1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao hứng thú và kết quả học tập cho học sinh ở Trung tâm giáo dục thường xuyên thông qua hệ thống bài tập chương Amin - Amino Axit – Protein

131 553 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC PHÙNG THỊ TRƯỜNG NÂNG CAO HỨNG THÚ VÀ KẾT QUẢ HỌC TẬP CHO HỌC SINH Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN THÔNG QUA HỆ THỐNG BÀI TẬP CHƯƠNG AMI

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

PHÙNG THỊ TRƯỜNG

NÂNG CAO HỨNG THÚ VÀ KẾT QUẢ HỌC TẬP CHO HỌC SINH Ở

TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN THÔNG QUA HỆ THỐNG BÀI TẬP CHƯƠNG AMIN - AMINO AXIT - PROTEIN

LUẬN VĂN THẠC SỸ SƯ PHẠM HÓA HỌC

HÀ NỘI – 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

PHÙNG THỊ TRƯỜNG

NÂNG CAO HỨNG THÚ VÀ KẾT QUẢ HỌC TẬP CHO HỌC SINH Ở

TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN THÔNG QUA HỆ THỐNG BÀI TẬP CHƯƠNG AMIN - AMINO AXIT - PROTEIN

LUẬN VĂN THẠC SỸ SƯ PHẠM HÓA HỌC Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

(BỘ MÔN HÓA HỌC)

Mã số: 60.14.01.11

Người hướng dẫn khoa học: GS TS Nguyễn Đình Triệu

HÀ NỘI – 2015

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Luận văn được hoàn thành bởi sự nỗ lực của bản thân, sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo, bạn bè, anh chị em đồng nghiệp, các em học sinh

và những người thân trong gia đình Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến:

GS.TS Nguyễn Đình Triệu, người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình xây dựng đề cương và hoàn thành luận văn

Các thầy, các cô Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội

đã giảng dạy tôi trong quá trình học tập, đã cung cấp kiến thức và tư liệu để tôi có thể hoàn thành luận văn

Phòng Đào tạo sau đại học, Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi để luận văn được hoàn thành đúng tiến

Trang 4

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 5

MỤC LỤC Trang

Lời cảm ơn i

Danh mục chữ viết tắt ii

Mục lục iii

Danh mục bảng viii

Danh mục hình ix

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 6

1.1 Hứng thú học tập 6

1.1.1 Hứng thú và hứng thú học tập 6

1.1.2 Tầm quan trọng và biện pháp nâng cao hứng thú đối với hoạt động học tập 6

1.2 Kết quả học tập của học sinh 8

1.2.1 Khái niệm kết quả học tập của học sinh 8

1.2.2 Mục đích đánh giá kết quả của học sinh 9

1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả học tập môn Hoá học của học sinh ……….10

1.3 Một vài vấn đề về dạy và học môn Hóa học ở Trung tâm Giáo dục thường xuyên……… 12

1.3.3 Những khó khăn khi giảng ở Trung tâm GDTX ……… 12

1.3.2 Những biểu hiện về học tập của học sinh……… …13

1.3.3 Nguyên nhân học sinh học yếu ……… 14

1.4 Phương pháp giảng dạy nhằm nâng cao hứng thú và kết quả học tập hóa học cho HS ở Trung tâm GDTX……….16

1.5 Bài tập hóa học……….……19

1.5.1 Khái niệm……… 19

1.5.2 Tác dụng của bài tập hóa học trong dạy và học Hóa học……… 20

1.5.3 Vị trí của bài tập hóa học trong quá trình dạy học Hóa học ………….22

Trang 6

1.5.4 Xu hướng phát triển bài tập hóa học……….………22

1.5.5 Yêu cầu của một bài tập hoá học ……… ……23

1.6 Thực trạng sử dụng hệ thống bài tập hóa học vào dạy học ở Trung tâm GDTX……… ………23

1.6.1 Mục đích và phương pháp điều tra………23

1.6.2 Kết quả điều tra……….24

TIỂU KẾT CHƯƠNG I ………32

CHƯƠNG 2: TUYỂN CHỌN VÀ XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP CHƯƠNG AMIN - AMINOAXIT - PROTEIN HOÁ HỌC 12 ……… 33

2.1 Tổng quan chương: Amin - Aminoaxit - Protein……… ………33

2.1.1 Amin (1 tiết) ……….33

2.1.2 Amino axit (2 tiết) ……… ……33

2.1.3 Peptit và protein (2 tiết) ……… ………33

2.1.4 Luyện tập: Cấu tạo và tính chất của amin, amino axit và protein (1 tiết)

……….……33

2.2 Một số điểm lưu ý khi giảng dạy chương Amin - Amino axit - Protein”

……….33

2.2.1 Mục tiêu của chương ……… … 33

2.2.2 Giảng dạy về Amin……… ……35

2.2.3 Giảng dạy về Amino axit……… ………36

2.2.4 Giảng dạy về peptit và protein……… …… 36

2.2.5 Chuẩn kiến thức kĩ năng cần đạt……… 37

2.3 Cơ sở tuyển chọn và xây dựng hệ thống bài tập cho HS ở Trung tâm GDTX……… … 39

2.3.1 Theo cấu trúc chương trình sách giáo khoa……… ……39

2.3.2 Theo năng lực nhận thức của học sinh ……… ……39

2.3.3 Theo dạng bài tập ……… ………39

2.4 Nguyên tắc tuyển chọn và xây dựng hệ thống bài tập hóa học cho HS Trung tâm GDTX………39

Trang 7

2.4.1 Hệ thống bài tập phải góp phần thực hiện mục tiêu môn học .39

2.4.2 Hệ thống bài tập phải đảm bảo tính chính xác, khoa học 39

2.4.3 Hệ thống bài tập phải đảm bảo tính hệ thống, tính đa dạng 40

2.4.4 Hệ thống bài tập phải phù hợp với mức độ nhận thức 40

2.4.5 Hệ thống bài tập phải mở rộng kiến thức, vốn hiểu biết của HS 40

2.4.6 Hệ thống bài tập phải phát triển năng lực nhận thức, rèn luyện kỹ năng hóa học cho HS……… 41

2.5 Quy trình lựa chọn và xây dựng hệ thống bài tập……… 41

2.6 Hệ thống câu hỏi và bài tập chương Amin - Amino axit - Protein theo mức độ nhận thức ……… ………42

2.6.1 Các bài t p c p đ bi t .42

2.6.2 Các bài tập dạng hiểu……… 47

2.6.3 Các bài tập dạng vận dụng……… 54

2.7 Áp dụng hệ thống bài tập vào giảng dạy các bài cụ thể trong chương amin, amino axit và protein……… 67

2.7.1 Giáo án số 1: Bài 9: Amin……… ………67

2.7.2 Giáo án số 2: Bài 10: Amino axit………79

2.7.3 Giáo án số 3: Bài 11: Peptit và protein ……… 88

2.7.4 Giáo án số 4: Bài 12 Luyện tập: Cấu tạo và tính chất của amin, amino axit và protein ………97

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2……… 102

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM……… 103

3.1 Mục đích thực nghiệm……… ………103

3.2 Nhiệm vụ của thực nghiệm ……… ……103

3.3 Phương pháp thực nghiệm……… 103

3.3.1 Chọn đối tượng, địa bàn thực nghiệm và thời gian thực nghiệm 103

3.3.2 Chọn bài thực nghiệm……… 103

3.3.3 Tiến hành thực nghiệm sư phạm……….…104

Trang 8

3.4 Đánh giá kết quả thực nghiệm………105

3.4.1 Phương pháp xử lý kết quả thực nghiệm……… ……105

3.4.2 Kết quả thực nghiệm……… ………105

3.4.3 Đánh giá kết quả thực nghiệm……….………111

3.4.3.1 Nhận xét định tính……… 111

3.4.3.2 Nhận xét định lượng……… 112

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3……… ……113

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ……….……114

TÀI LIỆU THAM KHẢO……… …115

PHỤ LỤC……… 117

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Ý kiến của GV về nguyên nhân HS học yếu môn Hoá 24

Bảng 1.2: Ý kiến của GV về những khó khăn khi dạy bài truyền thụ kiến thức mới……… …………25

Bảng 1.3: Ý kiến của GV về những khó khăn khi dạy ở Trung tâm GDTX ……… 26

Bảng 1.4: Ý kiến của GV về giải pháp nâng cao hiệu quả dạy học Hóa học ở Trung tâm GDTX ……… 27

Bảng 1.5: Ý kiến của GV về bài tập dành cho HS trung bình - yếu trong SGK và SBT hiện nay……… ……28

Bảng 1.6: Ý kiến của HS về hứng thú học tập khi học lý thuyết mới 29

Bảng 1.7: Ý kiến của HS về bài tập trong SGK và SBT 30

Bảng 1.8: Ý kiến của HS về nguyên nhân không giải được bài tập Hóa học

……….30

Bảng 3.1 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm sư phạm ………103

Bảng 3.2 Kết quả bài kiểm tra số 1……… 106

Bảng 3.3 Phân phối tần số, tần suất và tần suất luỹ tích bài kiểm tra số 1 106

Bảng 3.4 Kết quả bài kiểm tra số 2……… 107

Bảng 3.5 Phân phối tần số, tần suất và tần suất luỹ tích bài kiểm tra số 2 107

Bảng 3.6 Kết quả bài kiểm tra số 3……… 108

Bảng 3.7 Phân phối tần số, tần suất và tần suất luỹ tích bài kiểm tra số 3 108

Bảng 3.8 Tổng hợp phân loại kết quả học tập của học sinh qua 3 bài kiểm tra

……… ………111

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

Hình 3.1 Đồ thị đường luỹ tích bài kiểm tra số 1……… ………109 Hình 3.2 Đồ thị đường luỹ tích bài kiểm tra số 2……… ……109 Hình 3.3 Đồ thị đường luỹ tích bài kiểm tra số 3 ……… …… 110

