa học VHDG 66
2.3.1 Bước 1: Giới thiệu khóa học 67
2.3.2 Bước 2: Khai thác khóa học 72
2.3.3 Bước 3: Kiểm tra, đánh giá 81
2.4 Khâu đánh giá khóa học 82
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 83
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 85
3.1 Mục đích thực nghiệm 85
3.2 Đối tượng thực nghiệm 85
3.3 Nội dung thực nghiệm và tiến hành thực nghiệm 87
3.3.1 Nội dung thực nghiệm 87
3.3.2 Tiến hành thực nghiệm 87
3.4 Kết quả thực nghiệm sư phạm 88
3.4.1 Dự giờ, phỏng vấn, đánh giá sự tích cực và khả năng tiếp thu của HS 89 3.4.2 Đánh giá kết quả học tập của HS 90
3.4.3 Kết quả phản hồi qua phiếu điều tra 92
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 94
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
PHỤ LỤC 101
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng: 1.1 Sự khác biệt giữa lớp học E-learning và lớp học truyền thống 23
Bảng: 1.2 Phân biệt dạy học học đồng bộ và dạy học không đồng bộ 26
Bảng 1.3 Kết quả điều tra nhận thức của học sinh THPT về tác dụng
của tự học 31
Bảng 1.4 Kết quả điều tra việc rèn kĩ năng tự học Ngữ văn cho học sinh THPT 33
Bảng 1.5 Kết quả điều tra các nguồn hỗ trợ được HS tìm kiếm khi gặp khó khăn trong tự học 36
Bảng 1.6 Kết quả điều tra về các phương thức kết nối giữa HS và GV trong quá trình tự học 37
Bảng: 2.1 Thống kê chi tiết học phần VHDG (SGK Ngữ văn 10- Cơ bản) 41
Bảng: 2.2 Yêu cầu thiết kế của khóa học E-learning 46
Bảng: 2.3 Mục tiêu khóa học VHDG trên LMS Moodle 51
Bảng 2.4: Nội dung hoạt động triển khai trong khối tự học, tự nghiên cứu 56
Bảng: 2.5 Nội dung chủ đề khóa học VHDG 58
Bảng: 2.6 Hoạt động của GV trong khóa học trên LMS Moodle 65
Bảng: 2.7 Hoạt động của HS trong khóa học trên LMS Moodle 66
Bảng 2.8 : Hoạt động của GV và HS trong bước giới thiệu khóa học 67
Bảng: 2.9 Hoạt động của GV và HS trong bước khai thác khóa học 75
Bảng: 2.10 Hoạt động của GV và HS trong bước khai thác chủ đề
Truyền thuyết 78
Bảng: 3.1 So sánh trình độ HS trước khi dạy thực nghiệm 86
Bảng 3.2: So sánh kết quả học tập sau khi dạy thực nghiệm 90
Bảng: 3.3 Kết quả phản hồi về hiệu quả khóa học sau thực nghiệm 92
Trang 8DANH MỤC SƠ ĐỒ BIỂU ĐỒ, HÌNH ẢNH
Sơ đồ: 1.1 Chu trình tự học 11
Sơ đồ: 1.2 Quá trình dạy tự học và năng lực hình thành 12
Sơ đồ: 1.3 Tổng quan về quá trình tổ chức dạy học tự học 19
Sơ đồ: 1.4 Mô hình hệ thống E-Learning 21
Sơ đồ: 2.1 Mô hình khóa học theo chủ đề 52
Sơ đồ: 2.2 Mô hình khóa học theo tuần 53
Sơ đồ: 2.3 Cấu trúc nội dung khóa học VHDG trên LMS Moodle 55
Biểu đồ: 3.1 So sánh kết quả học tập trước khi dạy thực nghiệm 86
Biểu đồ: 3.2 So sánh kết quả học tập sau khi dạy thực nghiệm 91
Hình: 2.1 Khóa học thiết lập theo chủ đề 52
Hình: 2.2 Khóa học thiết lập theo tuần 53
Hình: 2.3 Màn hình truy cập khóa học 68
Hình: 2.4 Màn hình đăng nhập khóa học 69
Hình: 2.5 Màn hình giao diện chính của khóa học 69
Hình: 2.7 Màn hình phân nhóm học tập 71
Hình: 2.8 Màn hình thêm học sinh vào nhóm học tập 72
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Bước vào thế kỷ 21, sự bùng nổ của CNTT nói riêng và Khoa học công nghệ nói chung đang tác động mạnh mẽ vào sự phát triển của tất cả các ngành trong đời sống xã hội và mang lại nhiều lợi thế cho dạy học Trong bối cảnh
đó, để giáo dục phổ thông đáp ứng được đòi hỏi cấp thiết của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước chúng ta cần đổi mới PPDH theo hướng vận dụng CNTT và các trang thiết bị dạy học hiện đại phát huy mạnh mẽ tư duy sáng tạo, kỹ năng thực hành để nâng cao chất lượng dạy học Chỉ thị
29/2001/CT 7/2001 của Bộ trưởng Bộ GD-ĐT chỉ rõ: “CNTT là phương tiện
để tiến tới một “xã hội học tập” Mục đích của việc làm này chính là để góp
phần đổi mới PPDH, nâng cao tính trực quan sư phạm, phát huy tiềm năng cá nhân, tạo ra môi trường lí tưởng cho hoạt động dạy học, tăng cường tính tích
cực, chủ động của HS, “hướng tới hoạt động học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động” [6, tr 26]
Song song với những yêu cầu thay đổi của quy trình dạy học nhằm đáp
ứng nhu cầu xã hội, với phương châm “Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển”, cơ sở vật chất của ngành giáo dục hiện nay đã có những sự
chuyển biến tích cực Bắt đầu từ năm 2009, Bộ GD&ĐT đã phối hợp Tổng công ty Viễn thông Quân đội Viettel triển khai mạng giáo dục kết nối Internet băng thông rộng miễn phí đến các cơ sở giáo dục mẫu giáo, mầm non, tiểu học, THCS và THPT, các phòng GD và ÐT, các trung tâm giáo dục thường xuyên và trung tâm học tập cộng đồng Một tín hiệu đáng mừng là hiện nay website của các trường học đã trở nên phổ biến Nó không chỉ đóng vai trò cung cấp thông tin hoạt động của nhà trường mà còn tạo tiền đề, cơ sở để tích
hợp triển khai các hoạt động dạy học qua E-learning Thêm vào đó, việc “Bồi dưỡng khả năng ứng dụng CNTT trong dạy học” cho cán bộ GV cũng được
đầu tư triển khai trên diện rộng Đây chính là những tiền đề vật chất vững
Trang 10chắc giúp nâng cao tiềm lực của người GV, tạo điều kiện thuận lợi cho việc ứng dụng CNTT vào quá trình dạy - học
Khi nghiên cứu thực tế giáo dục tại Việt Nam hiện nay chúng ta không thể phủ nhận những kết quả đáng mừng từ định hướng đổi mới mục tiêu, phương pháp dạy học Tuy nhiên, hầu như chúng ta mới chỉ chú trọng đến việc tích cực hóa hoạt động học tập trên lớp còn việc tự học của học sinh ở nhà lại là một vấn đề vẫn còn đang bỏ ngỏ Các phong trào dạy thêm, học thêm vốn là một vấn đề nhức nhối của ngành giáo dục nhưng khi thẳng thắn nhìn nhận thì nguyên nhân của tình trạng này cũng xuất phát một phần từ nhu cầu của phụ huynh cần có người định hướng hoạt động học tập ở nhà cho con em mình Chính vì vậy, tận dụng những thế mạnh của công nghệ thông tin trong việc hỗ trợ hoạt động tự học của học sinh là vấn đề tất yếu cần khai thác trong một xã hội công nghệ thông tin như hiện nay
Trong chương trình phổ thông, Ngữ văn mang đặc thù của một bộ môn
