Đề tài "Khảo sát văn khắc Hán Nôm tại xã Thuỷ Dương, huyện Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên Huế"
Trang 1về trước mà phải giữ gìn và kế thừa những vốn quý đó Chính vì vậy, bảotồn và phát huy di sản Hán Nôm là một việc làm rất cần thiết.
Kho tàng tư liệu Hán Nôm trên đất nước ta hiện nay rất đa dạng vàphong phú, từ những pho tư liệu khoa học-hành chính của các triều đạiphong kiến cho đến những văn bản được ghi chép trên giấy tồn tại trongdân gian Đặc biệt nhất phải kể đến mảng văn khắc được thể hiện trên cáccông trình kiến trúc văn hoá truyền thống Bởi vốn tư liệu ở đây thể hiện rõnét nhất về nguồn cội, về quê hương đất nước, về phong tục tập quán vàđời sống văn hoá của con người Vì vậy muốn hiểu rõ về những cái đó taphải nắm được những giá trị nội dung mà người xưa đã gửi gắm Nhữngcâu đối hay những bức hoành phi trên những đền chùa, miếu mạo khôngchỉ là những tâm tư tình cảm và tấm lòng của con người mà nó còn chứađựng những giá trị thẩm mỹ, mang đậm dấu ấn bản sắc văn hoá dân tộc.Trải qua thời gian cùng sự bào mòn của những yếu tố ngoại cảnh và cả sựthiếu quan tâm của con người thì vốn tư liệu này ngày càng bị mai một Bởivậy bên cạnh xây dựng một nền văn hoá mới phải có sự quan tâm bảo tồn
và phát huy vốn di sản văn hoá của dân tộc mà cha ông đã dày công tạodựng Đằng sau những câu chữ đó là cả tiếng lòng của tổ tiên từ ngàn xưavọng tới, nhắc nhở chúng ta về cội nguồn xa xưa của dân tộc và là nền tảngvững chắc để tiến tới tương lai Vì vậy việc giữ gìn và phát huy vốn di sảnHán Nôm là một trách nhiệm và nghĩa vụ cao cả của mọi người Đề tài
Trang 2"Khảo sát văn khắc Hán Nôm tại xã Thuỷ Dương, huyện Hương Thuỷ, tỉnhThừa Thiên Huế" không chỉ hoàn thành một khoá luận của sinh viên trongnhững năm đại học mà còn mong muốn góp phần giữ gìn vốn di sản vănhoá của dân tộc, đóng góp một chút công sức của mình vào sự phát triểnchung của xã hội và đất nước.
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Hiện nay, hầu như ở địa phương nào trên phạm vi cả nước cũng có mộtlượng tư liệu Hán Nôm rất lớn cả về các văn bản chép tay cũng như mảngvăn khắc Thừa Thiên Huế là một trong những địa phương có kho tàng disản Hán Nôm phong phú và đa dạng bậc nhất Ngoài các sách vở, tàng thưcủa triều đình phong kiến còn có mảng văn khắc được thể hiện trên cáccông trình đền đài, cung điện, lăng tẩm và cả mảng văn khắc trên cáccông trình kiến trúc văn hoá trong dân gian Trong những năm gần đây đã
có nhiều nhà nghiên cứu tiến hành khảo sát, sưu tầm và tuyển dịch nhưng
do lượng nhiều người ít nên mới chỉ thực hiện được một phần nào đó ởnhững địa bàn lân cận Xã Thuỷ Dương huyện Hương Thuỷ là một vùngđất có bề dày về lịch sử và văn hoá, nơi đây tồn tại một lượng văn khắcHán Nôm dân gian rất lớn và đa dạng về chủng loại nhưng chưa được sưutầm có hệ thống trên toàn bộ địa bàn xã, mà mới chỉ có những cuộc sưutầm và tuyển dịch riêng về văn bia Tấm văn bia "Lê Trọng, Văn, Đắc, Bá,Thúc, Quý tộc thủy tổ mộ bi kí" ở nhà thờ họ Lê Thúc, Bá, Trọng, Quý, đã
được nhà nghiên cứu Trần Đại Vinh sưu tầm và tuyển dịch trong cuốn văn
bia và văn chuông Hán Nôm dân gian Thừa Thiên Huế do nhà xuất bản
Thuận Hoá ấn hành năm 2006 Còn mảng văn khắc phong phú còn lại chưađược ai thực hiện Vì vậy với đề tài này chúng tôi đã khảo sát một cách hệthống, cụ thể mảng văn khắc Hán Nôm trên toàn bộ địa bàn xã ThuỷDương và tìm hiểu những giá trị nội dung nghệ thuật chứa đựng trong đó
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài này, đối tượng nghiên cứu của chúngtôi đó là văn khắc Hán Nôm tức là các chữ Hán-Nôm được khắc, nề trên
Trang 3các chất liệu cứng như vữa xây, gỗ, đá, kim loại Còn phạm vi nghiên cứucủa đề tài là toàn bộ khu vực xã Thuỷ Dương, huyện Hương Thuỷ, tỉnhThừa Thiên Huế.
4 Phương pháp nghiên cứu
Đây là đề tài phải trải qua điền dã thực tế mới có thể trực tiếp tiếp cậnvới nguồn tư liệu và tiến hành khảo sát, sưu tầm, phiên dịch Sau khi thuthập toàn bộ nguồn tư liệu mới có thể tiến hành sắp xếp, phân loại, đồngthời tham khảo các cách làm của những người đi trước để có thể thực hiện
đề tài một cách có hệ thống, cuối cùng là phiên âm và dịch nghĩa toàn bộnguồn tư liệu Để dễ dàng hơn trong cách hình dung hệ thống văn khắc trêntất cả các di tích, phần hoành phi, đại tự được đóng khung (kể cả lạckhoản); phần phiên âm được in nghiêng và phần dịch nghĩa được inthường Phần câu đối chữ Nôm chúng tôi chỉ ghi lại phần phiên âm ra quốcngữ Tất cả đều được sắp xếp giống như thực tế, các hoành phi câu đốiđược xếp từ ngoài vào trong theo đúng như hệ thống kiến trúc Những phầnchữ bị hư và mất nét chúng tôi vẫn đưa vào và để thành dấu chấm hỏi
5 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, đề tài có ba chương nộidung chính:
Chương 1 Một vài nét khái quát về xã Thuỷ Dương và hiện trạng vănkhắc ở xã
1.1 Một vài nét khái quát về xã Thuỷ Dương
1.1.1 Vị trí địa lý và lịch sử xã Thuỷ Dương
1.1.2 Vài nét về kinh tế, văn hoá xã hội xã Thuỷ Dương
1.2 Hiện trạng văn khắc tại xã Thuỷ Dương
Chương 2 Sưu tầm và tuyển dịch văn khắc chữ Hán tại xã Thuỷ Dương 2.1 Văn khắc ở đình
Trang 43.1 Giá trị nội dung
3.2 Giá trị nghệ thuật
NỘI DUNG Chương 1 MỘT VÀI NÉT KHÁI QUÁT VỀ XÃ THỦY DƯƠNG VÀ HIỆN
TRẠNG VĂN KHẮC Ở XÃ
1.1 Một vài nét khái quát về xã Thủy Dương
1.1.1 Vị trí địa lý và lịch sử xã Thủy Dương
Thủy Dương là một xã nằm ở phía nam thành phố Huế, phía đông giáp
xã Thuỷ Phương; phía tây giáp xã Thuỷ Bằng của huyện Hương Thuỷ vàcác phường: An Đông, An Tây của thành phố Huế; phía nam giáp xã ThuỷBằng; phía bắc giáp xã Thuỷ Thanh Xã Thủy Dương cách trung tâm thànhphố Huế 4km, có đường quốc lộ và đường sắt bắc nam đi qua và là vùngkinh tế trọng điểm của địa bàn huyện Hương Thủy Toàn xã có diện tích1.249,8 ha, xã chia làm 5 thôn trong đó có một thôn ở vùng gò đồi, gồm2.310 hộ và 11.640 nhân khẩu