Trang 11

chỉ đạo đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo về đổi mới phương

pháp dạy và học: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập

đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học”

Đối với bộ môn Hoá học, một trong những phương pháp dạy học tích cực là sử dụng bài tập hoá học trong hoạt động dạy và học ở trường phổ thông Bài tập hoá học đóng vai trò vừa là nội dung, vừa là phương tiện để chuyển tải kiến thức, phát triển tư duy và phát triển kỹ năng thực hành bộ môn một cách hiệu quả nhất Bài tập hoá học không chỉ củng cố nâng cao kiến thức, vận dụng kiến thức mà còn là phương tiện để tìm tòi, hình thành kiến thức mới Rèn luyện tính tích cực, trí thông minh sáng tạo cho học sinh, giúp các

em có hứng thú học tập Chính điều này đã làm cho bài tập hoá học ở phổ thông giữ một vai trò quan trọng trong việc dạy và học Hóa học, đặc biệt là sử dụng hệ thống bài tập để phát huy tính tích cực của học sinh trong quá trình dạy học

Dạy học là một nghệ thuật Nếu đối tượng của quá trình dạy học là học sinh khá, giỏi thì việc dạy học yêu cầu người giáo viên phải có trình độ chuyên môn sâu rộng Nhưng, nếu đối tượng là học sinh trung bình – yếu thì

Trang 12

việc dạy học lại đặt ra cho người giáo viên nhiều thách thức hơn, đặc biệt là

về năng lực sư phạm Đó là sự khéo léo trong việc lôi cuốn học sinh vào bài học, giúp học sinh nắm được cốt lõi của bài học, có được hệ thống lý thuyết

và bài tập phù hợp, hiểu biết về tâm lý, hoàn cảnh của từng học sinh, sự kiên nhẫn, lòng yêu trẻ làm cho học sinh yêu thích và tích cực học tốt môn học

Xuất phát từ việc dạy và học Hoá học ở một Trung tâm GDTX - nơi tôi đang công tác - có tỉ lệ học sinh trung bình và yếu rất cao, những giáo viên như tôi gặp rất nhiều khó khăn Giáo viên gặp khó khăn trong việc xác định nội dung cần giảng dạy khi lỗ hổng kiến thức của học sinh ở lớp trước quá nhiều, khả năng tư duy hạn chế dẫn đến tâm lý chán nản, lười học cộng với sự thiếu quan tâm động viên của gia đình và xã hội Điều đó càng khó khăn và lúng túng hơn đối với các giáo viên trẻ khi mà kinh nghiệm dạy học còn hạn chế

Để có một hệ thống câu hỏilý thuyết và bài tập phù hợp với đối tượng học sinh trung bình – yếu ở các Trung tâm GDTX, giúp giáo viên tham khảo nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy, thiết nghĩ là việc làm cần thiết Vì vậy, tôi

đã lựa chọn đề tài: “Nâng cao hứng thú và kết quả học tập cho học sinh ở Trung tâm giáo dục thường xuyên thông qua hệ thống bài tập chương Amin - Amino axit - Protein” làm đề tài choluận văn thạc sĩ của mình

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lý thuyết về việc nâng cao hứng thú và kết quả học tập của học sinh Xây dựng và tuyển chọn hệ thống bài tập chương “Amin - Amino axit - Protein” thuộc chương trình Hoá học lớp 12 hỗ trợ việc dạy và học cho học sinh ở Trung tâm GDTX, giúp học sinh nắm vững kiến thức căn bản về lý thuyết và có kỹ năng giải các bài tập cơ bản, kích thích hứng thú học tập cho học sinh, góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học môn Hoá học

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lí luận:

+ Hứng thú, hứng thú học tập, kết quả học tập của học sinh

Trang 13

+ Nghiên cứu về học tập Hóa học của học sinh ở Trung tâm GDTX + Biện pháp nâng cao hứng thú và kết quả học tập Hóa học cho học sinh ở Trung tâm GDTX

+ Bài tập Hóa học: Khái niệm, tác dụng của bài tập Hóa học, vị trí của bài tập Hóa học trong quá trình dạy học, xu hướng phát triển bài tập Hóa học, yêu cầu của một bài tập Hoá học

- Nghiên cứu cơ sở thực tiễn: Điều tra thực trạng sử dụng hệ thống bài tập hóa học vào dạy học ở Trung tâm GDTX

- Nội dung và phương pháp dạy học chương “Amin - Amino axit – Protein” môn Hoá học lớp 12 - THPT

- Tuyển chọn và xây dựng hệ thống bài tập chương “Amin - Amino axit

- Protein” Hóa học lớp 12 dùng cho học sinh Trung tâm GDTX

- Thiết kế các bài lên lớp có sử dụng hệ thống bài tập đã xây dựng và tuyển để dạy học cho học sinh Trung tâm GDTX môn Hoá lớp 12

- Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra và đánh giá hiệu quả của hệ thống bài tập đã xây dựng

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học Hoá học ở Trung tâm Giáo

dục thường xuyên

- Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống bài tập chương “Amin - Amino axit

- Protein”, Hóa học 12 nhằm nâng cao hứng thú và kết quả học tập cho học sinh yếu môn Hoá

5 Giả thuyết khoa học

Nếu tuyển chọn được một hệ thống bài tập cơ bản tốt, kết hợp với phương pháp dạy học phù hợp, giáo viên sẽ giúp học sinh ở Trung tâm GDTX giải quyết được những khó khăn trong việc học Hoá, kích thích được hứng thú học tập của học sinh, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục

6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

Trang 14

Nội dung lý thuyết và bài tập Hoá học được giới hạn trong chương

“Amin - Amino axit - Protein” Hóa học 12

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Cung cấp một cách rõ ràng tầm quan trọng và biện pháp nâng cao hứng thú học tập Nguyên nhân học sinh học yếu môn Hóa từ đó đề xuất biện pháp nhằm nâng cao hứng thú và kết quả học tập cho học sinh ở Trung tâm giáo dục thường xuyên

- Xây dựng và tuyển chọn hệ thống bài tập theo các cấp độ nhận thức nhằm nâng cao hiệu quả dạy học chương “Amin - Amino axit - Protein” Hóa học 12

- Hệ thống bài tập trên có thể được áp dụng rộng rãi với các Trung tâm giáo dục thường xuyên và đồng thời đặt cơ sở để phát triển tương tự ở các nội dung khác trong chương trình hoá học phổ thông

8 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp nghiên cứu lí luận: Phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá

lý thuyết và xây dựng hệ thống bài tập

+ Nghiên cứu các tài liệu lí luận (triết học, tâm lí học, giáo dục học,

lí luận dạy học môn Hoá) có liên quan đến đề tài

+ Nghiên cứu SGK, phân phối chương trình, sách tham khảo, các tài liệu có liên quan đến chương “Amin - Amino axit - Protein”

- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

Điều tra cơ bản để tìm hiểu thực trạng việc dạy và học Hoá học ở các Trung tâm GDTX có tỉ lệ học sinh trung bình - yếu cao, khả năng lĩnh hội kiến thức để xây dựng và tuyển chọn bài tập phối hợp với các phương pháp dạy học phù hợp

- Thực nghiệm sư phạm:

Nhằm kiểm nghiệm thực tiễn một phần tính khả thi và hiệu quả của đề tài nghiên cứu

Trang 15

9 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn dự kiến được trình bày theo 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài

Chương 2: Tuyển chọn và xây dựng hệ thống bài tập chương “Amin - Aminoaxit - Protein” Hoá học 12 dùng cho học sinh Trung tâm GDTX

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 16

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Hứng thú học tập

1.1.1 Hứng thú và hứng thú học tập

Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó, nó có

ý nghĩa đối với cuộc sống và có khả năng mang lại khoái cảm trong quá trình hoạt động của cá nhân đó

Hứng thú biểu hiện ở sự tập trung cao độ, ở sự say mê, hấp dẫn bởi nội dung hoạt động, ở bề rộng và chiều sâu của hứng thú

Hứng thú làm nảy sinh khát vọng hành động, làm tăng hiệu quả của hoạt động nhận thức, tăng sức làm việc

Từ khái niệm về hứng thú ta có thể suy ra được khái niệm về hứng thú học tập: Hứng thú học tập là thái độ đặc biệt của chủ thể đối với đối tượng của hoạt động học tập, vì sự cuốn hút về mặt tình cảm và ý nghĩa thiết thực của nó trong đời sống cá nhân

1.1.2 Tầm quan trọng và biện pháp nâng cao hứng thú đối với hoạt động học tập

Hứng thú thể hiện trước hết ở sự tập trung chú ý cao độ, sự say mê của chủ thể hoạt động Hứng thú gắn liền với tình cảm của con người, nó là động

cơ thúc đẩy con người tham gia tích cực vào hoạt động đó Trong bất cứ công việc gì, nếu có hứng thú làm việc con người sẽ có cảm giác dễ chịu với hoạt động, nó là động cơ thúc đẩy con người tham gia tích cực và sáng tạo hơn Ngược lại, nếu không có hứng thú, dù là hành động gì cũng sẽ không đem lại kết quả cao Đối với các hoạt động nhận thức, sáng tạo, hoạt động học tập, khi không có hứng thú sẽ làm mất đi động cơ học tập, kết quả học tập sẽ không cao, thậm chí xuất hiện cảm xúc tiêu cực

