Luận văn về: Cuộc khủng hoảng tài chính- tiền tệ tại Thái Lan 1997 - 1999
Trang 1B¶ng quy íc nh÷ng ch÷ v76iÕt t¾t trong luËn v¨n
Trang 2Môc lôc Trang
Trang 3Mở đầu 4
1.1.1.2 Sự lệ thuộc quá lớn vào nguồn vốn của nớc ngoài 181.1.1.3 Sự mất cân đối trong cơ cấu đầu t và xuất nhập khẩu 21
Diễn biến và tác động của cuộc khủng hoảng
tài chính - tiền tệ ở TháI Lan
2.2.1 Tác động đối với tình hình kinh tế, chính trị - xã hội Thái Lan 412.2.1.1 Đối với nền kinh tế 41
Quá trình giải quyết cuộc khủng hoảng
Trang 43.1 Những biện pháp giải quyết cuộc khủng hoảng của Chính phủ
3.2 Vai trò của cộng đồng quốc tế trong việc giải quyết cuộc
3.4 Một số nhận xét về cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ ở
và khu vực Theo thống kê của IMF, chỉ tính riêng thời kỳ 1975 - 1996 đã có tới
116 vụ “đổ vỡ tiền tệ” ở các nớc đang phát triển (đó là hiện tợng đồng bản tệ mất giá từ 25%/năm trở lên, đồng thời tỷ lệ mất giá đó lại cao hơn 10% so với
sự mất giá của năm trớc) Khủng hoảng kinh tế đã gây nên những hậu quả vô cùng nghiêm trọng đối với sự phát triển của các quốc gia dân tộc trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và trở thành một trong những vấn đề toàn cầu Sẵn sàng phòng ngừa cũng nh đối phó với nguy cơ khủng hoảng để phát triển đi
Trang 5đôi với bền vững là một trong những mục tiêu thiên niên kỷ mà Liên Hợp Quốc
và toàn nhân loại đang hớng tới
Cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu á những năm cuối cùng của thế kỷ XX là một trong những biến động kinh tế nghiêm trọng nhất trong thời
đại toàn cầu hoá Phạm vi ảnh hởng và mức độ thiệt hại về kinh tế của cuộc khủng hoảng này không kém gì so với một cuộc chiến tranh Cuộc khủng hoảng bắt đầu xảy ra vào ngày 2 - 7 - 1997, đánh dấu bằng việc cơ quan tiền tệ Thái Lan tuyên bố thả nổi đồng Bạt Điều này có nghĩa là sau nhiều năm đạt đợc tốc
độ phát triển cao, nền kinh tế Thái Lan chính thức bớc vào giai đoạn khủng hoảng trầm trọng Từ lĩnh vực tài chính - tiền tệ, cuộc khủng hoảng lan sang toàn bộ nền kinh tế và tác động sâu sắc đến tình hình chính trị - xã hội, trở thành cuộc khủng hoảng “kép” trên cả hai lĩnh vực: kinh tế và chính trị
Mặc dù không phải là nớc bị khủng hoảng nặng nề nhất (Inđônêxia bị thiệt hại nặng nhất) nhng Thái Lan lại là “ngòi nổ” của cuộc khủng hoảng và từ
nớc này cuộc khủng hoảng lan truyền sang hầu khắp các nớc châu á So với nhiều nớc châu á chịu tác động của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ, cuộc khủng hoảng ở Thái Lan có nhiều điểm khác biệt, trong đó nguyên nhân chủ yếu nào dẫn đến cuộc khủng hoảng ở Thái Lan, tại sao cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu á lại “bùng nổ” đầu tiên ở Thái Lan vẫn là những câu hỏi
cha có lời giải thoả đáng? Do đó, theo chúng tôi, việc tìm hiểu, nghiên cứu những vấn đề trên sẽ góp phần làm sáng tỏ cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ
ở Thái Lan cũng nh những biến động tiền tệ ở châu á trong những năm cuối thế
kỷ XX
Mặt khác, việc tìm hiểu nghiên cứu cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu á nói chung và cuộc khủng hoảng tại Thái Lan nói riêng cũng có ý nghĩa quan trọng đối với Việt Nam Mặc dù Việt Nam nhìn chung ít chịu tác động từ cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu á, tuy nhiên, trong thời gian diễn ra
Trang 6khủng hoảng, quan hệ đối tác kinh tế giữa hai nớc Việt Nam và Thái Lan đã bị
ảnh hởng nghiêm trọng Vì thế, từ sự kiện này có thể rút ra nhiều bài học bổ ích
đối với Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là trong bối cảnh Việt Nam vừa gia nhập Tổ chức Thơng mại thế giới (WTO) Đó là những bài học về tính phức tạp, phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế trong bối cảnh toàn cầu hoá, bài học về phát triển và bền vững, về mô hình quản lý kinh tế, tài chính của các quốc gia trong quá trình hội nhập…