Cũng như bao địa phương khác ở xứ Thuận Hoá xưa, xã Thuỷ Dươngcũng được hình thành từ những cuộc nam tiến của người Việt mà cụ thể ởđây là cuộc nam chinh thảo phạt Chiêm Thành diễn ra dưới thời Lê ThánhTông năm 1470, mặc dù mảnh đất Thuận Hoá đã sát nhập vào bản đồ ĐạiViệt từ rất lâu trước đó Ta biết rằng sau cuộc kháng chiến thần thánh đánhđuổi quân Mông Nguyên xâm lược thì uy tín và danh tiếng của Đại Việtngày một lẫy lừng, các nước láng giềng đều mong muốn được kết thân hoàhiếu Vua Trần Nhân Tông sau giai đoạn lãnh đạo kháng chiến giành thắnglợi đã nhường ngôi cho thái tử Thuyên lui về làm Thái thượng hoàng và bắtđầu cuộc đời tu hành truyền đạo Tháng 3 năm Tân Sửu (1301), trong mộtlần dạo chơi sang Chiêm, thấy tướng mạo và cốt cách đĩnh đạc của vuaChiêm Thành (chính là thái tử Harijit, người chỉ huy quân Chiêm đánh bạiquân Mông Nguyên xâm lược), Thượng hoàng đã hứa gả con gái út của
Trang 5mình là công chúa Huyền Trân cho Chế Mân (Jaya Simhavar man) Bởivậy, năm Bính Ngọ (1306), sau khi nhận nhiều thứ lễ vật gồm hương quý
và vàng bạc cầu hôn, vua Anh Tông gả Huyền Trân cho Chế Mân ChếMân liền đem hai châu Ô và Rí làm sính lễ và phong Huyền Trân làmhoàng hậu Khi công chúa đã về Chiêm thì người dân hai châu Hoan Ái(Thanh Nghệ) nối nhau vào tiếp nhận vùng đất mới Các vùng đất này đượcTrần Anh Tông đổi tên là Thuận Châu và Hoá Châu, (Nay thuộc vùng từnam Quảng Trị đến bắc Quảng Nam) lãnh thổ Đại Việt ở phía nam đã vươntới sông Thu Bồn Tuy nhiên nhân dân các thôn La Thuỷ, Tác Hồng và ĐàBồng không theo, triều đình liền cử Đoàn Nhữ Hài vào phủ dụ dân chúng,chọn số trong số người Chăm ở địa phương ra làm quản lý, cấp ruộng đất
và tha thuế trong ba năm để thu phục lòng dân ở vùng đất mới Nhưng mới
về Chiêm chưa được bao lâu và cũng mới vừa sinh hạ thái tử thì vua Chiêmđột ngột qua đời, theo tục lệ bản quốc khi vua chết thì hoàng hậu cũng phảilên giàn hoả thiêu để chết theo Nhận được tin, do thương em gái nên vuaAnh Tông đã sai Đỗ Khắc Chung là quan Nhập nội hành khiển Thượng thư
tả bộc xạ và An phủ sứ Đặng Văn sang Chiêm tìm cách cứu công chúa vàđưa thái tử Chiêm về nước Sau khi cứu được công chúa, người Chiêm vôcùng tức giận vì vậy vua Chiêm mới là Chế Chí không phục nhà Trần, có ýđòi lại đất đã dâng, liên tiếp đem quân quấy rối và đòi lại hai châu Ô, Rý.Năm 1311, vua Anh Tông thân chinh thảo phạt Chiêm Thành Vua Chiêm
là Chế Chí lượng sức mình không thắng nổi bèn quy hàng Anh Tông lậplàm vương nhưng lại giam lỏng ở trong nước mình, lại phong cho em traiChế Chí tước hầu để trông coi nước Chiêm Hai năm sau, Chế Chí chết trênđất Đại Việt Từ đó quan hệ Việt Chiêm căng thẳng đưa tới những cuộcchiến tranh Việt Chiêm quy mô lớn (13 cuộc) mà nổi bật nhất là dưới thờivua Chiêm Chế Bồng Nga Đến thời Hồ, vẫn có những cuộc chiến tranhquy mô giữa hai nước Thuận Hoá là vùng biên giới tiếp giáp với nướcChiêm và mỗi lần Đại Việt nam chinh đều đóng quân trên vùng đất này nênnơi đây trở thành chiến trường giao tranh ác liệt, nhân dân bị ảnh hưởngbởi chiến tranh tàn phá rồi phu phen tạp dịch nên cuộc sống rất khổ sở Do
đó, điều lưu ý ở đây theo tiến sỹ Song Jung Nam là "Ngoài chuyện gả
Trang 6Huyền Trân công chúa cho vua Champa để nhận hai châu Ô- Rý, sau đó, thời nhà Trần "không nhận được một tấc đất nào từ Champa", mà còn "vài lần phải lâm vào thế tự vệ ".
Đến thời Hồ khi quân Minh sang xâm lược nước ta, đặt ách thống trịlên toàn bộ đất nước Tướng Minh lúc ấy là Trương Phụ lấy được cả ThuậnHóa và Tân Bình liền làm sổ ghi chép số dân đinh ở hai châu này, đặt quancai trị và để quân binh ở lại phòng giữ chỗ giáp giới nước Chiêm Thành.Khi Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa, nhận thấy Thuận Hoá là nơi trọng yếu nênrất chú ý xây dựng nơi đây thành một vùng chiến lược quan trọng Tháng 7mùa thu năm Ất Tị (1425), Bình Định Vương sai tư đồ Trần Hãn và thượngtướng Lê Nỗ đem hơn ngàn quân đi tuần các xứ Tân Bình và Thuận Hoárồi hội quân với Lê Ngân gồm 70 chiến thuyền từ Nghệ An vào, các đạoquân tề tựu đông đủ, thuỷ bộ phối hợp với nhau tấn công thành Đại quân
đi đến đâu liền được nhân dân một lòng hưởng ứng và quy thuận Trongcuộc kháng chiến trường kì chống quân Minh giành lại nền độc lập dân tộc,nhân dân Thuận Hoá đóng góp rất nhiều công sức
Sang thời Lê, mối quan hệ giữa Đại Việt và Chiêm Thành tương đốigiao hảo Nhưng đến năm 1470 mối quan hệ này lại bắt đầu căng thẳng,vua Chiêm là Trà Toàn (Pau Kubah, em trai của Trà Duyệt), Trà Duyệtchết thì ngôi thuộc về Trà Toàn Trà Toàn là người hung hãn, hoang dâm,không được lòng người và rất tự phụ Trà Toàn do đó không có ý thần phục
Đại Việt, cho quân lính gây hấn cướp phá Hoá Châu và vượt biển sang cầu
viện Trung Quốc Lúc này, Đại Việt đang trong giai đoạn hùng mạnh bậcnhất trong lịch sử dưới sự trị vì anh minh của vua Lê Thánh Tông Là mộtngười văn võ song toàn, sáng suốt và quyết đoán, Lê Thánh Tông quyếtđịnh chinh phạt Chiêm Thành Một mặt sai sứ sang Tàu trình bày rõ ràngviệc làm của Trà Toàn với Minh Hiến Tông (Chu Kiến Thâm) một mặt tựthống lĩnh đại quân gồm 20 vạn vào đánh Chiêm Thành Khi đại quân đãtiến đến Thuận Hoá vua cho tập dượt ngày đêm để chắc phần chiến thắng,bèn xuống chiếu cho vệ quân ở Thuận Hoá ra biển thi thuỷ chiến; lại hạlệnh cho Nguyễn Vũ là người ở địa phương vẽ nộp đồ bản về những nơihiểm yếu Vua còn soạn "sách lược bình Chiêm" ban phát cho tướng sĩ các
Trang 7doanh Về phía Chiêm, Trà Toàn sai em đưa sáu tướng cùng quân lính bímật kéo đến sát doanh trại vua Vua biết được bèn sai Lê Hy Cát đemthuyền vượt biển lẻn vào cửa Sa Kỳ lập đồn luỹ để chặn đường về của quânChiêm, còn vua dẫn thuỷ quân ra biển kéo cờ và đánh trống để tăng cườngthanh thế, lại sai Nguyễn Đức Trung dẫn quân bộ đi sát chân núi QuânChiêm trông thấy thanh thế quân Đại Việt sợ hãi mà bỏ chạy toán loạn vềthành Chà Bàn Quân của Lê Hy Cát có nhiệm vụ chặn đường về của giặc
