Có thể nói cốt lõi của đổi mới dạy học là hướng tới hoạt động học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động như trong “Luật Giáo dục, điều 28, mục 2” đã ghi: “Phương pháp giáo d
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
DOÃN ĐÌNH TỪ
MỘT SỐ BIỆN PHÁP TẠO HỨNG THÚ HỌC TẬP CHO HỌC SINH
TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN
KHI DẠY PHẦN PHI KIM, HÓA HỌC 11
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM HÓA HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
DOÃN ĐÌNH TỪ
MỘT SỐ BIỆN PHÁP TẠO HỨNG THÚ HỌC TẬP CHO HỌC SINH TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN KHI DẠY PHẦN
PHI KIM, HÓA HỌC 11
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM HÓA HỌC Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN HÓA HỌC)
Mã số: 60.14.01.11
Người hướng dẫn khoa học: GS TS Lâm Ngọc Thiềm
HÀ NỘI – 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, ngoài nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự động viên, giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo, học sinh, bạn bè đồng nghiệp và gia đình
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất đến GS.TS Lâm Ngọc Thiềm, thầy đã hết lòng tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này
Xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám đốc TTGDTX Phù Cừ - Hưng Yên đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi được học tập và nghiên cứu
Tôi cũng xin được bày tỏ tình cảm biết ơn tới các thầy giáo, cô giáo và các em học sinh TTGDTX Phù Cừ, cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Mặc dù đã hết sức cố gắng, song luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong sự chỉ dẫn, đóng góp ý kiến của các nhà khoa học, các thầy cô giáo, bạn
bè, đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện!
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hưng Yên, ngày 21 tháng 11 năm 2014
Tác giả
Doãn Đình Từ
Trang 4DANH MỤC VIẾT TẮT
Chữ viết tắt BĐTD
BT
CK COXH
ĐC đktc
Đs GD-ĐT GS.TS GDTX
GV
HS NXB THPT
TN TNSP TTGDTX
TX PTHH PTPƯ PƯHH SBT SĐTD SGK
Chữ viết đầy đủ : Bản đồ tư duy : Bình thường : Chất khử : Chất oxi hóa : Đối chứng : điều kiện tiêu chuẩn : Đáp số
: Giáo dục - Đào tạo : Giáo sư - tiến sĩ : Giáo dục Thường xuyên : Giáo viên
: Học sinh : Nhà xuất bản : Trung học phổ thông : Thực nghiệm
: Thực nghiệm sư phạm : Trung tâm Giáo dục Thường xuyên : Thường xuyên
: Phương trình hóa học : Phương trình phản ứng : Phản ứng hoá học : Sách bài tập : Sơ đồ tư duy : Sách giáo khoa
Trang 5MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Danh mục viết tắt iv
Mục lục iii
Danh mục bảng viii
Danh mục biểu đồ, đồ thị ix
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ TẠO HỨNG THÚ HỌC TẬP 7
1.1 Hứng thú 7
1.1.1 Khái niệm hứng thú 7
1.1.2 Phân loại hứng thú 8
1.1.3 Cấu trúc của hứng thú 8
1.1.4 Vai trò của hứng thú 9
1.2 Hứng thú học tập 10
1.2.1 Khái niệm hứng thú học tập 10
1.2.2 Những thành tố tâm lý cấu thành hứng thú học tập 11
1.2.3 Sự hình thành và phát triển hứng thú học tập 12
1.2.4 Một số đặc điểm của hứng thú học tập 12
1.2.5 Các biểu hiện của hứng thú học tập 13
1.2.6 Tác dụng của hứng thú học tập 14
1.3 Một số nhóm biện pháp tạo hứng thú cho học sinh trong dạy học hóa học 14
1.3.1 Nhóm biện pháp Sử dụng phương tiện dạy học 15
1.3.2 Nhóm biện pháp Khai thác các thủ pháp về tâm lý 16
1.3.3 Nhóm biện pháp Khai thác các nguồn kiến thức hóa học 17
1.3.4 Nhóm biện pháp Sử dụng đa dạng các phương pháp dạy học 17
1.3.5 Nhóm biện pháp Tổ chức các hoạt động dạy học 18
1.4 Thực trạng việc tạo hứng thú cho học sinh trong dạy học hóa học ở TTGDTX hiện nay 19
1.4.1 Đặc điểm của học sinh TTGDTX 19
Trang 61.4.3 Mục đích điều tra 22
1.4.4 Đối tượng điều tra 22
1.4.5 Mô tả phiếu điều tra 23
1.4.6 Kết quả điều tra 23
Tiểu kết Chương 1 27
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP TẠO HỨNG THÚ HỌC TẬP CHO HỌC SINH GDTX - PHẦN PHI KIM (HÓA HỌC 11) 28
2.1 Tổng quan về phần Phi kim - Hóa học lớp 11 28
2.1.1 Mục tiêu, nội dung kiến thức chương Nitơ – Photpho 28
2.1.2 Mục tiêu, nội dung kiến thức chương Cacbon - Silic 29
2.1.3 Một số điểm cần lưu ý về phương pháp dạy học phần phi kim hóa học lớp 11- chương trình GDTX 30
2.2 Một số biện pháp tạo hứng thú học tập cho học sinh GDTX khi dạy phần Phi Kim - Hóa học 11 31
2.2.1 Biện pháp 1: Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học 31
2.2.2 Biện pháp 2: Liên hệ thực tế trong bài giảng 44
2.2.3 Biện pháp 3: Xây dựng và sử dụng một số dạng bài tập cơ bản, vừa sức 55
2.3 Một số giáo án cụ thể phần Phi kim lớp 11- chương trình GDTX 86
Tiểu kết chương 2 98
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 99
3.1 Mục đích, nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 99
3.1.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm 99
3.1.2 Nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 99
3.2 Quá trình tiến hành thực nghiệm sư phạm 99
3.2.1 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 99
3.2.2 Tiến hành thực nghiệm 100
3.2.3 Nội dung và kết quả thực nghiệm 100
3.2.4 Xử lý số liệu thực nghiệm sư phạm 101
Tiểu kết chương 3 107
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 108
TÀI LIỆU THAM KHẢO 110
Trang 7PHỤ LỤC 1: PHIẾU ĐIỀU TRA GIÁO VIÊN 112
PHỤ LỤC 2: PHIẾU ĐIỀU TRA HỌC SINH 114
PHỤ LỤC 3: ĐỀ KIỂM TRA 45 PHÚT CHƯƠNG 2 116
PHỤ LỤC 4: ĐỀ KIỂM TRA 15 PHÚT CHƯƠNG 3 119
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Trang Bảng 1.1 Số lượng HS TTGDTX Phù Cừ đạt điểm cao đầu vào
Bảng 1.2 Số lượng phiếu thăm dò thực trạng việc gây hứng thú trong dạy
học ở một số TTGDTX
Bảng 1.3 Kết quả điều tra sở thích của HS TTGDTX đối với môn hoá
học
Bảng 1.4 Bảng kết quả điều tra hoạt động tích cực của HS trong và ngoài
giờ học môn hoá học
Bảng 3.1 Bảng phân phối tần số, tần suất, tần suất luỹ tích bài KT số 1- TT
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ - ĐỒ THỊ
Trang Biểu đồ 3.1 Biểu đồ phân loại học sinh theo kết quả điểm số
Đồ thị 3.1 Đồ thị biểu diễn đường luỹ tích bài KT sô 1 – TTGDTX Phù
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Hiện nay xu hướng của dạy học hiện đại là hướng đến người học, coi người học là trung tâm Nếu quá trình dạy học là một dàn hợp xướng thì người giáo viên được ví là nhạc trưởng điều khiển các nhạc công của mình Điều quan trọng nhất của GV không phải là truyền đạt kiến thức mà là người tổ chức, hướng dẫn các hoạt động học tập của HS để các em có thể phát huy được năng lực của mình Giáo viên phải thổi bùng lên được ngọn lửa đam mê và hứng thú học tập cho HS Từ đó, các
em sẽ có nhu cầu khám phá, chủ động tìm hiểu những điều mới lạ về cuộc sống xung quanh Có thể nói cốt lõi của đổi mới dạy học là hướng tới hoạt động học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động như trong “Luật Giáo dục, điều 28, mục 2” đã ghi: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS” Vì thế, tạo hứng thú cho HS trong quá trình học tập là một nhu cầu tất yếu của đổi mới dạy học
Nghiên cứu về hứng thú, các nhà tâm lí học đã chỉ ra rằng hứng thú có một vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình hoạt động của con người Nó là động cơ thúc đẩy con người tham gia tích cực vào các hoạt động Khi được làm việc phù hợp với hứng thú dù phải khó khăn con người cũng vẫn cảm thấy thoải mái và đạt được hiệu quả cao Trong hoạt động học tập, hứng thú đối với các bộ môn của HS tỉ