Là một trong những sự kiện tài chính gây chấn động d luận quốc tế trong những năm cuối thế kỷ XX, do đó, ở Việt Nam, cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu á (1997 – 1999) đã đợc đề cập rất nhiều trong các tài liệu, sách báo, các hội thảo chuyên đề, tuy nhiên mới chỉ dừng lại ở những bài viết, những công trình mang tính chất chuyên khảo về kinh tế - tài chính chứ cha có những công trình nghiên cứu đợc tiếp cận từ góc độ sử học Mặt khác, các công trình, bài viết trên cha tập trung nghiên cứu một cách đầy đủ và sâu sắc cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ trong phạm vi một nớc riêng biệt Chính vì vậy, việc lựa chọn nghiên cứu vấn đề “Cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ ở Thái Lan” là
một việc làm vừa có ý nghĩa khoa học vừa mang giá trị thực tiễn sâu sắc
Với những lý do trên, chúng tôi chọn vấn đề “Cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ ở Thái Lan 1997 - 1999” làm đề tài luận văn tốt nghiệp cao học
của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
Là một trong những sự kiện lớn diễn ra cách đây cha đầy một thập kỷ, vì thế cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ ở Thái Lan ngay từ khi bùng nổ đã thu
hút đợc sự quan tâm của đông đảo các nhà nghiên cứu Chỉ tính riêng ở Việt Nam, trong thời gian diễn ra cuộc khủng hoảng, các cơ quan báo chí, các tạp chí khoa học chuyên ngành đã dành một dung lợng lớn để đăng tải các bài viết, các công trình nghiên cứu về chủ đề này Tiếp đó là các hội thảo chuyên đề,
Trang 7chuyên ngành, liên ngành đợc tổ chức rộng rãi nhằm tìm hiểu đánh giá về cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu á để rút ra bài học cho Việt Nam.
2.1 Có thể khái quát quá trình nghiên cứu về cuộc khủng hoảng tài chính
- tiền tệ ở Thái Lan từ trớc tới nay qua một số nguồn t liệu mà chúng tôi đã tiếp cận đợc sau:
- Năm 1997, trên tạp chí “Những vấn đề kinh tế thế giới”, số 4 có đăng bài của tác giả Nguyễn Xuân Thắng nhan đề “Khủng hoảng đồng Bạt ở Thái Lan: nguyên nhân, giải pháp và một số bài học với Việt Nam” Bài viết đã
phân tích khá kỹ nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng hoảng ở Thái Lan, đặc biệt tác giả đã bớc đầu đa ra những giải pháp cho Việt Nam qua việc nghiên cứu cuộc khủng hoảng ở Thái Lan
- Tác giả Nguyễn Hồng Sơn trong bài “Hiểu nh thế nào về cuộc khủng hoảng tiền tệ ở Thái Lan” đăng trên tạp chí “Những vấn đề kinh tế thế giới”,
số 6, năm 1997 đã chỉ ra một trong những nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng hoảng ở Thái Lan ít đợc giới nghiên cứu chú ý đó là tình trạng đầu cơ trớc khi khủng hoảng bùng nổ Tác giả bài viết kết luận: chính tình trạng đầu cơ đã đẩy nhanh Thái Lan đến bờ vực của sự đổ vỡ tiền tệ
- Báo Sài gòn giải phóng ra ngày 18 tháng 8 năm 1997 có bài “So sánh hai cuộc khủng hoảng tiền tệ ở Thái Lan và Mêhicô” Bài báo đã chỉ ra 3 điểm
tơng đồng và 5 điểm khác biệt giữa hai cuộc khủng hoảng ở Thái Lan và Mêhicô
- Thời báo kinh tế Việt Nam ra ngày 20 tháng 8 năm 1997 có bài “Khủng hoảng đồng Bạt ở Thái Lan - nguyên nhân, giải pháp và bài học đối với các nền kinh tế hớng ngoại” Bài báo đã phân tích khá sâu sắc những nguyên nhân
và bài học từ cuộc khủng hoảng ở Thái Lan đối với các quốc gia mà nền kinh tế phụ thuộc vào nguồn vốn vay của nớc ngoài, trong đó có Thái Lan và Việt Nam Tác giả bài báo khẳng định một quốc gia muốn phát triển bền vững lâu dài thì
Trang 8phải dựa chủ yếu vào nguồn nội lực, yếu tố ngoại lực chỉ có ý nghĩa hỗ trợ trong những thời điểm nhất định.