đã tung ra ngăn đánh Nhà vua đóng ở cửa biển Thái Cần, đốc quân sĩ dốcđánh, chém hơn 300 tên và bắt sống hơn 60 tên, Trà Toàn sợ hãi dâng biểuxin đầu hàng Nhà vua lại dẫn quân vào đánh thành Thi Nại, chiếm xong lạitiến đến đánh thành Đồ Bàn Nhằm ngày 1 tháng 3 năm 1471, quân ĐạiViệt phá vỡ thành, Trà Toàn bị vệ quân Thuận Hoá bắt sống và dẫn đếntrước mặt vua, vua Lê Thánh Tông không giết mà còn phủ dụ, lại cho ởngoài ty trấn điện Có một bại tướng Chiêm là Bô Trì Trì sợ vua còn đánhtiếp nên đã xin thần phục và triều cống Vua Thánh Tông một mặt sát nhậpmiền bắc nước Chiêm từ đèo Hải Vân đến tận bắc Phú Yên vào bản đồ ĐạiViệt, một mặt không muốn tiến đánh thêm nữa bèn nghĩ kế làm cho nướcChiêm tự suy yếu bằng cách chia nước Chiêm thành ba nước nhỏ do ba vuađứng đầu Như vậy, qua cuộc nam chinh của vua Lê Thánh Tông năm 1470
đã đem về cho Đại Việt thêm nhiều mảnh đất mới, biên giới phía nam Đại
Việt đã tới tận núi Đá Bia thuộc Phú Yên Vua có cho khắc bia ma nhai
trên đỉnh núi để kỉ niệm chiến thắng và phân định ranh giới Do đó ThuậnHoá không còn là vùng biên cương phía nam của đất nước nữa, từ đâymảnh đất này đi vào thời kỳ xây dựng và phát triển Nhân dân ổn định cuộcsống và bắt đầu khai canh lập ấp để định cư lâu dài Điều đặc biệt ở đây đóchính là 12 vị tổ khai canh tại xã Thuỷ Dương, huyện Hương Thuỷ đều lànhững võ quan nhỏ gốc người miền bắc, từng giữ chức đội trưởng dướithời Lê Thánh Tông Khi chiến tranh kết thúc, họ ở lại Thuận Hoá để chiêuvời những lưu dân xiêu dạt về khai khẩn những vùng đất hoang, lập nênlàng mới trong đó có làng Thanh Thuỷ, tiền thân của xã Thuỷ Dương
1.1.2 Vài nét về kinh tế, văn hoá xã hội của xã Thuỷ Dương
Trang 8Từ bến xe phía nam thành phố Huế đi xuống khoảng hai cây số, quacây cầu vượt Thuỷ Dương ta đã chính thức đi vào địa phận xã Thuỷ Dươngthuộc huyện Hương Thuỷ Từ hai bên con đường quốc lộ chạy thẳng vềnam chính là địa bàn dân cư của xã Đây là một địa bàn có nhiều đơn vịkinh tế và một trong những trung tâm của huyện Hương Thuỷ nên đã tạocho xã Thuỷ Dương một bộ mặt mới mẻ Bên cạnh những ngành nghề kinh
tế đang hoạt động, cư dân trong xã không chỉ đơn thuần làm nông nghiệp
mà xen lẫn vào đó là các hoạt động dịch vụ khác cụ thể là: lao động nôngnghiệp chiếm 19,1%, CN-TTCN-XD 26,7%, lao động dịch vụ chiếm29,6%, CB-CNV và lao động khác chiếm 24,6% Mạng lưới giao thông đilại giữa các vùng miền và giữa các xã rất thuận lợi, có nhiều đơn vị kinh tếlớn đóng trên địa bàn Trên địa bàn hiện có 1 HTX nông nghiệp, 1 quỹ tíndụng nhân dân, 2 trường tiểu học, 1 trường THCS, 1 trường mầm non.Trong những năm qua đảng bộ, chính quyền và nhân dân xã Thủy Dương
đã phấn đấu xây dựng, tập trung đầu tư, chuyển đổi ngành nghề có hiệu quảkinh tế cao, đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa với nhiều công trình có giá trị lớn,
cơ sở hạ tầng kĩ thuật hiện đại, bộ mặt nông thôn ngày càng đổi mới, đờisống vật chất tinh thần của người dân được nâng lên, quốc phòng an ninhđược giữ vững Từ ngày 9 tháng 2 năm 2010, xã Thuỷ Dương đã chínhthức trở thành phường Thuỷ Dương theo Nghị quyết số 08/NQ-CP của Chính phủ Việt Nam về việc thành lập thị xã Hương Thủy và thành lập cácphường thuộc thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế
1.2 Hiện trạng văn khắc chữ Hán ở xã Thuỷ Dương
Chữ Hán là phương tiện chuyển tải thông tin rất hữu hiệu và mang đầy
đủ nét văn hoá đặc sắc ở các dân tộc trong vòng văn hoá chữ Hán nói
chung và Việt Nam nói riêng Đây là một trong những hệ thống chữ viếtđược dùng lâu đời trên thế giới Xưa kia chưa có giấy, bút và mực, ngườiTrung Hoa cổ đại khắc chữ trên mai rùa, xương thú vật hay vỏ cây… vì thế
được gọi là giáp cốt văn, đây chính là một hình thức của văn khắc và nó
được ra đời từ rất sớm Đến thời kỳ sau này khi người Trung Hoa phátminh ra giấy, bút lông và mực nên đã tạo nên sự vượt trội cũng như tiện lợihơn về cách ghi chép và truyền tải thông tin của chữ Hán, hình thức văn
Trang 9viết ghi chép trên giấy đã ra đời Nhờ có giấy mà chữ Hán trở nên đắc dụng
và phát triển mạnh mẽ hơn rất nhiều so với chữ khắc trên mai rùa và xươngthú nên đã tồn tại cho đến tận ngày nay Không gian ảnh hưởng của nókhông chỉ bó hẹp trong đất nước Trung Quốc mà còn lan ra cả những nướcxung quanh như Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam Nhưng nói như vậykhông phải là văn khắc không còn tồn tại và phát triển mà ngược lại, vănkhắc vẫn phát triển mạnh mẽ và sâu rộng Văn khắc vẫn tồn tại song songvới văn viết ghi chép trên giấy, có điều là chất liệu khắc đã được thay đổi.Trước kia văn khắc chỉ xuất hiện trên mai rùa và xương thú thì nay đượckhắc bằng dao, đục, dũa hay nề trên các chất liệu mới có độ bền và mangtính thẩm mỹ cao như vữa xây, đá, kim loại, gỗ hay gốm Từ đây văn khắckhông chỉ chuyển tải nội dung thông tin mà còn là một hình thức nghệthuật mang đậm dấu ấn văn hoá bởi tuyệt đại đa số nó được thể hiện trêncác bức hoành phi, đại tự, câu đối, văn bia và văn chuông… Tất cả đềuđược gắn với những công trình kiến trúc văn hoá, tôn giáo và tín ngưỡng ở
cả cung đình lẫn trong dân gian, mang trong mình sự thiêng liêng và trântrọng của mọi tầng lớp Đặc biệt, do văn khắc được thực hiện trên các chấtliệu bền chắc nên nó vượt trội hơn ở việc bảo lưu nguyên bản nội dungthông tin tốt hơn rất nhiều so với văn viết chép trên giấy Và có thể khẳngđịnh rằng nếu như không có văn khắc thì không có chữ Hán trên nhữngcông trình kiến trúc văn hoá truyền thống, mà không có chữ Hán ở nhữngcông trình đó thì tất cả dường như không có hồn và nét độc đáo trong vănhoá nữa
Xã Thuỷ Dương cũng là một vùng trọng điểm văn hoá ở Hương Thuỷnói riêng và Thừa Thiên Huế nói chung Văn khắc Hán Nôm dân gian Huếcũng bao gồm các văn bản Hán Nôm nhưng nó không phải thuộc loại cungđình và sơn môn, đó là các thể tài: hoành phi, đại tự, câu đối, văn bia, vănchuông Mảng văn khắc này trên địa bàn xã rất phong phú và bao gồmnhiều chủng loại, nhiều nhất phải kể đến câu đối và hoành phi, đại tự Mộtđiều đặc biệt là những công trình kiến trúc trên địa bàn xã từ nhà thờ họcho đến đền chùa hay miếu mạo hầu hết mới được đại trùng tu lại trongthời gian gần đây, vì vậy mảng văn khắc đều đầy đủ, đa dạng và rõ ràng, ít
Trang 10bị thời gian và điều kiện ngoại cảnh làm hư hỏng, mờ nhạt Nhưng cũng lý