lệ thuận với kết quả học tập của các em Một HS có khả năng mà không có hứng thú thì học tập cũng không đạt kết quả, một GV giỏi chuyên môn mà không có kỹ năng tạo hứng thú học tập cho HS thì chưa thể coi là thành công Do đó, người GV trong
xu hướng hiện nay đòi hỏi phải hội tụ đầy đủ kiến thức và tất cả các năng kỹ xảo cần thiết để có thể tạo nên những giờ học đầy hứng thú cho HS Nó trở thành một trong những kỹ năng quan trọng nhất đối với người dạy
Ở trường phổ thông nhất là các TTGDTX, việc tạo hứng thú học tập cho HS trong các tiết dạy hoá học chưa được quan tâm Giáo viên khi lên lớp thường thiên
Trang 11về lý thuyết, sách vở, khô cứng, thiếu thực tế, chưa tạo được sự hứng khởi cho các
em Nhiều HS đặc biệt là HS lớp 10 không thấy hấp dẫn khi học môn học này
Một mặt, bộ môn hóa học là một ngành khoa học thực nghiệm, khó đối với các em nhưng mặt khác hóa học lại có vai trò quan trọng trong cuộc sống và rất cần thiết đối với các ngành khoa học công nghệ Môn hóa học trong trường THPT cũng giữ một vai trò rất quan trọng, giúp HS hiểu biết sâu sắc hơn về thế giới, con người thông qua các bài học… Học sinh học hóa học không chỉ để làm các bài tập tính toán, nhận biết, viết PTHH của các phản ứng… mà còn để áp dụng những ứng dụng phong phú, thiết thực của môn học vào đời sống cũng như giải thích những hiện tượng xảy ra trong cuộc sống hằng ngày Đồng thời học hóa học còn có một vai trò quan trọng trong việc rèn luyện cho HS những kĩ năng và đức tính quý báu như kĩ năng quan sát, nhận xét, đức tính kiên trì, cẩn thận, sự tập trung, sự tỉ mỉ, chính xác,
… Do đó, để quá trình dạy học hóa học đạt kết quả cao thì GV phải tạo được hứng thú cho người học
Cùng với sự phát triển kiến thức của nhân loại, kiến thức hóa học ngày càng được mở rộng trong khi thời gian học trên lớp thì có hạn, GV không thể cung cấp hết kiến thức cho HS Việc tạo hứng thú cho học sinh trong quá trình học tập môn hóa học sẽ giúp các em có thể tự tìm hiểu, bổ sung kiến thức là thực sự cần thiết Nhờ hứng thú mà HS có thể giảm mệt mỏi, căng thẳng, tăng sự chú ý, thúc đẩy tính tích cực tìm tòi, sáng tạo
Hơn nữa, các tài liệu về hứng thú trong dạy học hoá học hiện nay ít được cập nhật Giáo viên, sinh viên phải sử dụng những tài liệu cũ hoặc tái bản để làm tư liệu Gần đây một số tác giả đã nghiên cứu về vấn đề này Tuy nhiên những công trình
đó vẫn còn quá ít và chưa đầy đủ Vì thế việc nghiên cứu về hứng thú học tập bộ môn hoá học rất cần được quan tâm
Đó là những lí do thúc đẩy chúng tôi chọn đề tài “Một số biện pháp tạo
hứng thú học tập cho học sinh tại Trung tâm giáo dục thường xuyên khi dạy phần Phi kim, Hóa học 11” Từ cách tiếp cận này chúng tôi sẽ mở rộng áp dụng
cho tất cả nội dung môn Hóa học ở bậc THPT
Trang 122 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy đã có một số tác giả bước đầu quan tâm nghiên cứu hứng thú trong các môn học Các Luận văn Thạc sĩ và Khoá luận tốt nghiệp chọn nghiên cứu về hứng thú học tập của HS trong dạy học hóa học ở trường THPT như:
- Luận văn thạc sĩ “Sử dụng thí nghiệm vui và ảo thuật hóa học nhằm nâng
cao hứng thú học tập hóa học cho học sinh phổ thông” của học viên Hoàng Thị
Minh Anh, Đại học Sư Phạm Hà Nội (1995)
- Luận văn thạc sĩ “Những biện pháp gây hứng thú trong dạy học hóa học ở
trường phổ thông” của học viên Phạm Ngọc Thủy, Đại học Sư phạm Tp.HCM
(2008)
- Khóa luận tốt nghiệp “Tạo hứng thú học tập môn hóa học cho học sinh ở
trường THPT” của sinh viên Phan Thị Ngọc Bích, Khoa Hóa - Đại học Sư phạm
Tp.HCM (2003)
- Khóa luận tốt nghiệp “Gây hứng thú học tập môn hóa học cho học sinh phổ
thông bằng các thí nghiệm vui, tranh ảnh hình vẽ và chuyện vui hóa học” của sinh
viên Phạm Thùy Linh, Khoa Hóa - Đại học Sư phạm Tp.HCM (2005)
- Khóa luận tốt nghiệp “Thiết kế một số hoạt động dạy học gây hứng thú
nhận thức trong môn hóa học lớp 10” của sinh viên Tô Quốc Anh, Khoa Hóa - Đại
học Sư phạm Tp.HCM (2007)
Tuy nhiên việc nghiên cứu vấn đề tạo hứng thú trong dạy học phần phi kim lớp 11 cho học HS ở các TTGDTX vẫn chưa được quan tâm đúng mức Hiện nay chưa có cuốn sách nào viết dành riêng cho học sinh TTGDTX là đối tượng nhận thức kém, mà chủ yếu viết cho H ở các trường THPT và các đối tượng người học khá giỏi Do đó, nghiên cứu vấn đề tạo hứng thú trong dạy học phần phi kim lớp 11,
cụ thể 2 chương (Chương 2: Nitơ - Photpho và Chương 3: Cacbon - Silic ) cho các
học sinh TTGDTX là cần thiết
3 Mục đích của việc nghiên cứu
Tìm và đề xuất một số biện pháp tạo hứng thú cho học sinh tại TTGDTX qua dạy học môn hóa học để nâng cao chất lượng dạy học
Trang 134 Nhiệm vụ của đề tài
Nghiên cứu đề tài “Một số biện pháp tạo hứng thú học tập cho học sinh tạiTrung tâm giá dục thường xuyên khidạ phần Phikim,Ho học 1 ” nhằm
những mục đích sau:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về tâm lí học dạy học, tìm hiểu bản chất cũng như các quy luật và tác dụng của hứng thú trong học tập các môn học nói chung cũng như môn hóa học nói riêng
- Tìm hiểu, đề xuất một số biện pháp và kinh nghiệm tạo hứng thú trong giờ dạy hóa học của GV tại TTGDTX phù hợp với xu thế đổi mới phương pháp dạy học hiện nay
- Khảo sát thực trạng học tập môn hóa học của HS ở một số TTGDTX tỉnh Hưng Yên
- Thiết kế một số bài dạy học có tăng cường sử dụng các phương án tạo hứng thú học tập thuộc nội dung kiến thức phần phi kim Hóa học 11 chương trình GDTX
- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá hiệu quả nghiên cứu, tính khả thi của những biện pháp tạo hứng thú học tập cho HS và rút ra các bài học kinh nghiệm
5 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
5.1 Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học hóa học ở TTGDTX
5.2 Đối tượng nghiên cứu: Bài giảng Phần Phi kim (Hóa học 11) chương
trình GDTX và những biện pháp tạo sự hứng thú học tập môn hóa học cho HS
6 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Nghiên cứu chương trình hóa học 11 - GDTX, cụ thể phần
Phi kim với 2 chương, đó là Chương 2: Nitơ - Photpho và Chương 3: Cacbon - Silic
nhằm cung cấp cho HS những kiến thức về tính chất hoá học và ứng dụng của hai axit quan trọng là HNO3 và H3PO4, ứng dụng của một số hợp chất của Nitơ, Phốtpho, Silic trong cuộc sống
- Về địa bàn thực nghiệm sư phạm: Thực nghiệm tại một số TTGDTX tỉnh
Hưng Yên như: TTGDTX Phù Cừ, TTGDTX Kim Động
7 Giả thuyết khoa học
Nếu GV khai thác nội dung hóa học và lựa chọn các phương pháp dạy học
Trang 14chương trình GDTX trong việc thiết kế, thực hiện bài lên lớp nhằm tạo hứng thú học môn hóa cho HS thì các em sẽ yêu thích môn hóa học, kết quả học tập bộ môn được nâng cao
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Các phương pháp nghiên cứu lí luận
+ Đọc và nghiên cứu các tài liệu tâm lí học để tìm hiểu về hứng thú, hứng thú học tập
+ Đọc tài liệu về lí luận dạy học nói chung, lí luận dạy học bộ môn hóa học THPT, GDTX nói riêng, các luận văn, luận án nghiên cứu về hứng thú học tập hóa học Đồng thời nghiên cứu SGK, SGV và các tài liệu liên quan đến đề tài
- Đánh giá kết luận: Kiểm tra giả thuyết khoa học và xây dựng phương án tổ chức dạy có tăng cường, sử dụng linh hoạt các phương án tạo hứng thú học tập