- Báo Đầu t ra ngày 20 tháng 8 năm 1997 có bài “Khủng hoảng tài chính
- tiền tệ ở Thái Lan - bài học với Việt Nam” đã đa ra 4 bài học với Việt Nam
đ-ợc đúc rút từ cuộc khủng hoảng ở Thái Lan, trong đó đặc biệt nhấn mạnh bài học từ nguồn vốn vay của nớc ngoài
- Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 10, năm 1997 có bài “Khủng hoảng tiền
tệ ở Thái Lan và ảnh hởng đối với các nớc trong khu vực và Việt Nam” của tác
giả Phạm Ngọc Long đã phản ánh hiệu ứng lan truyền, tác động của cuộc khủng hoảng từ Thái Lan sang các nớc trong khu vực Tác giả bài viết đã dành nhiều thời gian phân tích tác động của cuộc khủng hoảng từ Thái Lan tới các nớc trong khu vực, coi Thái Lan là “ngòi nổ” của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền
tệ Châu á
- Báo Quân đội nhân dân số ra ngày 25/10/1997 có bài “Cuộc khủng
hoảng kép ở Thái Lan“ ” ” cho rằng cuộc khủng hoảng ở Thái Lan không chỉ diễn ra trên lĩnh vực kinh tế mà còn tác động sâu sắc đến tình hình chính trị, xã hội Tác giả bài báo kết luận: Chính cuộc khủng hoảng trên lĩnh vực tài chính - tiền tệ đã đa đến những hậu quả nặng nề đối xã hội Thái Lan nh: tình trạng thất nghiệp gia tăng, chất lợng cuộc sống giảm sút
- Năm 1998, Viện nghiên cứu Thơng mại xuất bản công trình “Cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ ở châu á - nguyên nhân và bài học” Nội dung
trình bày tơng đối đầy đủ các vấn đề của cuộc khủng hoảng tiền tệ ở châu á, trong đó có đề cập đến nguyên nhân, diễn biến, giải pháp và bài học kinh nghiệm của cuộc khủng hoảng ở Thái Lan
- Trên Tạp chí nghiên cứu Đông Nam á số 2/1998 với bài “Bàn thêm về cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ ở Đông Nam á”, tác giả Hoa Hữu Lân
cũng đã nói thêm về tác động và bài học từ cuộc khủng hoảng ở Thái Lan Tuy
Trang 9nhiên bài viết thiên về đánh giá chung cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ khu vực
- Tác giả Bảo Trung (Đại học Bách khoa TP Hồ Chí Minh), trong luận văn thạc sĩ kinh tế với đề tài “Khủng hoảng tài chính - tiền tệ ở một số nớc châu á” (1998) cũng đã chọn Thái Lan là một trong những nớc điển hình để
nghiên cứu Tuy nhiên, công trình này thuộc chuyên ngành kinh tế, do đó yếu tố chính trị –xã hội cha đợc nghiên cứu thoả đáng Mặt khác, do phải tập trung khảo sát nhiều nớc nên tác giả luận văn cha đi sâu nghiên cứu cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ ở Thái Lan
- Tạp chí Phát triển kinh tế số 2/1998, tác giả Hoàng Thị Chỉnh đã phân
tích những hậu quả từ cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ ở Thái Lan trong bài “Từ cuộc khủng hoảng tiền tệ ở Thái Lan đến biến động tiền tệ ở Đông Nam á, nguyên nhân và hậu quả” Tác giả bài báo cho rằng hầu hết các nớc
Đông Nam á khủng hoảng là do quá coi trọng những lợi ích kinh tế trớc mắt
mà xem nhẹ bài học phát triển đi đôi với sự bền vững
- Năm 1998, Viện Thông tin khoa học xã hội xuất bản chuyên đề:
“Khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu á và những vấn đề đặt ra hiện nay” với
một loạt bài nghiên cứu về cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ ở Thái Lan Tiêu biểu là các bài: “So sánh cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ giữa Thái Lan và Mêhicô ” của tác giả Nguyễn Minh Phong, “Khủng hoảng tiền tệ ở Thái Lan: nguyên nhân, hậu quả, giải pháp và triển vọng phục hồi” của tác giả
Nguyễn Hồng Sơn, “Khủng hoảng tiền tệ ở châu á và một số giải pháp đối với Việt Nam” của tác giả Tào Hữu Phùng Các tác giả của chuyên đề này đã đa ra
nhiều ý kiến, nhiều sự lý giải khác nhau về nguyên nhân và triển vọng phục hồi của nền kinh tế Thái Lan
- Báo Tin tức ra ngày 18/1/1999 đăng bài “Tác động của cuộc khủng
hoảng kinh tế đối với xã hội Thái Lan” Bài báo đã chỉ ra những vấn đề xã hội
Trang 10nảy sinh từ cuộc khủng hoảng kinh tế nh sự giảm sút về chất lợng giáo dục và y tế.
