ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC NHỮ VĂN THÀNH BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI HÓA HỌC ĐỂ THI VÀO LỚP 10 CHUYÊN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUA DẠNG BÀI TẬP VỀ OXIT LUẬN VĂN THẠC S
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NHỮ VĂN THÀNH
BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI HÓA HỌC
ĐỂ THI VÀO LỚP 10 CHUYÊN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
QUA DẠNG BÀI TẬP VỀ OXIT
LUẬN VĂN THẠC SỸ SƯ PHẠM HÓA HỌC
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Hóa học
Mã số: 60 14 01 11
Người hướng dẫn khoa học: TS Vi Anh Tuấn
HÀ NỘI - 2015
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin gửi lời cảm ơn trân trọng nhất đến Ban Giám hiệu Trường Đại Học Giáo Dục – Đại Học Quốc Gia Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để các học viên chúng tôi hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình.
Cùng với các học viên lớp Cao học Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Hóa học, chân thành cảm ơn quý thầy cô đã tận tình giảng dạy, mở rộng và chuyển tải kiến thức chuyên môn sâu sắc và cập nhật thông tin hiện đại về khoa học Giáo dục nói chung và Hóa học nói riêng.
Đặc biệt, chúng tôi chân thành cảm ơn PGS.TS.Lê Kim Long, TS.Vi Anh Tuấn các thầy đã không quản ngại thời gian và công sức, hướng dẫn tận tình và vạch ra những định hướng sáng suốt giúp tác giả hoàn thành tốt luận văn.
Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn đến thầy cô ở trường THCS Tân Hồng- Tỉnh Hải Dương cũng như quý thầy cô của nhiều trường THCS trong địa bàn Huyện Bình Giang- Tỉnh Hải Dương đã có nhiều giúp đỡ tác giả trong quá trình tiến hành thực nghiệm sư phạm cho đề tài.
Cuối cùng, xin cảm ơn gia đình, bạn bè thân thuộc đã luôn là chỗ dựa tinh thần vững chắc, giúp tác giả thực hiện tốt luận văn này.
Hà nội, tháng 11 năm 2014
Tác giả
Nhữ Văn Thành
Trang 3DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 4MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Danh mục các chữ viết tắt ii
Danh mục các bảng iii
Danh mục các sơ đồ iv
Mục lục … v
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI……… 6
1.1.Tổng quan về vấn đề bồi dưỡng học sinh giỏi trên thế giới và Việt Nam 6 1.1.1.Vấn đề bồi dưỡng dân trí ở các nước phát triển 6
1.1.2. Hệ thống trường chuyên ở Việt Nam 11
1.1.3. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 12
1.2. Học sinh giỏi hóa học 12
1.2.1. Khái niệm học sinh giỏi hóa học……… 12
1.2.2. Năng khiếu hóa học 12
1.2.3. Những phẩm chất và năng lực quan trọng nhất của một học sinh giỏi hóa học cần bồi dưỡng và phát triển
13 1.2.4. Những kĩ năng cần thiết của giáo viên cần có khi bồi dưỡng học sinh giỏi
16 1.2.5. Bài tập hóa học 17
1.2.6. Cấu trúc đề thi HSGHH và đề thi vào lớp 10 chuyên THPT 21 1.2.7. Thực trạng công tác bồi dưỡng học sinh giỏi ở các trường THCS Huyện Bình Giang hiện nay
24 Tiểu kết chương 1 29
CHƯƠNG 2: BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI MÔN HÓA HỌC ĐỂ THI VÀO LỚP 10 CHUYÊN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUA DẠNG BÀI TẬP VỀ OXIT 30 2.1 Cơ sở xây dựng hệ thống bài tập bồi dưỡng học sinh giỏi qua dạng bài tập về oxit
30 2.1.1 Nguyên tắc xây dựng 30
Trang 52.1.2. Kĩ năng xây dựng ngân hàng bài tập và soạn thảo chuyên đề 31
2.2. Hệ thống bài tập bồi dưỡng học sinh giỏi để ôn thi vào lớp 10 chuyên trung học phổ thông qua bài tập về oxit
33 2.2.1 Chuyên đề 1: Bài tập về tính chất của oxit bazơ 33
2.2.2 Chuyên đề 2: Bài tập về tính chất của oxit axit 43
2.2.3. Chuyên đề 3: Bài tập về tính chất của oxit lưỡng tính 68
2.2.4. Chuyên đề 4: Bài tập về tính chất của oxit trung tính 75
2.2.5. Chuyên đề 5: Bài tập tổng hợp và nâng cao về oxit 83
2.2.6. Giáo án một số chuyên đề 94
Tiểu kết chương 2 101
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 102
3.1. Mục đích và nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 102
3.1.1. Mục đích 102
3.1.2. Nhiệm vụ 102
3.2. Đối tượng thực nghiệm sư phạm……… 102
3.3. Tiến trình và nội dung thực nghiệm sư phạm 102
3.3.1. Chọn lớp thực nghiệm và lớp đối chứng……… 102
3.3.2. Trao đổi với giáo viên dạy thực nghiệm……… 103
3.3.3. Tiến trình thực nghiệm sư phạm……… 103
3.4. Phân tích, đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 104
3.4.1. Phân tích định tính kết quả thực nghiệm 104
3.4.2. Phân tích định lượng kết quả thực nghiệm ………
Tiểu kết chương 3………
104 114
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 115
1. Kết luận 115
2. Khuyến nghị 115
TÀI LIỆU THAM KHẢO 117
PHỤ LỤC 118
Trang 6
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.2. Cấu trúc đề thi số 1 21
Bảng 1.2. Cấu trúc đề thi số 2 22
Bảng 1.3. Cấu trúc đề thi số 3 23
Bảng 1.4. Kết quả điều tra về những khó khăn của GV trong quá trình bồi dưỡng HSG
24 Bảng 1.5. Kết quả điều tra về những khó khăn của HS trong quá trình bồi dưỡng HSG
25 Bảng 3.1. Thống kế kết quả kiểm tra lần 1 105
Bảng 3.2. Thống kế kết quả kiểm tra lần 2 105
Bảng 3.3. Bảng phân phối tần số, tần suất và tần suất tích lũy 106
Bảng 3.4. Bảng phân phối tần số, tần suất và tần suất tích lũy 106
Bảng 3.5. Bảng phân phối tần số, tần suất và tần suất tích lũy 107
Bảng 3.6. Tổng hợp kết quả bài kiểm tra lần 1 108
Bảng 3.7. Phân phối tần suất và tần suất tích lũy của lớp 9A1 và 9A3…… 108
Bảng 3.8. Phân phối tần suất và tần suất tích lũy của lớp 9A2 và 9A4……… 109
Bảng 3.9. Bảng phân phối tần số, tần suất và tần suất tích lũy 109
Bảng 3.10. Tổng hợp kết quả bài kiểm tra số 2……… 110
Bảng 3.11. Các tham số đặc trưng của bài kiểm tra số 1……… 111
Bảng 3.12. Các tham số đặc trưng của bài kiểm tra số 2……… 111
Bảng 3.13. Kết quả xử lí để tính toán các tham số bài kiểm tra số 1……… 111
Bảng 3.14. Kết quả xử lí để tính toán các tham số bài kiểm tra số 2……… 111
Trang 8
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Luật giáo dục (2/1998-tr.8) điều 28 đã ghi: " Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện
kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh".