Trang 17

Muốn nâng cao hứng thú trước hết phải hình thành, giáo dục động cơ học tập, nhu cầu học tập đúng đắn Động cơ học tập tốt không tự dưng có mà cần phải được xây dựng, hình thành trong quá trình học sinh đi sâu chiếm lĩnh tri thức với sự hướng dẫn của thầy, cô giáo Động cơ học tập là muôn hình muôn

vẻ, muốn phát động động cơ học tập đúng đắn, động cơ chiếm lĩnh tri thức thì trước hết cần phải khơi dậy ở các em nhu cầu nhận thức, nhu cầu chiếm lĩnh đối tượng học tập vì nhu cầu chính là nơi khơi nguồn của tính tự giác, tính tích cực học tập

Mặt khác, hành vi của con người phụ thuộc vào nhiều khả năng khách quan, nhất là ở những học sinh có nhân cách chưa hình thành ổn định, chưa có mục đích sống chủ đạo, cho nên môi trường khách quan cần có những điều kiện thuận lợi, là mảnh đất màu mỡ để ươm mầm cho hứng thú phát triển như: thư viện phong phú các đầu sách, phòng thí nghiệm, thực hành đầy đủ, những kỳ vọng, sự động viên của thầy cô và gia đình

Hứng thú học tập của học sinh được tăng cường phần lớn chịu sự ảnh hưởng bởi giáo viên Do đó, giáo viên cần không ngừng trau dồi kỹ năng, phẩm chất đạo đức, nghề nghiệp, cải tiến phương pháp giảng dạy, đảm bảo việc truyền thụ tri thức ngày càng chính xác, hấp dẫn, có chất lượng Giáo viên cần giúp cho học sinh thấy được ý nghĩa và vai trò của các kiến thức môn học đối với cuộc sống; giúp học sinh biết cách học thích hợp đối với mỗi

bộ môn, tăng cường thời lượng, chất lượng thực hành cho mỗi bộ môn, nắm vững lý thuyết, luôn có sự vận dụng các kiến thức đã học vào cuộc sống và giải quyết các tình huống trong đời sống theo các khía cạnh khác nhau Cần

có những bài giảng nêu vấn đề, những giờ thảo luận trên lớp, những trò chơi mang tính chất giáo dục để kích thích hứng thú học tập cho các em Quá trình kích thích hứng thú không chỉ diễn ra ở bài giảng này hay bài giảng khác mà cần phải diễn ra trong suốt quá trình Do đó, trong quá trình giảng dạy, người giáo viên cần tạo ra các hoàn cảnh nhằm kích thích hứng thú học tập của học sinh, tăng tính tích cực của trí tuệ

Trang 18

Trong giảng dạy, giáo viên cần chỉ ra được cái mới, cái phong phú, nhiều hình nhiều vẻ, tính chất sáng tạo và triển vọng trong hoạt động học tập để tạo

ra hứng thú vững chắc cho học sinh trong quá trình học tập

Về phía nhà trường, thường xuyên tổ chức các hoạt động học tập, sinh hoạt mang tính tập thể Điều đó sẽ kích thích sự hăng hái thi đua, cạnh tranh lành mạnh Tổ chức các buổi ngoại khóa, trò chuyện, giao lưu giữa thầy cô – học sinh, học sinh – học sinh nhằm khắc phục những khó khăn gặp phải trong quá trình học tập Từ đó, tìm thấy tiếng nói chung, sự đồng thuận giữa các học sinh để các em cùng giúp nhau học tốt hơn

1.2 Kết quả học tập của học sinh

1.2.1 Khái niệm kết quả học tập của học sinh

Trong cuốn “Cơ sở lý luận của việc đánh giá chất lượng học tập của

HS phổ thông”, tác giả Hoàng Đức Nhuận và Lê Đức Phúc đã đưa ra cách hiểu về kết quả học tập như sau: “Kết quả học tập là một khái niệm thường được hiểu theo hai quan niệm khác nhau trong thực tế cũng như trong khoa học

(1) Đó là mức độ thành tích mà một chủ thể học tập đã đạt, được xem xét trong mối quan hệ với công sức, thời gian đã bỏ ra, với mục tiêu xác định

(2) Đó còn là mức độ thành tích đã đạt của một học sinh so với các bạn học khác

Theo quan niệm thứ nhất, kết quả học tập là mức thực hiện tiêu chí

Với quan niệm thứ hai, đó là mức thực hiện chuẩn

Theo Nguyễn Đức Chính thì: “Kết quả học tập là mức độ đạt được kiến thức, kĩ năng hay nhận thức của người học trong một lĩnh vực nào đó (môn học)

Theo Trần Kiều, “dù hiểu theo nghĩa nào thì kết quả học tập cũng đều thể hiện ở mức độ đạt được các mục tiêu của dạy học, trong đó bao gồm 3 mục tiêu lớn là: nhận thức, hành động, xúc cảm

Trang 19

Với từng môn học thì các mục tiêu trên được cụ thể hóa thành các mục tiêu về kiến thức, kỹ năng và thái độ”

Theo Norman E Gronlund, trong cuốn “Measurement and Evaluation

in Teaching”, ông đã bàn đến kết quả học tập như sau: “Mục đích của giáo dục là sự tiến bộ của HS Đây chính là kết quả cuối cùng của quá trình học tập nhằm thay đổi hành vi của HS

Khi nhìn nhận mục tiêu giáo dục theo hướng kết quả học tập, cần phải lưu tâm rằng chúng ta đang đề cập đến những sản phẩm của quá trình học tập chứ không phải bản thân quá trình đó

Mối liên hệ giữa mục tiêu giáo dục (sản phẩm) và kinh nghiệm học tập (quá trình) được thiết kế nhằm hướng tới những thay đổi hành vi theo như mong muốn

1.2.2 Mục đích đánh giá kết quả của học sinh

Thứ nhất, làm sáng tỏ mức độ đạt được và chưa đạt được về các mục

tiêu dạy học, tình trạng kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ của HS so với yêu cầu của chương trình; phát hiện những sai sót và nguyên nhân dẫn tới những sai sót đó, giúp HS điều chỉnh hoạt động học tập của mình

Thứ hai, công khai hóa các nhận định về năng lực, kết quả học tập của

mỗi em HS và cả tập thể lớp, tạo cơ hội cho các em có kĩ năng tự đánh giá, giúp các em nhận ra sự tiến bộ của mình, khuyến khích động viên và thúc đẩy việc học tập ngày một tốt hơn

Thứ ba, giúp GV có cơ sở thực tế để nhận ra những điểm mạnh, điểm

yếu của mình, tự điều chỉnh, hoàn thiện hoạt động dạy, phấn đấu không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học

Như vậy, việc đánh giá kết quả học tập của HS nhằm:

- Nhận định thực trạng, định hướng điều chỉnh hoạt động học tập

của HS

- Tạo điều kiện nhận định thực trạng, định hướng điều chỉnh hoạt động

giảng dạy của GV.”

Trang 20

Theo Trần Kiều: “có thể coi đánh giá kết quả học tập của HS là xác định mức độ đạt được về kiến thức, kỹ năng và thái độ của người học đối chiếu với mục tiêu của chương trình môn học”

Theo Hoàng Đức Nhuận và Lê Đức Phúc, “Đánh giá kết quả học tập là quá trình thu thập và xử lý thông tin về trình độ, khả năng thực hiện mục tiêu học tập của HS, về tác động và nguyên nhân của tình hình đó nhằm tạo cơ sở cho những quyết định sư phạm của GV và nhà trường, cho bản thân HS để họ học tập ngày một tiến bộ hơn.”

Từ những nghiên cứu trên, chúng tôi cho rằng: “Đánh giá kết quả học tập của HS là đưa ra những nhận định, những phán xét về mức độ thực hiện mục tiêu giảng dạy đã đề ra của GV Từ đó, đưa ra các giải pháp điều chỉnh phương pháp dạy của thầy và phương pháp học của trò, các khuyến nghị góp phần thay đổi các chính sách giáo dục”

1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả học tập môn Hoá học của học sinh

1.2.3.1 Yếu tố chủ quan: là yếu tố then chốt quyết định đến kết quả học tập môn Hóa học của HS Bao gồm các yếu tố sau:

Yếu tố tâm lí: Tâm lí của HS ảnh hưởng khá lớn đến kết quả học tập bộ

môn Hóa học HS có tâm trạng vui vẻ không chỉ tiếp thu được nhiều kiến thức (về số lượng) mà còn giúp HS nhớ lâu hơn (về chất lượng) Ngược lại, nếu HS bị stress, buồn phiền, lo âu thì hiệu quả của việc tiếp thu bài học là rất thấp, do đó ảnh hưởng xấu đến kết quả học tập Lòng ham mê học hỏi là một yếu tố tâm lí quan trọng giúp HS có động lực tự tìm tòi kiến thức, tự chiếm lĩnh tri thức HS có lòng ham mê học hỏi cảm thấy hứng thú với kiến thức, khiến cho quá trình tiếp thu kiến thức trở nên nhanh hơn và có hiệu quả hơn, dẫn đến đạt được kết quả học tập tốt hơn Ngược lại với lòng ham mê học hỏi

là không có mục đích học (không thấy được ý nghĩa của việc học) Yếu tố tâm

lí này sẽ làm HS mất định hướng, không thấy được ý nghĩa của việc tiếp thu

Trang 21

kiến thức, do đó kết quả học tập của những HS này sẽ không cao (đây là tâm

lý chung của hầu hết học viên ở Trung tâm Giáo dục thường xuyên)

Yếu tố tư duy: Bên cạnh yếu tố tâm lí thì yếu tố tư duy cũng là một

trong những yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao kết quả học tập cho học sinh Những HS có tư duy tốt sẽ có những thao tác tư duy tốt (phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa…) Tư duy tốt sẽ giúp HS liên kết được các kiến thức lại với nhau thành một hệ thống, điều này sẽ giúp HS nhớ lâu hơn và giải quyết các bài tập hóa học một cách nhanh chóng và chính xác hơn Ngược lại, những HS có tuy duy kém như HS Trung tâm GDTX sẽ không thấy được tính hệ thống của kiến thức, đối với HS đó kiến thức là những mảng rời rạc Do đó, việc tiếp thu kiến thức trở nên khó khăn dẫn đến kết quả học tập cũng bị ảnh hưởng theo