8.2 Nghiên cứu thực tiễn
- Quan sát điều tra tìm hiểu thực trạng về hứng thú học tập của HS đối với môn hóa học qua dự giờ, dùng phiếu điều tra
- Phỏng vấn và tìm hiểu kinh nghiệm của GV dạy học hóa học tại một số TTGDTX về các biện pháp gây hứng thú cho HS trong tiết học
- Thăm dò ý kiến của GV và HS bằng phiếu điều tra câu hỏi
- Điều tra trang thiết bị và tình hình sử dụng các nguồn tài nguyên dạy học của GV và HS
- Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm chứng các kết quả nghiên cứu (hiệu quả của đề tài)
8.3 Xử lí toán học
- Thống kê, phân tích các số liệu thực nghiệm để rút ra kết luận
9 Những đóng góp mới của đề tài
- Luận văn nghiên cứu và tổng hợp cơ sở lý luận về vấn đề tạo hứng thú học tập cho HS
- Đề xuất một số biện pháp cụ thể để tổ chức giờ dạy phần phi kim (Hóa học 11) theo hướng phát huy hứng thú và tính tích cực học tập của HS lớp 11 chương trình GDTX
Trang 15- Xây dựng được tiến trình dạy học cụ thể phần phi kim hóa học 11 theo hướng tạo hứng thú học tập cho HS lớp 11 chương trình GDTX
- Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho GV dạy hóa học ở các TTGDTX góp phần nâng cao chất lượng dạy học hóa học ở các TTGDTX hiện nay Đồng thời đề tài cũng là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên chuyên ngành Hóa học ở các trường Đại học, Cao đẳng
10 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn
được trình bày trong ba chương:
Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn của vấn đề tạo hứng thú học tập
Chương 2 Một số biện pháp tạo hứng thú học tập cho học sinh GDTX, Phần
phi kim - Hóa học 11
Chương 3 Thực nghiệm sư phạm
Trang 16CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ TẠO HỨNG
THÚ HỌC TẬP 1.1 Hứng thú
1.1.1 Khái niệm hứng thú
Hứng thú là một thuộc tính tâm lý của nhân cách, là một hiện tượng tâm lý phức tạp được thể hiện khá rộng rãi trong cuộc sống của mỗi cá nhân cũng như trong các lĩnh vực nghiên cứu khoa học Về khái niệm này, nhiều học giả từ trước đến nay đã đưa ra khá nhiều những ý kiến khác nhau Mỗi một học giả lại đứng ở một góc độ và thể hiện một quan niệm riêng
Xuất phát từ “Đại Từ điển Tiếng Việt”, hứng thú có hai nghĩa: “Hứng thú là biểu hiện của một nhu cầu, làm cho chủ thể tìm cách thỏa mãn, tạo ra khoái cảm, thích thú và huy động sinh lực để cố gắng thực hiện” và “Hứng thú là sự ham thích” [30, tr.861]
Trong cuốn “Tâm lý học”, tác giả A V Daparogirt phát biểu “Hứng thú là khuynh hướng của sự chú ý tới những đối tượng nhất định, là nguyện vọng tìm hiểu chúng càng tỉ mỉ càng hay” [9, tr 281]
Còn theo L A Gôđơn lại coi “Hứng thú là sự kết hợp độc đáo của các quá trình tình cảm - ý chí và các quá trình trí tuệ, khiến cho tính tích cực nhận thức và hoạt động của con người được nâng cao” [14, tr 16]
Tác giả A G Côvaliôp trong cuốn “Tâm lý học cá nhân” định nghĩa rằng:
“Hứng thú là thái độ đặc thù của cá nhân đối với một đối tượng nào đó, do ý nghĩa của nó trong đời sống và sự hấp dẫn về tình cảm của nó” [7, tr 100]
Tâm lý học hiện đại có khuynh hướng nghiên cứu hứng thú trong mối quan
hệ với toàn bộ cấu trúc tâm lý của cá nhân và đã đưa ra định nghĩa tương đối hoàn chỉnh về hứng thú: “Hứng thú là thái độ lựa chọn đặc biệt của cá nhân đối với một đối tượng nào đó, vừa có ý nghĩa đối với cuộc sống, vừa có khả năng mang lại xúc cảm cho cá nhân trong quá trình hoạt động” [29, tr 187] Ở đây hứng thú thể hiện mối quan hệ giữa chủ thể với thế giới khách quan, giữa đối tượng với nhu cầu và xúc cảm, tình cảm của chủ thể hoạt động
Các nhà tâm lý học đã nghiên cứu hứng thú theo quan điểm duy vật biện chứng và chỉ ra tính chất phức tạp của hứng thú, xem xét hứng thú trong mối tương
Trang 17quan với các thuộc tính khác của nhân cách như nhu cầu, xúc cảm, ý chí,…
Trong luận văn này, chúng tôi lựa chọn định nghĩa: “Hứng thú là thái độ lựa chọn đặc biệt của cá nhân đối với một đối tượng nào đó, vừa có ý nghĩa đối với cuộc sống, vừa có khả năng mang lại xúc cảm cho cá nhân trong quá trình hoạt
động” và khái niệm: “Hứng thú là sự ham thích” làm cơ sở lí luận cho đề tài nghiên
cứu
Như vậy, có thể hiểu hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó, nó có ý nghĩa đối với cuộc sống và có khả năng mang lại khoái cảm trong quá trình hoạt động Hứng thú biểu hiện ở sự tập trung cao độ, ở sự say mê, hấp dẫn bởi nội dung hoạt động, ở bề rộng và chiều sâu của hứng thú Hứng thú làm nảy sinh khát vọng hành động, làm tăng hiệu quả của hoạt động nhận thức, tăng sức làm việc
1.1.2 Phân loại hứng thú
Vì hứng thú là thuộc tính của tâm lý nên nó muôn màu, muôn vẻ Người ta
căn cứ vào nội dung đối tượng, nội dung hoạt động mà chia hứng thú ra làm 5 loại
[32], đó là: hứng thú vật chất, hứng thú nhận thức, hứng thú lao động nghề nghiệp, hứng thú xã hội - chính trị, hứng thú thẩm mĩ
Hứng thú vật chất là loại hứng thú biểu hiện thành nguyện vọng như muốn
có chỗ ở đầy đủ, tiện nghi, ăn ngon, mặc đẹp
nhạc,
1.1.3 Cấu trúc của hứng thú
Việc phân tích cấu trúc của hứng thú giúp chúng ta phân biệt sự khác biệt của hứng thú với những khái niệm gần nó Tiến sĩ tâm lý học N G Marôzôva khi phân tích cấu trúc của hứng thú, đã đưa ra 3 yếu tố đặc trưng cho hứng thú [16, tr
Trang 18nhận thức được đối tượng đã gây ra hứng thú; có hành động vươn tới chiếm lĩnh đối
tượng
Ba thành tố trên có liên quan chặt chẽ với nhau trong hứng thú của cá nhân, chúng tương tác lẫn nhau Trong cấu trúc hứng thú, sự tồn tại của từng mặt riêng lẻ không có ý nghĩa đối với hứng thú, không nói lên mức độ của hứng thú Tùy vào các giai đoạn phát triển khác nhau của hứng thú mà mỗi yếu tố đó có thể nổi lên mạnh hay yếu, ít hay nhiều
Với hứng thú, xúc cảm đối với đối tượng là yếu tố không thể thiếu Nhưng nếu chỉ dừng ở mức độ xúc cảm với đối tượng thì chưa phải là hứng thú Nếu chỉ nói đến mặt nhận thức thì mới là sự hiểu biết của con người với đối tượng Còn khi nói đến mặt hành động là chỉ đề cập đến hình thức biểu hiện bên ngoài, không thấy được xúc cảm, tình cảm của họ với đối tượng đó
Bất kỳ hứng thú nào cũng là thái độ xúc cảm tích cực của chủ thể với đối tượng, đó là sự thích thú với bản thân đối tượng; còn nhận thức là tiền đề cho việc hình thành xúc cảm Khi cá nhân có xúc cảm thực sự với đối tượng muốn chiếm lĩnh, có niềm vui tìm hiểu và nhận thức đối tượng thì họ mới tích cực hành động
Do đó, hứng thú phải là sự kết hợp giữa xúc cảm, nhận thức và hành động tích cực, nghĩa là có sự kết hợp giữa sự hiểu biết về đối tượng với sự thích thú và tính tích cực hoạt động để chiếm lĩnh đối tượng Nó là nguồn kích thích mạnh mẽ đối với tính tích cực cá nhân Với nguồn kích thích này các quá trình tâm lý diễn ra khẩn trương còn hoạt động thì trở nên say mê và đem lại hiệu quả Nhờ có hứng thú mà mỗi cá nhân có thể vượt qua được khó khăn trở ngại trong hoạt động để đạt được mục đích đã đặt ra
Hứng thú là một hiện tượng tâm lý phức tạp Với tư cách là một thuộc tính tâm lý cá nhân, hứng thú có liên quan chặt chẽ với các thuộc tính khác của xu hướng và với các hiện tượng tâm lý khác
1.1.4 Vai trò của hứng thú
Hứng thú có vai trò quan trọng đối với nhận thức và hoạt động của con người Hứng thú làm cho suy nghĩ trở nên phong phú giúp con người dễ dàng phát hiện nhiều ý tưởng Hứng thú dẫn tới sự tự giác Tự giác và hứng thú là hai yếu tố quan trọng tạo nên và duy trì tính tích cực, từ đó sản sinh tư duy độc lập và tư duy phê