do này mà việc sưu tầm lại trở nên khó khăn hơn bởi ở những công trìnhmới, những người quản lý không cho tiếp xúc với nội điện vì lý do "Sợ mấtcắp đồ thờ có giá trị và ảnh hưởng đến sự linh thiêng của tổ tiên dòng họ"(phải kể đến ở đây là nhà thờ họ Lê Thúc, Bá, Trọng, Quý và chùa HoaNghiêm)
Phần văn khắc trên đá, trên địa bàn xã chỉ có một tấm bia duy nhất làtấm văn bia "Lê Trọng, Văn, Đắc, Bá, Thúc, Quý tộc thủy tổ mộ bi kí" ởquần thể nhà thờ và lăng mộ họ Lê, Thúc, Bá, Trọng, Quý Tấm bia nàykhắc năm 2000, có nhà bia bảo vệ, bia nhỏ, gồm 432 chữ Chữ Hán đượckhắc theo lối chữ chân phương, rõ ràng, sắc nét, ngôn ngữ gần với ngônngữ hiện đại Cả hai mặt của bia đều được khắc chữ: mặt dương khắc chữHán và mặt âm khắc bản dịch bằng chữ quốc ngữ Nội dung chủ yếu giớithiệu và ca ngợi về ngài thuỷ tổ của dòng họ Vì bia dựng vào thời hiện đạinên không có phần hoa văn cũng như các trang trí theo kiểu truyền thống.Bia cũng không được đặt trên lưng rùa mà chỉ dựng trên đế bia hình khốichữ nhật đúc bằng xi măng, đây cũng là một đặc điểm của văn bia dân gianHuế Tấm văn bia này đã được nhà nghiên cứu Trần Đại Vinh tuyển dịch
trong cuốn "Văn bia và văn chuông Hán Nôm dân gian Thừa Thiên Huế"
do nhà xuất bản Thuận Hoá ấn hành năm 2006, trang 307
Phần văn khắc trên chất liệu kim loại chỉ có trên chuông đồng, không
có văn khắc trên khánh và thạp Chuông là một pháp khí rất quan trọng, làthứ đứng đầu bát âm và có thể nói là không thể thiếu được trong văn hoátín ngưỡng Á đông, đặc biệt là ở chùa Khi dựng chùa xong thì phải cóchuông, đã có chuông ắt phải có bài văn khắc lên để kỉ niệm Thôngthường là ghi tên các thiện nam tín nữ đã có công đức xây dựng nên chùahay ghi bài minh chuông để nguyện cầu Trên địa bàn xã hiện nay có nămcái ở ba ngôi chùa: một chiếc ở chùa Nam Sơn, hai chiếc ở chùa Diệu Viên,một chiếc ở chùa Hoa Nghiêm và một chiếc ở chùa Đông Hải Về nội dungthì cả năm chuông đều có nội dung câu chữ hầu hết giống nhau, đó là đềukhắc bài minh chung và văn chung, chỉ khác tên chùa và ngày đúc Riêng
Trang 11chuông chùa Đông Hải ghi những thông tin về chuông như năm đúc, làng
xã đúc và trọng lượng của chuông
Phần câu đối, hoành phi, đại tự chiếm số lượng lớn nhất, có giá trịnhiều mặt cả nội dung lẫn hình thức nghệ thuật Mảng văn khắc này hầuhết được khắc trên gỗ và nề trên vữa, văn khắc trên gỗ chủ yếu ở nội điện
và văn khắc (nề) trên vữa chủ yếu ở ngoài trời Nó xuất hiện hầu hết trongnhững công trình kiến trúc văn hoá và được bảo lưu khá nguyên vẹn.Những hoành phi câu đối là phần không thể thiếu được bởi nó không chỉchứa đựng những nội dung tốt đẹp mà còn là cả một nghệ thuật mang tínhthẩm mỹ cao, cả hai kết hợp tạo nên nét cổ kính, trang nghiêm và tĩnh lặng.Như đã trình bày ở trên do những công trình kiến trúc trên địa bàn xã hầuhết mới được sửa sang lại trong thời gian gần đây, vì vậy mảng văn khắcđều đầy đủ, đa dạng và rõ ràng Còn lại một số công trình khác do điều kiệnthời tiết và thời gian tác động làm cho những chữ đều mờ nhạt, mất nétkhông còn đọc rõ được Chùa Đông Hải là nơi chịu ảnh hưởng mạnh nhất:chữ viết nề trên trụ biểu và ở cả miếu chùa qua sự bào mòn của mưa nắng
đã bị rêu phong bám mọc và vảy lóc, mất hẳn hết chữ không còn đọc được.Một khó khăn nữa trong việc sưu tầm và ghi chép là do chữ Hán được khắctrên các công trình trong dân gian do đó tự dạng một số chữ được viết theokiểu cách khác biệt không thể đoán ra được kể cả dựa vào mạch câu văn.Những chữ này lại không hề có trong từ điển hay phần mềm vi tính chữHán Một số chữ có tự dạng giống nhau bị viết nhầm chữ này thành chữ kia
(như chữ mao và chữ thủ) Hay như một số chữ bị viết sai nét do những
người thợ nề không biết chữ Hán mà chỉ đồ theo khuôn mẫu có sẵn, trảiqua thời gian và qua nhiều người nên chữ đó bị biến dạng, không còn đúngnét của chữ Hán nữa
Trong quá trình thực hiện đề tài này, chúng tôi đã khảo sát tại một ngôiđình, năm ngôi chùa, chín ngôi miếu lăng và mười một nhà thờ họ với tổngsố: văn bia 1 đơn vị, văn chuông 5 đơn vị, hoành phi và đại tự có 244 đơn
vị và câu đối 267 đôi, trong đó có 6 đôi bằng chữ Nôm
Chương 2
Trang 12SƯU TẦM VÀ PHIÊN DỊCH VĂN KHẮC HÁN NÔM TẠI XÃ
Thanh dã nhược thủy, linh dã nhược sơn, hạc biểu cầm đình huyền quang
tự tại Thủy chi hữu nguyên, mộc chi hữu bản, tổ công tôn đức chung cổ trường
lưu.
Trong như nước, thiêng như núi, trụ biểu mái đình sáng tươi tự tại;Cây có cội, nước có nguồn, công đức tổ tông lưu mãi muôn năm
精靈得造化高清濯濯洋洋萬古猶流正氣 英秀對岑山香水煌煌赫赫千秋共拜神庥
Tinh linh đắc tạo hóa, cao thanh trạc trạc dương dương, vạn cổ do lưu
Anh tú đối diện với đụn Sầm, Hương Thuỷ sáng trong mát mẻ, ngàn năm
cùng đội ơn che chở của Thần
Mặt trong
清氣為天高彌來後箕尾托 水泉在地翰公南海榜碑靈
Thanh khí vi thiên, cao di lai hậu Cơ Vĩ thác;
Thủy tuyền tại địa, Hàn công nam hải bảng bi linh.
Khí lành là của trời, về sau lại càng cao như sao Cơ, sao Vĩ;
Trang 13Suối nước tại đất, tiên Hàn Tương Tử ở biển nam linh thiêng ở bảng bia
đây
得一以靈滾滾清泉一脈 有三不朽巍巍岑嶺三峰
Đắc nhất dĩ linh, cổn cổn thanh tuyền nhất mạch;
Hữu tam bất hủ, nguy nguy sầm lĩnh tam phong.
Được một đã linh, cuồn cuộn một mạch suối trong lành;
Có ba bất hủ, nguy nga ba ngọn núi Sầm
Bình phong, mặt trước
屏立清亭迎瑞氣 風來水面送奇香
Bình lập thanh đình nghênh thụy khí;
Phong lai thủy diện tống kì hương.
Bình phong đứng ở trước đình sáng đón mời khí lành;
Gió thổi tới mặt nước toả ra mùi hương lạ
Bình phong, mặt sau
文武常班列 江山足護持
Văn võ thường ban liệt;
Trang 14Vật phụ dân khang Thanh tuyền thắng tích Phong thuần tục mỹ
Dân giàu vật tốt tươi Cảnh đẹp suối trong xanh Phong tục thuần hậu
tốt đẹpNội điện
Đức lưu quang Hưởng khắc thành Công tắc tự
Đức sáng lưu truyền mãi Hưởng sự thành kính Có công thì thờ phụng
護國庇民澤同香水潤 調元贊化功等象山高
Hộ quốc tí dân, trạch đồng Hương thủy nhuận;
Điều nguyên tán hóa, công đẳng Tượng sơn cao.
Bảo vệ nước che chở dân, ơn trạch thấm đẫm như sông Hương;Điều nguyên chuyển hóa, công lao cao lớn sánh với núi Voi
Đức kỳ thịnh
Công đức thịnh
為德其盛矣 有功則祀之
Trang 15Vạn thế sư
Người thầy của muôn đời
聖道千秋留越地 師傳萬世照南天
Thánh đạo thiên thu lưu Việt địa;
Sư truyền vạn thế chiếu Nam thiên.