Phương pháp học tập: Phương pháp học tập có thể được xem là chìa

khóa để mở được kho tàng kiến thức HS có phương pháp học tập tốt biết cách lập kế hoạch học tập, thấy được nội dung kiến thức nào cần rèn luyện nhiều, nội dung nào cần rèn luyện ít, nội dung nào cần phải hiểu, nội dung nào cần phải học thuộc lòng… Ngược lại, những HS không có phương pháp học tập tốt sẽ cảm thấy rất khó khăn trong việc đánh giá những kiến thức đã học, kiến thức nào là quan trọng, chủ đạo, kiến thức nào là kiến thức vận dụng… Do đó, những học sinh có phương pháp học tập tốt thì kết quả học tập

sẽ tốt

1.2.3.2 Yếu tố khách quan:

Đặc thù bộ môn Hóa học: Bộ môn Hóa học là một môn thực nghiệm,

nên việc dạy và học Hóa học gắn liền với thực nghiệm Do đó, một số kiến thức hóa học được xây dựng hoàn toàn trên thực nghiệm chứ không thể nào

dự đoán được Ví dụ như: thuyết lai hóa, các công thức cấu tạo, độ dài liên kết, momen lưỡng cực… với điều kiện của nước ta thì HS chỉ được học trên lí thuyết chứ ít được thực hành thí nghiệm Do đó, ảnh hưởng không nhỏ đến việc tiếp thu kiến thức bộ môn Hóa học Những bài tập về nhận biết chất luôn

Trang 22

là bài tập gây khó khăn cho HS phổ thông, vì tất cả bài tập nhận biết đều chỉ được thực hành trên giấy chứ không được thực hành trong phòng thí nghiệm Bên cạnh đó, các công thức cấu tạo phân tử hợp chất hữu cơ đều được HS chấp nhận một cách máy móc, chứ không được nghiên cứu trực tiếp và cụ thể… Chính những yếu tố đặc thù của bộ môn Hóa học đã ảnh hưởng khá nhiều đến kết quả học tập của HS

Phương tiện học tập: Hầu hết các trường phổ thông trong cả nước đều

được trang bị phòng thí nghiệm hóa học Tuy nhiên, đa số các phòng thí nghiệm thì chưa đạt yêu cầu Đặc biệt là các trường ở các huyện vùng sâu vùng xa hầu như không có phòng thí nghiệm hóa học hoặc có mà không sử dụng được Hóa chất được giao về trường không chỉ thiếu về số lượng mà còn không đảm bảo về chất lượng, không thực hiện được đầy đủ các bài thực hành thí nghiệm trong sách giáo khoa Ở một số trường, phòng thí nghiệm được sử dụng chung nhiều môn như: Hóa, Lý, Sinh Những tác động của phương tiện học tập HS có thể khắc phục được nhưng cũng ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả học tập của HS

Ảnh hưởng của giáo viên đứng lớp: GV là người truyền thụ, hoặc là

người hướng dẫn cho HS chiếm lĩnh kiến thức Do đó, một GV có năng lực chuyên môn vững vàng, có phương pháp dạy học tốt sẽ gây hứng thú học tập cho HS, đồng thời giúp HS phát triển năng lực nhận thức, năng lực sáng tạo

và phát triển tư duy của HS Ngược lại, một người GV có năng lực chuyên môn kém sẽ làm cho HS mất lòng tin, không giúp được HS hoàn thiện các kĩ năng cũng như năng lực nhận thức, năng lực sáng tạo Một người GV có năng lực chuyên môn tốt nhưng phương pháp dạy học không tốt thì sẽ không gây hứng thú cho HS học tập cũng như không kích thích được lòng đam mê học tập ở HS Do đó, người GV đứng lớp có một tầm ảnh hưởng quan trọng đến kết quả học tập của HS

1.3 Một vài vấn đề về dạy và học môn Hóa học ở Trung tâm Giáo dục thường xuyên

Trang 23

1.3.3 Những khó khăn khi giảng ở Trung tâm GDTX

Việc dạy học ở Trung tâm GDTX là việc làm đòi hỏi nhiều công sức,

sự yêu thương, tận tụy và cố gắng của GV Công tác này thường gặp một số khó khăn sau:

- Về chương trình: không có chương trình dành riêng cho đối tượng này,

các em sử dụng chung SGK với HS THPT Đặc biệt, với HS lớp 12, GV phải

bù đắp thật đầy đủ không chỉ về kiến thức hổng mà còn phương pháp, các dạng toán cơ bản để chuẩn bị cho các kỳ thi quan trọng

- Về phía lãnh đạo nhà trường: rất khó khăn để phối hợp với cha mẹ

HS, phần lớn phụ huynh ít quan tâm đến việc học của con cái, phó mặc cho

GV và nhà trường

- Về phía giáo viên: Hầu hết GV đều phải mất rất nhiều công sức, tâm

huyết, thời gian, rất khó khăn để tìm ra phương pháp dạy học phù hợp

- Về phía HS: Chậm hiểu, dễ nản lòng, không hợp tác, khó tập trung, 1.3.2 Những biểu hiện về học tập của học sinh

1.3.2.1 Về kiến thức

HS mất căn bản về hóa trị, kí hiệu hóa học, số oxi hóa, tính tan, TCHH

đặc trưng của kim loại, phi kim, axit, bazơ, muối

1.3.2.2 Về kỹ năng

HS gặp nhiều khó khăn về cân bằng phản ứng oxi hóa - khử, viết phản ứng trao đổi, tính toán (số mol, nồng độ,…), phương pháp giải một số dạng toán cơ bản (toán hỗn hợp, hiệu suất, xác định tên kim loại, dư - thiếu,…) Diễn đạt bằng ngôn ngữ khó khăn, lúng túng trong việc sử dụng ngôn ngữ hóa học (thuật ngữ, kí hiệu)

1.3.2.3 Về phương pháp học tập

HS ở Trung tâm GDTX chưa tìm được phương pháp học tập phù hợp

và hiệu quả, thể hiện:

- Cầm vở học thuộc lòng từng câu, từng chữ

- Chưa nắm vững lý thuyết đã vội làm bài tập

Trang 24

- Chưa có sự liên kết các kiến thức đã học thành một thể thống nhất

- Sự chú ý, óc quan sát, trí tưởng tượng còn yếu; khả năng phân tích, tổng hợp hạn chế

1.3.2.4 Biểu hiện bên ngoài

- Thái độ thờ ơ với việc học, chán nản: trong lớp hay nói chuyện riêng, làm việc riêng, không làm bài tập về nhà, không học lý thuyết, ghi chép cẩu thả, thậm chí không ghi chép bài

- Khả năng tiếp thu bài chậm so với HS bình thường

- Đi học không chuyên cần: nghỉ học không phép, bỏ tiết

- Làm bài không cẩn thận, sai nhiều lỗi

- Có hành vi vô lễ với thầy cô

1.3.2.5 Điểm số

- Kết quả các bài kiểm tra thường không cao

- Điểm trung bình các môn tự nhiên liên quan như Toán, Lý không cao

- Kết quả môn Hóa học ở các năm học trước thấp

1.3.3 Nguyên nhân học sinh học yếu

1.3.3.1 Từ phía giáo viên và nhà trường

Về phía giáo viên

- Một số GV còn yếu kém về năng lực và trình độ chuyên môn nghiệp

vụ, việc đổi mới PPDH còn mờ nhạt, chất lượng bài lên lớp chưa tốt

- Việc sử dụng đồ dùng dạy học trực quan, tranh ảnh, SGK, thí nghiệm còn hạn chế, chưa khai thác hết tác dụng của ĐDDH

- Có những GV chưa nắm chắc yêu cầu kiến thức của từng bài Dạy học còn dàn trải, nâng cao kiến thức một cách tùy tiện

- Tốc độ giảng dạy kiến thức mới và luyện tập còn nhanh kiến cho HS không theo kịp

- Một số GV chưa thật sự toàn tâm, toàn ý với nghề còn bị chi phối bởi nhiều vấn đề của cuộc sống, chưa thật sự giúp đỡ HS thoát khỏi yếu kém

Trang 25

- Chưa động viên tuyên dương kịp thời khi HS có một biểu hiện tích cực Chưa quan tâm đến tất cả HS trong lớp, GV chỉ chú trọng vào các em HS khá và coi đây là chất lượng chung của lớp

- Một số GV còn thiếu nghệ thuật cảm hóa HS, không gây được hứng thú để HS thích học Hóa

- Một số GV chưa coi trọng việc đánh giá chất lượng thực của HS, còn hiện tượng chạy theo thành tích

- Còn có GV đối xử không công bằng, trù dập HS để lại những dấu ấn không tốt trong lòng HS, khiến HS không có hứng thú học tập

Về phía nhà trường

- Tác dụng không mong muốn của công tác thi đua: căn cứ đánh giá thi đua trong giáo dục là dựa vào chất lượng dạy học, nhưng hiện chưa có phương pháp để đánh giá một cách khách quan

- Đặc trưng của môn Hoá là vừa lý thuyết vừa thực nghiệm, việc nghiên cứu về cấu tạo nguyên tử, liên kết hoá học, các PTHH còn trừu tượng, cần sự

hỗ trợ của các phương tiện dạy học Nhưng điều kiện cơ sở vật chất của các nhà trường còn hạn chế

- Đa số các lớp học đều có số lượng lớn HS 40 đến 55 HS

- Sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường còn thiếu chặt chẽ, chưa đồng bộ Kênh cung cấp thông tin cung cấp dữ liệu từ nhà trường đến phụ huynh HS và ngược lại còn hạn chế