- Trong bài “Khủng hoảng tài chính tại các nớc ASEAN và những vấn
đề xã hội nảy sinh” của tác giả Phạm Ngọc Tân đăng trên Tuyển tập các công
trình nghiên cứu khoa học 1990 - 1999, Khoa Lịch sử, Trờng Đại học s phạm Vinh đã phân tích khá sâu sắc tác động của cuộc khủng hoảng tài chính – tiền
tệ đến tình hình xã hội các nớc Đông Nam á Tác giả đã đa ra những số liệu sinh động về tình trạng thất nghiệp, đói nghèo, về sự xuống cấp của chất lợng giáo dục, y tế
- Tạp chí nghiên cứu Đông Nam á, số 1, năm 1999 có bài “Khủng hoảng
tài chính - tiền tệ ở Đông Nam á - những nguyên nhân từ mô hình phát triển”
của tác giả Thu Mỹ đã đề cập đến mô hình phát triển còn nhiều bất cập ở Thái Lan và cho rằng chính mô hình này đã góp phần đẩy Thái Lan đến khủng hoảng
- Trong năm 1999 còn phải kể đến hàng loạt tin bài viết đăng trên Tài liệu
tham khảo đặc biệt của Thông tấn xã Việt Nam về chủ đề khủng hoảng tài chính - tiền tệ ở Thái Lan Tiêu biểu là các bài sau: “Hai năm cầm quyền của Chính phủ Xuôn Lịchphai” (9/12/1999), “Thái Lan thất bại trong cải cách chính trị ” (6/2/1999), “Thái Lan sửa đổi luật kinh doanh để thu hút đầu t”
(29/10/1999), “Thợng nghị viện Thái Lan thông qua ba đạo luật về kinh tế”
(14/3/1999), “Thái Lan triển vọng và thách thức trong năm 1999 ” (4/2/1999) Nguồn tài liệu này cung cấp nhiều thông tin quan trọng, mang tính thời sự cao nhng hạn chế của nó là quá ngắn và thờng thiếu chiều sâu phân tích, đánh giá
- Năm 2000, trên Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam á số 5, tác giả Nguyễn Duy Quý có bài “Tác động của khủng hoảng tài chính - tiền tệ đối với sự phát triển của ASEAN”, trong đó có đề cập đến những tác động từ cuộc khủng
Trang 11hoảng tài chính - tiền tệ ở Thái Lan Tác giả bài viết đã nhấn mạnh đến tác động của cuộc khủng hoảng ở Thái Lan trong sự phát triển của cộng đồng ASEAN.
- Năm 2002, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh xuất bản cuốn “Khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu á 1997 - 1999 - nguyên nhân, hậu quả và bài học đối với Việt Nam” Trong đó tác giả Nguyễn Thiện Nhân (chủ
biên) đã dành phần lớn nội dung nghiên cứu cuộc khủng hoảng tài chính - tiền
tệ ở Thái Lan Các tác giả đã cung cấp một hệ thống số liệu phong phú về cuộc khủng hoảng ở Thái Lan đợc tiếp cận từ nhiều nguồn thông tin có độ tin cậy cao Tuy nhiên, cũng nh những công trình nghiên cứu về kinh tế khác, cuốn sách này không chú trọng nhiều đến hệ quả chính trị – xã hội của cuộc khủng hoảng
2.2 Qua các bài viết, công trình nghiên cứu trên chúng tôi có một số nhận xét sau:
2.2.1 Nhìn chung, các tác giả khi tìm hiểu, nghiên cứu về cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu á đều dành nhiều thời gian nghiên cứu cuộc khủng hoảng ở Thái Lan Nhiều công trình, bài viết đã phân tích khá sâu sắc một số vấn đề của cuộc khủng hoảng nh nguyên nhân, bài học và triển vọng phục hồi của nền kinh tế Thái Lan Đặc biệt, từ các công trình này chúng tôi đã
đợc tiếp cận với một hệ thống số liệu khá phong phú về cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu á Mặt khác, với một số lợng công trình, bài viết phong phú
đợc tiếp cận từ nhiều góc độ, chúng tôi cũng có điều kiện để tiếp thu, nhìn nhận vấn đề một cách toàn diện, từ đó có thể đa ra những kiến giải cá nhân khách quan và trung thực hơn
2.2.2 Mặc dù vậy, việc nghiên cứu vấn đề “Khủng hoảng tài chính - tiền
tệ ở Thái Lan” vẫn còn nhiều “khoảng trống” mà tác giả của luận văn này quan
tâm
Trang 12- Thứ nhất: Hầu hết các công trình nghiên cứu mới chỉ phản ánh một cách chung nhất về cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ ở châu á, cha có một công trình lớn nào nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc và có hệ thống về cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ tại Thái Lan Cha có nhiều tác giả nghiên cứu riêng biệt về cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ ở Thái Lan, mới chỉ có các bài viết ngắn mang tính chất chuyên khảo về tài chính, kinh tế, một số khác là các tin tức báo chí cha thực sự sâu sắc trong nhận xét, đánh giá