Muốn đổi mới giáo dục thì phải đổi mới cách dạy và cách học, người giáo viên cần coi trọng việc hình thành và phát triển tiềm lực trí tuệ cho học sinh, đặc biệt là năng lực tư duy, năng lực hành động. Cần tạo điều kiện cho học sinh có ý thức và biết vận dụng tổng hợp kiến thức vào cuộc sống thực tiễn, đồng thời chú ý rèn luyện cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo; chú ý các thao tác tư duy cơ bản như phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hoá….
Như vậy, muốn đổi mới phương pháp dạy học phải chống thói quen áp đặt, truyền thụ kiến thức theo một chiều mà phải tạo cơ hội cho học sinh phát hiện kiến thức và tiếp cận kiến thức để giải quyết vấn đề một cách linh hoạt và sáng tạo.
Nhiệm vụ này được thực hiện bằng nhiều phương pháp khác nhau song sử dụng hệ thống bài tập hóa học là một cách đa dạng linh hoạt sẽ mang lại hiệu quả cao. Bài tập hóa học được đánh giá là phương pháp dạy học hiệu nghiệm trong việc phát hiện, bồi dưỡng năng lực nhận thức và tư duy hóa học cho HS nhất là HS khá giỏi. Việc sử dụng bài tập hóa học để củng cố mở rộng kiến thức, rèn kĩ năng hóa học, tích cực chủ động và tư duy sáng tạo cho HS.
Trong môn hoá học thì bài tập hoá học có một vai trò cực kỳ quan trọng nó là nguồn để giáo viên sử dụng để khai thác bài giảng tìm kiếm thông tin, cung cấp
kiến thức lí thuyết, bài tập hoá học cũng được giáo viên sử dụng không chỉ củng cố
kiến thức lí thuyết để giải thích các hiện tượng, các quá trình phản ứng xảy ra trong thực tế đời sống sản xuất, thông qua bài tập hóa học còn giúp tính toán số liệu của các đại lượng liên quan đến thực tế hoặc giả định. Trong quá trình nghiên cứu nhiều dạng bài toán hoá học khác nhau về các loại hợp chất chất vô cơ cũng như hợp chất hữu cơ trong chương trình hóa học trung học cơ sở, tôi nhận thấy rằng bài tập liên
quan tính chất hóa học của oxit là một trong các dạng bài tập tương tối phong phú,
Trang 9tập về tính chất hóa học của oxit là dạng bài tập liên quan đến tính chất hóa học
chung của oxit như tính chất hóa học của oxit axit, tính chất hóa học của bazơ, tính chất hóa học của oxit trung tính, tính chất hóa học của oxit lưỡng tính và cách điều chế, những ứng dụng của các oxit trên, nó cũng là tiền đề để học sinh nghiên cứu tiếp tính chất hóa học của các oxit trong chương trình hóa học lớp 11 trung học phổ
thông. Thông thường những bài tập về oxit thường đa dạng, khá phức tạp và xảy ra
theo nhiều phương trình phản ứng khác nhau điều đó làm cho học sinh gặp khó khăn trong việc viết phương trình hóa học, tính toán. Ví dụ ngoài khái niệm về oxit, công thức tổng quát, đặc biệt nghiên cứu tính chất hóa học của các loại oxit, thì những khó khăn mà HS gặp phải chính là viết thứ tự các phản ứng hóa học của oxit axit với dung dịch kiềm của kim loại (nhóm I,II) hay đổ từ từ dung dịch kiềm vào oxit axit thì thứ tự sản phẩm của phản ứng cũng rất khác nhau. HS cũng thường mắc sai lầm khi viết các phản ứng hóa học của oxit lưỡng tính với dung dịch kiềm, và cũng thường biện luận thiếu trường hợp khi bài toán yêu cầu tính thể tích ( hay khối lượng) của oxit axit khi đã cho lượng kiềm và khối lượng muối
Một khó khăn tiếp theo mà học sinh cũng gặp khó khăn là bài toán về oxit axit tác dụng với kiềm sản phẩm không nói rõ là muối axit, hay muối trung hòa hay
cả hai muối mà chỉ cho chất rắn sau cô cạn. Bài tập về oxit là một trong những
chuyên đề hay do đó mỗi thầy cô thường lựa chọn để khai thác về tư duy của học sinh thông qua các dạng của đề thi học sinh giỏi, đề thi vào lớp 10 chuyên, hay đề thi vào các trường Cao đẳng- Đại học bởi lẽ với mảng kiến thức này mong muốn sẽ phát huy được tư duy độc lập sáng tạo của học sinh, phát hiện các em có tố chất tốt
để học tập ở các lớp chuyên Hóa đồng thời tháo gỡ những điểm còn hạn chế của học sinh khi các em làm bài tập định tính(nêu giải thích hiện tượng), hay bài tập
định lượng trong thực tế nên tôi đã chọn luận văn : “ Bồi dưỡng học sinh giỏi môn Hóa học để thi vào lớp 10 chuyên trung học phổ thông qua dạng bài tập về Oxit”
2 Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu tuyển chọn, xây dựng và sử dụng dạng bài tập về oxit để bồi dưỡng học sinh giỏi và thi vào lớp 10 chuyên trung học phổ thông
Trang 103. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí thuyết, bản chất của phản ứng: về tính chất hóa học của oxit bazơ
- Nghiên cứu cơ sở lí thuyết, bản chất của phản ứng: về tính chất hóa học của oxit lưỡng tính
- Nghiên cứu cơ sở lí thuyết, bản chất của phản ứng: về tính chất hóa học của oxit trung tính khử oxit kim loại
-Nghiên cứu cơ sở lí thuyết, bản chất của phản ứng: về tính chất hóa học của oxit axit với dung dịch kiềm của kim loại nhóm I,II
- Xây dựng các dạng câu hỏi và bài tập: liên quan đến tính chất hóa học của oxit
- Một số câu hỏi và bài tập và đề thi học sinh giỏi, đề tuyển sinh vào lớp 10 chuyên trung học phổ thông(THPT) liên quan đến tính chất hóa học của oxit
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
- Quá trình bồi dưỡng HSG và chương trình ôn luyện HSG ở trường THCS để thi vào lớp 10 chuyên trung học phổ thông, ôn thi đầu vào lớp 10 THPT công lập 4.2 Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí thuyết, bản chất của phản ứng: về tính chất hóa học của oxit bazơ với dung dịch axit với các bài tập liên quan
- Nghiên cứu cơ sở lí thuyết, bản chất của phản ứng: về tính chất hóa học của oxit lưỡng tính với dung dịch bazơ với các bài tập liên quan
- Nghiên cứu cơ sở lí thuyết, bản chất của phản ứng: về tính chất hóa học của oxit trung tính khử oxit kim loại với các bài tập liên quan
-Nghiên cứu cơ sở lí thuyết, bản chất của phản ứng: về tính chất hóa học của oxit axit với dung dịch kiềm của kim loại nhóm I,II với các bài tập liên quan
- Nghiên cứu, chọn lựa các cách giải khác nhau để tìm ra đáp số dạng toán hóa học này chính xác và nhanh chóng.