1.3.3.2 Từ phía gia đình

- Trong hoàn cảnh hiện nay, nhiều phụ huynh bận rộn với cuộc sống mưu sinh, chưa quan tâm đúng mức đến việc học tập cũng như sự phát triển

về thể chất và tinh thần của con em mình, phó mặc cho nhà trường

- Nhiều gia đình còn gặp khó khăn về kinh tế hoặc đời sống tình cảm khiến HS không chú tâm vào việc học tập

Trang 26

- Một số cha mẹ quá nuông chiều con cái, khi học sinh lười học, xin nghỉ để làm việc riêng (như đi chơi, đi du lịch ) cha mẹ dễ dàng đồng ý, lâu dần HS mất kiến thức cơ bản, không theo kịp bạn bè, dẫn đến chán học

- Một số phụ huynh rất quan tâm đến việc giúp đỡ con cái học tập nhưng lại lúng túng trong việc đưa ra phương pháp phù hợp

1.3.3.3 Từ phía xã hội

- Tác động từ mặt trái của kinh tế thị trường và quá trình hội nhập quốc

tế, ảnh hưởng của một bộ phận thanh niên bỏ học, tác động của game online, những tác động xấu của internet do không có định hướng đúng đắn

1.3.3.4 Từ phía bạn bè

Bước vào tuổi vị thành niên, bạn bè có một vai trò quan trọng HS dễ bị tác động từ bạn bè, từ cái tốt (cố gắng học tập, chơi thể thao, hoạt động Đoàn ), đến cái xấu (sự đua đòi, hút thuốc, đua xe, bỏ học, chơi điện tử, bạo lực học đường ) HS rất sợ bị bạn bè “tẩy chay” khỏi nhóm nếu không hoà nhập theo

- Hoá học là môn khoa học tự nhiên, có mối liên quan nhất định với các môn Toán, Lý Nếu HS học yếu những môn này thì ít nhiều cũng ảnh hưởng đến kết quả học tập môn Hoá

- HS mất dần khả năng tự học, tự sáng tạo, tự đào sâu kiến thức Thực

tế cho thấy, hầu hết học sinh Trung tâm GDTX không hề biết tự học và chưa bao giờ tự học được

Trang 27

- Năng lực trí tuệ của một số HS còn hạn chế nên tiếp thu bài còn chậm, một số học sinh còn bị khuyết tật (khiếm thính, sức khoẻ yếu )

1.4 Phương pháp giảng dạy nhằm nâng cao hứng thú và kết quả học tập hóa học cho HS ở Trung tâm GDTX

Dạy cốt lõi, dạy lặp đi lặp lại các vấn đề cốt lõi

Khi giảng bài mới GV nên giảng các vấn đề cốt lõi, dạy lặp đi lặp lại các vấn đề cốt lõi, các kiến thức trọng tâm của bài

Tình trạng HS yếu kém ở các cơ sở GDTX có thể xem là một dạng “suy kiến thức” trầm trọng Các em không còn khả năng tiếp thu và “tiêu hóa”

những kiến thức mới Nguy hiểm hơn cả hiện nay đã có biến chứng tâm lý khiến các em chán học và buông xuôi tất cả

Vừa dạy vừa dỗ

Khi thấy có một chút tiến bộ GV nên động viên các em bằng điểm số

để dần dần lôi kéo cho HS thấy được thật sự Hóa học không quá khó

Nhắc lại các kiến thức cơ bản, trọng tâm có liên quan

Những kiến thức cơ bản, trọng tâm nhất thường giúp HS suy ra được những kiến thức khác và chính những kiến thức cơ bản, khác lại giúp đào sâu thêm kiến thức cơ bản nhất

Đan xen trong quá trình giảng bài mới nếu có các kiến thức liên quan

đến các kiến thức các em đã học thì GV nhắc lại giúp cho các em củng cố lại các kiến thức đã học có hệ thống

Kiểm tra bài tập thường xuyên

Kiểm tra bài tập thường xuyên là biện pháp hữu hiệu để giúp người GV

có thể phát hiện được các lỗ hổng kiến thức của HS Thông qua kiểm tra người GV thu được những tín hiệu ngược từ phía HS, giúp cho GV phát hiện kịp thời những thiếu sót trong việc tiếp thu kiến thức của từng HS và của cả lớp Thông qua kiểm tra giáo viên có thể đánh giá việc tiếp thu và nắm kiến thức; phát hiện những lệch lạc, phát hiện những lỗ hổng kiến thức và từ đó có

sự điều chỉnh kịp thời

Trang 28

Sửa kỹ bài tập trên lớp

Giáo viên nên sửa kỹ bài tập mẫu, cho HS làm các bài tương tự, thay đổi bài tập theo bài tập mẫu, bài tập xuôi ngược…

Hướng dẫn và bồi dưỡng học sinh phương pháp tự học

Hướng dẫn các em ghi sổ tay hóa học ghi nhận những vấn đề cốt lõi, những vấn đề đặc biệt, những vấn đề chưa rõ để hỏi lại GV

Mỗi HS tự lập dàn ý các bài đã học thành cột dọc để so sánh các bài với nhau, các kiến thức với nhau

Ở cuối mỗi chương, mỗi phần yêu cầu HS phải lập bảng so sánh, tổng hợp các vấn đề đã tiếp thu, sao thành 2 bảng nộp cho GV 1 bảng và giữ lại 1 bảng để GV chỉnh sửa, điều chỉnh cho HS lấy làm tư liệu học tập

Thường xuyên củng cố, kiểm tra xen kẽ với giảng bài mới trong tiến trình bài lên lớp hóa học

Khi củng cố, kiểm tra cần phối hợp điểm mạnh của cả hai phương pháp trắc nghiệm và tự luận Đồng thời phân hóa câu hỏi kiểm tra thành ba cấp độ: câu hỏi tái hiện, câu hỏi giải thích – minh họa, câu hỏi suy luận

Dạy học kết hợp với thực hành, thí nghiệm trực quan

Hóa học là bộ môn khoa học lí thuyết và thực nghiệm Kiến thức hóa học, đặc biệt là chất cụ thể rất gần gũi với đời sống các em Việc nắm chắc các kiến thức cơ bản không những giúp các em hoàn thành tốt việc học mà còn có ý nghĩa quan trọng trong đời sống thực tiễn Các em thấy được tầm quan trọng môn học, yêu thích và say mê nghiên cứu

Cho HS làm các bài tập tương tự

Việc cho HS làm các bài tập tương tự sẽ giúp HS nắm chắc kiến thức

và phương pháp giải các bài tập hơn

Phương pháp dạy học phải phù hợp với trình độ của từng loại HS

Chú ý phương pháp dạy học phải phù hợp với trình độ HS và phát huy được tính tích cực học tập của HS

Trang 29

HS càng khá thì càng cần nhiều sự giúp đỡ của giáo viên về phương pháp suy nghĩ để tự tìm ra kiến thức và vận dụng sáng tạo trong nhiều tình huống mới Nhưng đối với HS càng yếu thì càng cần nhiều sự giúp đỡ của giáo viên về phương pháp tiếp nhận kiến thức và tập vận dụng theo kiểu làm mẫu bắt chước

1.5 Bài tập hóa học

Phương pháp sử dụng bài tập là một trong những phương pháp được

sử dụng rộng rãi và đạt hiệu quả cao trong việc rèn luyện tư duy cho HS, giúp

HS khắc sâu kiến thức Trong dạy học Hóa học cũng như trong giảng dạy các môn học khác, ta có thể đánh giá GV đó có thành công hay không thông qua cách GV đó sử dụng hệ thống bài tập có phù hợp với HS hay không Mặt khác, ta cũng có thể đánh giá năng lực của HS thông qua cách HS giải quyết

hệ thống bài tập Có thể nói, quá trình học tập là một quá trình giải một hệ thống bài tập đa dạng Thực tế giảng dạy cho thấy, một bài giảng, một giờ lên lớp có hiệu quả, có đạt được các yêu cầu sư phạm nhằm nâng cao kết quả học tập của HS hay không phụ thuộc rất lớn vào hệ thống bài tập (bao gồm cả câu hỏi, bài toán, bài tập nhận thức …) có hệ thống, có khoa học, có biên soạn được tốt không

Trang 30

Về mặt lí luận dạy học Hóa học, bài tập bao gồm cả câu hỏi và bài toán

mà khi hoàn thành chúng HS nắm được hay hoàn thiện một tri thức hay một

kĩ năng nào đó, bằng cách trả lời miệng hay trả lời viết kèm theo thực nghiệm

Ở nước ta, sách giáo khoa và sách tham khảo hay các sách điện tử…, thuật ngữ “bài tập” được dùng theo quan niệm này Câu hỏi - đó là những bài làm

mà khi hoàn thành chúng, HS phải tiến hành một loạt hoạt động tái hiện Hình thức sử dụng các câu hỏi đó có thể là bằng lời, bằng các phiếu học tập hay bằng máy chiếu Nội dung câu hỏi có thể về kiến thức cơ bản, hoặc để rèn luyện kĩ năng hay về thực hành thí nghiệm Trong các câu hỏi, GV thường yêu cầu HS phải nhớ lại nội dung các định luật, các quy tắc, định nghĩa, các khái niệm, trình bày lại một mục trong sách giáo khoa hoặc các câu hỏi mang tính chất gợi ý, nêu vấn đề câu hỏi còn mang tính chất củng cố nhằm khắc sâu kiến thức cho HS Bài toán – đó là những bài làm mà khi hoàn thành chúng,