khoa học xã hội nhân văn Đây là bộ môn có tính chất công cụ và hướng tới việc giáo dục thẩm mĩ của con người Do đó, nhiệm vụ của chương trình Ngữ Văn không chỉ là cung cấp những kiến thức có sẵn về văn học mà quan trọng hơn là đào tạo kỹ năng đọc-hiểu, cảm thụ văn bản và năng lực sử dụng ngôn ngữ như một công cụ hữu dụng trong đời sống Nói cách khác trọng tâm của dạy và học Ngữ văn hiện nay phải hướng đến tính tích cực, khám phá, sáng tạo của người học chứ không phải gò ép HS trong những khuôn mẫu có sẵn Hơn thế nữa, thời lượng dạy học trên lớp là có hạn trong khi năng lực cảm thụ văn học đòi hỏi một quá trình lâu dài Với 45 phút trên lớp, GV không thể vừa truyền tải kiến thức vừa theo sát được sức học, khả năng cảm thụ của từng
HS Khối lượng kiến thức nặng lại phải dồn ép trong một thời gian ngắn dễ dẫn đến việc HS cảm thấy mệt mỏi, chán nản với những giờ học khô cứng Chính vì vậy, khi nghiên cứu chương trình Ngữ văn chúng tôi nhận thấy đây
là mảnh đất giàu tiềm năng để khai thác những tiến bộ CNTT hỗ trợ hoạt
Trang 11động tự học, giúp tăng cường hiệu quả học tập, đặc biệt là phần VHDG (SGK Ngữ văn lớp 10 – Ban cơ bản)
Về mặt đặc thù, VHDG là những sáng tác nghệ thuật truyền miệng của các tầng lớp dân chúng, phát sinh từ thời công xã nguyên thủy, phát triển qua các thời kỳ lịch sử cho tới ngày nay Do đó đây là một phần có biên độ kiến thức rộng, kết cấu mở, là sự kết hợp nhiều mảng kiến thức mang tính chất tổng hợp như văn hóa, lịch sử, địa lý và có giá trị văn học cao Với cách dạy thông thường, những yếu tố này tương đối khó diễn đạt để HS có thể tưởng tượng và nắm bài học một cách trọn vẹn, hiệu quả nhất Trong khi đó CNTT, bằng những công cụ đa phương tiện cho phép kết hợp chặt chẽ giữa hình ảnh, lời nói, âm thanh, tác động trực tiếp vào giác quan của HS, cung cấp một khối lượng thông tin lớn, hấp dẫn Đặc biệt, sự phát triển của những phần mềm quản lý học tập (điển hình là Moodle) cho phép tích hợp nhiều khối kiến thức
hỗ trợ bài học, mở ra những cơ hội mới cho người dạy ứng dụng CNTT vào quá trình dạy học trong một môi trường sinh động và tương tác Với thiết kế linh hoạt, Moodle cho phép tạo các khóa học trực tuyến đa dạng có thể tích hợp vào bất cứ website nào Trong trường hợp không thể chạy trực tuyến, bản Moodle bỏ túi cho phép người dùng có thể khám phá và thực hiện các hoạt động tự học chỉ với yêu cầu là một chiếc máy vi tính
Tuy nhiên, chúng ta phải khẳng định rằng: điều quan trọng nhất để tạo nên hiệu quả trong dạy học Ngữ văn không phải là phương tiện dạy học nhiều hay ít mà là việc sử dụng phương tiện ấy như thế nào Nhận xét chung về việc ứng dụng CNTT trong thực tiễn dạy và học hiện nay còn một số tồn tại: việc ứng dụng CNTT vào dạy học mới dừng ở các bài giảng trình diễn trên lớp, chưa hỗ trợ HS tự học, tự đánh giá kết quả học tập, cũng như giúp HS tìm kiếm những kiến thức mới Vì vậy vấn đề đặt ra là cần phải thiết kế một quy trình dạy học hỗ trợ tự học đồng bộ trên cơ sở những tài nguyên CNTT có sẵn giúp khắc phục tối đa những tồn tại đã nêu ở trên
Trang 12Xuất phát từ tất cả những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên
cứu: Thiết kế khóa học trực tuyến hỗ trợ tự học phần Văn học dân gian (Chương trình Ngữ văn 10, tập 1) trên cơ sở sử dụng hệ thống Moodle Đây
là một hướng đi mới với mong muốn đưa ra một quy trình ứng dụng hệ thống quản lý học tập trong một nội dung cụ thể, góp phần để việc ứng dụng CNTT phát huy hơn nữa hiệu quả hỗ trợ tự học trong thực tiễn giảng dạy hiện nay
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Các công trình nghiên cứu ứng dụng CNTT hỗ trợ dạy học
Trên thế giới, việc nghiên cứu ứng dụng CNTT làm phương tiện hỗ trợ quá trình dạy học đã được triển khai từ rất sớm, ví dụ như Pháp (1970), Newzeland (1975), Anh (1980)… máy vi tính được sử dụng từ cấp cơ sở đến bậc Đại học, thậm chí cả mầm non Về những tài liệu nghiên cứu một cách toàn diện về việc ứng dụng CNTT vào dạy học, trước hết phải kể đến bộ giáo
trình Teach to the Future (Dạy học cho tương lai) của Intel và bộ giáo trình Partner in Learning của Microsoft
Ở Việt Nam, không nằm ngoài xu thế phát triển chung, CNTT đã được quan tâm nghiên cứu và ứng dụng ở nhiều ngành, trong đó có giáo dục Có thể kể tên một số công trình nghiên cứu về ứng dụng CNTT vào dạy học gồm:
đề án “Giáo dục tin học” do PGS Đinh Gia Phong chủ trì, Tài liệu sử dụng công nghệ thông tin trong dạy và học của Bộ GD&ĐT Đặc biệt, Giáo trình E-learning và ứng dụng trong dạy học của hai tác giả Lê Huy Hoàng, Lê
Xuân Quang đã cụ thể hóa cách tiếp cận và ứng dụng E-learning trong dạy học Riêng về môn Ngữ văn cũng có không ít những bài viết, tài liệu hướng
dẫn TS Đỗ Ngọc Thống đề xuất việc Ứng dụng CNTT trong dạy học Ngữ văn, tác giả Phong Lê đã trình bày quan điểm của mình trong Văn học và công cuộc đổi mới Đối với dạy học Ngữ văn, CNTT đã chứng tỏ khả năng hỗ
trợ một cách tích cực với những tranh ảnh, băng ghi âm, hoặc những đoạn phim…có thể minh họa để trình bày bài giảng một cách sinh động, hấp dẫn, tiết kiệm được thời gian và kích thích hứng thú học tập của HS
Trang 13Gần đây nhất là luận văn Thạc sĩ của tác giả Nguyễn Ngọc Anh Biên soạn sách điện tử hỗ trợ dạy học phần Văn học dân gian, Ngữ văn lớp 10 nhằm nâng cao hiệu quả dạy học cũng đưa ra một hướng ứng dụng CNTT
mới trong hỗ trợ dạy học
Trong đề tài khóa luận tốt nghiệp Ứng dụng Công nghệ thông tin learning) trong dạy học phần Văn học dân gian (Chương trình Ngữ văn 10 - Ban cơ bản) tác giả Phạm Thị Phương Nhung đã đưa ra những vấn đề về thiết
(E-kế và quy trình ứng dụng khóa học trực tuyến trong dạy học
2.2 Các công trình nghiên cứu tự học trong nhà trường
Vấn đề tự học của đã được rất nhiều các nhà nghiên cứu quan tâm ở
nhiều góc độ khác nhau Năm 1984, NXB Thanh niên giới thiệu cuốn Nghiên cứu học tập như thế nào của Hebơc Smitman (Cộng hoà dân chủ Đức)
Với cuốn sách này, tác giả đã đề cập tới nhiều vấn đề về phương pháp nghiên cứu và tự học như thế nào cho khoa học và đạt kết quả cao
Tại Hà Nội năm 1998, một cuộc hội thảo khoa học với tiêu đề Nghiên cứu tự học – tự đào tạo đã được tổ chức với sự tham gia của nhiều nhà
nghiên cứu, nhiều giáo sư đầu ngành Trong cuộc hội thảo này, nội dung các bài viết, các bài phát biểu đều nhấn mạnh tầm quan trọng của tự học và yêu cầu các cấp ngành phải chăm lo xây dựng phong trào tự học toàn dân
Cuốn Quá trình dạy-tự học do tác giả Nguyễn Cảnh Toàn chủ biên là