Trang 19phán Hai loại tư duy này là điều kiện cần không thể thiếu và là mầm mống của sự sáng tạo
Như vậy, nếu HS thực sự có hứng thú với môn hóa học, thì họ sẽ hướng toàn
bộ quá trình tư duy của bản thân vào quá trình lĩnh hội kiến thức, có mong muốn
mở rộng hiểu biết và vận dụng các kiến thức hóa học vào việc giải bài tập cũng như giải thích các hiện tượng trong đời sống Hứng thú giúp HS có khả năng tư duy sâu sắc và suy nghĩ linh hoạt, sáng tạo trong quá trình lĩnh hội kiến thức
1.2 Hứng thú học tập
1.2.1 Khái niệm hứng thú học tập
Hoạt động học tập với tư cách là hoạt động nhận thức tích cực, tự lực và sáng tạo, là một quá trình căng thẳng, đòi hỏi phải nỗ lực thường xuyên Vì vậy hứng thú nhận thức làm nâng cao tính tích cực của HS và làm tăng hiệu quả của quá trình nhận thức
Nghiên cứu hứng thú học tập nhiều nhà tâm lý học đã đưa ra những khái niệm tương đối đầy đủ A.K Markova và V.V Repkin cho rằng: “Hứng thú học tập là loại hứng thú chưa được ý thức một cách rõ ràng, có tính chất tình huống, thường chú ý tới những khía cạnh bên ngoài của đối tượng hoạt động học tập, ít có tác dụng thúc đẩy hành động học tập theo sáng kiến riêng của người học, được xuất hiện dưới những phản ứng rất mãnh liệt nhưng ngắn ngủi” Còn theo A.G Covaliop thì: “Hứng thú học tập chính là thái độ lựa chọn đặc biệt của chủ thể đối với đối tượng của hoạt động học tập, vì sự cuốn hút về tình cảm và ý nghĩa thiết thực của
nó trong đời sống cá nhân” Ý kiến của nhà tâm lý A.G Covaliop có thể xem là xác
đáng để tìm một khái niệm về hứng thú học tập
Từ định nghĩa về hứng thú của tâm lí học hiện đại, trong luận văn này chúng
tôi hiểu: hứng thú học tập là sự ham thích của HS đối với một môn học nào đó, do
thấy được ý nghĩa của môn học này đối với cuộc sống và đối với bản thân, đem lại
sự hấp dẫn, lôi cuốn trong quá trình học tập bộ môn và kích thích HS hoạt động tích cực hơn
Hứng thú học tập được chia làm hai loại là hứng thú trực tiếp và hứng thú gián tiếp Hứng thú trực tiếp trong học tập là hứng thú đối với nội dung tri thức, quá
Trang 20137] Như vậy, hứng thú trực tiếp được hình thành dựa trên sự say mê của HS đối với môn học, cũng như cách thức chiếm lĩnh các tri thức và vận dụng tri thức đó Hứng thú gián tiếp trong học tập là hứng thú đối với những yếu tố tác động bên ngoài như được GV khen thưởng, được điểm cộng, đạt điểm cao trong học tập, GVgiảng vui, dễ hiểu, do ảnh hưởng của bạn bè … và sẽ biến mất khi những yếu tố này không còn nữa Hứng thú gián tiếp xuất hiện theo phản ứng có thể rất mạnh nhưng cũng thường ngắn ngủi [15, tr 137]
1.2.2 Những thành tố tâm lý cấu thành hứng thú học tập
Căn cứ vào cấu trúc của hứng thú, chúng tôi xác định có 3 thành tố tâm lý
chủ yếu cấu thành hứng thú học tập đó là: xúc cảm, nhận thức và hành động
Trước hết xúc cảm là sự rung động được tạo ra do các em có những tình cảm
nhất định khi tiếp xúc với môn hóa học Như vậy, thành tố xúc cảm trước hết tham gia vào việc chuẩn bị tạo nên một thái độ đúng đắn đối với môn học Đây là tiền đề tâm lý để hình thành hứng thú học tập môn hóa học cho HS Những xúc cảm khác
sẽ xuất hiện trong quá trình hoạt động tìm tòi như niềm vui nhận thức - là thành tố
cơ bản và dấu hiệu của hứng thú học tập; niềm vui đạt thành tích, giải thưởng, lời khen của GV, sự ngưỡng mộ của bạn bè sẽ giúp hình thành hứng thú học tập
Khi nói đến nhận thức tức là HS nhận biết được tại sao mình thích môn hóa
học Thành tố này giữ vai trò rất lớn trong việc duy trì hứng thú học tập Học sinh hiểu giá trị và ý nghĩa của môn học từ đó xuất hiện thái độ tự giác trong học tập, giúp củng cố hứng thú học tập ở các em
Thành tố thứ ba là hành động lại bao gồm ý thức, tính tự giác, sự quyết tâm
và động cơ học tập, tính tích cực Ý thức, tính tự giác, quyết tâm dồn sức lực trí tuệ
để hành động nhằm đạt được mục đích của mình đó là ý chí Ý chí có một vai trò
lớn trong việc giúp HS vượt qua những khó khăn khi tiếp thu tri thức hay khi gặp những bài tập khó Còn động cơ học tập lại thôi thúc HS suy nghĩ và hành động, giúp kích thích và duy trì hứng thú học tập ở các em Cuối cùng tính tích cực nghĩa
là sự hăng hái, năng nổ với công việc Tính tích cực tạo điều kiện cho việc tìm tòi
và làm xuất hiện niềm vui trong hoạt động học tập Khi hứng thú học tập xuất hiện sẽ nâng cao tính tích cực và hiệu quả lĩnh hội tri thức, kỹ năng và kỹ xảo
Trang 211.2.3 Sự hình thành và phát triển hứng thú học tập
Theo N G Marôzôva, trong quá trình phát triển cá thể, hứng thú học tập được hình thành và phát triển qua 3 giai đoạn [16], đó là giai đoạn kích thích hứng thú học tập cho HS, giai đoạn duy trì hứng thú học tập và giai đoạn bền vững của hứng thú học tập
Giai đoạn 1 là giai đoạn kích thích hứng thú học tập cho HS Ở giai đoạn
này các em bị cuốn hút bởi nội dung vấn đề giáo viên trình bày Học sinh chú ý lắng nghe, trực tiếp thể hiện niềm vui khi nhận ra cái mới Những niềm vui đó có thể mất
đi khi giờ học kết thúc, nhưng cũng có thể trên cơ sở đó hứng thú được phát triển Ở giai đoạn này HS chưa có hứng thú thật sự Hứng thú chỉ xuất hiện khi HS mong muốn hiểu biết nhiều hơn, các em đặt ra câu hỏi và vui mừng khi được trả lời
Đến Giai đoạn 2 là giai đoạn hứng thú học tập được duy trì Ở giai đoạn này
HS thường xuyên bị lôi cuốn vào tiết học một cách thường xuyên hơn, nhờ đó các
em có xúc cảm tích cực với môn học tức là hứng thú được duy trì Thái độ nhận
thức xúc cảm với môn học sẽ thúc đẩy HS quan tâm tới những vấn đề đặt ra ở cả trong giờ học, lẫn sau khi giờ học đã kết thúc Nói cách khác, ở các em đã có sự nảy sinh nhu cầu nhận thức, tìm tòi và phát hiện
Còn đến Giai đoạn 3: Hứng thú học tập trở nên bền vững Nếu thái độ tích
cực đó được duy trì củng cố, khả năng tìm tòi độc lập ở các em thường xuyên được khơi dậy thì các em dành nhiều thời gian rảnh rỗi của mình vào việc tìm tòi thêm những kiến thức có liên quan đến vấn đề mình yêu thích, tham gia hoạt động ngoại khóa, đọc thêm sách, tìm gặp những người cùng quan tâm tới những vấn đề của mình Hứng thú bền vững là giai đoạn cao nhất của sự phát triển hứng thú học tập
Để hình thành hứng thú học tập, việc tổ chức hoạt động nhận thức phải thường xuyên chủ động, gắn liền với các mức độ phát triển của nó Do đó các nhà
sư phạm phải hiểu rõ các giai đoạn phát triển của loại hứng thú này
Trang 22- Hứng thú học tập, lúc đầu hướng tới nội dung tri thức khoa học của môn học, sau đó tới các phương pháp khám phá ra nội dung đó
- Hứng thú học tập dần có được tính bền vững và có tính không bão hòa
- Hứng thú học tập là động lực thúc đẩy HS tích cực nghiên cứu đối tượng trong phạm vi của nó
1.2.5 Các biểu hiện của hứng thú học tập
Hứng thú học tập được biểu hiện thông qua các dấu hiệu, các chỉ số cụ thể trong hoạt động học tập, trong cuộc sống của HS Nhà giáo dục có thể quan sát và nhận biết được chúng Những biểu hiện này khá phong phú, đa dạng và nhiều khi còn phức tạp, chúng có thể đan xen vào nhau Đó là biểu hiện về mặt cảm xúc, biểu hiện về mặt nhận thức, biểu hiện về mặt hành động và biểu hiện về mặt kết quả học tập
Biểu hiện về mặt xúc cảm: HS có xúc cảm tích cực (yêu thích, say mê, .)