HS phải tiến hành một loạt hoạt động sáng tạo Hình thức sử dụng của bài toán thường được viết lên bảng hoặc được in thành các tài liệu Thông thường, bài toán được phân thành hai loại chính, đó là bài toán định lượng và bài toán định tính

Mục đích chính của việc sử dụng câu hỏi và bài toán mà một GV cần đạt tới đó là giúp HS nắm vững hay hoàn thiện một tri thức hoặc một kĩ năng Tóm lại, bài tập hóa học được xem như là một phương tiện dạy học then chốt trong quá trình dạy học Hóa học, dùng bài tập trong quá trình hình thành kiến thức, khai thác kiến thức, phát triển tư duy, hình thành kĩ năng, kĩ xảo cho người học và kiểm tra, đánh giá chất lượng học tập… Như vậy, có thể xem bài tập là một “vũ khí” sắc bén cho GV, HS trong quá trình dạy học

và sử dụng bài tập là một trong những yêu cầu quan trọng trong quá trình dạy học nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, và nâng cao kết quả học tập cho HS

1.5.2 Tác dụng của bài tập hóa học trong dạy và học Hóa học

Bài tập hóa học là một trong những phương tiện hiệu quả nhất để dạy

HS tập vận dụng các kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống, sản xuất và tập

Trang 31

nghiên cứu khoa học, biến những kiến thức đã tiếp thu được qua bài giảng thành kiến thức của chính mình Vì chỉ có vận dụng kiến thức vào giải bài tập,

HS mới nắm vững kiến thức một cách sâu sắc Kiến thức sẽ nhớ lâu khi được vận dụng thường xuyên, như M.A Đanilôp nhận định: "Kiến thức sẽ được nắm vững thực sự, nếu HS có thể vận dụng thành thạo chúng vào việc hoàn thành những bài tập lý thuyết và thực hành"

Bài tập hóa học là phương tiện để ôn tập, củng cố, hệ thống hóa kiến thức một cách tốt nhất, đồng thời giúp HS đào sâu, mở rộng kiến thức đã học một cách sinh động, phong phú Bài tập hóa học còn làm chính xác hóa các khái niệm, định luật đã học

Bài tập hóa học giúp phát triển tư duy, rèn luyện trí thông minh cho HS: một số vấn đề lý thuyết cần phải đào sâu mới hiểu được trọn vẹn, một số bài toán có tính chất đặc biệt, ngoài cách giải thông thường còn có cách giải độc đáo nếu HS có tầm nhìn sắc bén Khi GV yêu cầu HS giải bằng nhiều cách và tìm ra cách giải ngắn nhất, đó là một phương pháp rèn luyện trí thông minh cho HS

Bài tập hóa học phát huy tính tích cực, tự lực của HS và hình thành phương pháp học tập hợp lý

Bài tập hóa học còn được sử dụng như một phương tiện để nghiên cứu tài liệu mới (hình thành khái niệm, định luật), khi trang bị kiến thức mới, giúp

HS tích cực, chủ động, lĩnh hội kiến thức một cách sâu sắc và bền vững Bài tập hóa học là phương tiện để kiểm tra đánh giá kiến thức, kĩ năng của HS một cách chính xác

Bài tập hóa học có tác dụng giáo dục đạo đức, tác phong như rèn tính kiên nhẫn, trung thực, chính xác, khoa học và sáng tạo, phong cách làm việc khoa học (có tổ chức, có kế hoạch,…), nâng cao hứng thú học tập

Trên đây là một số tác dụng của bài tập hóa học, nhưng cần phải khẳng định rằng: Bản thân bài tập hóa học chưa có tác dụng gì cả Không phải một bài tập hóa học hay thì luôn có tác dụng tích cực! Vấn đề phụ thuộc chủ yếu

Trang 32

là người sử dụng, phải biết trao đúng đối tượng, phải biết cách khai thác triệt

để mọi khía cạnh có thể có của bài toán, để HS tự tìm ra lời giải Lúc đó bài tập hóa học mới thực sự có ý nghĩa, không phải chỉ dạy học để giải bài toán,

mà là dạy học bằng giải bài toán

1.5.3 Vị trí của bài tập hóa học trong quá trình dạy học Hóa học

Trong thực tế dạy học hiện nay, nhiều GV chưa nắm được vị trí của bài tập hóa học trong quá trình dạy học Họ thường sử dụng bài tập vào đầu giờ

để kiểm tra bài cũ hoặc cuối giờ học, cuối chương, cuối học kì để ôn tập và kiểm tra kiến thức Quan niệm đó chưa thật đúng, làm giảm tác dụng của bài tập khi dạy học GV có thể sử dụng bài tập ở bất cứ lúc nào, bất cứ nơi nào khi thấy nó có thể giúp mình thỏa mãn nhiệm vụ dạy học và mục đích dạy học Ngược lại, GV hoàn toàn có thể không sử dụng bài tập khi điều đó không cần thiết cho công việc giảng dạy của mình Bài tập hóa học không phải là nội dung nhưng nó chứa đựng nội dung dạy học Bài tập phải phù hợp với nội dung dạy học, với năng lực nhận thức của HS và phải phục vụ được ý đồ của

GV Khi ra một bài tập phải xác định đúng vị trí của nó để bài tập trở thành một bộ phận hữu cơ của hệ thống kiến thức cần truyền thụ

1.5.4 Xu hướng phát triển bài tập hóa học

Theo tác giả Nguyễn Xuân Trường [22, tr 16], xu hướng xây dựng bài tập hóa học hiện nay là: Loại bỏ những bài tập có nội dung hóa học nghèo nàn nhưng lại cần đến những thuật toán phức tạp để giải (hệ nhiều ẩn nhiều phương trình, bất phương trình, phương trình bậc 2, cấp số cộng, cấp số nhân…) Loại bỏ những bài tập có nội dung lắt léo, giả định rắc rối, phức tạp,

xa rời hoặc phi thực tiễn hóa học Tăng cường sử dụng bài tập thực nghiệm Tăng cường sử dụng bài tập trắc nghiệm khách quan Xây dựng bài tập mới

về bảo vệ môi trường và phòng chống ma túy Xây dựng bài tập mới để rèn luyện cho HS năng lực phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề Đa dạng hóa

Trang 33

các loại hình bài tập bằng hình vẽ, bài tập vẽ đồ thị, sơ đồ, bài tập lắp dụng cụ thí nghiệm…Xây dựng những bài tập có nội dung hóa học phong phú, sâu sắc, phần tính toán đơn giản, nhẹ nhàng Xây dựng và tăng cường sử dụng bài tập thực nghiệm định lượng

1.5.5 Yêu cầu của một bài tập hoá học

Xu hướng chung của bài tập hóa học trong giai đoạn hiện nay cần đảm bảo các yêu cầu sau:

Nội dung bài tập phải ngắn gọn, súc tích, không quá nặng về tính toán

mà cần tập trung vào rèn luyện và phát triển năng lực nhận thức, tư duy hóa học và hành động cho HS

Bài tập cung cấp kiến thức mới hoặc kiểm nghiệm các dự đoán khoa học Bài tập hóa học cần chú ý đến việc mở rộng kiến thức hóa học và các ứng dụng của hóa học vào thực tiễn cuộc sống, khai thác các nội dung: Hóa học với vấn đề kinh tế, môi trường, hóa học với các hiện tượng tự nhiên Bài tập hóa học định lượng không phức tạp về thuật toán mà phải chú trọng về nội dung hóa học và chứa đựng các phép tính được sử dụng nhiều trong tính toán hóa học

Sử dụng bài tập trắc nghiệm khách quan Chuyển dần dần các bài tập tự luận sang trắc nghiệm khách quan

1.6 Thực trạng sử dụng hệ thống bài tập hóa học vào dạy học ở Trung tâm GDTX

1.6.1 Mục đích và phương pháp điều tra

Để có căn cứ đánh giá thực trạng sử dụng bài tập nâng cao hứng thú và kết quả học tập cho HS ở các Trung tâm GDTX, đồng thời nhằm khẳng định tính quan trọng, cấp thiết và tính thực tế của đề tài, chúng tôi đã tiến hành:

Trang 34

+ Phát phiếu điều tra đến 11 giáo viên hiện đang giảng dạy ở 3 Trung tâm GDTX tại Thành phố Hà Nội là Trung tâm GDTX Đan Phượng, Trung tâm GDTX Thạch Thất, Trung tâm GDTX Sơn Tây

+ Phát phiếu điều tra cho 150 học viên ở 3 Trung tâm GDTX (Trung tâm GDTX Đan Phượng, Trung tâm GDTX Thạch Thất, Trung tâm GDTX Sơn Tây) để tìm hiểu việc học môn Hóa của các em và nguyên nhân dẫn đến học yếu môn Hóa của các em, từ đó để xây dựng hệ thống bài tập cho HS ở Trung tâm GDTX

+ Trò chuyện, đàm thoại với các GV và HS đang giảng dạy và học tập

ở các Trung tâm GDTX để biết cụ thể hơn về nguyên nhân học yếu hóa và những khó khăn các em gặp phải khi giải bài tập

+ Trò chuyện, đàm thoại với các GV tìm hiểu tình hình xây dựng hệ thống bài tập, cách nhìn nhận và suy nghĩ của GV về vai trò của bài tập hóa học trong dạy học, biện pháp xây dựng, tuyển chọn và sử dụng bài tập vào dạy học góp phần nâng cao hứng thú và kết quả học tập cho HS

1.6.2 Kết quả điều tra

1.6.2.1 Kết quả điều tra tham khảo ý kiến GV

Câu 1: Theo thầy/cô, nguyên nhân nào khiến HS học yếu môn Hoá?