một trong những cuốn sách đề cập hệ thống về việc “dạy” và “dạy tự học ” Cuốn sách này thực sự là tài liệu bổ ích giúp cho việc đổi mới phương pháp dạy và học ở Việt Nam, đặc biệt là quá trình dạy tự học
TS Tôn Quang Cường trong bài nghiên cứu Tổ chức hoạt động tự học cho sinh viên trong dạy học ở bậc đại học đã đề xuất quy trình và những vấn
đề cần lưu ý khi triển khai hoạt động tự học
Đối với bộ môn Ngữ văn, gần đây phải kể đến luận văn Thạc sĩ Rèn kỹ năng tự học truyện dân gian cho học sinh trung học phổ thông của tác giả
Phạm Kim Anh Trong luận văn này, tác giả đã đưa ra các biện pháp rèn kỹ
Trang 14năng tự học cho HS với riêng nội dung truyện dân gian
Những công trình nghiên cứu trên là cơ sở để chúng tôi xây dựng và
phát triển đề tài của mình Hiện nay, trong phạm vi hiểu biết của chúng tôi
chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập cụ thể đến việc thiết kế khóa học
trực tuyến với vai trò công cụ hỗ trợ tự học phần VHDG thuộc chương trình
Chương trình SGK lớp 10 – Ban cơ bản một cách đồng bộ Vì thế đề tài Thiết
kế khóa học trực tuyến hỗ trợ tự học phần Văn học dân gian (Chương trình
Ngữ văn 10, tập 1) có giá trị thực tiễn mới mẻ của nó
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu của đề tài: thiết kế và đề xuất quy trình tổ chức
các hoạt động hỗ trợ tự học phần VHDG (Chương trình SGK Ngữ văn 10 –
Ban cơ bản) trên LMS Moodle
- Mục tiêu cụ thể:
+ Khẳng định vai trò của ứng dụng CNTT trong việc tăng cường hiệu
quả học tập cho HS
+ Thiết kế khóa học trực tuyến và quy trình sử dụng để hỗ trợ tự học
phần VHDG trên cơ sở sử dụng hệ thống quản lý học tập Moodle
+ Thiết kế, tổ chức một khóa học mẫu trong dạy học phần VHDG
(Chương trình SGK Ngữ văn 10 – Ban cơ bản) trên cơ sở sử dụng hệ thống
Moodle
- Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Nghiên cứu về cơ sở lý luận của việc tự học và ứng dụng CNTT (E-learning) cùng những sự thay đổi cần thiết khi áp dụng hình thức dạy học
này cho phù hợp với giảng dạy bộ môn Ngữ văn
+ Đề xuất thiết kế và tổ chức một khóa học E-learning hỗ trợ tự học
phần VHDG trên nền hệ quản lý học tập Moodle
+ Bước đầu đánh giá tính hiệu quả của việc áp dụng khóa học trực
tuyến trong hỗ trợ tự học phần VHDG (Chương trình SGK Ngữ văn 10 – Ban
cơ bản)
Trang 154 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Khả năng ứng dụng khóa học trực tuyến trong tổ
chức hoạt động tự học phần VHDG (Chương trình Ngữ văn 10, tập 1)
- Phạm vi nghiên cứu: Phần VHDG (Chương trình SGK Ngữ văn 10, tập 1)
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Sưu tầm, đọc tài liệu, nghiên
cứu các văn bản về quản lý và chương trình đào tạo cử nhân Quản lý Giáo dục, tổng hợp các quan điểm, lý luận liên quan đến vấn đề nghiên cứu
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Quan sát, điều tra - khảo
sát bằng phiếu hỏi, tổng kết kinh nghiệm, tham vấn chuyên gia
- Nhóm phương pháp xử lý thông tin: Định lượng, định tính, thống kê
và phân tích thống kê
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày theo 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Thiết kế và tổ chức các hoạt động hỗ trợ tự học phần Văn học dân gian (Chương trình Ngữ văn 10, tập 1) trên hệ quản lý học tập (LMS) Moodle
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 16CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1 Cơ sở lý thuyết của quá trình tự học
1.1.1.1 Khái niệm tự học
Trong lịch sử phát triển giáo dục, tự học là vấn đề được quan tâm nghiên cứu từ lâu cả về lý luận và thực tiễn Khổng Tử – nhà tư tưởng nổi tiếng và nhà sư phạm vĩ đại của Trung Quốc ngay từ trước công nguyên đã nhấn mạnh “Học nhi bất tư vong, tư nhi bất học tất đãi” Ông cho rằng học mà không nghĩ thì mờ tối, nghĩ mà không học thì khó nhọc, mất công Nói cách khác, việc học tập và tự học là cần thiết và gắn bó mật thiết với nhau Ở phương Tây cùng giai đoạn Socrat cũng đã nêu khẩu hiệu “Anh hãy tự biết lấy anh” nhằm hướng học trò phát hiện ra “chân lý” bằng cách đặt câu hỏi để dần dần tìm ra kết luận
Đến thế kỷ XX, khi tự học trở thành nhu cầu của thời đại thì khái niệm này được đặc biệt chú ý nghiên cứu và phát triển Candy (1987) xác định có ít nhất 30 khái niệm khác nhau được sử dụng đồng nghĩa với khái niệm tự học Đơn cử như: tự học, học tập độc lập, người học tự kiểm soát, hướng dẫn bản thân, học tập phi truyền thống, học tập mở, tham gia học tập, tự học, tự giáo dục, học tập tự tổ chức, tự học theo kế hoạch, tự chịu trách nhiệm về việc học,
tự học và tự dạy…
Khi đi vào nghiên cứu sâu hơn, Brockett & Hiemstra quan niệm có 2 đặc điểm của tự học là: đặc điểm bên trong - tính tự định hướng của người đọc và đặc điểm bên ngoài - quá trình mà trong đó người học có vai trò chính trong việc lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá các trải nghiệm Hai đặc điểm này có quan hệ biện chứng, hỗ trợ lẫn nhau
Ở Việt Nam, từ điển giáo dục học định nghĩa: “Tự học là quá trình tự mình hoạt động lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện kĩ năng thực hành”
Trang 17Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp, ) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý chí muốn thi đỗ, biến khó khăn thành thuận lợi) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực
đó thành sở hữu của mình [25, tr59-60]
Theo tác giả Trần Bá Hoành: “Tự học là người học tích cực chủ động,
tự mình tìm ra tri thức kinh nghiệm bằng hành động của mình, tự thể hiện mình Tự học là tự đặt mình vào tình huống học, vào vị trí nghiên cứu, xử lí các tình huống, giải quyết các vấn đề, thử nghiệm các giải pháp”…[16]
Tác giả Thái Duy Tuyên trong Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới, có viết: “Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng, kĩ
xảo, là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…) cùng các phẩm chất động cơ, tình cảm để chiếm lĩnh tri thức một lĩnh vực hiểu biết nào đó hay những kinh nghiệm lịch sử, xã hội của nhân loại, biến nó thành sở hữu của chính bản thân người học” [26]