Đạo của thánh nhân ngàn năm lưu ở đất Việt;Bậc thầy của muôn đời sáng mãi ở trời Nam
岑嶺巍巍山錦鏽 清泉滾滾水文章
Sầm lĩnh nguy nguy sơn cẩm tú;
Thanh tuyền cổn cổn thủy văn chương.
Núi Sầm vời vợi ấy là núi tươi đẹp;
Suối trong xanh cuồn cuộn ấy là nước văn chương
2.2 Văn khắc Hán Nôm ở chùa
2.2.1 Chùa Diệu Viên
Đại Quang Minh tạng
Tạng Đại Quang Minh
妙圓寺鼎
大光明臧
Trang 16Nóc điện
phía dưới
Đại giác thế tôn
Đại giác thế tônBốn bài kệ trên tường mái
諸有聽徒來至此 或在地上或居空 常於人世起慈心 盡夜自身依法住
願諸世界常安隱 無邊福智蓋群生 南無罪業並銷除 迷離眾苦歸圓寂
天阿修羅餓鬼等 來聽法者應至心 使常存名各動行 世尊教 恆用戒看塗荃体 常持定服以資身 菩提妙法遍莊嚴 隨兩往生處常安樂
Chư hữu thính đồ lai chí thử, Hoặc tại địa thượng hoặc cư không Thường ư nhân thế khởi từ tâm, Tận dạ tự thân y pháp trụ Nguyện chư thế giới thường an lạc,
大覺世尊
Trang 17Vô biên phúc trí cái quần sinh.
Nam mô tội nghiệp tịnh tiêu trừ,
Mê ly chúng khổ quy viên tịch.
Thiên A tu la ngạ quỷ đẳng, Lai thính pháp giả ứng chí tâm.
Sử thường tồn danh các động hành Thế tôn giáo.
Hằng dụng giới khan đồ thuyên thể, Thường trì định phục dĩ tư thân.
Bồ Đề diệu pháp biến trang nghiêm, Tùy lưỡng vãng sinh xứ thường an lạc.
Có những con người tới nơi đây để nghe pháp,
Có kẻ ngồi ở trên đất, có kẻ ngồi ở trên cao
Thường ở nơi nhân thế sẽ nổi lên lòng từ bi,Chấm dứt bóng đêm tự thân dựa vào pháp mà an trú
Mong cho các thế giới đều yên vui,Phúc và trí vô biên phủ khắp muôn loài
Nam mô nghiệp tội đều tiêu trừ,Các thứ khổ ải mê muội đều về với viên tịch
Các loài thiên, A tu la và ngạ quỷ,Người nào tới nghe giảng pháp thì nên có “chí tâm”
Khiến cho bảo tồn danh, mỗi người đều làm theo giáo pháp của Thế tôn
Thường dùng để răn xem thể cây Thuyên,Thường giữ định phục để làm béo tốt mình mẩy
Diệu pháp bồ đề đều trang nghiêm,Tùy vào hai chốn vãng sinh thì thường yên vui
妙圓寺
佛歷二千五百四十四年
Trang 18Diệu Viên tự Phật lịch nhị thiên ngũ bách tứ thập tứ niên Tuế thứ Canh Thìn quý xuân đại trùng tu
Chùa Diệu ViênĐại trùng tu cuối xuân Canh Thìn, Phật lịch năm 2544 (2000)
Nội điện
Y chính kim chương Đại hùng bảo điện Như thị trang nghiêm
Dựa vào kim chương Điện báu của bậc Đại Hùng Trang nghiêm như thế
Gian ngoài
拜手灼玄香三千世結祥雲奉獻如來蓮座上 信心持佛號百八聲成正念即生淨土寶花中
佛歷二五四四年辛巳仲春吉日大重修落成之禮
妙圓尼寺眾法侄同奉供
Bái thủ chước huyền hương, tam thiên thế kết tường vân, phụng hiến Như
Lai liên tòa thượng;
Tín tâm trì Phật hiệu, bách bát thanh thành chính niệm, tức sinh tịnh thổ
bảo hoa trung.
(Phật lịch nhị ngũ tứ tứ niên Tân Tị trọng xuân cát nhật, đại trùng tu lạc thành chi lễ Diệu Viên ni tự chúng pháp điệt đồng phụng cúng)
Lạy đốt hương thơm, Ba ngàn thế giới kết thành đám mây lành, phụng
dâng lên đức Phật trên tòa sen;
Tâm tin giữ hiệu của Phật, một trăm lẻ tám tiếng chuông thành chính niệm,
lập tức sinh vào cõi tịnh thổ trong cõi hoa báu
(Lễ khánh thành đại trùng tu ngày tốt giữa xuân năm Tân tị, Phật lịch năm
2545 Các Phật tử chùa ni Diệu Viên cùng phụng cúng)
妙義如來廣含藏行深了悟能體了
依正金章
Trang 19佛子黃文蓮黃公明明奉供順化京春妙圓寺大重修落成之禮
Diệu nghĩa Như Lai quảng hàm tàng, hành thâm liễu ngộ năng thể liễu; Viên tu chính huyền giới định tuệ, tức phàm tâm hóa tác thánh tâm.
(Phật tử Hoàng Văn Liên Hoàng Công Minh phụng cúng.
Thuận Hóa kinh xuân Diệu Viên tự đại trùng tu lạc thành chi lễ)
Làm mầu nhiệm đạo nghĩa Như Lai thấm nhuần rộng lớn, thực hiện sâu sắc
việc giác ngộ mới có thể giác ngộ được;
Tu một cách tròn đầy giới định trí tuệ chân chính huyền diệu, lập tức tâm
phàm tục biến thành tâm của bậc thánh nhân
(Phật tử Hoàng Văn Liên và Hoàng Công Minh phụng cúng
Lễ khánh thành đại trùng tu chùa Diệu Viên ở kinh đô Phú Xuân)Gian giữa
五峰山境人緣已定會聚修學佛 當吉地名祖道住錫初興逢玄場
佛子武天玉奉供順化京春妙圓寺大重修落成之禮
Ngũ phong sơn cảnh, nhân duyên dĩ định, hội tụ tu học Phật;
Đương cát địa danh, tổ đạo trú tích, sơ hưng phùng huyền tràng.
(Phật tử Vũ Thiên Ngọc phụng cúng.
Thuận Hóa kinh xuân Diệu Viên tự đại trùng tu lạc thành chi lễ)
Cõi núi Ngũ phong, nhân duyên đã định, hội họp mà tu học Phật;Địa danh tốt lành, đạo tổ dựng thiền trượng, khi mới hưng gặp cõi nhiệm
màu
(Phật tử Vũ Thiên Ngọc phụng cúng Lễ khánh thành đại trùng tu chùa
Diệu Viên ở kinh đô Phú Xuân)Gian trong cùng
Chấn tích đề huề Chấn tích đề huề
Trang 20Cùng nhau dựng tích trượng
將此深心奉塵剎 是則名為報佛恩
Tương thử thâm tâm phụng trần sát;
Thị tắc danh vi báo Phật ân.
Đem cái thâm tâm này phụng ngôi chùa trần thế;
Ấy là danh để báo ơn Phật
人依法法依人頓妙隨机聞妙現 佛即心心即佛古今不異合真宗
Nhân y pháp, pháp y nhân, đốn diệu tùy cơ văn diệu hiện;
Phật tức tâm, tâm tức Phật, cổ kim bất dị hợp chân tông.
Người nương pháp, pháp dựa người, nhanh chóng tuỳ cơ nghe mà hiện ra
mầu nhiệm; Phật là tâm, tâm là Phật, xưa nay chẳng khác hợp với chân
tông
掌上明珠光攝大千之界 手中金錫振開地獄之門
Chưởng thượng minh châu, quang nhiếp đại thiên chi giới;
Thủ trung kim tích, chấn khai địa ngục chi môn.
Quả minh châu nắm trên tay, soi sáng cả trăm ngàn cõi;
Gậy tầm xích vàng giữ trong tay, nâng mở cửa địa ngục
Hậu điện
五峰金地叢林孤同光含空即色 當吉山頭寶剎群巒翠鎖古猶今
Ngũ phong kim địa tùng lâm, cô đồng quang hàm không tức sắc; Đương cát sơn đầu bảo sát, quần loan thúy tỏa cổ do kim.