Bảng 1.1: Ý kiến của GV về nguyên nhân HS học yếu môn Hoá

Thiếu thốn điều kiện học tập (sách, vở ) 5 45,5

Có nhiều loại hình vui chơi, giải trí 7 63,6

Tinh thần trách nhiệm của GV dạy trước đó 6 54,5

Trang 35

Bị ảnh hưởng từ bạn bè 6 54,5

Kết quả cho thấy:

- Có 11 GV (100%) cho rằng ý thức học tập của HS chưa tốt là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến HS học yếu môn Hoá

- Có 10 GV (90,9%) đồng ý việc HS mất kiến thức căn bản là trở ngại lớn cho việc tiếp thu bài

- Các nguyên nhân khác như: khả năng tư duy hạn chế, gia đình chưa quan tâm đúng mực, thói quen ỷ lại cũng tác động khá nhiều đến kết quả học tập của HS

Câu 2: Những khó khăn thầy/cô thường gặp khi dạy bài truyền thụ kiến thức mới?

Bảng 1.2: Ý kiến của GV về những khó khăn khi dạy bài

truyền thụ kiến thức mới

Những khó khăn thường gặp Số lượng Phần trăm (%)

Không có nhiều thời gian chuẩn bị bài 4 36,4 Chưa xây dựng được hệ thống bài tập từ dễ đến

Kết quả cho thấy:

- Khó khăn lớn nhất GV gặp phải khi dạy bài truyền thụ kiến thức mới

là có nhiều nội dung khó đối với HS (81,8%), tiếp đó là chưa xây dựng được

hệ thống bài tập từ dễ đến khó phù hợp với HS (72,7%) và thiếu hoá chất, dụng cụ thí nghiệm (72,7%)

- Việc thiếu hoá chất, dụng cụ thí nghiệm, thiết bị nghe nhìn là yếu tố khách quan, phụ thuộc vào cơ sở vật chất của nhà trường; còn việc xây dựng

Trang 36

hệ thống bài tập từ dễ đến khó, GV có thể cải thiện sớm, nhằm tăng hiệu quả dạy học GV cần tìm phương pháp thích hợp để truyền thụ kiến thức mới dễ dàng hơn

Câu 3: Những khó khăn thầy/cô gặp phải khi dạy ở Trung tâm GDTX?

Bảng 1.3: Ý kiến của GV về những khó khăn khi dạy ở Trung tâm GDTX

Kết quả cho thấy:

- GV gặp nhiều khó khăn khi dạy ở Trung tâm GDTX, trong đó khó khăn lớn nhất là HS mất căn bản từ lớp trước, không có nền tảng để tiếp thu kiến thức mới, đặc biệt là HS lớp 12 Khó khăn tiếp theo là lớp ồn ào, sĩ số đông, học sinh quậy phá, không hợp tác Đây thực sự là một thách thức lớn đối với GV, đặc biệt là GV trẻ hoặc thiếu kinh nghiệm cảm hoá HS

Trang 37

- Một số vấn đề như: Chương trình quá tải, khả năng ghi nhớ của HS còn hạn chế, chưa xây dựng được hệ thống bài tập phù hợp trình độ HS cũng

là những thách thức lớn đối với GV

Câu 4: Ý kiến của thầy/cô về giải pháp nâng cao hiệu quả dạy học Hóa học ở Trung tâm GDTX?

Bảng 1.4: Ý kiến của GV về giải pháp nâng cao hiệu quả

dạy học Hóa học ở Trung tâm GDTX

Tỉ lệ (%) GV Đồng ý

Không đồng ý

Rất cần thiết

Cần thiết

Bình thường

1 Kiểm tra lý thuyết thường xuyên 72,7 18,2 9,1 0

4 Tạo hứng thú cho tiết học 45,4 27,3 18,2 9,1

5 Thường xuyên hệ thống, liên hệ

6 Yêu cầu HS chuẩn bị bài trước

bằng hệ thống câu hỏi định hướng 36,3 36,4 18,2 9,1

7 Bổ sung kịp thời kiến thức nền

tảng mà HS đã lãng quên 72,7 18,2 9,1 0

8 Liên hệ với GVCN, phụ huynh 18,1 45,4 27,3 9,1

9 Hình thành đôi bạn học tốt 27,3 36,4 18,1 18,2

Trang 38

Kết quả cho thấy:

- Biện pháp được nhiều GV tán thành nhất là nhấn mạnh phần trọng tâm dựa vào chuẩn kiến thức (81,8 %), tiếp đến là kiểm tra thường xuyên (72,7 %), bổ sung kịp thời kiến thức nền tảng mà HS đã lãng quên (72,7%) và xây dựng hệ thống bài tập theo từng dạng, từ dễ đến khó, có bài làm mẫu (63,6%)

- Đối với các lớp học ở Trung tâm GDTX hầu hết HS đều có sức học trung bình - yếu, một nhiệm vụ đặt ra cho GV đứng lớp là phải bổ sung kịp thời những kiến thức nền tảng HS đã lãng quên, đồng thời phải hoàn thành chương trình học trong thời gian có hạn Đây là một nhiệm vụ không đơn giản, GV cần những tài liệu tham khảo phù hợp với nhiệm vụ giảng dạy đặt

ra

Câu 5: Ý kiến của thầy/cô về bài tập dành cho HS trung bình - yếu trong SGK và SBT hiện nay?

Bảng 1.5: Ý kiến của GV về bài tập dành cho HS trung bình - yếu

trong SGK và SBT hiện nay Đánh giá % Đánh

Kiến

thức Đầy đủ 27,3 Khá đủ 45,4

Bình thường 18,2

Chưa đa dạng 9,1

Kết quả cho thấy:

- Có 45,4% GV đồng ý rằng số lượng bài tập trong SGK và SBT dành cho HS trung bình - yếu ít Như vậy, với các lớp học ở Trung tâm GDTX, GV cần phải soạn thêm bài tập có nội dung thích hợp cho đối tượng HS này

Trang 39

- Có 36,4% GV cho rằng bài tập trong SGK và SBT đối với HS Trung tâm GDTX là khó Nên GV cần giảng giải từng bước, hình thành phương pháp giải đối với mỗi dạng, có bài tập để HS áp dụng

- Có 45,4% GV đồng ý kiến thức của bài tập trong SGK và SBT đối với HS trung bình - yếu là khá đầy đủ Đây là một ưu thế của SGK mới hiện hành

1.6.2.2 Kết quả điều tra tham khảo ý kiến HS

Câu 1: Khi học lý thuyết mới, em thích thầy/cô sử dụng những hình thức dạy học nào?

Bảng 1.6: Ý kiến của HS về hứng thú học tập khi học lý thuyết mới

Hình thức tổ chức

Tỉ lệ (%) HS Thích

nhất

Khá thích

Bình thường

Không thích

Dùng kết quả thí nghiệm hướng dẫn HS

Các nhóm nhận nhiệm vụ học tập, nghiên

Các nhóm thảo luận, chia sẻ kiến thức 32,7 14,7 31,3 21,3 Các nhóm tự làm thí nghiệm nghiên cứu

Kết quả cho thấy:

Trang 40

- HS hứng thú khi GV sử dụng PPDH nêu và giải quyết vấn đề

(63,9%)

- HS rất muốn GV sử dụng các thí nghiệm Hóa học Thí nghiệm biểu diễn của GV được nhiều HS tại các Trung tâm GDTX yêu thích nhất (87,1%) Nhiều HS muốn được tự mình làm thí nghiệm nghiên cứu bài mới (62%)

- HS hài lòng với phương pháp học nhóm, thảo luận và chia sẻ kiến thức (32,7%), nhưng nhiều HS còn rụt rè khi nhận nhiệm vụ và làm báo cáo (11,3 %)

Câu 2: Ý kiến của em về bài tập cho HS trung bình và yếu trong SGK và SBT?

Bảng 1.7: Ý kiến của HS về bài tập trong SGK và SBT

Số lượng nhiều 18,0 bình thường 26,7 ít 55,3

Kiến thức đầy đủ 78,7 bình thường 15,3 nghèo nàn 6,0

Kết quả cho thấy:

- Về số lượng: 55,3 % HS đồng ý số lượng bài tập trong SGK và SBT dành cho HS trung bình - yếu khá ít

- Về mức độ: có 75,3 % HS đồng ý cho rằng bài tập SGK và SBT đối với HS trung bình yếu là khó

- Về lượng kiến thức: có 78,7% HS cho rằng kiến thức từ bài tập trong SGK và SBT đối với HS trung bình - yếu là đầy đủ

Câu 3: Những nguyên nhân khiến em gặp khó khăn khi giải bài tập Hóa học? (1 là ít khó khăn, 4 rất khó khăn)