đối với môn học như có niềm vui trong quá trình lĩnh hội kiến thức, mong chờ tiết học và luyến tiếc khi tiết học kết thúc, …
Biểu hiện về mặt nhận thức: HS nhận thức đầy đủ, rõ ràng những nguyên
nhân của sự yêu thích môn học như nội dung môn học hay, bổ ích, phương pháp khám phá kiến thức hấp dẫn, môn học có vai trò, ý nghĩa quan trọng trong cuộc sống, …
Biểu hiện về mặt hành động: HS có hành động học tập tích cực, chủ động,
sáng tạo không chỉ trong giờ lên lớp mà còn ở ngoài lớp và ở nhà hàng ngày Trong giờ lên lớp, HS tỏ ra say mê học tập, chăm chú nghe giảng; ghi chép bài đầy đủ, cẩn thận; tích cực suy nghĩ, hăng hái phát biểu xây dựng bài, trao đổi ý kiến với bạn bè
và với GV; tích cực làm việc cùng nhóm để hoàn thành nhiệm vụ Ở ngoài lớp và ở nhà, HS độc lập và tự giác trong việc học tập; học bài, làm bài đầy đủ; tự giác làm thêm nhiều bài tập (ngoài yêu cầu của giáo viên); tự sưu tầm, đọc thêm nhiều tài liệu, sách tham khảo có liên quan đến môn học; tự tổng kết những phần, những chương mục đã học và tìm ra mối liên hệ bên trong giữa chúng; từng bước tập vận dụng những kiến thức môn học vào thực tiễn; cố gắng giải nhanh và tìm nhiều cách giải các bài tập …
Biểu hiện về mặt kết quả học tập: Kết quả học tập đạt loại khá, giỏi
Trang 231.2.6 Tác dụng của hứng thú học tập
Hứng thú có vai trò quan trọng đối với các hoạt động sống và hoạt động học
Sự hứng thú thể hiện trước hết ở sự tập trung chú ý cao độ, sự say mê của chủ thể hoạt động Sự hứng thú gắn liền với tình cảm của con người, nó là động cơ thúc đẩy con người tham gia tích cực vào hoạt động đó Trong bất cứ công việc gì, nếu có hứng thú làm việc con người sẽ có cảm giác dễ chịu với hoạt động, nó là động cơ thúc đẩy con người tham gia tích cực và sáng tạo hơn vào hành động đó Ngược lại nếu không có hứng thú, dù là hành động gì cũng sẽ không đem lại kết quả cao Đối với các hoạt động nhận thức, sáng tạo, hoạt động học tập, khi không có hứng thú sẽ làm mất đi động cơ học, kết quả học tập sẽ không cao, thậm chí xuất hiện cảm xúc
tiêu cực
Chính hứng thú học tập mang lại một số tác dụng đặc biệt Nó là yếu tố cần thiết cho sự phát triển nhân cách, tri thức và nhận thức của HS Hứng thú làm chỗ dựa cho sự ghi nhớ, cho phép HS duy trì sự chú ý thường xuyên và cao độ vào kiến thức bài học Hứng thú làm cho hoạt động học trở nên hấp dẫn hơn vì các em được duy trì trạng thái tỉnh táo của cơ thể, giúp học sinh phấn chấn vui tươi, học tập lâu mệt mỏi Hứng thú ảnh hưởng đến tính chất, cường độ, diễn biến, kết quả của dạy
và học giúp cho hiệu quả của hoạt động này được nâng cao Nó tạo ra và duy trì tính tích cực nhận thức, tích cực hoạt động tiếp thu, tìm hiểu kiến thức Và hứng thú giúp điều khiển hoạt động định hướng vì chính cảm xúc hứng thú tham gia điều khiển tri giác và tư duy Nó đóng vai trò trung tâm, tạo cơ sở, động cơ trong các hoạt động nghiên cứu và sáng tạo Đặc biệt, hứng thú góp phần quan trọng trong sự phát triển kĩ năng, kĩ xảo và trí tuệ của HS, làm cho hiệu quả của hoạt động học tập được nâng cao
1.3 Một số nhóm biện pháp tạo hứng thú cho học sinh trong dạy học hóa học [19]
Thực tế dạy học chứng minh hứng thú có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả của quá trình dạy học Trong quá trình ấy có nhiều biện pháp để gây hứng thú cho người học Có thể nói rằng, có bao nhiêu người dạy thì có bấy nhiêu biện pháp gây hứng thú cho người học chưa kể một người có thể có nhiều
Trang 24pháp đều có những đặc điểm và cách thức vận dụng riêng Chính vì vậy, GV cần lựa chọn, kết hợp nhiều biện pháp với nhau để việc gây hứng thú cho HS đạt kết quả cao nhất Đối với việc dạy học hóa học - một môn khoa học thực nghiệm thì càng cần thiết phải tạo được hứng thú cho HS Vì việc làm đó sẽ quyết định chất lượng của giờ học Qua nghiên cứu, chúng tôi đề xuất 5 nhóm biện pháp tạo hứng thú cho HS trong dạy học hóa học, đó là:
- Nhóm biện pháp sử dụng phương tiện dạy học;
- Nhóm biện pháp khai thác các thủ pháp về tâm lý;
- Nhóm biện pháp khai thác các nguồn kiến thức hóa học;
- Nhóm biện pháp sử dụng đa dạng các phương pháp dạy học
- Nhóm biện pháp tổ chức các hoạt động dạy học
1.3.1 Nhóm biện pháp Sử dụng phương tiện dạy học [19]
1.3.1.1 Những điểm lưu ý
Trong quá trình dạy học hóa học, các phương tiện trực quan, các phương tiện
kĩ thuật dạy học và thí nghiệm nhà trường đều đóng vai trò to lớn Đó là:
- Cung cấp cho HS những kiến thức đầy đủ, rõ ràng, chính xác, sâu sắc và bền vững;
- Làm sinh động nội dung học tập, nâng cao hứng thú học tập hóa học, nâng cao lòng tin của HS vào khoa học;
- Phát triển năng lực nhận thức, đặc biệt là năng lực quan sát, năng lực tư duy của HS Làm thay đổi phong cách tư duy và hành động của HS;
- Tăng năng suất lao động của giáo viên
Như vậy, việc sử dụng phương tiện dạy học vào trong quá trình giảng dạy không những có tác dụng gây hứng thú cho HS mà còn góp phần nâng cao năng lực chuyên môn của người GV Việc sử dụng phương tiện trong giảng dạy hóa học thường xuyên góp phần nâng cao chất lượng quá trình dạy học và giúp cho HS thêm yêu thích môn hóa học
Hiện nay, việc ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học hóa học đang phổ biến rộng rãi và có nhiều ứng dụng vô cùng quan trọng Người
GV dạy hóa học nên làm quen và khai thác các thiết bị, phần mềm hỗ trợ quá trình dạy học để cho tiết học thêm sinh động, tăng phần gây hứng thú cho các em HS
Trang 251.3.1.2 Một số biện pháp chính
Với nhóm biện pháp Sử dụng phương tiện dạy học, GV có thể gây hứng thú
cho HS bằng cách sử dụng thí nghiệm hóa học kích thích tư duy, khai thác, sử dụng phần mềm hóa học, sử dụng trình diễn đa phương tiện, sử dụng những đoạn phim hay về hóa học, khai thác, sử dụng những tiện ích của máy tính và internet, sử dụng
- Về thủ pháp hành vi: Trong quá trình dạy học, người GV có thể kết hợp sử dụng giao tiếp phi ngôn ngữ; khai thác những thí nghiệm vui đơn giản…
- Về thủ pháp ngôn ngữ: Trước hết, người GV nên luyện tập sao cho giọng nói trở nên truyền cảm, khai thác các đặc tính âm thanh (cao độ, trường độ, âm sắc)
và vốn từ Sau đó, cần sưu tầm những cách dẫn bài hấp dẫn, những câu chuyện vui, những câu nói hài hước, những bài thơ ngắn liên quan đến nội dung bài học giúp gây sự hứng thú cho HS
Tuy nhiên, thực tế cho thấy không phải khi nào sử dụng thủ pháp tâm lý cũng có thể đem lại kết quả cao Chính vì vậy, người GV cần khéo léo vận dụng từng thủ pháp tâm lý khác nhau trong từng nội dung cụ thể, không lạm dụng làm
HS cảm thấy vô duyên, nhàm chán
1.3.2.2 Một số biện pháp chính
Ở nhóm biện pháp Khai thác các thủ pháp về tâm lý, chúng ta có thể vận
Trang 26hứng thú bằng cách khai thác những mẩu chuyện vui, tạo hứng thú bằng những lời dẫn bài lý thú, tạo hứng thú khi xây dựng tình cảm tốt đẹp thầy - trò
1.3.3 Nhóm biện pháp Khai thác các nguồn kiến thức hóa học [19]
1.3.3.1 Những điểm lưu ý
Hóa học là một bộ môn khoa học thực nghiệm với lượng kiến thức vô cùng
rộng lớn và hấp dẫn Trong quá trình giảng dạy, nếu GV biết khai thác nguồn kiến thức này một cách hiệu quả thì sẽ giúp cho HS thêm yêu thích môn học Từ đó, các