Rừng rậm nơi đất vàng ở núi Ngũ Phong, lẻ loi ánh sáng ngậm không tức là sắc;Chùa báu đầu non là nơi tốt đẹp, những ngọn núi biếc vây quanh từ xưa
đến nay
Trang 21Chuông to
Diệu Viên đồng chung
Chuông đồng chùa Diệu Viên
願此鐘聲超法界 鐵圍幽暗悉皆聞 聞塵清淨證圓通 一切眾生成正覺 聞鐘聲煩惱輕 智慧長菩提生 離地獄出火坑 願成佛度眾生 唵伽羅帝耶沙訶
Nguyện thử chung thanh siêu pháp giới,
Thiết vi u ám tất giai văn.
Văn trần thanh tịnh chứng viên thông, Nhất thiết chúng sinh thành chính giác Văn chung thanh phiền não khinh, Trí tuệ trưởng bồ đề sinh.
Ly địa ngục độ chúng sinh, Nguyện thành Phật độ chúng sinh.
Úm gia la đế da sa ha.
Chuông nhỏ
鐘偈銘云 願此鐘聲超法界 鐵圍幽暗悉皆聞 妙圓銅鐘
Trang 22聞塵清淨證圓通 一切眾生成正覺 聞鐘聲煩惱輕 智慧長菩提生 離地獄出火坑 願成佛度眾生 唵伽羅帝耶沙訶
Chung kệ minh vân Nguyện thử chung thanh siêu pháp giới,
Thiết vi u ám tất giai văn.
Văn trần thanh tịnh chứng viên thông, Nhất thiết chúng sinh thành chính giác.
Văn chung thanh phiền não khinh, Trí tuệ trưởng bồ đề sinh.
Ly địa ngục độ chúng sinh, Nguyện thành Phật độ chúng sinh.
Úm gia la đế da sa ha.
(Nội dung đã dịch rõ ở chuông chùa Hoa Nghiêm, xin lược)Miếu
恭請本境山神土地列位 五行列位仙娘 外境外乾英靈
Cung thỉnh bản cảnh sơn thần thổ địa liệt vị:
Ngũ hành liệt vị tiên nương;
Ngoại cảnh ngoại càn anh linh.
Cung kính thỉnh các vị thần núi và thần đất ở nơi đây :
Các vị tiên nương ngũ hành;
Anh linh ngoại cảnh ngoại càn Các lăng tháp
Trang 23Lăng hội chủ Hoàng Công Viết
An dưỡng thần
Thần an dưỡng
佛護持名標淨域 神祲覺地赴蓮城
Phật hộ trì danh tiêu tịnh vực;
Thần tẩm giác địa phó liên thành.
Phật hộ trì danh hiệu, nêu cao cõi tịnh thổ;
Thần tẩm giúp đỡ đất giác ngộ, đi đến thành hoa sen
Thừa Phật từ lực
Kế thừa sức từ bi của PhậtBia
顯考受菩提戒慈嚴寺會主黃公曰咨名心明之墓
辛亥年立春寂于辛亥年八月十六日長子黃公由仝親眷內外寺奉立
Hiển khảo thụ bồ đề giới Từ Nghiêm tự hội chủ Hoàng Công Viết tư danh
Tâm Minh chi mộ.
(Tân Hợi niên lập xuân Tịch vu Tân Hợi niên bát nguyệt thập lục nhật Trưởng tử Hoàng Công Do đồng thân quyến nội ngoại tự phụng lập)
Mộ hiển khảo, nhận bồ đề giới chùa Từ Nghiêm hội chủ Hoàng Công Viết,
tên tự là Tâm Minh
(Lập xuân năm Tân Hợi Tịch vào ngày 16 tháng tám năm Tân Hợi.Con cả Hoàng Công Do cùng thân quyến trong và ngoài chùa phụng lập)Tháp Trang Nghiêm
安養神
承佛慈力
莊嚴塔
Trang 24Trang Nghiêm tháp
Tháp Trang Nghiêm
寺旁另開新塔景 山頭依在舊風光
Tự bàng lánh khai tân tháp cảnh;
Sơn đầu y tại cựu phong quang.
Bên chùa mở riêng cảnh tháp mới;
Đầu non dựa vào phong quang cũ
Bia
臨濟法派受毘丘尼戒重建妙圓尼寺住持諱心玄字真通之塔
妙圓尼眾並孝徒世眷仝奉立
Lâm Tế pháp phái thụ tì kheo ni giới, trùng kiến Diệu Viên ni tự trụ trì, húy
Tâm Huyền, tự Chân Thông chi tháp.
(Diệu Viên ni chúng tịnh hiếu đồ thế quyến đồng phụng lập)
Tháp của trụ trì trùng kiến chùa Diệu Viên, pháp phái Lâm Tế nhận tì kheo
ni giới, húy Tâm Huyền, tự Chân Thông
(Các sư nữ chùa Diệu Viên và các học trò hiếu cùng thân quyến phụng lập)Lăng Diệu Nhẫn
Kính như tại
Kính như đang ở trước mặt
昊天罔極劬勞苦 蒼海難窮養育恩
Hạo thiên võng cực cù lao khổ;
Thương hải nan cùng dưỡng dục ân.
Cù lao khổ cực lớn như trời xanh lồng lộng;
Bể cả khó sánh cùng ơn nuôi dưỡng
敬如在
常樂我淨
Trang 25Thường lạc ngã tịnh
Thanh tịnh thường lạcLăng ngài khai sơn chùa
Thích Nữ Hướng Đạo
雲開碧岫山粧面 月印寒泉水畫眉
Vân khai bích tụ sơn trang diện;
Nguyệt ấn hàn tuyền thủy họa mi.
Mây mở ra màu biếc nơi góc núi, núi trang điểm cho nét mặt;
Trăng in suối lạnh, nước vẽ mi
風梳翠竹和煙裊 露滴喬松帶月圓
Phong sơ thúy trúc hòa yên niểu;
Lộ trích kiều tùng đới nguyệt viên.
Gió chải tre xanh cùng khói xoáy;
Sương đẫm trên cây thông cao như treo cả trăng tròn
Tháp Kim Diệu
Kim Diệu tháp
Tháp Kim DiệuBia
妙圓尼寺住持毘丘尼號金妙之塔
佛歷二千五百十七年甲寅三月初一日寂
孝徒奉立
Diệu Viên ni tự trụ trì tì kheo ni hiệu Kim Diệu chi tháp.
(Phật lịch nhị thiên ngũ bách thập thất niên Giáp Dần tam nguyệt sơ nhất
nhật tịch Hiếu đồ phụng lập)
Tháp của sư trụ trì tì kheo ni chùa Diệu Viên, hiệu là Kim Diệu
金妙塔
Trang 26(Viên tịch ngày mồng một tháng ba năm Giáp Dần, Phật lịch năm 2517.
Các đệ tử hiếu phụng lập)Bài thơ khắc ở tường sau
龍女獻珍珠 仰伏威神 速成正果 喬曇尊敬法 依憑妙力 早澄真乘
Long nữ hiến trân châu, Ngưỡng phục uy thần.
Tốc thành chính quả, Kiều đàm tôn kính pháp.
Y bằng diệu lực, Tảo trừng chân thừa.
Long nữ dâng hạt ngọc trân châu,Nép trông uy nghiêm của thần
Mau nên chính quả,Phép tôn kính Cù Đàm
Dựa vào sức tinh diệu,Sớm gạn lọc chân thừa
Lăng bà Nguyễn Thị Cúc
Thường lạc
Thường vui
旦墓神鐘風迷響 高低松嶺月常臨
Đán mộ thần chung phong mê hưởng;
Cao đê tùng lĩnh nguyệt thường lâm.
常樂
Trang 27Chuông thần sớm tối, gió mê đều thổi tới;
Thông trên đỉnh núi thấp cao, trăng thường soi đến
Tịch vu Đinh Mùi niên lục nguyệt sơ tam nhật.
(Bản sư Thích Nữ Chân Thông phụng lập)
Phụng vi: chân linh Thuận tịch sa di ni, pháp danh Tâm Trực, tự Chân MãnNguyễn Thị Cúc Tịch vào ngày mồng 3 tháng 6 năm Đinh Mùi
(Bản sư Thích Nữ Chân Thông phụng lập)
Mộ hội chủ Hồ Thị
Quán tự tại
Tự tại mà xét thấu
藏百年生死 歸一路涅槃
Tàng bách niên sinh tử;
Quy nhất lộ niết bàn.
Giấu sự sống chết trong trăm năm;
Về một đường tới niết bàn
妙圓寺會主胡氏法名紅秀字金鐘一品夫人之墓
丙子年五月五日生壬午年五月九日死
Diệu Viên tự hội chủ Hồ thị, pháp danh Hồng Tú, tự Kim Chung nhất
phẩm phu nhân chi mộ.