5 Phạm vi nghiên cứu
Trang 11Đề tài chỉ đi sâu vào nghiên cứu tính chất hóa học, điều chế, các phương pháp giải thông thường, phương pháp giải bằng việc vận dụng một số định luật cơ bản đã học ở THCS về tính chất hóa học của oxit bazơ, oxit axit, oxit lưỡng tính,
oxit trung tính trong quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi ở các trung học trong Huyện
Bình Giang- Tỉnh Hải Dương, chưa bao quát hết các cách làm dạng tập về oxit axit
P2O5 tác dụng với kiềm trong chương trình trung học phổ thông, hay bài tập về (hỗn hợp oxit bazơ kết hợp với kim loại) khi phản ứng với hỗn hợp axit thông thường, hay axit có tính oxi hóa mạnh HNO3, H2SO4
6 Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được hệ thống bài tập có chất lượng theo từng chuyên đề cụ thể là nguồn tư liệu để HS và GV tham khảo.
Kết hợp với giáo viên sử dụng hợp lí các phương pháp dạy họ thì sẽ nâng cao chất lượng đội tuyển HSGHH và kết quả thi vào lớp 10 chuyên trung học phổ thông sẽ ngày càng tăng
7 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành tốt luận văn này tôi đã sử tôi đã sử dụng phối hợp các nhóm phương pháp nghiên cứu sau:
7.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lí thuyết
- Phương pháp thu thập các nguồn tài liệu lí luận.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp các nguồn tài liệu đã thu thập.
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Đánh giá hiệu quả của việc áp dụng hệ thống bài tập về tính chất hóa học của oxit trong việc bồi dưỡng HSG ở trường THCS 7.3 Phương pháp thống kê toán học: Xử lí phân tích các kết quả thực nghiệm sư phạm.
8 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
- Các nghiên cứu khảo sát được tiến hành trên phạm vi ở Trường THCS Tân Hồng
ở Huyện Bình Giang- Tỉnh Hải Dương
- Số liệu sử dụng để nghiên cứu đề tài này được thu thập trong khoảng thời gian từ tháng 6 năm 2014 đến tháng 11 năm 2014 qua các lớp bồi dưỡng HSG lớp 9 tại trường THCS Tân Hồng .
Trang 129 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
-Ý nghĩa lí luận: Đề xuất thêm cách giải và một số cách hay một số bài tập về oxit axit tác dụng với dung dịch kiềm, oxit bazơ tác dụng với hỗn hợp axit, oxit trung tính khử hỗn hợp oxit kim loại
- Ý nghĩa thực tiễn: Cách thiết kế một số câu hỏi và bài tập về một số bài tập về oxit axit tác dụng với dung dịch kiềm, oxit bazơ tác dụng với hỗn hợp axit, oxit trung tính khử hỗn hợp oxit kim loại trong các đề thi học sinh giỏi và các đề thi vào lớp 10 chuyên trung học phổ thông
10 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn dự kiến được trình bày theo 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của đề tài
Chương 2 Bồi dưỡng học sinh giỏi môn Hóa học để thi vào lớp 10 chuyên trung học phổ thông qua dạng bài tập về Oxit
Chương 3 Thực nghiệm sư phạm
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Tổng quan về vấn đề bồi dưỡng học sinh giỏi trên thế giới và Việt Nam
1.1.1 Vấn đề bồi dưỡng dân trí ở các nước phát triển57, 10 15tr
Vai trò của các nhân tài với sự phát triển của quốc gia đã được xác định ở nhiều nước trên thế giới. Ở Việt Nam, năm 1484, Thân Nhân Trung đã khắc vào bia
đá đặt tại Văn Miếu Quốc Tử Giám dòng chữ “Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì nước mạnh, rồi lên cao; nguyên khí suy thì nước yếu, rồi xuống thấp”. Chân lí này đã được nhiều nước khẳng định và chú trọng phát triển trong chiến lược phát triển của đất nước mình. Ngày nay, khi thế giới bước sang giai đoạn toàn cầu hóa thì vai trò của cá nhân, những nhân tài của đất nước càng trở lên quan trọng hơn bao giờ hết. Vì vậy không có đất nước nào lại không chăm lo đến việc
Trang 13- Nước Mỹ mãi đến thế kỉ XIX mới chú ý đến vấn đề giáo dục học sinh giỏi và tài năng. Đầu tiên là hình thức giáo dục linh hoạt tài trường St. Pulic Schools Louis
1868. Sau đó lần lượt các trường Woburn, MA năm 1884,Elizabeth, NJ năm 1886
và ở Cambridge, MA năm 1891. Trường St, Louis từ đó đã cho phép học sinh giỏi học chương trình sáu năm trong vòng 4 năm. Đến năm 1920 có tới hai phần ba các thành phố lớn tại Hoa Kỳ đã thực hiện chương trình giáo dục học sinh giỏi. Trong suốt thế kỉ XX, học sinh giỏi đã trở thành vấn đề của nước Mỹ. Hàng loạt các tổ chức và trung tâm nghiên cứu, bồi dưỡng học sinh giỏi ra đời như Mensa( năm 1946), The American Association for the Gifted( năm 1953), The Departman of Education published National Excelent: A Case for devoloping American’s Talent( năm 1993). Năm 2002 có 38 bang của Hoa Kỳ có đạo luật về giáo dục học sinh giỏi, trong đó có 28 bang có thể đáp ứng đầy đủ cho việc giáo dục học sinh giỏi.
Ở Châu Âu, viện quốc tế Aurio với nhiệm vụ nhận diện, khảo sát HSG và HS tài năng trên khắp thế giới (websitehttp://worldclassarena.org). Singapore có hẳn chương trình giáo dục HSG (Gifted Education Programe), nước Anh thành lập cả một viện hàn lâm quốc gia dành cho HSG và tài năng trẻ (The national Academy for Gifted and Talented Youth, website http://www.nagty.ac.uk) và hiệp hội quốc gia dành cho HSG(The National Association for Gifted Children, website http://naycbritain.org.uk) và website hướng dẫn GV dạy cho HSG và tài năng( Guidance for Teachers in Teaching Gifted and Talented Students, website http://www.nc.uk.net/gt/)
Trang 14Cộng hòa liên bang Đức có hiệp hội dành cho HSG và tài năng Đức ( German Society for The Gifted and Talented Child, website http://dghk.de/welcom.htnl) Giáo dục phổ thông Hàn Quốc có một chương trình đặc biệt dành cho HSG nhằm giúp chính quyền phát hiện HS tài năng từ rất sớm
Năm 1994 đã có khoảng 57/174 cơ sở giáo dục ở Hàn Quốc tổ chức chương trình đặc biệt dành cho HSG(www.inca.org.uk)
Từ năm 1985, Trung Quốc thừa nhận phải có một chương trình giáo dục đặc biệt dành cho hai loại đối tượng HS yếu kém và HSG, trong đó cho phép các HSG có thể học vượt lớp . Một trong mười lăm mục tiêu ưu tiên của Viện Quốc Gia nghiên cứu giáo dục và Đào tạo Ấn Độ là phát hiện và bồi dưỡng HS tài năng. Như vậy hầu hết các nước đều coi trọng vấn đề đào tạo và bồi dưỡng HSG trong chiến lược phát triển chương trình giáo dục phổ thông.