em hứng thú, say mê tìm hiểu thêm những kiến thức mà GV không có điều kiện cung cấp Khi khai thác các nguồn kiến thức về hóa học để gây hứng thú cho HS,
GV cần lưu ý một số vấn đề sau:
- Tính chất mới của nội dung kiến thức cần cung cấp;
- Những điều bí ẩn, thần bí có liên quan đến kiến thức bài học;
- Sự đổi mới kiến thức trên nền tảng kiến thức sẵn có của HS;
- Tính lịch sử của nội dung kiến thức đang đề cập;
- Những thành tựu hiện đại của khoa học liên quan đến nội dung bài học;
- Ý nghĩa thực tế của nội dung kiến thức đang đề cập;
- Truyền đạt những cách nhìn mới cho HS;
- Giúp HS tự tìm tri thức mới cho mình;
- Tạo điều kiện để HS có dịp chia sẻ kiến thức mới với bè bạn
1.3.3.2 Một số biện pháp chính
có thể sử dụng một số biện pháp chính để tạo hứng thú cho HS như: Khai thác những thông tin mới lạ về hóa học, giới thiệu những kiến thức lịch sử của hóa học, gắn kiến thức bài giảng với thực tế cuộc sống, khai thác những điều mang tính bí ẩn,
bí mật, giới thiệu những giai thoại và những câu chuyện liên quan đến hoá học
1.3.4 Nhóm biện pháp Sử dụng đa dạng các phương pháp dạy học [19]
1.3.4.1 Những điểm lưu ý
Trong quá trình dạy học có rất nhiều phương pháp giảng dạy Có bao nhiêu người dạy là có bấy nhiêu phương pháp dạy học khác nhau Mà mỗi một phương pháp lại có những mặt ưu thế riêng Dạy học hóa học cũng vậy Giáo viên có thể chú ý đến một số hướng đổi mới phương pháp dạy học như:
Trang 27- Hoạt động hóa người học nhằm nâng cao vai trò chủ thể hoạt động nhận thức và tư duy tích cực, sáng tạo của HS;
- Phối hợp các phương pháp dạy học tích cực nâng cao hiệu quả dạy học;
- Áp dụng dạy học đặt vấn đề và giải quyết vấn đề;
- Áp dụng dạy học theo dự án
Tuy nhiên, để việc dạy và học bộ môn đạt hiệu quả cao, GV cần khai thác các ưu điểm, hạn chế những nhược điểm của mỗi phương pháp và kết hợp nhiều phương pháp với nhau Giáo viên nên thường xuyên thay đổi các phương pháp cho phù hợp với nội dung cần truyền đạt để giúp cho HS hứng thú trong quá trình tiếp nhận tri thức Một điều nên tránh đối với HS là không nên để các em bị rơi vào tâm trạng nhàm chán, không khí lớp học nặng nề, giảm sút khả năng tiếp nhận tri thức Hiện nay, nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học rất cao Giáo viên cần quan tâm nghiên cứu các phương pháp dạy học mới và vận dụng vào công việc giảng dạy của mình
1.3.5 Nhóm biện pháp Tổ chức các hoạt động dạy học [19]
1.3.5.1 Những điểm cần lưu ý
Giáo viên là người tổ chức hoạt động cho mỗi cá nhân và tập thể trong những điều kiện sư phạm khác nhau, vừa là hạt nhân để gắn kết HS thành một tập thể, vừa là người tuyên truyền và liên kết, phối hợp với các lực lượng giáo dục Chính vì vậy, năng lực tổ chức hoạt động dạy học đóng phần quan trọng trong nhóm năng lực của người GV Ngày nay, xu thế “dạy học hướng vào người học” đang được các trường, GV tổ chức thực hiện Học sinh đã quen thuộc với các hoạt động dạy học trong lớp cũng như ngoại khóa Những hoạt động này giúp các em thay đổi cách học tập, suy nghĩ và tiếp nhận kiến thức giúp cho các em có nhiều
Trang 28cấp và kết hợp cùng các hoạt động dạy học giúp HS tự tìm tri thức Nên khai thác những hoạt động dạy học theo nhóm để rèn luyện cho HS khả năng giao tiếp và làm việc tập thể Để gây hứng thú cho học sinh, khi tổ chức các hoạt động dạy học đòi hỏi giáo viên phải lên kế hoạch, xây dựng nội dung chi tiết một cách cẩn thận Bên cạnh đó, trong quá trình tổ chức hoạt động dạy học, GV phải là người dẫn đường, định hướng để HS nào cũng được hoạt động, phát huy năng lực cá nhân và có thể nắm bắt kiến thức một cách trọn vẹn
1.3.5.2 Một số biện pháp chính
Trong nhóm biện pháp Tổ chức các hoạt động dạy học, chúng tôi đề xuất
một số biện pháp chính để tạo hứng thú cho HS đó là: Tổ chức hoạt động ngoại khóa, tổ chức thi “Đố vui hóa học”, tổ chức trò chơi dạy học, tổ chức hoạt động nhóm
1.4 Thực trạng việc tạo hứng thú cho học sinh trong dạy học hóa học ở TTGDTX hiện nay
1.4.1 Đặc điểm của học sinh TTGDTX
Hiện nay, nền giáo dục phổ thông của nước ta chủ yếu tồn tại dưới các loại hình: THPT chuyên, THPT công lập, THPT dân lập - tư thục và TTGDTX Sau khi tham dự các kỳ thi tuyển vào THPT, HS không đủ điểm đỗ thì được xét vào học tại các TTGDTX Do đó, lực học của đa số HS các TTGDTX thường yếu Thậm chí có những HS khi thi tuyển đầu vào chỉ đạt vài điểm cho 3 môn, những HS đạt điểm cao cũng không vượt quá trung bình 5 điểm/môn và số lượng cũng khá khiêm tốn Hơn nữa, ý thức nền nếp và ý thức học tập của các em cũng rất hạn chế Vì vậy, việc tạo hứng thú học tập cho học sinh TTGDTX là một vấn đề khó khăn, gặp không ít những trở ngại Học sinh không có hứng thú với các môn học nhiều hơn số học sinh yêu thích, say mê đối với môn học
Là giáo viên công tác tại một TTGDTX, tôi nhận thấy tình hình học tập thực
tế của các HS ở các TTGDTX có những đặc điểm sau:
* Về kiến thức:
- Đa số các học sinh ở TTGDTX đều yếu và hổng về kiến thức Điều đó được biểu hiện ở điểm thi đầu vào khối THPT, sau khi không trúng tuyển vào THPT công lập và dân lập thì chỉ còn lại những HS với điểm số thấp sẽ theo học ở
Trang 29TTGDTX Theo thống kê ở TTGDTX huyện Phù Cừ - tỉnh Hưng Yên nơi tôi công tác thì số HS đạt điểm đầu vào trung bình trên 4 điểm/1 môn học trong 3 năm học gần đây như sau:
Bảng 1.1 Số lượng học sinh TTGDTX Phù Cừ đạt điểm cao đầu vào
- Mặt khác, do học lực yếu nên kĩ năng tính toán cũng như khả năng tư duy logic của đa số HS rất hạn chế Vì vậy các em gặp phải không ít khó khăn trong việc hình thành các kĩ năng tiếp cận kiến thức, kĩ năng giải bài tập hóa học, kĩ năng thực nghiệm khiến kết quả môn học chưa cao
Do vậy, việc quan trọng nhất của GV khi giảng dạy là phải gây được hứng thú cho giờ dạy để lôi cuốn các em Từ yêu thích giờ dạy HS sẽ yêu thích môn học, có ý thức và mong muốn tìm hiểu, khám phá Bằng những bài tập mang tính hệ thống, phân loại, có hướng dẫn giải và yêu cầu cụ thể, giáo viên hình thành kĩ năng học tập cho HS Trong đó cần phân hóa HS để nâng cao hiệu quả giờ học
* Về thái độ học tập:
- Hầu hết học sinh TTGDTX có ý thức học tập chưa cao, do lực học yếu dễ dẫn đến chán nản Một nguyên nhân nữa khiến cho HS không thích học đó là tâm lí mặc cảm nên các em ít nghĩ tới việc sẽ tiếp tục học lên, hoặc có nghĩ tới cũng không dám chắc chắn mình sẽ cố gắng được nên sinh ra “sức ì” trong việc học đặc biệt là với
Trang 30- Phương pháp giảng dạy của GV chưa phù hợp, nhiều khi lên lớp GV chưa thực sự để ý xem HS cần gì và hiểu được đến đâu Thời gian phân phối cho môn học ít (2 tiết/tuần) trong khi có quá nhiều kiến thức và kĩ năng HS cần phải xây dựng và thậm chí là rèn giũa lại
Chính những nguyên nhân trên làm cho môn hóa học đối với HS tiếp thu chậm trở nên đã khó lại càng khó hơn Với học sinh TTGDTX, người GV không chỉ làm nhiệm vụ truyền đạt tri thức mà còn phải luôn luôn gần gũi, nắm bắt tâm lí của các em để kịp thời động viên tạo hứng khởi cho các em GV cần tìm hiểu kĩ đối tượng để có phương pháp giảng dạy phù hợp, đáp ứng yêu cầu của từng đối tượng, đảm bảo tính chính xác, đầy đủ và vừa sức Từ đó giúp HS yêu thích hơn đối với môn học, có như thế mới hi vọng cải thiện được chất lượng dạy và học