- Thứ hai: Trong quá trình nghiên cứu cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ
ở Thái Lan, những ngời đi trớc hầu nh chỉ chú trọng đến lĩnh vực kinh tế, tài chính thuần túy mà ít đề cập, phân tích một cách đầy đủ về hệ quả chính trị, xã hội của nó Nói cách khác vấn đề này cha đợc nghiên cứu đúng mức từ phơng diện sử học
- Thứ ba: Nhiều vấn đề về cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ ở Thái
Lan vẫn còn tranh luận, cha đi đến thống nhất nh: nguyên nhân chủ yếu nào dẫn
đến cuộc khủng hoảng ở Thái Lan? Tại sao cuộc khủng hoảng lại bùng nổ đầu tiên ở Thái Lan? Thời điểm nào Thái Lan thoát ra khỏi khủng hoảng? Đặc điểm, tính chất của cuộc khủng hoảng này nh thế nào?
2.3 Những kết quả nghiên cứu trên đây sẽ là nguồn t liệu quan trọng để chúng tôi tiếp tục nghiên cứu và có những kiến giải một cách sâu sắc và toàn diện hơn
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài.
3.1 Mục đích.
Nghiên cứu đề tài này chúng tôi hớng đến làm sáng tỏ một số vấn đề chủ yếu sau:
- Làm rõ cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ ở Thái Lan một cách có
hệ thống, đi từ phân tích nguyên nhân, diễn biến, tác động cho đến quá trình khắc phục cũng nh tính chất, đặc điểm của cuộc khủng hoảng
Trang 13- Nghiên cứu cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ ở Thái Lan cũng sẽ giúp chúng tôi và những ai quan tâm đến luận văn này có thêm những hiểu biết
về cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ châu á những năm cuối thế kỷ XX
3.2 Nhiệm vụ.
Để thực hiện đợc mục đích trên, nhiệm vụ mà chúng tôi phải thực hiện đó là: trên cơ sở nguồn t liệu thu thập đợc tiến hành xác minh, phân loại, từ đó phân tích một cách sâu sắc và có hệ thống về cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ ở Thái Lan
Từ việc nghiên cứu cuộc khủng hoảng ở Thái Lan, nhiệm vụ của luận văn
là phải nêu lên đợc các bài học đối với Việt Nam nói riêng và các nớc đang phát triển nói chung trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
4 Giới hạn của đề tài.
Về mặt thời gian: Đề tài đợc giới hạn chủ yếu trong khoảng thời gian từ tháng 7 năm 1997 khi Chính phủ Thái Lan tuyên bố thả nổi đồng Bạt cho đến cuối năm 1999 khi nền kinh tế Thái Lan bắt đầu phục hồi và tăng trởng trở lại
Về mặt không gian: Đề tài chủ yếu nghiên cứu cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ xảy ra trên đất nớc Thái Lan Tuy nhiên, do tính chất của một đề tài sử học nên trong quá trình nghiên cứu cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ ở Thái Lan, chúng tôi không thể không tìm hiểu tình hình kinh tế, chính trị Thái
Lan trớc, trong và sau cuộc khủng hoảng, cũng nh sẽ so sánh với cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ của một số nớc trong khu vực
5 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu.
5.1 Nguồn t liệu.
- Các t liệu có tính chất chung về lịch sử, văn hoá, kinh tế Thái Lan
- Các công trình khoa học, luận văn kinh tế nghiên cứu về cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ châu á
- Các số liệu về khủng hoảng tài chính ở Thái Lan lu trữ tại Bộ Kế hoạch -
Trang 14- Các bài viết đăng trên các tạp chí khoa học nh: Nghiên cứu Đông Nam á, Tạp chí Cộng sản, Những vấn đề kinh tế thế giới, Nghiên cứu Quốc tế
- Hệ thống tin bài về chủ đề nghiên cứu đăng trên báo chí trong 3 năm từ
1997 đến 1999: Báo Đầu t, báo Thơng mại, báo Sài Gòn giải phóng, báo Nhân dân, báo Ngoại thơng, báo Hà Nội mới
- Nguồn Tài liệu tham khảo đặc biệt của Thông tấn xã Việt Nam trong các năm từ 1997 đến 2000
- Các bài diễn văn, báo cáo của Chính phủ Thái Lan về cuộc khủng hoảng
- Bài viết của các tác giả Thái Lan và các nớc viết về cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ ở Thái Lan