1.1.1.2 Khái niệm về học sinh giỏi
Nhìn chung các nước đều dùng hai thuật ngữ chính là Gift( Giỏi, có năng khiếu) và Talent(tài năng) để chỉ HSG. Luật Bang Georgia(Hoa kỳ) định nghĩa HSG “HSG là HS chứng minh được trí tuệ ở trình độ cao, có khả năng sáng tạo, thể hiện một động cơ học tập mãnh liệt, đạt xuất sắc trong lĩnh vực lí thuyết, khoa học, người cần có sự giáo dục đặc biệt để đạt được trình độ tương ứng và năng lực của người đó”( Geougia law)
-Theo Clack 2002, ở Mỹ người ta định nghĩa “HSG là những HS, những người trẻ tuổi, có dấu hiệu về khả năng hoàn thành xuất sắc công việc trong các lĩnh vực như trí tuệ, sự sáng tạo, nghệ thuật, khả năng lãnh đạo hoặc trong lĩnh vực lí thuyết chuyên biệt Những người này đòi hỏi sự phục vụ vì các hoạt động không theo trường lớp thông thường nhằm phát triển hết năng lực của họ”.(Wiki peria, the free
eacycloperia Academy for Gifted Children).
- Bách khoa toàn thư Encata Encycloperia cũng khẳng định “ Giáo dục HSG là một lĩnh vực đặc biệt liên quan đến việc giảng dạy cho những học sinh có khả năng khác thường ”.
Trang 15- Cơ quan giáo dục Hoa Kỳ miêu tả khái niệm HSG như sau: “ Đó là những HS có khả năng thể hiện xuất sắc hoặc năng lực nổi trội trong các lĩnh vực trí tuệ, sự sáng tạo, khả năng lãnh đạo, nghệ thuật hoặc các lĩnh vực lí thuyết chuyên biệt Những
HS này thể hiện tài năng đặc biệt của mình ở tất cả các bình diện xã hội, văn hóa
và kinh tế”( Education of Gifted Student Encata Encycloperia.2005).
Nhiều nước quan niệm: HSG là những đứa trẻ có năng lực trong các lĩnh vực trí tuệ, sáng tạo, nghệ thuật và năng lực lãnh đạo hoặc lĩnh vực lí thuyết. Như vậy HSG cần có sự phục vụ và hoạt động học tập trong những điều kiện đặc biệt để phát triển các năng lục sáng tạo của họ.
1.1.1.3 Mục tiêu dạy học học sinh giỏi
- Mục tiêu chính của chương trình dành cho HSG và HS tài năng ở các nước đều hướng đến một số điểm chính sau:
+ Phát triển phương pháp suy nghĩ ở trình độ cao phù hợp với khả năng trí tuệ của trẻ
+ Bồi dưỡng sự lao động, làm việc sáng tạo
+ Phát triển các kĩ năng, phương pháp và thái độ tự học suốt đời
+ Nâng cao ý thức và khát vọng của trẻ về sự tự chịu trách nhiệm
+ Khuyến khích sự phát triển về lương tâm và ý thức trách nhiệm trong lao động góp cho xã hội
(http://www.inca.org.uk) với mục tiêu này các nước đều tập trung phát hiện và bồi dưỡng HSG trên các lĩnh vực trí tuệ ( intellectual), sự sáng tạo (creative), nghệ thuật( arts), khả năng lãnh đạo( Leadership), lĩnh vực lí thuyết(ecademic). Cũng có nước chú ý khảo sát phát hiện và bồi dưỡng HSG ở các lĩnh vực năng lực trí tuệ chung, nhận thức, lí thuyết, sáng tạo, lãnh đạo, nghệ thuật, nghe nhìn, trình diễn
Trang 161.1.1.4 Phương pháp và các hình thức giáo dục học sinh giỏi
- Nhiều nước thường vận dụng một chương trình đặc biệt với cách dạy đặc biệt cho phép HS học dồn, học tắt, học tích hợp nội dung các môn học hoặc ghép chương trình môn học của hai hoặc ba năm để HS có thể đẩy nhanh, tốt nghiệp phổ thông sớm hơn các HS bình thường
- Từ điển bách khoa Wikiperia trong mục giáo dục HSG (Gifted education) nêu lên các hình thức giáo dục HSG như sau:
+ Tổ chức lớp học chuyên biệt: HSG đi rèn luyện trong một lớp hoặc một trường học riêng thường gọi là lớp chuyên, lớp năng khiếu. Các lớp trường hoặc trường chuyên(độc lập) có nhiệm vụ hàng đầu là đáp ứng các đòi hỏi cho những HSG về lí thuyết. Hình thức này đòi hỏi nhà trường điều kiện như bảo vệ HS, giúp đỡ và đào tạo chuyên môn cho GV, biên soạn chương trình, bài học, phương tiện dạy học… + Phương pháp Mông-te-xơ-ri( Montessori-method): Trong một lớp HS có 3 nhóm tuổi, nhà trường tạo điều kiện cho HS có cơ hội học tập để vượt lên so với các nhóm bạn cùng tuổi. Phương pháp này đòi hỏi phải xây dựng được các mức độ khá tự do
và hết sức có lợi cho những HSG trong hình thức học tập và tốc độ cao.
+ Tăng gia tốc(Accaleration): Những HS xuất sắc xếp vào một lớp có trình độ cao với nhiều tài liệu tương ứng với khả năng của mỗi HS. Một số trường đề nghị hoàn thành chương trình nhanh hơn để học sinh có thể học bậc trên sớm hơn. Nhưng hướng tiếp cận cho HSG làm việc với những tài liệu lí thuyết tương ứng với khả năng của chúng cũng dễ làm cho HS xa rời xã hội.
+ Học tách dời( Pull out): Một phần thời gian theo lớp HSG, phần còn lại học theo lớp thường.
Trang 17+ Dạy ở nhà( Homeshooling): Một nửa thời gian học ở nhà, học lớp, học nhóm, học
có cố vấn( mentor), hoặc một thầy một trò( Tutor) và không cần dạy.
+ Sở thích riêng( Hobby) một số môn thể thao như cờ vua được tổ chức dành cho HSG thử sức trí tuệ sau giờ học.
Như vậy ở các nước khác nhau đã có nhiều phương pháp và hình thức giáo dục HSG, các hình thức này rất đa dạng và đều hướng đến tạo điều kiện học tập cho HSG phát triển hết năng lực của mình. HSG cần có hình thức học tập khác với HS thường để phát huy được tiềm năng của đối tượng này.
1.1.1.5 Đánh giá học sinh giỏi
- Chú ý những nhân tố động cơ như niềm hứng thú, sự nỗ lực và cảm xúc trong việc đánh giá tài năng( National Excellence: A case for Developing American’s Talent-clack.2002 ). Hoặc tự đánh giá HSG cần dựa trên các cơ sở: Khả năng tinh thần, trí tuệ, sáng tạo và động cơ học tập (“Giftedness” Under Georgia law). Một số trường
Trang 18đã trở thành vấn đề thời sự gây nhiều tranh luận giữa các nhà giáo dục các nước.
1.1.2 Hệ thống trường chuyên ở Việt Nam
Đầu thập kỉ 60 của thế ký XX, thực hiện chỉ thị của Nguyên thủ tướng Phạm Văn Đồng, để khuyến khích các HSG toán, Trường đại học tổng hợp Hà Nội( nay là trường Đại học Khoa Học Tự Nhiên- ĐHQGHN ) đã phối hợp với công ty giáo dục
Hà Nội tổ chức một lớp bồi dưỡng Toán cho HSG Toán của Hà Nội “ Lớp Toán đặc biệt” đầu tiên của nước ta ra đời vào tháng 9 năm 1965.