1.4.2 Thực trạng học tập và hứng thú của học sinh TTGDTX tại tỉnh Hưng Yên
Qua kinh nghiệm giảng dạy của bản thân (9 năm trong nghề dạy học và 3 năm dạy lớp 12) cũng như tham khảo thêm ý kiến của các đồng nghiệp, tôi nhận thấy thực trạng học tập môn hóa học của HS tại các TTGDTX tỉnh Hưng Yên như sau:
- Lượng kiến thức mà đa số HS tiếp thu trong một tiết học hiện nay chỉ đạt khoảng 20-30% tùy thuộc vào ý thức và khả năng nhận thức của từng HS Nguyên nhân khiến đa số HS chưa tiếp thu hết lượng kiến thức cần thiết là do lượng kiến thức nhiều; HS chưa có phương pháp học tập phù hợp, quá thụ động và không chủ động tích cực học tập; chưa có tài liệu phù hợp cho HS tự học, tự nghiên cứu; thiếu thời gian tự học; cách truyền đạt của GV đôi khi chưa phù hợp, chưa gây hứng thú học tập cho HS
- Ngoài ra cũng không thể không nói đến yếu tố tâm lý cũng ảnh hưởng không ít đến thực trạng “học ì ạch” của HS Các em thường mặc cảm mình là học sinh TTGDTX, khả năng học tập yếu, bị bạn bè chê cười vì vậy sinh ra chán nản, lười học vì nghĩ tương lai mù mịt
Thực trạng học tập và hứng thú của học sinh TTGDTX trên đây chính là cơ
sở quan trọng, định hướng cho tôi nghiên cứu trong quá trình giảng dạy bộ môn của mình Tuy nhiên, muốn có cơ sở để khẳng định những nhận xét đó và có giải pháp đúng đắn hơn cho việc tạo hứng thú học tập cho HS khi học bộ môn hóa học tại TTGDTX, chúng tôi đã tiến hành điều tra về các nội dung trên
Trang 311.4.3 Mục đích điều tra
1.4.3.1 Về phía học sinh
- Tìm hiểu thái độ, tình cảm, nhận thức của HS về bộ môn hóa học
- Tìm hiểu việc chuẩn bị cho tiết học (làm bài tập về nhà, đọc và nghiên cứu bài mới trước khi đến lớp)
- Tìm hiểu những khó khăn mà các em gặp phải khi làm bài tập về nhà và học bài mới
- Tìm hiểu nhận thức của học sinh về kiến thức mới
- Tìm hiểu vấn đề sử dụng thời gian và cách thức học
- Tìm hiểu những tác động, nguyên nhân ảnh hưởng đến hứng thú học tập của HS
1.4.2.2 Về phía giáo viên
- Tìm hiểu cách nhìn nhận và suy nghĩ của GV về vai trò của hứng thú trong dạy học hóa học
- Tìm hiểu tình hình dạy học bộ môn hóa học ở các TTGDTX, mức độ thành công, những khó khăn gặp phải
- Tìm hiểu về biện pháp tạo hứng thú cho HS khi dạy học bộ môn hóa học
1.4.4 Đối tượng điều tra
Tôi tiến hành điều tra trên hai đối tượng: học sinh TTGDTX Phù Cừ, TTGDTX Kim Động và GV hóa học dạy ở các TTGDTX trong tỉnh Hưng Yên
- Tôi đã tiến hành điều tra bằng phiếu tham khảo ý kiến của 25 GV dạy hóa ở các TTGDTX Số phiếu thu hồi được là 25 phiếu
- Tôi cũng đã gửi phiếu điều tra đến 166 HS (4 lớp) ở TTGDTX Phù Cừ và
TTGDTX Kim Động Số phiếu thu hồi được là 166 phiếu
Bảng 1.2 Số lượng phiếu thăm dò thực trạng việc gây hứng thú trong dạy học
Trang 32xuyên Kim Động
1.4.5 Mô tả phiếu điều tra
Dựa vào các biểu hiện của hứng thú đối với môn hóa học như đã trình bày ở
trên, trong phiếu điều tra gửi tới HS, chúng tôi đưa ra 3 nhóm câu hỏi Nội dung của
từng nhóm câu hỏi tập trung vào các ý:
- Xúc cảm của HS về môn hóa học: Thích, bình thường, không thích
- Về mặt nhận thức của HS: Lí do khiến HS thích hoặc không thích môn hóa
học
- Hành động của HS: Hoạt động của HS trong giờ hóa học; việc chuẩn bị bài
của HS trước khi đến lớp
1.4.6 Kết quả điều tra
- Kết quả điều tra HS thể hiện ở các bảng sau:
Bảng 1.3 Kết quả điều tra sở thích của HS TTGDTX đối với môn hóa học
Vì:
Giáo viên cung cấp nhiều tư liệu, thông tin hóa học lí
Giáo viên luôn động viên, khuyến khích các học sinh
Không thích 26 15.7
Vì:
Trang 33Kiến thức bài học trừu tượng, khó nhớ, khó hiểu,
không gắn với thực tế đời sống 25 96.2 Giáo viên không vận dụng linh hoạt các phương pháp
giảng dạy
HS không bao giờ được động viên, khích lệ trong học
* Nhận xét: Từ bảng trên, chúng tôi nhận thấy tỉ lệ HS yêu thích môn hóa
học cao (51.2%), và không thích môn hóa học thấp (15.7%) Đó là điều đáng mừng
đối với GV dạy môn hóa học Tuy nhiên, HS yêu thích môn hóa học chủ yếu là do
có nhiều thí nghiệm hấp dẫn (90.1%), các lí do khác chiếm tỉ lệ khoảng 30% Mặt
khác, những lí do khiến HS không thích môn hóa học chiếm tỉ lệ cao là do kiến thức
trừu tượng, khó nhớ, khó hiểu, không gần gũi đời sống (96.0%), các em không hiểu
bài (91.6%), và không khí lớp học căng thẳng (83,3%) Hầu như 70% - 90% HS đều
cho rằng không hiểu bài là do kiến thức hóa học trừu tượng và cách giảng bài của
GV khó hiểu, không khí lớp học căng thẳng Qua đó cho thấy GV chưa chú ý nhiều
đến việc tổ chức cho HS tích cực tham gia vào các hoạt động lĩnh hội kiến thức
cũng như chưa tạo được không khí lớp học thân thiện, thoải mái
Bảng 1.4 Bảng kết quả điều tra hoạt động tích cực của HS trong và ngoài giờ
Trang 342
Hăng hái phát biểu ý
kiến xây dựng bài và nêu
Đọc trước bài mới và tự
làm các bài tập của bài
Đọc trước bài mới và tự
làm các bài tập của bài
mới
* Nhận xét: Từ bảng 1.3, chúng tôi nhận thấy chỉ có 44,4% HS thường xuyên tập trung trong giờ học Tỉ lệ HS ít và không phát biểu ý kiến xây dựng bài, không thắc mắc nội dung bài chiếm trên 90% cho thấy thực tế các em tiếp thu kiến thức một cách thụ động, chưa có sự hợp tác học hỏi lẫn nhau Điều đó cũng khẳng định rằng môn hóa học đối với HS chưa thật sự lôi cuốn Nguyên nhân là do ác em vẫn xem môn hóa như một môn phụ, GV không tạo được sự yêu thích môn học cho HS
và các em chưa thấy được tầm quan trọng của bộ môn trong thực tế đời sống
Ngoài ra, chúng tôi nhận thấy trên 80% HS chưa tích cực chuẩn bị bài ở nhà Các em chưa có phương pháp học tập môn hóa (chỉ 15,6% HS thường xuyên học
Trang 35hiểu bài trước khi làm bài tập) Trên 90% HS chưa có ý thức đọc thêm tài liệu hoặc
tự nghiên cứu bài
Từ kết quả các phiếu điều tra cho thấy:
- GV cần lôi cuốn được HS bằng mỗi giờ học lý thú ngay từ khi HS mới tiếp xúc với môn hóa học
- GV cần khai thác được sự hấp dẫn của các nội dung hóa học gắn với thực tế đời sống, khai thác các phương tiện trực quan phục vụ giảng dạy… để làm cho kiến thức hóa học không còn trừu tượng khó hiểu mà trở nên gần gũi với đời sống của các em
- GV cần tìm ra các phương pháp hoạt động tích cực phù hợp cho HS tạo không khí lớp học vui vẻ, quan hệ giữa thầy - trò; trò - trò trở nên thân thiện hơn… Động viên, khích lệ HS nhiều hơn trong giờ dạy để tăng tính chủ động, tích cực cho các em
Trang 36Tiểu kết Chương 1 Trong Chương 1, chúng tôi đã nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn
đề hứng thú, đề xuất 5 nhóm biện pháp nhằm nâng cao hứng thú học tập bộ môn hóa học của HS, đó là: Nhóm biện pháp sử dụng phương tiện dạy học; Nhóm biện pháp khai thác các thủ pháp về tâm lý; Nhóm biện pháp khai thác các nguồn kiến thức hóa học; Nhóm biện pháp sử dụng đa dạng các phương pháp dạy học; Nhóm biện pháp tổ chức các hoạt động dạy học
Chúng tôi rút ra những kết luận như sau:
1 Hứng thú học tập là sự ham thích của HS đối với một môn học nào đó, do thấy được ý nghĩa của môn học này đối với cuộc sống và đối với bản thân Nó đem lại sự hấp dẫn, lôi cuốn trong quá trình học tập bộ môn và kích thích HS hoạt động tích cực hơn
2 Hứng thú học môn hóa của HS thể hiện ở: nhận thức; thái độ xúc cảm; hành vi thể hiện trong quá trình học môn hóa Hứng thú học môn hóa của HS ở các TTGDTX chịu sự chi phối của nhiều yếu tố như nội dung bài học, việc tổ chức hoạt động học tập và nhân cách của GV,