- Nguồn t liệu từ Internet…
5.2 Phơng pháp nghiên cứu.
Thực hiện đề tài này, về mặt phơng pháp luận, chúng tôi dựa trên quan
điểm duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác-Lênin và đờng lối xây dựng nền kinh
tế thị trờng của Đảng Cộng sản Việt Nam
Về phơng pháp nghiên cứu, mặc dù đây là đề tài nghiên cứu về lĩnh vực kinh tế, tuy nhiên nó đợc tiếp cận từ góc độ sử học, do đó chúng tôi chủ yếu vận dụng hai phơng pháp truyền thống là phơng pháp lịch sử và phơng pháp lôgíc Tuy nhiên, cũng do là đề tài về kinh tế nên chúng tôi cũng chú trọng nhiều hơn
đến các phơng pháp nghiên cứu chuyên ngành, liên ngành nh: thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp
Từ các nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu trên, chúng tôi cố gắng khai thác và xử lý các thông tin một cách khách quan và trung thực nhất
6 Đóng góp của luận văn.
6.1 Luận văn sẽ đa đến một cái nhìn tổng quan và sâu sắc hơn dới góc
độ sử học về cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ ở Thái Lan Từ đó góp thêm những hiểu biết cho ngời đọc về mức độ nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ châu á những năm cuối thế kỷ XX
Trang 156.2 Luận văn cũng đã bớc đầu chỉ ra nguyên nhân riêng, đặc điểm, tính
chất, tác động và bài học kinh nghiệm từ cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ
ở Thái Lan
6.3 Đợc tiếp cận từ góc độ sử học, do đó đề tài có thể sử dụng làm tài
liệu tham khảo về lịch sử Thái Lan những năm cuối thế kỷ XX trên cả ba lĩnh vực: kinh tế, chính trị, xã hội
7 Bố cục của luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm
3 chơng:
Chơng 1 Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ ở Thái Lan Chơng 2 Diễn biến và tác động của cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ ở Thái Lan
Chơng 3 Quá trình giải quyết cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ ở Thái Lan
nội dung
Chơng 1 Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng
tài chính - tiền tệ ở Thái Lan
1.1 Nguyên nhân chủ quan.
1.1.1 Về kinh tế.
Trong cuộc hành trình tới câu lạc bộ các nớc công nghiệp mới (NICs), ngay từ cuối những năm 80 của thế kỷ XX, Thái Lan đợc thừa nhận là một trong những nớc có tốc độ phát triển kinh tế cao nhất thế giới ở khu vực Đông Nam á, Thái Lan đợc nhìn nhận là một trong những quốc gia (sau Xingapo) có thể nhanh chóng trở thành nớc công nghiệp mới
Trên thực tế, không phải đến thập kỷ 80 của thế kỷ XX, Thái Lan mới đạt
đợc tốc độ tăng trởng “thần kỳ” nh vậy (năm 1988 là 13%, năm 1989 là 12%)
Trang 16mà ngay từ khi quốc gia này bắt đầu thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá vào những năm 60 của thế kỷ XX, tốc độ tăng trởng GDP đã đạt khoảng 8%/năm [43; 75] Trớc khi diễn ra khủng hoảng, từ 1991 đến 1996, tốc độ tăng trởng GDP cũng đạt bình quân 7,7%/năm Tổng sản phẩm nội địa theo đầu ngời tăng
từ mức 440 USD năm 1955 lên 3.012 USD năm 1996
Từ một nớc nông nghiệp, sau 30 năm tiến hành công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá (1961 - 1991), Thái Lan đã đạt đợc tốc độ tăng trởng cao, trở thành một trong những đầu tàu kinh tế của ASEAN Nhiều quốc gia ở châu á coi Thái Lan là mô hình phát triển lý tởng để học tập trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
Nh vậy, nếu chỉ căn cứ vào chỉ số tăng trởng GDP của Thái Lan trong suốt hơn 3 thập kỷ từ 1961 đến 1996 thì có thể khẳng định đây là quốc gia có tốc độ phát triển cao và tơng đối ổn định Tuy nhiên, chỉ số GDP là một thớc đo quan trọng nhng cha phản ánh đầy đủ bức tranh của một nền kinh tế ở Thái Lan, để đạt đợc tốc độ phát triển cao và kéo dài nh vậy, Chính phủ đã phải chi phí rất lớn cho hoạt động đầu t: “trong thời kỳ 1991 - 1996, đầu t của Thái Lan rất cao, hàng năm chiếm bình quân 40% GDP” [43; 76] Ngời ta tính rằng, tr-
ớc khi diễn ra khủng hoảng (thời kỳ 1991 - 1996), hệ số ICOR của kinh tế Thái Lan là 5,22, tức là phải đầu t 5,22 Bạt thì GDP mới tăng trởng 1 Bạt Rõ ràng chỉ xét trên lĩnh vực kinh tế, sự phát triển của Thái Lan đã tiềm ẩn nhiều yếu tố không bền vững, vì theo quy luật kinh tế tăng trởng cao mà chi phí thấp mới bền vững, tăng trởng cao dựa trên hiệu quả kinh tế cao của sản xuất kinh doanh mới lâu bền