- Tiếp nối các “ Lớp Toán đặc biệt”( sau này gọi là chuyên Toán) trong những thập
kỉ 80, thập kỉ 90 của thế kỉ XX, các lớp chuyên Ngữ Văn, Ngoại ngữ, Vật lí, Hóa Học, Sinh học, Tin học, Lịch sử, Địa lí được mở đồng thời với việc thành lập các trường, khối lớp THPT chuyên tại hầu hết các tỉnh, Thành phố và số trường Đại học tạo nên hệ thống các trường THPT chuyên. Đến năm 2006-2007, đã có 7 trường Đại Học, 63/64 Tỉnh, Thành phố có trường chuyên với 74 trường khối THPT chuyên, tổng số có khoảng trên 50.000 học sinh
- Mục đích ban đầu của hệ thống trường chuyên như các nhà khoa học khởi sướng:
Lê Văn Thiêm, Hoàng Tuy, Tạ Quang Bửu, Ngụy Như… mong đợi, là nơi phát triển các tài năng đặc biệt xuất sắc trong các lĩnh vực khoa học cơ bản. Trong thời
kì đầu của hệ thống trường chuyên, khi mới hình thành một số lớp phổ thông
chuyên tại các đại học, mục tiêu này đã được theo sát và đạt được thành tựu khi mà phần lớn các học sinh chuyên Toán, khi đó tiếp tục theo đuổi các lĩnh vực Toán học, Hóa Học, Vật lí, Tin học… Đây là giai đoạn hệ thống trường chuyên làm đứng vai trò của nó. Những HS chuyên trong thời kì này hiện đang nắm giữ các vị trí lãnh đạo chủ chốt tại các trường Đại học lớn, các Viện nghiên cứu cũng như các cá nhân tiêu biểu nhất của nền khoa học nước nhà. Song song với các trường chuyên khối THPT thì từ năm 2003 trở về đây các trường THCS trong các huyện đều thành lập trường chuyên, hay trường học tập như qui mô trường chuyên tuyển chọn các học sinh đạt danh hiệu HSG khi tốt nghiệp tiểu học vào trường.
1.1.3 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Trang 19Vũ Anh Tuấn nghiên cứu phần Hóa học THPT nói chung bao gồm các phần hóa học đại cương, hóa học vô cơ, hóa học hữu cơ và xuất bản sách Bồi dưỡng HSG Hóa THCS nhưng chưa đi sâu nghiên cứu các chuyên đề cụ thể, đặc biệt là các dạng bài tập về oxit để bồi dưỡng HSG để ôn thi vào lớp 10 chuyên THPT.
1.2 Học sinh giỏi hóa học:
1.2.1 Khái niệm học sinh giỏi hóa học
Từ khái niệm về HSG ta có thể hiểu HSGHH là những HS có năng lực nổi trội, có biểu hiện khả năng hoàn thành xuất sắc các hoạt động về các lĩnh vực trí tuệ, sự sáng tạo, đặc biệt là có khả năng chuyên biệt trong học tập và nghiên cứu hóa học. Như vậy HSGHH có kiến thức hóa học cơ bản, vững vàng, sâu sắc và hệ thống, biết vận dụng linh hoạt và sáng tạo kiến thức hóa học vào tình hình mới, có năng lực tư duy khái quát và sáng tạo. Đồng thời còn có kĩ năng thực hành thành thạo và có năng lực nghiên cứu khoa học Hóa Học.
1.2.2 Năng khiếu hóa học
Bao gồm 2 mặt tích cực chủ yếu là:
* Khả năng tư duy Toán học
* Khả năng quan sát, nhận thức và nhận xét các hiện tượng tự nhiên, lĩnh hội và vận dụng tốt các khái niệm, định luật hoá học.
1.2.2.1 Học sinh có khả năng tư duy Toán học tốt nhưng không có khả năng quan sát, nhận thức các hiện tượng tự nhiên
Thì không thể có niềm say mê Hóa học dẫn đến học môn Hóa theo cách thức phiến diện, công thức và Toán hóa các sự việc, hiện tượng của Hóa học.
1.2.2.2. Học sinh có khả năng quan sát, nhận thức các hiện tượng tự nhiên dẫn đến niềm say mê Hóa học nhưng khả năng tư duy Toán học chưa tốt
Trang 201.2.3 Những phẩm chất và năng lực quan trọng nhất của một học sinh giỏi hóa học cần bồi dưỡng và phát triển 69
Hiện nay chưa có một tài liệu cụ thể định nghĩa như thế nào là học sinh giỏi hóa học. Chúng tôi xin đưa ra một số ý kiến của các thầy giáo đã có kinh nghiệm lâu năm trong việc giảng dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi. Từ những ý kiến đó hy vọng
sẽ góp phần làm sáng tỏ quan điểm về những năng lực và phẩm chất của học sinh giỏi hóa học. Để rồi từ đó có hướng đi đúng đắn trong việc phát hiện và bồi dưỡng
những ngôi sao tỏa sáng trên bầu trời hóa học của nước nhà
Theo GS. TS nhà giáo nhân dân Nguyễn Cảnh Toàn 27 : “ học giỏi là ham học, chủ động tìm học, tự học một cách thông minh sáng tạo, biết gắn học với hành”
Thầy Lê Văn Dũng (Đại học Sư Phạm Huế) cho rằng 36 : “Một học sinh có
tư duy hóa học phát triển là có năng lực quan sát tốt, có trí nhớ logic nhạy bén, có óc tưởng tượng linh hoạt phong phú, ứng đối sắc sảo với các vấn đề hóa học và làm việc có phương pháp”
- Có kiến thức cơ bản tốt: thể hiện nắm vững các khái niệm, các định nghĩa, các định luật hay qui luật đã được qui định trong chương trình, không thể hiện thiếu xót
về công thức, phương trình hóa học. Số điểm phần này chiếm 50% toàn bài.
Trang 21- Vận dụng sắc bén và có sáng tạo các kiến thức cơ bản. Phần này chiếm khoảng 40% toàn bài
- Tiếp thu và dùng được ngay một số vấn đề mới nảy sinh do đề thi đưa ra. Phần này chiếm khoảng 6% toàn bài.
- Bài làm trình bày sạch đẹp rõ ràng. Phần này chiếm 4% toàn bài.
Ngoài những bài thi lý thuyết học sinh còn gặp các bài thi thực hành, đối với các bài thi loại này, yêu cầu người học sinh phải có kỹ năng thực hành tốt, khuyến khích các tài năng thực hành, như sự khéo léo, có sự quan sát hiện tượng tốt và giải thích được bản chất hiện tượng đó.
Theo Thầy Vũ Anh Tuấn( Bộ GD&ĐT) thì năng khiếu hóa học bao gồm hai mặt tích cực và chủ yếu là 27 36
+ Khả năng tư duy toán học khả năng quan sát, nhận thức và nhận xét các hiện tượng tự nhiên, lĩnh hội và vận dụng tốt các khái niệm, các định luật hóa học
- Vấn đề năng khiếu hoá học và những thành tố chủ yếu của năng khiếu Hoá học còn cần được tiếp tục nghiên cứu thêm. Trước mắt cần xác định những phẩm chất
và năng lực quan trọng nhất của một học sinh giỏi hóa học. Theo chúng tôi, đó là:
a. Có kiến thức hoá học cơ bản vững vàng, sâu sắc, hệ thống (chính là nắm vững bản chất hoá học của các hiện tượng hoá học).
b. Có năng lực tư duy hoá học (biết phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hoá cao, có khả năng sử dụng phương pháp đoán mới: qui nạp, diễn dịch, loại suy ). Có khả năng quan sát, nhận thức, nhận xét các hiện tượng tự nhiên.
c. Biết vận dụng linh hoạt, mềm dẻo, sáng tạo những kiến thức cơ bản và những nhận thức đó vào tình huống mới, không theo đường mòn.