Trên cơ sở nghiên cứu những quan điểm trên, chúng tôi cho rằng: Tự học là một bộ phận của việc học Nó là một quá trình học tập độc lập, chủ động, tích cực của người học trong việc chiếm lĩnh tri thức khoa học, cũng như những kiến thức trong cuộc sống hằng ngày Tự học phản ánh rõ nhất nhu cầu bức xúc về học tập của người học, phản ánh năng lực tổ chức và tự điều khiển của người học nhằm đạt kết quả nhất định trong hoàn cảnh nhất định với nội dung học tập nhất định
Trong quá trình đào tạo, khi được xem xét dưới góc độ một hình thức
tổ chức dạy học chúng ta nhận thấy tự học bộc lộ những điểm ưu việt so với các hình thức dạy học khác Cụ thể như: “thúc đẩy tính mục đích cao (huy động động cơ học tập bên trong của người học), tổ chức cấu trúc logic rõ ràng
Trang 18theo tuyến mục tiêu và nội dung thực hiện trong hệ thống các hoạt động chung hướng đến kết quả, yêu cầu mức độ tự nhận thức cao, khả năng tự đánh giá, nhận định tốt, ý thức kỷ luật và tinh thần trách nhiệm cá nhân cao Đồng thời người dạy sẽ chuyển vai trò từ truyền đạt tri thức sang quản lý tri thức và quá trình chuyển giao” [A.V.Chernaia, 2010] Hiện nay, trong nỗ lực tìm kiếm các phương án tổ chức dạy học hiệu quả, các nhà sư phạm đã tìm đến hình thức tổ chức tự học như một cách tổ chức hoạt động nhận thức hữu hiệu
- Tự học có hướng dẫn trực tiếp: Người học có tài liệu và giáp mặt với
GV một số tiết trong ngày, trong tuần và được GV hướng dẫn giảng giải sau
đó về nhà tự học
Xét về mối quan hệ của người tự học trong tự học, có:
- Tự học không tương tác: là hình thức học tập mà người học làm việc độc lập, chủ động có hoặc không có sự hướng dẫn của người dạy
- Tự học trong tương tác: là hình thức tự học mà người học kết hợp với những người khác (có thể với bạn, với người dạy) trong học tập để nghiên cứu, lĩnh hội và vận dụng kiến thức, kĩ năng Hình thức tự học này có thể có hoặc không có sự hướng dẫn của người dạy
Trang 19Trong phạm vi luận văn này chúng tôi tập trung vào hoạt động tự học chủ yếu của HS ở bậc học THPT: tự học kết hợp giữa học cá nhân với học tương tác có hướng dẫn của GV Nói cách khác, xuyên suốt hoạt động tự học này sẽ có 2 quá trình được triển khai đồng thời có tác động tương hỗ lẫn nhau,
đảm bảo cho việc thực hiện thành công mục tiêu dạy học: việc tổ chức của người dạy (để người học tự học) và tự tổ chức của người học (để tự học) 1.1.1.3 Chu trình tự học
Đối với HS
Tự học là một chu trình gồm ba giai đoạn:
Giai đoạn 1- Tự nghiên cứu: Người học tự tìm tòi, quan sát, mô tả, giải
thích, phát hiện vấn đề, định hướng, giải quyết vấn đề, tự tìm ra kiến thức mới (chỉ mới đối với người học) và tạo ra sản phẩm ban đầu (sản phẩm thô) có
tính chất cá nhân
Giai đoạn 2 - Tự thể hiện: Người học tự thể hiện mình bằng văn bản,
bằng lời nói, tự trình bày, bảo vệ kiến thức hay sản phẩm cá nhân ban đầu của mình, tự thể hiện qua sự đối thoại, giao tiếp với các bạn và thầy, cô giáo, tạo
ra sản phẩm có tính chất xã hội của cộng đồng lớp học
Giai đoạn 3 - Tự kiểm tra, tự điều chỉnh: Sau khi tự thể hiện mình qua
sự hợp tác trao đổi với các bạn và thầy, cô giáo; sau khi thầy, cô giáo kết luận, người học tự kiểm tra, tự đánh giá sản phẩm ban đầu của mình, tự sửa sai, tự điều chỉnh thành sản phẩm khoa học
Nguồn: Quá trình dạy – tự học,
Sơ đồ: 1.1 Chu trình tự học
Trang 20Như vậy hoạt động tự học của HS là quá trình hoạt động học tập chủ động tích cực của người học đặt trong mối quan hệ tương tác với bạn dưới sự định hướng của GV Qua quá trình này HS có thể khám phá, điều chỉnh và hoàn thiện hệ thống tri thức theo đúng mục tiêu đề ra
Đối với GV
Quá trình tổ chức dạy học tự học chính là việc thiết kế và tổ chức các nhiệm
vụ tự học cụ thể theo những chỉ định rõ ràng (về mục tiêu, nội dung, kiểm tra đánh giá) Trong quá trình thực hiện GV cần đánh giá, phân tích tác động qua kết quả phản hồi của HS đặt trong tương quan so sánh với mục tiêu Từ đó có những điều chỉnh phù hợp giúp HS hình thành các năng lực cần thiết
Trong quá trình tổ chức dạy học tự học của GV cần đảm bảo những yêu cầu sau:
- Nhiệm vụ học tập bám sát mục tiêu, nội dung môn học, phù hợp với năng lực, kiến thức nền của đối tượng người học
- Đảm bảo tính logic, hệ thống và có sự gắn kết với các hình thức dạy học trên lớp
- Nội dung có tính thực tiễn cao, hình thức phong phú, có tính tích hợp, liên môn, gắn với việc hình thành hệ thống kỹ năng cụ thể
Thiết kế hoạt động tự học cụ thể Mục
tiêu
Thực hiện hoạt động tự học cụ thể
Kết quả tự học trùng khớp/không trùng khớp (với mục tiêu)
Phân tích
Năng lực cần được hình thành
Nguồn: Tổ chức hoạt động tự học cho sinh viên trong dạy học ở bậc đại học
Sơ đồ: 1.2 Quá trình dạy tự học và năng lực hình thành
Trang 21- Kiểm soát được quá trình tự học của người học, có sự hỗ trợ, tương tác thường xuyên và kịp thời
- Có các điều kiện và nguồn lực hỗ trợ đầy đủ (học liệu, cơ sở vật chất…) Chúng tôi xin được cụ thể hóa bằng sơ đồ tổng quan về quá trình tổ chức dạy học tự học dưới đây:
Nguồn:Tổ chức hoạt động tự học cho sinh viên trong dạy học ở bậc đại học
Sơ đồ: 1.3 Tổng quan về quá trình tổ chức dạy học tự học
1.1.2 Ứng dụng E-Learning trong dạy học
1.1.2.1 Khái niệm E-Learning
Từ nửa sau thế kỷ XX trong lĩnh vực khoa học giáo dục đã xuất hiện
một thuật ngữ mới: E-learning (Electronic Learning – học tập điện tử) và
ngày càng được nhiều người quan tâm Tuy nhiên về nội hàm khái niệm lại có nhiều quan điểm khác nhau tùy thuộc vào ngữ cảnh và khía cạnh sử dụng Chúng tôi xin được điểm qua một số quan điểm đặc trưng nhất như sau:
a E-Learning là hình thức học tập thông qua Internet, mạng máy tính, CD-Rom, truyền hình tương tác hay đài truyền dẫn vệ tinh
Bài tập, dự án, nghiên cứu…
Trang 22d E-Learning là việc cung cấp nội dung thông qua tất cả các phương tiện điện tử bao gồm Internet, Intranet, Trạm phát vệ tinh, Băng tiếng, hình, tivi tương tác và CD-Rom [15, tr 5]
e E-Learning là hình thức học tập bằng truyền thông qua mạng Internet theo cách tương tác với nội dung học tập và được thiết kế dựa trên nền tảng PPDH [15, tr 5]
Rõ ràng, với những quan niệm khác nhau về E-Learning chúng ta có đặc điểm tập trung khác nhau về cách thức triển khai và cơ sở hạ tầng Trên
cơ sở tham khảo nhiều định nghĩa, kết hợp xem xét bản chất trong từng trường hợp chúng tôi nhận thấy một hệ thống E-learning phải đảm bảo những điều kiện dưới đây:
- Sử dụng mạng Internet
- Tồn tại dưới các dạng khóa học
- Sử dụng hệ thống quản lý học tập
- Đảm bảo sự tương tác, hợp tác trong học tập
Như vậy, có thể hiểu một cách chung nhất: Elearning là một loại hình đào tạo thông qua mạng Internet dưới dạng các khóa học, hướng tới thực hiện tốt mục tiêu học tập Trong đó đảm bảo sự tương tác giữa người dạy và người học cũng như cộng đồng học tập một cách thuận lợi dưới sự quản lý của một hệ thống quản lý học tập
Trang 231.1.2.2 Kiến trúc hệ thống E-Learning
Trung tâm của hệ thống E-Learning là hệ thống quản lý học tập LMS
(Learning Management System) Đây chính là một gói phần mềm cung cấp
các bộ công cụ để xây dựng và quản lý các khóa học trực tuyến Phần lớn các LMS là các gói phần mềm thương mại như: Blackboard, WebCT, Desire2Learn, ANGEL, và eCollege nhưng cũng có nhiều LMS được phát
triển với nền tảng mở và miễn phí (FOSS-free and open-source) như Moodle,
Dokeos, Claroline là các LMS mã nguồn mở khá phổ biến Những hệ thống này mở ra nhiều cơ hội mởi để người sử dụng có thể tiếp cận, xây dựng các khóa học trực tuyến một cách đơn giản và tiết kiệm chi phí Mô hình hệ thống E-learning được trình bày cụ thể qua sơ đồ sau:
(Nguồn: Giáo trình E-learning và ứng dụng trong dạy học)
Sơ đồ: 1.4 Mô hình hệ thống E-Learning
Tham gia hệ thống quản lý học tập sẽ có 3 đối tượng đều truy cập vào
hệ thống với những vai trò và mục tiêu khác nhau nhằm đảm bảo hệ thống hoạt động ổn định và việc dạy học diễn ra có hiệu quả
Người quản trị: Đây là người có trách nhiệm quản trị toàn bộ hệ thống
học tập với các chức năng như: tạo lập khóa học, phân quyền cho GV, cấp
Trang 24phát tài khoản người dùng, thiết lập môi trường học tập, trợ giúp và quản lý quá trình học tập của người dạy và người học…
Người dạy:là nhân tố chính trong việc cung cấp các khóa học trên hệ
thống quản lý học tập Nói cách khác thông qua việc sử dụng các công cụ của
hệ thống người dạy sẽ xây dựng nội dung của khóa học bằng những hoạt động học tập cụ thể Ngoài ra, họ sẽ tham gia tương tác với người học thông qua hệ thống quản lý học tập bằng cách định hướng kế hoạch học tập, thông báo, chỉ dẫn, trợ giúp, đánh giá người học một cách thường xuyên và kịp thời
Người học: là nhân vật trung tâm của quá trình dạy học dựa trên
E-Learning Tham gia khóa học, thông qua cổng thông tin người học, người học
sẽ thực hiện các hoạt động học tập đã được thiết kế sẵn Để hỗ trợ nhiệm vụ này người học sẽ nhận được những thông tin chỉ dẫn, giúp đỡ của GV hay cùng trao đổi, thảo luận với những người học khác thông qua chức năng hợp tác trên mạng
1.1.2.3 Đặc điểm của E-Learning
Về bản chất E-Learning vẫn là quá trình truyền tải kiến thức và thu nhận phản hồi từ người dạy đến người học dưới sự giám sát của hệ thống quản lý học tập Tuy nhiên do những đặc thù của các hoạt động học tập, E-Learning mang trong mình những đặc trưng riêng biệt Cụ thể như sau:
- Sự thay đổi về vai trò của người dạy và người học: E-Learning đã
thay đổi từng bước cách nhìn trong mối quan hệ giữa dạy và học: Lấy người dạy làm trung tâm Tạo sự bình đẳng giữa thầy và trò Lấy người học
làm trung tâm
+ Vai trò của người dạy:
Trong lớp học truyền thống, GV nắm giữ tất cả kiến thức và truyền tải đến HS Với E-learning, trong suốt tiến trình khóa học GV chỉ đóng vai trò là
người hướng dẫn (guide) và tham vấn (advise) thông qua môi trường mạng
chứ không phải là những “ông đồ ngồi trên phản”, “cầm tay chỉ việc” cho HS Trong môi trường này, GV phải trở thành động lực thúc đẩy vai trò tự chủ của
Trang 25HS thông qua các hoạt động học tập và gắn kết các hoạt động với nhau GV chịu trách nhiệm tư vấn và hỗ trợ HS giải quyết các vướng mắc chứ không giải quyết hộ Mục đích là giúp HS tự xác định và dần trả lời được các câu hỏi
để thực hiện yêu cầu này cần “làm gì?”, “tại sao?” và “làm như thế nào?” Quan trọng nhất là phải khơi gợi được hứng thú của HS và GV tránh cung cấp quá nhiều thứ có sẵn
+ Vai trò của người học:
Trong môi trường của E-Learning HS là người chịu trách nhiệm chính,
là trung tâm của quá trình dạy học Người học dựa trên những tài nguyên học liệu được cung cấp sẽ tham gia các hoạt động học tập một cách chủ động và tích cực Quá trình tích lũy kiến thức được chính bản thân các em thực hiện sau khi tiến hành thu thập dữ liệu, tổng hợp, phân tích Thậm chí, thông qua những cuộc thảo luận, những bài tập theo hướng tích cực hóa người học còn
có thể đóng vai trò là người “kiến tạo” kiến thức
- Sự thay đổi về tổ chức học tập:
Xét trên phương diện lớp học, trang thiết bị, hình thức và thời gian học tập, lớp học E-Learning và lớp học truyền thống có một số điểm khác nhau
căn bản được thống kê trong bảng dưới đây:
Bảng: 1.1 Sự khác biệt giữa lớp học E-learning và lớp học truyền thống
Loại hình Lớp học E-Learning Lớp học truyền thống
Lớp học - Phòng học ảo, không giới
hạn không gian
- Phòng học, kích thước giới hạn
Trang thiết bị - Máy tính, máy chiếu, đầu
đĩa CD/ VCD/ DVD, kết nối Internet, …
- Thư viện số
- Bảng, phấn, bút, phiếu học tập…
- Sách giáo khoa, sách tham
khảo, thư viện…
Hình thức và
thời gian học
- Hình thức: học tập thông qua hệ thống quản lý học
- Hình thức: học tập đối mặt,
HS được trao đổi trực tiếp
Trang 26tập tập Theo đó, HS sẽ trao đổi
với GV và bạn học thông qua các công cụ thông tin và truyền thông như email, chat, diễn đàn…để thực hiện các nhiệm vụ cụ thể trong chương trình
- Thời gian học tập: Có thể học tập mọi lúc, mọi nơi có
đủ yêu cầu về trang thiết bị
với GV trong môi trường thực tế
- Thời gian học tập: HS phải tuân thủ thời khóa biểu đã sắp xếp trước
- Sự thay đổi về kiểm tra – đánh giá:
Trong thực tiễn triển khai quá trình kiểm tra đánh giá hiện nay vẫn còn một số vấn đề tồn tại sau:
+ HS khá căng thẳng tâm lý khi đối mặt với kiểm tra đánh giá
+ Các hình thức kiểm tra đánh giá (đặc biệt là đánh giá theo tiến trình) khá đơn điệu
+ Đánh giá chưa tạo được động lực bên trong cho HS, chưa được vận dụng triệt để với tư cách là công cụ, phương tiện, thậm chí PPDH
+ Đánh giá chủ yếu chú trọng tái hiện, tái tạo kiến thức, giải các bài tập trong lớp học hơn là giải quyết các bài toán của cuộc sống