1.1.1.1 Chính sách tỷ giá hối đoái bất hợp lý.
Chính sách tỷ giá hối đoái đóng vai trò quan trọng trong quá trình điều tiết quan hệ kinh tế đối ngoại đối với các nớc đang phát triển ở Thái Lan, Chính phủ có truyền thống hạn chế điều chỉnh tỷ giá hối đoái vì lý do chống lạm phát Nhờ đó, tỷ giá hối đoái của Thái Lan đợc giữ ổn định trong một thời
Trang 17gian dài Tuy nhiên, bớc vào những năm 80 của thế kỷ XX, do phải đối mặt với nhiều khó khăn, thử thách trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế nên Chính phủ Thái Lan đã phải tiến hành 3 lần phá giá tiền tệ: “lần 1 vào tháng 5 –
1981, lần 2 vào tháng 7 - 1981 và lần 3 vào tháng 11 - 1984” [77; 34] Kể từ
đó cho đến trớc khi cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ bùng nổ, về cơ bản, Chính phủ Thái Lan vẫn duy trì tỷ giá hối đoái giữa đồng Bạt với các đồng ngoại tệ của các bạn hàng chủ chốt, trong đó đồng USD chiếm vai trò chủ đạo (80% giá trị) Thực chất đồng Bạt đã đợc cố định với đồng USD: trong thời kỳ
1991 - 1996, tỷ giá hối đoái giữa đồng Bạt với đồng USD chỉ biến đổi rất ít, từ 25,28 Bạt/USD năm 1991 lên 25,61 Bạt/USD năm 1996
Trong lịch sử kinh tế thế giới, việc quy định tỷ giá hối đoái cố định (trong đó đồng USD đóng vai trò chính) đã từng đem lại sự phát triển “thần kỳ”
cho nền kinh tế Nhật Bản và Tây Âu sau Chiến tranh thế giới thứ hai Và thực
tế, chính sách này đã giúp cho đồng Bạt trở thành một trong những đồng tiền ổn
định nhất thế giới Điều này tạo ra môi trờng thuận lợi để thu hút đầu t nớc ngoài, góp phần kích thích sự tăng trởng của nền kinh tế Mặc dù vậy, đối với những nền kinh tế đang phát triển trong xu thế toàn cầu hoá đang diễn ra mạnh
mẽ nh Thái Lan thì việc kìm giữ quá lâu tỷ giá hối đoái cố định của đồng bản tệ
so với giá trị thực của nó là một chính sách không hợp lý
Thứ nhất, dới chế độ tỷ giá hối đoái này, chức năng điều tiết kinh tế của Nhà nớc sẽ bị hạn chế Do mục tiêu chống lạm phát đợc đặt lên hàng đầu nên Chính phủ Thái Lan buộc phải duy trì chính sách kìm giữ tỷ giá của đồng Bạt so với đồng USD, bất chấp những biến động của tình hình kinh tế trong và ngoài n-
ớc Tuy vậy, khi vốn đầu t của nớc ngoài tràn vào quá nhiều, để ngăn chặn tình trạng tăng giá của đồng Bạt, Chính phủ Thái Lan đã buộc phải thực hiện chính sách tiền tệ thả nổi, một nguyên nhân quan trọng làm cho nền kinh tế phát triển quá nóng và rơi vào trạng thái mất cân đối bên trong và bên ngoài Chính sách thả nổi tiền tệ một cách thiếu chủ động của Thái Lan đã làm cho lạm phát gia
Trang 18tăng, thúc đẩy tiền lơng tăng lên và thổi phồng một cách giả tạo nhu cầu trong nớc Trong khi năng suất lao động chỉ tăng 3%/năm thì tiền lơng tăng tới 10%/năm Chính sách này cũng đã dẫn đến hiện tợng đầu t tràn lan, ồ ạt vào các lĩnh vực chỉ mang lại lợi ích trớc mắt và có tính rủi ro cao nh đầu t tài chính và
đầu t bất động sản Tất cả những yếu tố trên đã góp phần tạo nên những giá trị…
ảo mà ngời ta thờng gọi là “nền kinh tế bong bóng” ở Thái Lan
Thứ hai, tỷ giá hối đoái cố định cùng với sự gia tăng của lạm phát chứng