Theo các tài liệu về Tâm lý học và phương pháp dạy học Hoá học thì năng khiếu Hoá học được thể hiện qua một số năng lực và phẩm chất sau:
1.2.3.1.Năng lực tiếp thu kiến thức
- Khả năng nhận thức vấn đề nhanh, rõ ràng và nhanh chóng vận dụng vào tình huống tương tự(tích hợp kiến thức).
- Luôn hào hứng trong các tiết học, nhất là bài học mới.
- Có ý thức tự bổ sung, hoàn thiện những tri thức đã thu được ngay từ dạng sơ khởi.
1.2.3.2 Năng lực suy luận logic
Trang 221.2.3.4 Năng lực lao động sáng tạo
- Biết tổng hợp các yếu tố, các thao tác để thiết kế một dãy hoạt động nhằm đạt đến kết quả mong muốn
1.2.3.5 Năng lực kiểm chứng
- Biết suy xét đúng sai từ một loạt sự kiện.
- Biết tạo ra các tương tự hay tương phản để khẳng định hay bác bỏ một đặc trưng nào đó trong sản phẩm do mình tạo ra.
- Biết chỉ ra một cách chắc chắn các dữ liệu cần phải kiểm nghiệm sau khi thực hiện một số lần kiểm nghiệm.
1.2.3.6 Năng lực thực hành
- Biết thực hiện dứt khoát một số thao tác thí nghiệm.
- Biết kiên nhẫn và kiên trì trong quá trình làm sáng tỏ một số vấn đề lí thuyết qua thực nghiệm.
- Hóa học là bộ môn khoa học thực nghiệm nên đòi hỏi học sinh phải có năng lực thực nghiệm, tiến hành các thí nghiệm hóa học(TNHH) vì đây cũng là một trong các yêu cầu của các kì thi HSG trường, HSG huyện, HSG tỉnh, HSG quốc gia, Olimpic quốc tế.
1.2.3.7 Năng lực vận dụng kiến thức giải quyết các vấn đề thực tiễn
Trang 23 Theo tài liệu của hội Hóa học Việt nam 18 : những phẩm chất và năng lực quan trong nhất của học sinh giỏi hóa học đó là:
- Có năng lực tư duy tốt và sáng tạo( biết phân tích, tổng hợp so sánh, khái quát cao,
có khả năng sử dụng phương pháp mới qui nạp, diễn dịch, loại suy )
- Có kiến thức sâu sắc, vững vàng, hệ thống( chính là nắm rõ bản chất hóa học của hiện tượng hóa học). Biết vận dụng sáng tạo, linh hoạt những tình huống đó vào thực tế.
- Có kĩ năng thực nghiệm tốt, có năng lực vệ phương pháp nghiên cứu khoa học hóa học( biết nêu ra những lí luận cho những hiện tượng xảy ra trong thực tế, biết cách dùng thực nghiệm để kiểm chứng lại những thí nghiệm trên và biết cách dùng lí thuyết để giải thích các hiện tượng đã được kiểm chứng).
Các ý kiến trên đã cho chúng ta có cài nhìn tương đối đầy đủ về một học sinh giỏi hóa học. Chúng tôi xin đúc kết lại vấn đề như sau
* Năng lực và phẩm chất của học sinh giỏi hóa học:
- Có lòng say mê học tập hóa học cao độ, có sự nhạy cảm hóa học và có khả năng tự học tự nghiên cứu.
- Có năng lực tư duy tốt và sáng tạo.
- Nắm vững bản chất hiện tượng hóa học, kiến thức cơ bản, kĩ năng thực hành thí nghiệm, dồng thời vận dụng thông minh, sáng tạo những kiến thức, kĩ năng ấy và điều kiện cụ thể.
1.2.4 Những kĩ năng cần thiết của giáo viên cần có khi bồi dưỡng học sinh giỏi 1.2.4.1.Các nhóm kĩ năng cơ bản
Trang 25Theo các nhà lí luận dạy học Liên Xô(cũ), bài tập bao gồm cả câu hỏi và bài toán, mà trong khi hoàn thành chúng, học sinh vừa nắm được vừa hoàn thiện một tri thức hay một kỹ năng nào đó, bằng cách trả lời miệng, trả lời viết hoặc kèm theo thực nghiệm.
Ở nước ta, sách giáo khoa hoặc sách tham khảo, thuật ngữ “bài tập” được dùng theo quan điểm này. Về mặt lý luận dạy học, để phát huy tối đa tác dụng của BTHH trong quá trình dạy học người GV phải sử dụng và hiểu nó theo quan điểm
hệ thống và lý thuyết hoạt động. Một HS lớp 1 không thể xem bài tập lớp 9 là một “ bài tập” và ngược lại, đối với HS lớp 9, bài toán lớp 1 không còn là “ bài tập” nữa! Bài tập chỉ có thể là “bài tập” khi nó trở thành đối tượng hoạt động của chủ thể, khi
có một người nào đó có nhu cầu chọn nó làm đối tượng, mong muốn giải nó, tức là khi có một “ người giải”.
Trang 26Theo chúng tôi, thuật ngữ “ BTHH” chung hơn khái niệm “ bài toán hóa học”
và bao hàm cả khái niệm bài toán hóa học và có thể coi BTHH là những vấn đề học tập được giải quyết nhờ những suy luận logic, những phép toán và thí nghiệm hóa
học trên cơ sở các khái niệm, định luật, học thuyết và phương pháp hóa học
1.2.5.2 Ý nghĩa và tác dụng của bài tập hóa học
Thực tiễn ở trường phổ thông bài tập hóa học giữ vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo. Nó vừa là mục đích, vừa là nội dung, lại vừa là phương pháp dạy học hiệu nghiệm. Bài tập hóa học cung cấp cho HS cả kiến thức, con đường giành lấy kiến thức, đặc biệt góp phần to lớn trong việc phát huy khả năng tư duy độc lập, sáng tạo của HS.
Bài tập hóa học là một trong những phương tiện hiệu nghiệm cơ bản nhất để
HS vận dụng các kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống, sản xuất và tập nghiên cứu khoa học, biến những kiến thức đã thu được qua bài giảng thành kiến thức của chính mình. Kiến thức được nhớ lâu khi vận dụng thường xuyên như M.A Đanilôp nhận định: “ Kiến thức sẽ được nắm vững thực sự nếu học sinh có thể vận dụng thành thạo chúng vào việc hoàn thành những bài tập lí thuyết và thực hành”.
- Đào sâu, mở rộng kiến thức đã học một cách sinh động, phong phú. Chỉ có vận dụng kiến thức vào việc giải bài tập HS mới nắm vững kiến thức một cách sâu sắc.
- Bài tập hóa học còn là phương tiện để kiểm tra kiến thức, kĩ năng của HS một cách chính xác.
Bài tập hoá học có tác dụng giáo dục đạo đức, tác phong, rèn tính kiên nhẫn, trung thực, chính xác khoa học và sáng tạo, phong cách làm việc khoa học ( có tổ chức,
kế hoạch ), nâng cao hứng thú học tập bộ môn. Điều này thể hiện rõ khi giải bài tập thực nghiệm.