3 Qua kết quả thăm dò ý kiến của 166 HS lớp 11 đầu năm học 2013 – 2014
ở hai trung tâm: TTGDTX Phù Cừ và TTGDTX Kim Động - tỉnh Hưng Yên, cho thấy thái độ tự giác học tập của HS rất hạn chế nhất là trước những vấn đề đòi hỏi tính tích cực trí tuệ, đòi hỏi hoạt động độc lập Do vậy, GV cần lựa chọn những phương pháp dạy học phù hợp để phát huy tính tích cực, phát triển tư duy, nâng cao tính chủ động, sáng tạo của HS trong giờ học như: liên hệ thực tế trong bài dạy; sử dụng SĐTD với hệ thống bài tập vừa sức Điều quan trọng nhất là bằng các cách tổ chức giờ học, GV phải tạo được hứng thú cho HS Từ việc khơi dậy ở các em lòng yêu thích môn học sẽ giúp các em có nhu cầu và mong muốn tìm hiểu, khám phá kiến thức
Trang 37CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP TẠO HỨNG THÚ HỌC TẬP CHO HỌC
SINH GDTX - PHẦN PHI KIM (HÓA HỌC 11) 2.1 Tổng quan về phần Phi kim - Hóa học lớp 11 [20, 22, 23]
Ở chương trình hóa học THCS, học sinh được nghiên cứu một số phi kim
tiêu biểu như: oxi, hidro, clo, cacbon, silic Kiến thức về các phi kim đó cung cấp
các tư liệu cho một số nguyên tố phi kim cùng một số kim loại thông dụng để giúp
HS củng cố khái niệm của chất, đơn chất, hợp chất, nguyên tố hóa học và bảng tuần
hoàn các nguyên tố hóa học
Trong chương trình hóa học THPT, nội dung phần phi kim được nghiên cứu
ở học kì II lớp 10 và học kì I lớp 11 Trong đó, nội dung phần phi kim lớp 11 được
nghiên cứu cụ thể qua 2 chương:
- Chương 2: Nitơ - Photpho
- Chương 3: Cacbon - Silic
2.1.1 Mục tiêu, nội dung kiến thức chương Nitơ – Photpho [20] 2.1.1.1 Mục tiêu chương Nitơ - Photpho
a Về Kiến thức:
Học sinh trình bày được:
- Cấu tạo nguyên tử và phân tử của nitơ, photpho; số oxi hóa của nitơ,
Học sinh giải thích được:
- Nguyên nhân của tính oxi hóa mạnh của các đơn chất nitơ, photpho và khả
năng thể hiện tính khử của chúng
b Về Kĩ năng: HS được rèn luyện các kĩ năng:
- Vận dụng kiến thức về cấu tạo nguyên tử, liên kết hóa học, phản ứng hóa
học để dự đoán lý thuyết tính chất cơ bản của đơn chất, hợp chất của nitơ, photpho
và giải thích tính chất của chúng
Trang 38- Quan sát, mô tả, giải thích các hiện tượng thí nghiệm hóa học nghiên cứu
tính chất của nitơ, photpho và hợp chất
- Giải các dạng bài tập hóa học có liên quan đến các kiến thức về nitơ,
photpho và hợp chất của chúng
c Giáo dục tình cảm, thái độ:
- Học sinh có hứng thú và say mê học tập, phương pháp tư duy và nghiên
cứu hóa học
- Thái độ đúng đắn với các nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường, ý thức bảo
vệ môi trường không khí, đất, nước
- Ý thức vận dụng kiến thức học được đưa vào cuộc sống
2.1.1.2 Nội dung kiến thức chương Nitơ - Photpho
Chương Nitơ - Photpho gồm 8 bài:
Bài 7: Nitơ
Bài 8: Amoniac và muối amoni
Bài 9: Axit nitric và muối nitrat
Bài 10: Photpho
Bài 11: Axit photphoric và muối photphat
Bài 12: Phân bón hóa học
Bài 13: Luyện tập: Tính chất của nitơ, photpho và các hợp chất của chúng
Bài 14: Bài thực hành 2: Tính chất của một số hợp chất của nitơ, photpho
2.1.2 Mục tiêu, nội dung kiến thức chương Cacbon - Silic [20]
2.1.2.1 Mục tiêu chương Cacbon - Silic
a Về Kiến thức:
Học sinh trình bày được:
- Cấu tạo nguyên tử và phân tử của cabon, silic Số oxi hóa của cabon, silic
Trang 39- Nguyên nhân của tính oxi hóa mạnh của các đơn chất cacbon, silic và khả năng thể hiện tính khử của chúng
b Về Kĩ năng: HS được rèn luyện các kĩ năng:
- Vận dụng kiến thức của cấu tạo nguyên tử, liên kết hóa học, phản ứng hóa học để dự đoán về mặt lý thuyết các tính chất cơ bản của đơn chất, hợp chất của cabon, silic và giải thích tính chất của chúng
- Giải các dạng bài tập hóa học có liên quan đến các kiến thức về cabon, silic
và hợp chất của chúng
c Giáo dục tình cảm, thái độ: HS có được:
- Hứng thú và say mê học tập
- Thái độ đúng đắn với các nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường, ý thức bảo
vệ môi trường không khí, đất, nước
2.1.2.2 Nội dung kiến thức chương Cacbon – Silic
Chương Cacbon - Silic gồm 5 bài:
Bài 15: Cacbon
Bài 16: Hợp chất của cacbon
Bài 17: Silic và hợp chất của silic
Bài 18: Công nghiệp silicat
Bài 19: Luyện tập: Tính chất của cacbon, silic và các hợp chất của chúng
2.1.3 Một số điểm cần lưu ý về phương pháp dạy học phần phi kim hóa học lớp 11- chương trình GDTX
Nghiên cứu phần Phần phi kim, chúng ta cần chú ý lựa chọn các phương pháp dạy học và tổ chức các hoạt động học tập cho HS đảm bảo các yêu cầu đặt ra Trong quá trình dạy học, đặc biệt là giờ lên lớp, GV cần:
- Sử dụng tích cực chức năng giải thích, dự đoán lý thuyết trong các bài dạy
- Xác định việc nghiên cứu các kiến thức về các nhóm phi kim dựa trên cơ sở các quan điểm của thuyết electron, liên kết hóa học, định luật tuần hoàn là chính chứ không phải là cung cấp tư liệu về tính chất của các phi kim
- Vận dụng triệt để các kiến thức về sự biến đổi số oxi hóa của các nguyên tố trong đơn chất và hợp chất để giải thích các tính chất hóa học của chúng
Trang 40- Thường xuyên làm rõ mối quan hệ phụ thuộc của tính chất các chất vào cấu
tạo nguyên tử, liên kết hóa học trong phân tử, so sánh tính chất các nguyên tố trong
nhóm và giải thích quy luật biến thiên tính chất, nguyên nhân giống nhau, khác
nhau theo quan điểm cấu tạo chất
- Cần sử dụng thí nghiệm để nghiên cứu những tính chất mới, củng cố và
phát triển các nội dung kiến thức đã có về các phi kim ở trung học cơ sở Phát huy
tối đa tính tích cực, độc lập của HS trong các hoạt động học tập
2.2 Một số biện pháp tạo hứng thú học tập cho học sinh GDTX khi dạy phần
Phi Kim - Hóa học 11
Hiểu rõ tầm quan trọng của sự gây hứng thú trong dạy học ở TTGDTX,
chúng tôi đã nghiên cứu những biện pháp giúp HS hứng thú học tập và yêu thích
môn hoá học Từ các nhóm biện pháp tạo hứng thú đã nêu trong chương 1, chúng
tôi đi sâu vào 3 biện pháp cụ thể giúp GV tạo hứng thú học tập cho HS khi dạy học
phần phi kim lớp 11 Đó là:
- Tạo hứng thú bằng sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học
- Tạo hứng thú bằng liên hệ thực tế trong bài giảng
- Tạo hứng thú bằng xây dựng và sử dụng một số dạng bài tập cơ bản, vừa
sức HS
2.2.1 Biện pháp 1: Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học [25, 26, 27, 28] 2.2.1.1 Khái niệm sơ đồ tư duy (SĐTD)
SĐTD là một công cụ tổ chức tư duy nền tảng và đơn giản, là phương tiện
ghi chép đầy sáng tạo và rất hiệu quả SĐTD là công cụ đồ họa nối các hình ảnh có
liên hệ với nhau, có cấu trúc cơ bản là các nội dung được phát triển rộng ra từ trung
tâm, nó giống như cấu trúc của cây trong tự nhiên SĐTD là phương pháp được đưa
ra như là một phương tiện mạnh để tận dụng khả năng ghi nhận của não Đây là
cách để ghi nhớ chi tiết, để tổng hợp hay phân tích một vấn đề ra thành một dạng
lược đồ phân nhánh
Có thể hiểu SĐTD là một phương pháp ghi chép gồm một hình ảnh hoặc một
từ khóa ở trung tâm, và từ từ khóa trung tâm đó phát triển ra nhiều ý, mỗi ý sẽ là
một từ khóa mới, có nhiều ý nhỏ hơn SĐTD là biểu hiện của tư duy mở rộng Vì
thế, nó là chức năng tự nhiên trong tư duy Đó là một kỹ thuật họa hình đóng vai trò