(Bính Tý niên ngũ nguyệt ngũ nhật sinh.
觀自在
Trang 28Nhâm ngọ niên ngũ nguyệt cửu nhật tử)
Mộ của hội chủ chùa Diệu Viên Hồ thị, pháp danh Hồng Tú, tự Kim Chung
nhất phẩm phu nhân
(Sinh ngày 5 tháng 5 năm Bính Tý
Mất ngày 9 tháng 5 năm Nhâm Ngọ)Tháp Chân Bảo
Chân Bảo tháp
Tháp Chân bảo
種田即果結 修業善道成
Chủng điền tức quả kết;
Tu nghiệp thiện đạo thành.
Trồng ruộng thì kết được quả;
Tu nghiệp thì đạo tốt thành
Bia
陪濟源流毘丘尼菩薩戒法名心愛字真寶號金珠李氏之墓
丙子年仲秋造 釋女如花同亶信等奉立
Bồi tế nguyên lưu tì kheo ni Bồ Tát giới, pháp danh Tâm Ái, tự Chân Bảo,
hiệu Kim Châu Lý thị chi mộ.
(Bính Tý niên trọng thu tạo.
Thích Nữ Như Hoa đồng thiện tín đẳng phụng lập)
Mộ của bồi tế nguyên lưu tì kheo ni bồ tát Lý thị, pháp danh Tâm Ái, tự
Chân Bảo, hiệu Kim Châu
(Tạo dựng giữa thu năm Bính Tý
Thích Nữ Như Hoa cùng các thiện nam tín nữ phụng lập)
Tháp Phúc Tuệ
Phúc Tuệ tháp
真寶塔
福慧塔
Trang 29Tháp Phúc Tuệ
幻理沒伽藍地 真性逍寂滅城
Huyễn lý một Già Lam địa;
Chân tính tiêu tịch diệt thành.
Lý lẽ ảo làm mất đi đất Phật;
Chân tính tiêu dao nơi thành tịch diệt
Bia
臨濟四十世受毘邱尼菩薩戒諱上心下福字真祿尼師之塔
Lâm Tế tứ thập thế thụ tì khâu ni Bồ Tát giới, húy Thượng Tâm Hạ Phúc,
tự Chân Lộc ni sư chi mộ.
Mộ của ni sư pháp phái Lâm Tế đời thứ 40 nhận tì kheo ni bồ tát giới, húy
là Thượng Tâm Hạ Phúc, tự là Chân Lộc
Tháp Nhật Trí
Nhật Trí tháp
Tháp Nhật Trí
淨心存正念 英氣轉凡性
Tịnh tâm tồn chính niệm;
Anh khí chuyển phàm tính.
Tâm tịnh luôn tồn tại suy nghĩ ngay thẳng;
Khí tinh anh sẽ lay chuyển được cái tính phàm tục
Bia
妙圓法派喜尼寺毘丘尼日智字淨英吳氏之塔
丙戌年十一月二十二日妙喜尼寺尼眾仝奉立
Diệu Viên pháp phái hỉ ni tự tì kheo ni Nhật Trí tự Tịnh Anh ngô thị chi
tháp.
日智塔
Trang 30(Bính Tuất niên thập nhất nguyệt nhị thập nhị nhật.
Diệu Hỷ ni tự ni chúng đồng phụng lập)
Tháp của Nhật Trí tự Tịnh Anh Ngô thị tì kheo ni chùa Hỉ Ni pháp phái
Diệu Viên (Ngày 22 tháng 11 năm Bính Tý
Các sư nữ chùa Diệu Hỷ cùng phụng lập)Cổng thành
Thanh trúc động
Động Thanh Trúc
紫竹林中是踏紅蓮千葉色 青蓮座上手持翠柳一枝春
Tử trúc lâm trung, thị đạp hồng liên thiên diệp sắc;
Thanh liên tòa thượng, thủ trì thúy liễu nhất chi xuân.
Trong rừng tre tím, áp lên sen hồng ngàn lá sắc;
Trên tòa sen xanh, tay cầm một cành liễu biếc tươi
Quán tự tại
Tự tại mà xét thấu
佛躡金蓮從鷲嶺 法關寶藏離龍宮
Phật nhiếp kim liên tòng Thứu lĩnh;
Pháp quan bảo tạng ly long cung.
Phật theo sen vàng lên núi Linh Thứu;
Cổng pháp tàng báu xa lìa long cung
青竹峒
觀自在
Trang 312.2.2 Chùa Đông Hải
Tam quan
建法一智即俗即真歸覺道 德同法寒空談空有轉迷心
Kiến pháp nhất trí, tức tục tức chân quy giác đạo;
Đức đồng pháp hàn, không đàm không hữu chuyển mê tâm.
Dựng nên đạo pháp bằng trí tuệ, dù là tục hay là chân đều về nơi giác đạo;Đức cùng pháp, luống nói, luống có đều xoay chuyển được lòng mê
法雨洗除門外穢 慈風以去路邊塵
Pháp vũ tẩy trừ môn ngoại uế;
Từ phong dĩ khử lộ biên trần.
Mưa pháp tẩy trừ ô uế ngoài cửa;
Gió lành thổi sạch bụi bên đường
Mặt trong tam quan
Đông Hải tự
Kỷ Sửu niên mạnh xuân tạo
Chùa Đông HảiXây dựng đầu xuân Kỷ SửuTrụ biểu
Mặt trước
車土 ? 慧日方升領開里野 ? ? ? 慈 雲普照 共濟沈淪
Xa thổ ? tuệ nhật phương thăng lĩnh khai lý dã;
? ? ? từ vân phổ chiếu cộng tế trầm luân
??? Mặt trời trí tuệ lên cao mở ra rộng sáng;
東海寺 己丑年 孟春 造
Trang 32???Mây từ phủ khắp cùng tế độ trầm luân.
一透真空清水波…
永專安樂岑山草重自青青
Nhất thấu chân không Thanh Thủy ba;
Vĩnh chuyên an lạc Sầm sơn thảo trọng tự thanh thanh.
Một thấu chân không, sóng Thanh Thủy …?;
Mãi mãi an lạc, núi Sầm cỏ rậm tự xanh tươi
Mặt sau
保大二年三月重修寺宇 清水上甲第四共仰併息
Bảo Đại nhị niên tam nguyệt trùng tu tự vũ;
Thanh Thủy Thượng giáp đệ tứ cộng ngưỡng tịnh tức.
Tháng ba niên hiệu Bảo Đại thứ hai trùng tu ngôi chùa này;Giáp thứ tư làng Thanh Thủy Thượng cũng ngẩng trông
Đông thổ biến trang nghiêm, nhật phóng trùng tân cảnh sắc; Hải giác thường xán lạn, vân khai hiển hiện tường quang.
Mảnh đất phía đông đều nghiêm trang, mặt trời lên cao cảnh sắc mới;
Biển biết đều sáng rạng, mây mở hiển hiện điềm lành
開方便
Trang 33Khai phương tiện Đại sư tam giới Biến trang nghiêm
Mở ra phương tiện Đại sư ba giới Tất cả đều trang nghiêm
東海會蓮臺鷲嶺遍聞獅吼雨 西天開寶殿祇園超感雉鳴風
Đông hải hội liên đài, Thứu lĩnh biến văn sư hống vũ;
Tây thiên khai bảo điện, Kỳ viên siêu cảm trĩ minh phong.
(Mộc tức hội chủ Phùng Hữu Chí hòa nam thượng cúng)
Bể đông hội đài sen, khắp núi Thứu đều nghe tiếng sư tử rống trong
mưa;
Trời tây mở điện báu, vườn Kỳ siêu cảm tiếng chim trĩ hót trong gió.(Mộc tức hội chủ Phùng Hữu Chí hòa nam thượng dâng cúng)
道法麟往大會君臣仝一德 義扶漢鼎并收吳魏貫三分
Đạo pháp lân vãng, đại hội quân thần đồng nhất đức;
Nghĩa phù Hán đỉnh, tịnh thu Ngô Ngụy quán tam phân.
Đạo pháp xung quanh đều tới, vua tôi đại hồi đều cùng một đức;Lấy nghĩa khuông phù vạc nhà Hán, gộp thu Ngô Ngụy bình dẹp sự chia
ba
Đông Hải tự (Thành Thái Đinh Mùi niên tạo Bản ấp quan ấp phụng cúng)
東海寺
成泰丁未年造本邑官邑奉供
Trang 34Chùa Đông Hải(Xây dựng năm Đinh Mùi đời Thành Thái.