Trang 27sử dụng nó”. Làm thế nào phải biết trao đúng đối tượng, phải biết cách khai thác triệt để mọi khía cạnh của bài toán, để học sinh tự mình tìm ra cách giải. lúc đó bài tập hoá học thật sự có ý nghĩa.
1.2.5.3 Phân loại bài tập hoá học:
là năng lực tư duy, là trí thông minh ”.
Theo tôi để rèn trí thông minh cho HS thì trong quá trình giảng dạy phải làm cho học sinh thông hiểu sâu sắc kiến thức cơ bản, từ đó rèn các thao tác tư duy nhanh nhạy, linh hoạt, sáng tạo. Muốn vậy, phải đa dạng hóa các dạng bài tập, ưu tiên sử dụng bài tập thực hành, bài tập có nhiều cách giải hay, bài tập có sự phát
Trang 28triển thêm kiến thức mới … Với mỗi bài tập, không chỉ dừng lại ở mức độ tìm ra đáp số của bài toán mà phải tập cho HS suy nghĩ tìm ra cách giải khác, rút ra những kiến thức mới cần lĩnh hội.
1.2.6 Cấu trúc chung đề thi HSGHH và đề thi vào lớp 10 chuyên THPT
Trang 29Bảng 1.2 Cấu trúc đề thi số 2 Câu
1
cho đối tượng học sinh
Trang 30đối tượng học sinh
Trang 31tác dụng với dung dịch kiềm, thành phần hỗn hợp
thay đổi khi phản ứng với cùng một chất, thứ tự
Giáo viên chưa tuyển chọn, xây dựng được hệ thống
bài tập phù hợp để phát hiện và bồi dưỡng học sinh
giỏi.
17/19 89,4%
Trang 32Việc sử dụng các PPDH Hóa học theo hướng dạy học tích cực đã đạt kết quả khả quan. Tuy nhiên việc sử dụng phương pháp dạy học tích cực, sử dụng thí nghiệm và phương tiện trực quan trong các tiết dạy chưa thường xuyên hoặc sử dụng chưa hiệu
Trang 33Việc sử dụng bài tập trong giảng dạy hóa học chưa nhiều, chưa thường xuyên và chưa chất lượng vì việc biên soạn hệ thống bài tập thường mất nhiều thời gian; Đặc biệt việc sử dụng bài tập thực nghiệm để giảng dạy còn rất hạn chế, rất ít số tiết có sử dụng dạng bài tập này để phục vụ cho việc giảng dạy.
Với thực trạng giảng dạy đó đã ảnh hưởng nhiều đến việc tiếp thu kiến thức và hình thành năng lực của học sinh. Các em không chủ động tích cực trong việc lĩnh hội kiến thức nên kiến thức không sâu sắc, không chắc chắn, khả năng vận dụng kiến thức không hiệu quả trong thực tiễn,
1.2.7.2 Thực trạng bồi dưỡng HSGHH ở các trường THCS
- Các trường THCS trong Huyện Bình Giang – Tỉnh Hải Dương có kế hoạch bồi dưỡng HSG như sau:
+ Thời gian trước cứ khoảng tháng 10 các trường mới thành lập đội tuyển HSG các
bộ môn trên cơ sở HS được phân công và chia đều về cho các đội tuyển nên GV chưa có kế hoạch nắm bắt cụ thể tình hình học sinh được giao, GV dạy đội tuyển chưa có cơ hội làm các bài khảo sát để phát hiện ra những HS nào có tố chất thực sự
về bộ môn mà mình phụ trách, do đó nguồn bị hạn chế. Hay có khi giáo viên năm trước dạy nhưng năm sau không trực tiếp bồi dưỡng mà giáo viên khác bồi dưỡng nên không nắm được tình hình cụ thể của HS mà mình bồi dưỡng ít nhiều gặp khó khăn trong việc phát hiện nhân tố.
+ Một vài năm trở lại đây để nâng cao chất lượng các đội tuyển thì một số trường đã giao cho giáo viên trực tiếp giảng dạy phải có kế hoạch lựa chọn nguồn, tự chọn các
em có tố chất, hay các em thích học tập bộ môn tự đăng kí do đó nhân tố cũng được cải thiện phần nào, sau đó giao cho giáo viên tự bồi dưỡng để dự thi theo lịch của PGD nên các em cũng có cơ hội cọ sát và phấn đấu. Nhưng khó khăn chính là thời lượng để bồi dưỡng đội tuyển còn hạn chế chỉ khi vào lớp 9 thông thường là tháng
10, có khi cuối tháng 10 hàng năm các em mới được bồi dưỡng ( tính đến thời điểm cuối tháng 12) nên các em không được trang bị đầy đủ các kiến thức, hay các dạng bài tập để đi thi, có khi có em mới học được một số buổi đã đi thi nên không có cơ hội rèn luyện nhiều
Trang 34+ Một hạn chế nữa là nhiều nhà trường chưa cung cấp đầy đủ các tài liệu tham khảo, sách bồi dưỡng cho GV dạy và HS trong các đội tuyển để tham khảo, mà chủ yếu các thầy cô dạy đội tuyển tự mua SGK, sách tham khảo, hay tự biên soạn các chuyên đề theo kinh nghiệm của bản thân nên chất lượng không đồng đều
+ Đã có năm một số trường không tự bồi dưỡng HSG, giao HS trường mình cho các trường khác bồi dưỡng để hạn chế bớt về kinh phí bồi dưỡng nên chất lượg không đạt kế hoạch, ngay các em đó cũng ngại học
+ Nhiều GV dạy đội tuyển chưa có kinh nghiệm giảng dạy chưa sử dụng có hiệu quả các phương pháp để phát triển năng lực tư duy cho HS. Một số GV chưa xác định được lượng kiến thức cần trang bị cho HSG trong mỗi buổi dạy, phương pháp giảng dạy còn nặng về thuyết trình, cung cấp kiến thức, hay giải thích, minh họa là chính ít thực hành nên không kích thích sự ham học hỏi của HS nhất là HSGHH. + Mặt khác chương trình hóa học THCS mang tính định lượng trên cơ sở định tính. Trong tình hình khi ra đề thi HSG Huyện, HSG Tỉnh, đề thi vào lớp 10 chuyên Hóa THPT thường khai thác nội dung đến mảng kiến thức trên, hay những mảng kiến thức nào mà thầy cô bồi dưỡng nhiều, hay được cử đi ra đề sẽ tập trung nhiều nên chất lượng quá chênh lệch và không đồng đều giữa các vòng thi, đôi khi đề thi HSG kiến thức quá rộng so với trình độ kiến thức của HS nên chất lượng điểm không cao + Nếu tính cụ thể thời gian mà nhà trường giao cho các đội tuyển tự bồi dưỡng thường ( có trường chỉ dạy 5-7 buổi, có trường dạy 10-15 buổi, nhưng cũng có trường 3 buổi /một tuần giáo viên tự bồi dưỡng cho đến khi thi nên số lượng buổi bồi dưỡng cũng không đồng đều giữa các trường), kinh phí cho mỗi buổi bồi dưỡng HSG cũng chưa thật sự thỏa đáng, nhiều trường còn ghép cho những giáo viên thiếu tiết đảm nhận việc bồi dưỡng nên chất lượng không cao, giáo viên chưa thật sự nhiệt tình với việc bồi dưỡng. Một số giáo viên đã khắc phục điểm hạn chế về thời gian đã tự bồi dưỡng thêm HS trong đội tuyển của mình, ngoài kế hoạch nhà trường giao để nâng cao chất lượng của đội tuyển, một số giáo viên còn thành lập các lớp