Bảng 1.8: Ý kiến của HS về nguyên nhân không giải được bài tập Hóa học

Ngày đăng: 12/06/2015, 18:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Cao Thị Thiên An (2008), Phân dạng và phương pháp giải bài tập Hoá học 12 - Phần Hữu cơ (Tự luận và trắc nghiệm). NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân dạng và phương pháp giải bài tập Hoá học 12 - Phần Hữu cơ (Tự luận và trắc nghiệm)
Tác giả: Cao Thị Thiên An
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2008
2. Nguyễn Văn Bang (2010), Các phương pháp chọn lọc giải nhanh bài tập Hóa học Trung học phổ thông. NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phương pháp chọn lọc giải nhanh bài tập Hóa học Trung học phổ thông
Tác giả: Nguyễn Văn Bang
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
3. Trịnh Văn Biều (2002), Lý luận dạy học Hóa học. NXB Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học Hóa học
Tác giả: Trịnh Văn Biều
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2002
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục THPT môn hóa học. NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục THPT môn hóa học
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
5. Vương Minh Châu (Chủ biên) - Nguyễn Bích Liên - Lê Thị Tuyết Mai (2009), Hướng dẫn dạy học Hóa học lớp 12 Giáo dục thường xuyên cấp Trung học phổ thông. NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn dạy học Hóa học lớp 12 Giáo dục thường xuyên cấp Trung học phổ thông
Tác giả: Vương Minh Châu (Chủ biên) - Nguyễn Bích Liên - Lê Thị Tuyết Mai
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
6. Nguyễn Cương (2007), Phương pháp dạy học hóa học ở trường phổ thông và đại học. Một số vấn đề cơ bản. NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học hóa học ở trường phổ thông và đại học. Một số vấn đề cơ bản
Tác giả: Nguyễn Cương
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
7. Nguyễn Cương - Nguyễn Thị Sửu - Nguyễn Mạnh Dung (2001), Phương pháp dạy Hóa học - tập 1. NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy Hóa học - tập 1
Tác giả: Nguyễn Cương - Nguyễn Thị Sửu - Nguyễn Mạnh Dung
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
8. Vũ Cao Đàm (2007), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học. NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
9. Cao Cự Giác (2010), Bài tập lí thuyết và thực nghiệm - Tập 2 - Hóa hữu cơ. NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài tập lí thuyết và thực nghiệm - Tập 2 - Hóa hữu cơ
Tác giả: Cao Cự Giác
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2010
10. Cao Cự Giác (2008), Thiết kế bài giảng Hóa học 12 - Tập 1. NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài giảng Hóa học 12 - Tập 1
Tác giả: Cao Cự Giác
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2008
11. Phạm Minh Hạc - Lê Kanh - Trần Trọng Thủy (1998), Tâm lí học tập 1. NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học tập 1
Tác giả: Phạm Minh Hạc, Lê Kanh, Trần Trọng Thủy
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
12. Phạm Đình Hiến (Chủ biên) - Phạm Thị Ngọc Hải - Vũ Anh Tuấn (2013), Hướng dẫn ôn tập môn Hóa học lớp 12 (Dùng cho Giáo dục thường xuyên). NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn ôn tập môn Hóa học lớp 12 (Dùng cho Giáo dục thường xuyên)
Tác giả: Phạm Đình Hiến (Chủ biên) - Phạm Thị Ngọc Hải - Vũ Anh Tuấn
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2013
13. Đỗ Xuân Hưng (2012), Trọng tâm kiến thức Hóa học 12 - Hóa hữu cơ. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trọng tâm kiến thức Hóa học 12 - Hóa hữu cơ
Tác giả: Đỗ Xuân Hưng
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2012
14. Quách Văn Long - Hoàng Thị Thúy Hương (2011), Kiến thức trọng tâm và phương pháp giải nhanh bài tập Hóa hữu cơ. NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức trọng tâm và phương pháp giải nhanh bài tập Hóa hữu cơ
Tác giả: Quách Văn Long - Hoàng Thị Thúy Hương
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2011
16. Đặng Thị Oanh (Chủ biên) - Lương Văn Tâm - Hà Văn Thức (2011), Ôn luyện thi môn Hóa học Trung học phổ thông theo chủ đề - Tập 1 - Hóa học Hữu cơ. NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ôn luyện thi môn Hóa học Trung học phổ thông theo chủ đề - Tập 1 - Hóa học Hữu cơ
Tác giả: Đặng Thị Oanh (Chủ biên) - Lương Văn Tâm - Hà Văn Thức
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2011
17. Đặng Thị Oanh (Chủ biên) - Nguyễn Xuân Tòng (2009), Bài tập trắc nghiệm Hóa học Hữu cơ Trung học phổ thông. NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài tập trắc nghiệm Hóa học Hữu cơ Trung học phổ thông
Tác giả: Đặng Thị Oanh (Chủ biên) - Nguyễn Xuân Tòng
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
18. Nguyễn Ngọc Quang (1994), Lý luận dạy học hóa học - tập 1. NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học hóa học - tập 1
Tác giả: Nguyễn Ngọc Quang
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1994
19. Nguyễn Thị Sửu (Chủ biên) - Vũ Anh Tuấn - Phạm Hồng Bắc - Ngô Uyên Minh (2010), Dạy học theo chuẩn kiến thức kĩ năng môn Hóa học 12.NXB Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học theo chuẩn kiến thức kĩ năng môn Hóa học 12
Tác giả: Nguyễn Thị Sửu, Vũ Anh Tuấn, Phạm Hồng Bắc, Ngô Uyên Minh
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
Năm: 2010
20. Cù Thanh Toàn ( 2013), Phân loại và phương pháp giải bài tập hóa học 12 - Hữu cơ . NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân loại và phương pháp giải bài tập hóa học 12 - Hữu cơ
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
21. Nguyễn Xuân Trường (2009), Phương pháp dạy học Hóa học ở trường phổ thông. NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Hóa học ở trường phổ thông
Tác giả: Nguyễn Xuân Trường
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2009

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Ý kiến của GV về nguyên nhân HS học yếu môn Hoá - Nâng cao hứng thú và kết quả học tập cho học sinh ở Trung tâm giáo dục thường xuyên thông qua hệ thống bài tập chương Amin - Amino Axit – Protein
Bảng 1.1 Ý kiến của GV về nguyên nhân HS học yếu môn Hoá (Trang 34)
Bảng 1.2: Ý kiến của GV về những khó khăn khi dạy bài   truyền thụ kiến thức mới - Nâng cao hứng thú và kết quả học tập cho học sinh ở Trung tâm giáo dục thường xuyên thông qua hệ thống bài tập chương Amin - Amino Axit – Protein
Bảng 1.2 Ý kiến của GV về những khó khăn khi dạy bài truyền thụ kiến thức mới (Trang 35)
Bảng 1.3: Ý kiến của GV về những khó khăn khi dạy ở Trung tâm GDTX - Nâng cao hứng thú và kết quả học tập cho học sinh ở Trung tâm giáo dục thường xuyên thông qua hệ thống bài tập chương Amin - Amino Axit – Protein
Bảng 1.3 Ý kiến của GV về những khó khăn khi dạy ở Trung tâm GDTX (Trang 36)
Bảng 1.4: Ý kiến của GV về giải pháp nâng cao hiệu quả   dạy học Hóa học ở Trung tâm GDTX - Nâng cao hứng thú và kết quả học tập cho học sinh ở Trung tâm giáo dục thường xuyên thông qua hệ thống bài tập chương Amin - Amino Axit – Protein
Bảng 1.4 Ý kiến của GV về giải pháp nâng cao hiệu quả dạy học Hóa học ở Trung tâm GDTX (Trang 37)
Bảng 1.5: Ý kiến của GV về bài tập dành cho HS trung bình - yếu   trong SGK và SBT hiện nay - Nâng cao hứng thú và kết quả học tập cho học sinh ở Trung tâm giáo dục thường xuyên thông qua hệ thống bài tập chương Amin - Amino Axit – Protein
Bảng 1.5 Ý kiến của GV về bài tập dành cho HS trung bình - yếu trong SGK và SBT hiện nay (Trang 38)
Hình thức tổ chức - Nâng cao hứng thú và kết quả học tập cho học sinh ở Trung tâm giáo dục thường xuyên thông qua hệ thống bài tập chương Amin - Amino Axit – Protein
Hình th ức tổ chức (Trang 39)
Bảng 1.7: Ý kiến của HS về bài tập trong SGK và SBT - Nâng cao hứng thú và kết quả học tập cho học sinh ở Trung tâm giáo dục thường xuyên thông qua hệ thống bài tập chương Amin - Amino Axit – Protein
Bảng 1.7 Ý kiến của HS về bài tập trong SGK và SBT (Trang 40)
Bảng 3.1. Đối tượng và địa bàn thực nghiệm sư phạm - Nâng cao hứng thú và kết quả học tập cho học sinh ở Trung tâm giáo dục thường xuyên thông qua hệ thống bài tập chương Amin - Amino Axit – Protein
Bảng 3.1. Đối tượng và địa bàn thực nghiệm sư phạm (Trang 114)
Bảng 3.4. Kết quả bài kiểm tra số 2 - Nâng cao hứng thú và kết quả học tập cho học sinh ở Trung tâm giáo dục thường xuyên thông qua hệ thống bài tập chương Amin - Amino Axit – Protein
Bảng 3.4. Kết quả bài kiểm tra số 2 (Trang 117)
Bảng 3.3. Phân phối tần số, tần suất và tần suất luỹ tích bài kiểm tra số 1 - Nâng cao hứng thú và kết quả học tập cho học sinh ở Trung tâm giáo dục thường xuyên thông qua hệ thống bài tập chương Amin - Amino Axit – Protein
Bảng 3.3. Phân phối tần số, tần suất và tần suất luỹ tích bài kiểm tra số 1 (Trang 117)
Bảng 3.5. Phân phối tần số, tần suất và tần suất luỹ tích bài kiểm tra số 2 - Nâng cao hứng thú và kết quả học tập cho học sinh ở Trung tâm giáo dục thường xuyên thông qua hệ thống bài tập chương Amin - Amino Axit – Protein
Bảng 3.5. Phân phối tần số, tần suất và tần suất luỹ tích bài kiểm tra số 2 (Trang 118)
Hình 3.1. Đồ thị đường luỹ tích bài kiểm tra số 1 - Nâng cao hứng thú và kết quả học tập cho học sinh ở Trung tâm giáo dục thường xuyên thông qua hệ thống bài tập chương Amin - Amino Axit – Protein
Hình 3.1. Đồ thị đường luỹ tích bài kiểm tra số 1 (Trang 120)
Hình 3.3. Đồ thị đường luỹ tích bài kiểm tra số 3 - Nâng cao hứng thú và kết quả học tập cho học sinh ở Trung tâm giáo dục thường xuyên thông qua hệ thống bài tập chương Amin - Amino Axit – Protein
Hình 3.3. Đồ thị đường luỹ tích bài kiểm tra số 3 (Trang 121)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w