+ Chưa hình thành được văn hóa đánh giá
Nếu như trong mô hình dạy học truyền thống, việc đánh giá kết quả thường được thực hiện thông qua các bài kiểm tra thì với dạy học E-Learning việc kiểm tra đánh giá được thực hiện toàn diện hơn trên cả hai mặt: đánh giá sản phẩm thông qua chất lượng những bài tập HS thực hiện và đánh giá quá trình qua số lần, mức độ tích cực, chủ động của HS khi tham gia các hoạt động của khóa học Tất cả những thông số này sẽ được lưu lại trên hệ thống học tập giúp người quản lý, người dạy và người học đều có thể dễ dàng kiểm
Trang 27soát Các hình thức kiểm tra đánh giá đa dạng và có độ phân hóa cao Nhờ đó
sẽ đưa lại một cái nhìn đúng đắn, công bằng và toàn diện đối với năng lực HS Điều này không chỉ khắc phục được tình trạng học tủ, học lệch mà còn yêu cầu các em vừa lĩnh hội kiến thức, vừa phát triển kỹ năng
Một ưu điểm nữa trong vấn đề kiểm tra – đánh giá với E-Learning là sự thay đổi đối tượng đánh giá Khác với các lớp học truyền thống, người đánh giá
là GV thì dạy học E-Learning cho phép các em HS tham gia cùng với GV trong quá trình đánh giá dựa trên những tiêu chí đã được thống nhất Từ đó các em hình thành tư duy phê phán khách quan trong một môi trường dân chủ Quan trọng hơn là trong quá trình đánh giá lẫn nhau HS sẽ dần dần phát hiện ra những điểm mạnh, điểm yếu, từ đó rút ra được kinh nghiệm của riêng mình
khóa học có thể kể ra hai hình thức học tập (mode of learning) với E-Learning là: học tập trực tuyến (Online learning) và học tập hỗn hợp (Blended learning
- Học tập trực tuyến (Online learning)
Là hình thức học tập trong đó việc hoàn thành khóa học được thực hiện toàn bộ trên môi trường mạng thông qua hệ thống quản lý học tập Thuộc về
hình thức này có hai cách thể hiện là dạy học đồng bộ (Synchronous Learning)
và dạy học không đồng bộ (Asynchronous Learning) Cụ thể như sau:
Trang 28Bảng: 1.2 Phân biệt dạy học học đồng bộ và dạy học không đồng bộ
Dạy học không đồng bộ (Asynchronous Learning)
Mô hình
- Người dạy và người học
cùng tham gia vào hệ thống quản lý học tập trong cùng 1 thời điểm HS được yêu cầu
có mặt trực tuyến đầy đủ và
GV có nhiệm vụ theo dõi danh sách này như trên 1 lớp học thực tế
- Người dạy và người học
tham gia vào hệ thống quản
lý học tập ở những thời điểm khác nhau GV sẽ theo dõi số lần đăng nhập hệ thống và tham gia các hoạt động của
HS
- GV sẽ dạy trực tiếp trên máy tính Hầu hết việc học tập đồng bộ này vẫn tiến hành quản lý qua văn bản (type on computer) nhưng khuynh hướng hiện nay đang chuyển dần sang âm thanh và video
trực tuyến trên máy tính
- Trong suốt thời gian học
HS phải hoàn thành những bài viết và thảo luận cụ thể theo lịch trình của từng tuần
- Công cụ: phòng học ảo (Virtual Classroom), Chat Voice, Video, Webcam
- Công cụ: Diễn đàn, trung tâm hỗ trợ, email…
- Nội dung được trình diễn thời gian thực khiến quá trình
- Tự do về môi trường, thời
Trang 29điểm, địa điểm học tập
- Có thể tự thực hiện theo ý muốn
- Thời gian không gò bó
- Phải theo sự hướng dẫn
- Không có những mô tả trực quan (có thể dẫn đến hiểu lầm)
- Dễ mệt mỏi khi cần được
Như vậy có thể thấy E-Learning tỏ rõ sự mềm dẻo, linh hoạt khi đưa ra những hình thức học tập đa dạng với các thế mạnh khác nhau để người dạy và người học lựa chọn được hình thức phù hợp nhất Với mục đích sử dụng khóa học như một công cụ hỗ trợ tự học cho HS, chúng tôi nhận thấy hình thức học tập hỗn hợp vừa khai thác được thế mạnh của dạy học E-learning vừa lấp được những hạn chế về thời lượng, tương tác trong dạy học giáp mặt
Trang 301.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
1.2.1 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học phát huy tính tích cực
của HS
Đổi mới PPDH là một trong những mục tiêu lớn được ngành giáo dục
và đào tạo đặt ra trong giai đoạn hiện nay Trong Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020” của Chính phủ ban hành ngày 13/06/2012 đã nhấn mạnh
”Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học , rèn luyện theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và năng lực tự học của người học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học, đến năm 2015, 100% giảng viên đại học, cao đẳng và đến năm 2020, 100% giáo viên giáo dục nghề nghiệp và phổ thông có khả năng ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học [http://www.moet.gov.vn]
Dưới đây là một số định hướng cụ thể nhằm thực hiện được mục tiêu lớn của ngành giáo dục – đào tạo là đổi mới PPDH Xây dựng, sử dụng khóa học E-learning trong dạy học Ngữ văn hỗ trợ HS tự học là một trong những biện pháp phù hợp với các định hướng đó
Đổi mới PPDH theo hướng phát huy cao độ tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS trong quá trình lĩnh hội tri thức Đó là quá trình dạy học
trong đó người GV đóng vai trò hướng dẫn, định hướng còn HS là người chủ động trong quá trình học tập dưới sự hướng dẫn của GV Khóa học trực tuyến
sử dụng Moodle cho phép GV định hướng quá trình tự học của HS thông qua
hệ thống các hoạt động được thiết kế chi tiết Mặt khác, quá trình tự học của
HS cũng được thể hiện rõ thông qua kết quả sản phẩm và tiến trình thực hiện sản phẩm Nhờ vậy, việc quản lý của GV và việc tự học của HS được tối ưu hóa cả về mặt thời gian và chất lượng
Đổi mới PPDH theo hướng kết hợp một cách nhuần nhuyễn và sáng tạo các PPDH khác nhau sao cho vừa đạt mục tiêu DH vừa phù hợp với đối tượng và điều kiện thực tiễn của cơ sở Thực tiễn đã chứng minh không phải
cứ phương pháp cũ là lạc hậu và phương pháp mới thì mới hoàn hảo Không
Trang 31có phương pháp nào tồn tại mà không có ý nghĩa Vì thế, về bản chất đổi mới PPDH là đổi mới cách thức tiến hành phương pháp trên cơ sở khai thác triệt
để ưu điểm của các phương pháp cũ và vận dụng linh hoạt một số phương pháp mới Do đặc thù của môn Ngữ văn nên việc sử dụng khóa học E-learning kết hợp với dạy học đối mặt có ý nghĩa tối ưu hóa hoạt động dạy học trên lớp và hỗ trợ hoạt động tự học, tự nghiên cứu ở nhà của HS Ở hầu hết các trường THPT hiện nay đều được trang bị các phương tiện dạy học hiện đại Đây là điều kiện thuận lợi để chúng ta áp dụng phương thức dạy học này