Quan bản ấp phụng cúng)
海會遍聞兜率有天成樂土 玄關大覺菩提隨地蔭慈雲
Hải hội biến văn, Đâu suất hữu thiên thành lạc thổ;
Huyền quan đại giác, Bồ đề tùy địa ấm từ vân.
Hội biển đều nghe, Đâu suất theo trời thành đất lạc;
Cửa huyền vi mở ra giác ngộ, Bồ đề theo đất phủ mây lành.Hậu điện
洗劫塵心清水光回慧日 栽成福果岑山高捧慈雲 領兵阮改詳奉供
Tẩy kiếp trần tâm, thanh thủy quang hồi tuệ nhật;
Tài thành phúc quả, Sầm sơn cao bổng từ vân.
(Lãnh binh Nguyễn Cải Tường phụng cúng).
Rửa sạch lòng trần, nước trong quay lại với vẻ sáng của mặt trời trí tuệ;
Gây trồng nên quả phúc, đụn Sầm cao ôm mây lành
(Lãnh binh Nguyễn Cải Tường phụng cúng)
德業信為天下法
本隊正隊長率隊阮致祥奉供
Đức nghiệp tín vi thiên hạ pháp;
Tôn thân trường thị thế nhân tâm.
(Bản đội chính đội trưởng suất đội Nguyễn Cải Tường phụng cúng)
Nghiệp đức tin rằng đây là pháp của thiên hạ;
Tôn thân thích mãi là lòng người trong thế gian
(Suất đội chính đội trưởng bản đội Nguyễn Cải Tường phụng cúng)Chữ khắc trên đèn thờ
(phải-trái)
Trang 35Pháp giới mông huân Cát tường như ý
Cõi pháp chịu công Tốt lành như ý
Chuông
Bản ấp quan lại khưu ni đồng chú
Quan lại ở bản ấp cùng tăng và ni góp đúc
Thanh Thủy xã thượng giáp đệ tứ ấp
Ấp thứ tư giáp trên xã Thanh Thủy
Duy Tân Nhâm Tý mạnh thu hạ hoán
Hạ tuần đầu mùa thu năm Nhâm Tý đời vua Duy Tân
Giải thoát Hoa Nghiêm tự Thanh tịnh
Giải thoát Chùa Hoa Nghiêm Thanh tịnh
慧日照長空草木山河成秀麗 慈風吹淨地士農工賈共清涼
本邑官吏 丘尼仝鑄
清水社上 甲第四邑
維新壬子 孟秋下浣 平重銅臺 百柒拾斤
解脫
Trang 36Tuệ nhật chiếu trường không, thảo mộc sơn hà thành tú lệ;
Từ phong xuy tịnh địa, sĩ nông công cổ cộng thanh lương.
Mặt trời trí tuệ chiếu khắp không gian, cây cỏ nước non nên đẹp đẽ;Gió lành thổi đất tịnh, sĩ nông công thương đều mát lành
花發曼陀流水高山吟長短 嚴成寶剎白雲紅日空去來
Hoa phát mạn đà, lưu thủy cao sơn ngâm trường đoản;
Nghiêm thành bảo sát, bạch vân hồng nhật không khứ lai.
Hoa nở tốt tươi, non cao nước chảy ngâm khúc nhạc dài ngắn;
Uy nghiêm chùa ngọc, mây trắng mặt trời hồng luống lại qua.Xung quanh chùa
Hoa Nghiêm ni tự
Chùa ni Hoa Nghiêm
Hương hoa trang nghiêm
Hương hoa trang nghiêm
Từ phong phổ phiến
Gió lành quạt khắp
Văn tư tu tuệ
Nghe, suy nghĩ, sửa mình, trí tuệ
花嚴妮寺
香花莊嚴
慈風普扇
聞思修慧
Trang 37Nội điện
Hành nguyện vô lượng Tam giới đạo sư Tuệ quang phổ chiếu
Hành nguyện vô lượng Đạo sư ba giới Ánh sáng nhà Phật
chiếu khắp
拜手炷摽香奉獻如來蓮座上 信心持佛號祈生淨土寶花中
Bái thủ chú tiếu hương, phụng hiến Như Lai liên tòa thượng;
Tín tâm trì Phật hiệu, kì sinh Tịnh thổ bảo hoa trung.
Chắp tay thắp hương, phụng dân lên đức Phật trên tòa sen;
Lòng tin theo Phật hiệu, kì sinh cõi Tịnh thổ trong hoa báu
真傳妙義引誘迷徒普化群生超彼岸 圓成道果三界往來勸進人間聞一乘
Chân truyền diệu nghĩa, dẫn dụ mê đồ, phổ hóa quần sinh siêu bỉ ngạn; Viên thành đạo quả, tam giới vãng lai, khuyến tiến nhân gian văn nhất
thặng.
Chân truyền nghĩa diệu, dẫn dắt quần mê, hóa khắp quần sinh qua bờ bên
kia;
Đạo quả tròn đầy, ba giới qua lại, khuyến khích nhân gian nghe một thặng
Vạn đức cụ Đại hùng bảo điện Tam giác viên
M Muôn đức đầy đủ Điện báu của bậc Đại Hùng Ba giác ngộ trònđầy
皈依佛皈依法皈依僧不墜三途苦 莊嚴戒莊嚴定莊嚴慧敬禮無上尊
Quy y Phật, quy y pháp, quy y tăng, bất trụy tam đồ khổ;
行願無量
萬德具
Trang 38Trang nghiêm giới, trang nghiêm định, trang nghiêm tuệ, kính lễ vô thượng
Hoa đàm hiện thụy, tương ái đạo ni lưu, tổ ấn truyền đăng thâm diệu kệ; Nghiêm trì giới định, tiêu hướng đạo kế thừa, hậu học xiển dương đốn tiệm
Chân tâm thường an lạc;
Tịnh đức khả dung thông.
Tâm chân luôn yên vui;
Đức tịnh nên có thể ung dung thông suốt
Chân Tịnh tháp
Tháp Chân TịnhBài vị
臨濟法派四十三世花嚴寺住持諱心好字真淨毘丘尼真靈之塔
佛歷二五三三己巳中秋
真淨塔
Trang 39Lâm Tế pháp phái tứ thập tam thế Hoa Nghiêm tự trụ trì húy Tâm Hảo, tự
Chân Tịnh tù kheo ni chân linh chi tháp.
(Phật lịch nhị ngũ tam tam Kỷ Tị trung thu.
Môn đồ tịnh thân quyến đồng phụng lập)
Tháp của trụ trì chùa Hoa Nghiêm phái Lâm Tế đời thứ bốn mươi ba, húy
Tâm Hảo, tự Chân Tịnh tì kheo ni
(Trung thu năm Kỷ Tị, Phật lịch năm 2533
Môn đồ cùng người thân phụng lập)Tháp Giác Tuệ
Giác Tuệ tháp
Tháp Giác Tuệ
水流歸大海 月落還雄天
Thủy lưu quy đại hải;
Nguyệt lạc hoàn hùng thiên.
Nước chảy về biển cả;
Trăng lặn trở về trời
Diệu Châu tháp
Tháp Diệu Châu
妙性離生滅 珠光映古今
Diệu tính ly sinh diệt;
Châu quang ánh cổ kim.
Tính huyền diệu có thể thoát rời được sinh và diệt;
Ánh sáng ngọc sáng cả xưa lẫn nay
妙珠塔 覺慧塔
Trang 40Bia tháp
花嚴寺眾首毘丘尼釋女妙珠法名源英阮氏雪生癸巳卒壬申真
靈之塔
佛歷二五三六壬申仲秋本寺並親眷奉立
Hoa Nghiêm tự chúng thủ tì kheo ni Thích Nữ Diệu Châu pháp danh Nguyên Anh Nguyễn Thị Tuyết (sinh Quý Tỵ, tốt Nhâm Thân) chân linh chi
(Giữa thu năm Nhâm Thân, Phật lịch năm 2536
Bản chùa cùng với thân quyến phụng lập)Chuông
鳴鐘 願此鐘聲超法界 鐵圍幽暗悉皆聞 聞塵清淨證圓通 一切眾生成正覺
聞鐘 聞鐘聲煩惱輕 智慧長菩提生 離地獄出火坑 願成佛度眾生 唵伽羅帝耶沙訶 慈曇寺住持沙門號善起和尚証明承天化省教會諸大眾仝護念
南無阿彌陀佛花嚴尼寺