ôn luyện riêng theo nhóm nhỏ. Hơn nữa việc bồi dưỡng HSG chỉ tập trung trong đợt thi HSG sau khi kết thúc các đội tuyển thì việc bồi dưỡng coi như chấm dứt, nên HS
có nhu cầu ôn thi vào trường chuyên thì phải được giáo viên thành lập lớp riêng và
ôn luyện đều đặn mới thu được kết quả cao. Việc đánh giá thi đua của các trường có
Trang 35gắn với việc chất lượng các đội tuyển HSG nên những năm trở lại đây việc bồi dưỡng HSG đã được chú trọng hơn, không chỉ trong các đợt bồi dưỡng mà còn gắn trách nhiệm cá nhân GV trong các đợt thi đua, đã động viên khen thưởng kịp thời
GV bồi dưỡng có thành tích cao, HS thi có kết quả tốt. Nhiều phụ huynh và gia đình
HS cũng có nhu cầu bồi dưỡng thêm để mong muốn con em nhà em có kiến thức vững chắc, chuẩn bị thi vào các trường chuyên nên ngoài các buổi được bồi dưỡng tại nhà trường, thì các em có nhu cầu đều đã thành lập thêm các lớp học thêm để có
cơ hội rèn luyện thêm các dạng bài và làm quen với không khí thi cử nên chất lượng các đội tuyển đã được cải thiện nhiều. Các lớp bồi dưỡng HSG khối 8 cũng dần dần được thành lập sớm để các em có cơ hội tiếp cận, học tập ôn luyện và thi HSG lớp 8
đã bắt đầu vào cuối tháng 5 hàng năm để PGD công nhận kết quả HSG cho các em
có kết quả cao, đồng thời đó cũng chính là nguồn để các thầy cô lựa chọn, để GV thấy điểm mạnh, điểm còn hạn chế của các em và có kế hoạch khắc phục kịp thời, tiếp tục ôn luyện tiếp trong hè và đặc biệt bồi dưỡng khi bước lên học tập ở kiến thức lớp 9 một cách nhịp nhàng có kế hoạch cụ thể, thống nhất nội dung bồi dưỡng nâng cao chất lượng của HS trong toàn Huyện.
Trang 36TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Trong chương này chúng tôi đã trình bày cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài bao gồm:
- Tổng quan về vấn đề bồi dưỡng HSG trên thế giới và Việt Nam bao gồm các phần: quan niệm của Thế giới về giáo dục HSG, khái niệm về HSG, mục tiêu dạy HSG, phương pháp và các hình thức giáo dục, đánh giá HSG, tổng quan về các vấn
đề nghiên cứu.
- Giới thiệu khái quát về quá trình hình thành và phát triển hệ thống trường chuyên.
- Nêu được các vấn đề liên quan đến HSGHH như: khái niệm về HSGHH, những phẩm chất và năng lực quan trọng nhất của một HS Hóa học cần bồi dưỡng và phát triển( năng lực tiếp thu kiến thức, năng lực suy luận logic, năng lực đặc biệt, năng lực lao động sáng tạo, năng lực kiểm chứng, năng lực thực hành, năng lực vận dụng kiến thức để giải quyết các vấn đề thực tiễn).
Trang 37
CHƯƠNG 2 BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI MÔN HÓA HỌC
ĐỂ THI VÀO LỚP 10 CHUYÊN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
QUA DẠNG BÀI TẬP VỀ OXIT 2.1 Cơ sở xây dựng hệ thống bài tập bồi dưỡng học sinh giỏi Hóa học qua dạng bài tập về oxit
2.1.1 Nguyên tắc xây dựng
2.1.1.1 Hệ thống bài tập phải đảm bảo tính chính xác, khoa học
Khi xây dựng, nội dung của bài tập phải có sự chính xác về kiến thức hóa học, bài tập cho đủ các dữ kiện, không được dư hay thiếu. Các bài tập không được mắc sai lầm về mặt thiếu chính xác trong cách diễn đạt, nội dung thiếu logic chặt chẽ. Vì vậy giáo viên khi ra bài tập cần nói, viết một cách logic chính xác và đảm
bảo tính khoa học về mặt ngôn ngữ hóa học.
2.1.1.2 Hệ thống bài tập phải đảm bảo tính hệ thống, tính đa dạng
Vận dụng quan điểm hệ thống – cấu trúc vào việc xây dựng bài tập cho học sinh. Trước hết chúng tôi xác định từng bài tập. Mỗi bài tập tương ứng với một kĩ năng nhất định vì bài tập không thể dàn trải cho mọi kĩ năng. Toàn bộ hệ thống gồm nhiều bài tập sẽ hình thành hệ thống kĩ năng toàn diện cho học sinh giỏi hóa học. Mặt khác, hệ thống bài tập còn phải được xây dựng một cách đa dạng, phong phú.
Trang 38một niềm vui, một sự hưng phấn cao độ, kích thích tư duy và nỗ lực suy nghĩ. 2.1.1.4 Hệ thống bài tập phải mở rộng kiến thức, vốn hiểu biết của học sinh
Nội dung kiến thức phần Oxit rất rộng, nhất là khi thi vào các đội tuyển HSG huyện, HSG tỉnh, thi vào lớp 10 chuyên, hay HSG quốc gia thì yêu cầu về kiến thức về Oxit đòi hỏi cao hơn rất nhiều. Kiến thức mở rộng không chỉ là kiến thức lý thuyết nâng cao mà còn phải bổ sung các kiến thức thực tiễn để vận dụng vào đời sống. Chính vì vậy, bài tập là công cụ tối ưu giúp bổ sung mở rộng kiến thức, vốn hiểu biết cho HS một cách đa dạng, không gây nhàm chán mà còn mang lại nhiều hiệu quả tích cực.
2.1.1.5 Hệ thống bài tập phải phát triển năng lực nhận thức, rèn luyện kĩ năng hóa học cho học sinh
Nhằm mục đích phát triển năng lực nhận thức, rèn luyện kỹ năng hóa học cho học sinh, chúng tôi xây dựng hệ thống bài tập về Oxit bồi dưỡng học sinh giỏi hóa học gồm các dạng cụ thể như sau:
2.1.2.1 Xây dựng ngân hàng bài tập
Ngân hàng bài tập: kho lưu trữ các hệ thống bài tập theo chủ đề
- Hệ thống bài tập phục vụ cho bồi dưỡng HSG phải đáp ứng các yêu cầu sau: + Phù hợp và đáp ứng nội dung thi HSG hóa học từng cấp( trường, huyện, tỉnh ) + Phát huy được trí thông minh, óc sáng tạo, tính tư duy độc lập sáng tạo của người học.
+ Rèn luyện tư duy( óc phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, trừu tượng hóa) + Kích thích sự ham học say mê tìm tòi của học sinh đối với môn Hóa học
Soạn thảo bài tập: có 3 cách
- Giáo viên tự xây dựng bài tập
Trang 39b) Xây dựng hệ thống bài tập của chuyên đề:
Trang 40- Tính toán định lượng: tính khối lượng, nồng độ của dung dịch, tính % về khối lượng của các oxit trong hỗn hợp, tìm công thức hóa học của oxit.