Đổi mới PPDH theo hướng tăng cường kĩ năng thực hành Trong dạy
học Ngữ văn cũng cần rèn luyện các kĩ năng thực hành cho HS: kĩ năng đọc hiểu văn bản, kỹ năng phân tích và tạo lập văn bản, kỹ năng giải quyết vấn đề, hoạt động nhóm, tư duy độc lập…Xây dựng và sử dụng khóa học E-learning trên nền LMS Moodle đáp ứng được định hướng đổi mới này
Đổi mới PPDH bằng cách đưa phương tiện kĩ thuật hiện đại và công nghệ vào dạy học Trong hướng dẫn triển khai nhiệm vụ công nghệ thông tin (CNTT)
cho năm học 2009-2010 của Bộ Giáo dục và đào tạo đặc biệt nhấn mạnh:
- Tích cực triển khai soạn bài giảng điện tử bằng các phần mềm công
cụ e-Learning Hướng dẫn giáo viên chuyển các bản trình chiếu soạn bằng
MS powerpoint sang bài giảng điện tử E-Learning theo chuẩn quốc tế SCORM để chia sẻ dùng chung
- Khai thác sử dụng phần mềm quản trị hệ thống học điện tử Learning (LMS: Learning Management System) bằng mã nguồn mở Moodle Đẩy mạnh việc ứng dụng CNTT trong trường phổ thông nhằm đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng giáo viên tự tích hợp CNTT vào từng môn học thay vì học trong môn tin học Giáo viên các bộ môn chủ động tự soạn và tự chọn tài liệu và phần mềm (mã nguồn mở) để giảng dạy ứng dụng CNTT
E-Tóm lại: đổi mới PPDH cần được đổi mới theo những định hướng cơ bản như trên để HS chuyển từ cách học thụ động, ghi nhớ kiến thức là chính
Trang 32sang cách học tích cực, chủ động sáng tạo, chú trọng bồi dưỡng phương pháp
tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn Để làm được điều này GV cần chuyển từ phương pháp truyền thụ một chiều sang phương pháp chú trọng hình thành năng lực tự học, phát triển khả năng tư duy và sáng tạo của HS Xây dựng và sử dụng khóa học E-learning trên nền LMS Moodle hỗ trợ HS tự học chính là một biện pháp khả thi đáp ứng được yêu cầu đổi mới
về PPDH Ngữ Văn hiện nay
1.2.2 Thực trạng dạy – học tự học và ứng dụng công nghệ thông tin trong
hỗ trợ tự học môn Ngữ văn hiện nay của trường phổ thông
Để có một cái nhìn cụ thể hơn về thực trạng dạy - học tự học và ứng dụng công nghệ thông tin trong hỗ trợ tự học bộ môn Ngữ văn hiện nay tại trường THPT chúng tôi tiến hành nghiên cứu điều tra 18 GV và 108 HS lớp
10 ở các trường: THPT Kim Liên - Quận Đống Đa – thành phố Hà Nội, THPT Phạm Văn Đồng - quận Từ Liêm – thành phố Hà Nội, THPT Mông Dương – thành phố Cẩm Phả - tỉnh Quảng Ninh Đây là 3 trường THPT thuộc các địa bàn khác nhau: THPT Kim Liên là trường công lập có chất lượng đào tạo cao của thành phố Hà Nội THPT Phạm Văn Đồng là trường dân lập nhưng đào tạo theo mô hình chuyên chất lượng cao THPT Mông Dương là trường vùng nông thôn miền núi hệ công lập của tỉnh Quảng Ninh Chúng tôi tập trung điều tra các vấn đề cơ bản: nhận thức của GV và HS về vấn đề tự học; thực trạng dạy tự học của GV và kỹ năng tự học của HS; nhận thức và kỹ năng sử dụng CNTT trong hỗ trợ tự học hiện nay ở trường phổ thông Kết quả thu được như sau:
1.2.2.1 Thực trạng nhận thức của HS THPT về tác dụng của tự học
Tự học đã và đang trở thành chiếc chìa khóa vàng” mở ra cánh cửa thông tin khám phá thế giới Tuy nhiên đây là một hoạt động có tính hệ thống, đòi hỏi sự thống nhất của cả 3 yếu tố: nhận thức, phương pháp, kỹ năng Các yếu
tố này càng sớm được rèn luyện nhuần nhuyễn thì người học sẽ càng chủ động
Trang 33trong quá trình tự học Do đó, để tiến hành tổ chức hoạt động tự học có hiệu quả, trước hết chúng tôi tìm hiểu nhận thức của HS về tác dụng của tự học
Bảng 1.3 Kết quả điều tra nhận thức của học sinh THPT về tác dụng
2 Giúp mở rộng và nâng cao kiến
4 Giúp vận dụng tốt tri thức vào
việc giải quyết những nhiệm vụ
Trang 34các tác dụng như giúp hiểu sâu bài học, đạt kết quả cao trong thi cử cũng được 58,3% HS được hỏi đồng tình Đây là 1 tín hiệu đáng mừng cho thấy HS lứa tuổi THPT nói chung, HS lớp 10 nói riêng đã có những nhận thức đúng đắn, tích cực về vai trò, tầm quan trọng và tác dụng của tự học
Bên cạnh điểm tích cực trên vẫn còn một lượng không nhỏ bày tỏ thái
độ phân vân về việc tự học giúp mở rộng, nâng cao kiến thức (38,9%), tự học giúp hình thành năng lực tự học suốt đời (36,1%) Thậm chí 20,3% HS còn không đồng tình với ý kiến tự học giúp người học có khả năng tự đánh giá bản thân Khi điểm lại những con số này ta thấy hầu hết đều rơi vào những vấn đề liên quan đến độ thuần thục và tính chủ động của người học trong quá trình tự học Nói cách khác các em mới chỉ dừng lại ở việc nhận thức được ý nghĩa của tự học trong giải quyết các nhiệm vụ trong nhà trường chứ chưa nâng lên được thành một kỹ năng có vai trò quan trọng trong cuộc sống
1.2.2.2 Thực trạng dạy học tự học môn Ngữ văn cho HS THPT
Để tìm hiểu thực trạng tổ chức hoạt động tự học cho học sinh THPT chúng tôi đã tiến hành khảo sát 18 GV trực tiếp giảng dạy môn Ngữ văn ở 3 trường THPT nói trên 94,4% GV được hỏi khẳng định hướng dẫn tự học có vai trò rất quan trọng trong dạy học nói chung, dạy học phần VHDG lớp 10 nói riêng Con số này cho thấy GV có nhận thức sâu sắc về vai trò của hoạt động tự học trong quá trình dạy học Khi đi sâu vào khảo sát các hoạt động chủ yếu mà GV thường tổ chức để hướng dẫn HS tự học chúng tôi thu được kết quả như sau:
Trang 35Bảng 1.4 Kết quả điều tra việc rèn kĩ năng tự học Ngữ văn cho học sinh
THPT
Mức độ thực hiện
Thường xuyên
Thỉnh thoảng
Chưa bao giờ
khai thác và xử lý thông tin
để giải quyết nhiệm vụ học
Dựa vào bảng số liệu trên có thể thấy hoạt động chủ yếu mà tuyệt đại
đa số GV sử dụng thường xuyên là yêu cầu HS soạn bài theo câu hỏi SGK (94,4%) Tỷ lệ hướng dẫn HS tìm kiếm, khai thác và xử lý thông tin để giải quyết nhiêm vụ học tập khá cao: 77,8% Tuy nhiên tỷ lệ GV thường xuyên nêu vấn đề để HS nghiên cứu dưới các hình thức nhiệm vụ học tập chỉ đạt mức trung bình: 55,6% Đáng lưu ý chỉ có 16,7% GV thường xuyên tổ chức
Trang 36cho HS trao đổi thắc mắc với bạn bè, GV Thậm chí 44% GV trả lời chưa từng tổ chức hoạt động này Thêm vào đó tỷ lệ thường xuyên tổ chức các hoạt động kiểm tra, đánh giá để nâng cao kỹ năng tự học của người học cũng rất thấp
Cụ thể như tổ chức cho HS tự kiểm tra đánh giá, điều chỉnh kết quả tự học chỉ đạt 38,9%, hướng dẫn HS rút kinh nghiệm về cách tự học chỉ đạt 27,8%
Từ những con số trên kết hợp với những thông tin phản hồi từ phía HS
ta có thể rút ra kết luận về thực tế dạy học tự học Ngữ văn phổ biến ở trường THPT như sau:
Thứ nhất: GV đã có ý thức và đánh giá đúng vai trò, tầm quan trọng của hoạt động dạy học tự học trong trường THPT, đặc biệt đối với HS đầu cấp Trong quá trình dạy học GV có chú ý hướng dẫn HS tìm kiếm thông tin
Thứ ba: khâu kiểm tra, đánh giá đặc biệt là đánh giá thường xuyên và đánh giá nâng cao còn bỏ ngỏ Hầu hết GV đều dừng lại ở đánh giá kết quả qua sản phẩm của HS Thời lượng trên lớp có hạn nên việc rút kinh nghiệm sau quá trình tự học với từng cá nhân HS thường không thể thực hiện
1.2.2.3 Thực trạng sử dụng CNTT hướng dẫn HS tự học môn Ngữ văn cho
HS THPT
Bắt đầu từ năm 2006 - 2007 việc đổi mới chương trình, SGK phổ thông
đã được triển khai khá đồng bộ tạo tiền để cho vệc sử dụng thiết bị dạy học trong bộ môn Ngữ văn có những bước chuyển biến tích cực Đặc biệt cũng bắt đầu từ thời điểm này Bộ Giáo dục đã ban hành các chỉ thị, nghị định về đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong giáo dục đào tạo, tăng cường giảng dạy và đào tạo về CNTT Cùng với đó các cuộc tập huấn “Ứng dụng CNTT trong
Trang 37dạy học” cho GV các trường phổ thông đã giúp mang lại những hiệu ứng tích cực Tại nhiều trường học GV đã ứng dụng CNTT vào dạy học Ngữ văn một cách tích cực và mang lại hiệu quả cao “Trong các cuộc thi giáo viên giỏi, các kỳ hội giảng gần như 100% các tiết dạy đều ứng dụng công nghệ thông tin” [6, tr 79]
Năm học 2009-2010, Bộ GDĐT phát động và tổ chức Cuộc thi soạn bài
giảng điện tử với khẩu hiệu chung “Mỗi giáo viên xây dựng ít nhất một bài giảng điện tử” Trên cơ sở đó tuyển chọn được hơn 1000 bài giảng đóng góp
vào thư viện tài nguyên giáo dục, thư viện học liệu mở để chia sẻ dùng chung trong toàn ngành
Hiện nay, nhiều trường THPT ở Hà Nội mà điển hình là THPT Chuyên ngoại ngữ, THPT Kim Liên, THPT Trần Phú…đều yêu cầu GV có ít nhất 1 tiết sử dụng giáo án điện tử trong 1 kỳ học Trải qua quá trình thực hiện hầu hết GV và HS đều có những phản hồi tích cực khi CNTT góp phần hỗ trợ các bài giảng trở nên sinh động, nâng cao tiềm lực của giáo viên và tích cực hóa hoạt động của học sinh
Thêm vào đó, cơ sở vật chất của các trường phổ thông đều đã được nâng cấp đáng kể Hầu hết các trường THPT đều có máy vi tính, máy chiếu, màn chiếu hay đầu VCD, màn hình TV cỡ lớn Đặc biệt, các trường PT trên địa bàn Hà Nội như: THPT Kim Liên, Nhân Chính, Trần Phú, Hai Bà Trưng… đều có ít nhất 2 phòng học được trang bị đầy đủ các thiết bị, phương tiện kể trên để dùng cho giờ học có sử dụng bài giảng điện tử Các phòng tin học được trang bị hệ thống máy tính nối mạng cục bộ giúp học sinh có thể thực hành ứng dụng tin học một cách dễ dàng
Tuy nhiên khi đi sâu vào vấn đề tổ chức hoạt động tự học chúng tôi nhận thấy một số vấn đề như sau:
Về phía GV: kỹ năng sử dụng CNTT cơ bản như xây dựng bài giảng trình chiếu, tạo lập văn bản word, khai thác và tìm kiếm thông tin trên internet đều tương đối tốt Mặc dầu vậy, hình thức sử dụng CNTT phổ biến hiện nay
Trang 38là sử dụng các bài giảng trình chiếu hoặc các đoạn phim tư liệu phục vụ giảng dạy trên lớp Mảng hướng dẫn tự học ngoài giờ lên lớp còn bị bỏ ngỏ
Đối với HS: 94,4% HS được hỏi trả lời có gặp khó khăn trong quá trình
tự học Để giải quyết những khó khăn này các em tìm đến những nguồn hỗ trợ khác nhau Kết quả cụ thể được tổng hợp trong bảng dưới đây:
Bảng 1.5 Kết quả điều tra các nguồn hỗ trợ được HS tìm kiếm khi gặp khó
khăn trong tự học
Thường xuyên
Thỉnh thoảng
Chưa bao giờ
3 Tìm kiếm trên Internet và tài
liệu tham khảo
và HS trong tự học còn mờ nhạt Khi đi sâu hơn tìm hiểu chúng tôi nhận thấy: khi gặp khó khăn trong tự học tỷ lệ thường xuyên tìm kiếm sự hỗ trợ của GV
để giải quyết nhiệm vụ học tập bằng hình thức hỏi trực tiếp trên lớp rất thấp Đáng lưu ý là có tới 66.7% HS được khảo sát chưa bao giờ thực hiện Ở mức
độ thỉnh thoảng tìm kiếm sự hỗ trợ của GV ghi nhận 35.2% lựa chọn hình thức qua mạng internet, 36.1% lựa chọn hình thức qua điện thoại
Trang 39Bảng 1.6 Kết quả điều tra về các phương thức kết nối giữa HS và GV trong
quá trình tự học
Thường xuyên Thỉnh thoảng
Chưa bao giờ
1 Hỏi trực tiếp trên lớp 8 7.4 % 28 25.9% 72 66.7%
3 Qua mạng Internet (Thư
* Về ưu điểm:
- Với HS:
+ Nhìn chung HS có nhận thức đúng đắn và tích cực về tác dụng của tự
học đối với hoạt động học tập của bản thân
+ Các em đã biết khai thác sức mạnh của công cụ Internet để tìm kiếm tài liệu hỗ trợ tự học đồng thời làm phương tiện liên lạc với GV trong trường
hợp gặp khó khăn
- Với GV:
+ Hầu hết GV ý thức được vai trò quan trọng của hoạt động tự học GV
có tổ chức một số hoạt động để HS thực hiện quá trình tự học như soạn bài, nêu nhiệm vụ học tập
+ Trình độ sử dụng CNTT của GV đã được cải thiện GV có ý thức ứng dụng CNTT đổi mới phương pháp dạy học
Trang 40+ Việc rèn kĩ năng tự học cho HS chưa được thực hiện thường xuyên và chưa hiệu quả Đặc biệt là đánh giá quá trình tự học của cá nhân và hỗ trợ HS
tự đánh giá rút kinh nghiệm còn chưa được quan tâm đúng mức Hình thức kiểm tra đánh giá còn chậm đổi mới, chưa phát huy được tính tích cực của người học và chưa thúc đẩy được hoạt động tự học của HS
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 Trong chương 1, chúng tôi đã tập trung nghiên cứu 2 vấn đề: cơ sở lý
luận và cơ sở thực tiễn của đề tài Thiết kế khóa học trực tuyến hỗ trợ tự học phần Văn học dân gian (Chương trình Ngữ văn 10, tập 1)
Qua quá trình nghiên cứu và phân tích tài liệu, chúng tôi giới thiệu những vấn đề mang tính chất lý luận khái quát về tự học và dạy học E-learning.Tiếp đó, chúng tôi giới thiệu phần mềm quản lý học tập Moodle – phầm mềm hỗ trợ tích cực hoạt động tự học
Song song với việc nghiên cứu lý thuyết, chúng tôi cũng tiến hành nghiên cứu thực trạng việc dạy tự học và ứng dụng CNTT trong hỗ trợ tự học hiện nay Theo đó: Tự học có vai trò quan trọng, tác động mạnh mẽ đến kết quả học tập của người học Trong quá trình đào tạo, tự học sẽ thúc đẩy việc đào sâu và mở rộng kiến thức của người học, hình thành mối quan tâm, động