tỏ đồng Bạt đã lên giá thực tế Điều này kết hợp với sự cạnh tranh gay gắt trên thị trờng quốc tế đã khiến cho kim ngạch xuất khẩu của Thái Lan giảm sút:
“kim ngạch xuất khẩu năm 1996 chỉ tăng 0,2% so với mức 25% năm 1995”
[50; 35] Tình trạng lợi dụng thông tin nội bộ để trục lợi, cho vay tràn lan, nạn rửa tiền ngày càng phổ biến đã đẩy nền kinh tế Thái Lan rơi vào trạng thái mất cân đối, phát triển không bền vững
Nh vậy, chính sách tỷ giá hối đoái của Thái Lan là một trong những nguyên nhân đẩy nền kinh tế rơi vào khủng hoảng Đó là một chính sách cứng nhắc, thiếu linh hoạt và không thật sự chủ động để có thể đối phó với những nguy cơ tiềm ẩn của cuộc khủng hoảng Đến khi nguy cơ khủng hoảng tài chính
- tiền tệ lên đến đỉnh điểm, Chính phủ Thái Lan không còn cách nào khác buộc phải tuyên bố phá giá đồng Bạt
1.1.1.2 Sự lệ thuộc quá lớn vào nguồn vốn của nớc ngoài.
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, việc huy động nguồn vốn đầu tcủa nớc ngoài đối với các nớc đang phát triển nh Thái Lan là một việc làm rất cần thiết Chính sự phát triển “thần kỳ” của Nhật Bản hay sự “cất cánh ” của những “Con Rồng châu á”, một phần cũng nhờ vào nguồn vốn đầu t của nớc
ngoài, đặc biệt là Mỹ Do đó, không có một quốc gia nào trên thế giới không mang những khoản vay nợ của nớc ngoài, ngay cả nớc Mỹ, nền kinh tế số một thế giới cũng không là ngoại lệ
Trang 19Thực tế ở Thái Lan cho thấy, ngay từ trớc khi bớc vào thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc, Thái Lan đã trở thành đồng minh kinh tế - chính trị của Mỹ và sau này là Nhật Bản, nền kinh tế thứ hai thế giới Dựa vào nguồn vốn đầu t của hai siêu cờng kinh tế này, Thái Lan đã đạt đợc tốc độ phát triển cao trong suốt hơn 30 năm công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc Trong buôn bán với Mỹ, Thái Lan luôn đợc lợi: “6 tháng đầu năm 1986, Thái Lan xuất siêu sang Mỹ 429 triệu USD” [27; 96], có hơn 200 công ty đa quốc gia
của Nhật Bản hoạt động ở Thái Lan Từ những lợi thế đó, các Chính phủ Thái Lan tiếp tục duy trì xây dựng nền kinh tế hớng ngoại trên cơ sở tranh thủ nguồn vốn đầu t của nớc ngoài để trong một thời gian ngắn có thể đạt đợc tốc độ phát triển cao, sớm trở thành một trong những “Con Rồng châu á” Tuy nhiên, đó là
một hớng đi mạo hiểm và thiếu tính bền vững Bất kỳ một quốc gia nào muốn
v-ơn lên hội nhập và phát triển thành công đều phải dựa vào thực lực của mình là chính
ở Thái Lan, số nợ nớc ngoài liên tục gia tăng: từ 40,6% GDP năm 1993; 44,3% GDP năm 1994; 49,5% GDP năm 1995 lên đến 52,4% GDP năm 1996
Tỷ lệ này lớn hơn rất nhiều so với tỷ lệ nợ nớc ngoài của Mêhicô trớc khi xảy ra khủng hoảng (khoảng 35% GDP) Thái Lan là nớc có tỷ lệ nợ nớc ngoài so với GDP cao nhất trong số các nớc bị khủng hoảng tài chính - tiền tệ năm 1997
Bảng 1: Tốc độ tăng trởng nợ nớc ngoài và GDP thực tế (1982 - 1996) ở Thái Lan
Năm Nợ nớc ngoài
(triệu USD)
Tốc độ tăng ởng
tr-GDP tính theo giá năm 1998 (triệu Bạt)
Tốc độ tăng ởng
Trang 20(Nguồn: Ngân hàng Thái Lan, tập san các tháng, các năm khác nhau [19; 69])
Điều đáng lo ngại ở đây là phần lớn các khoản vay nợ nớc ngoài của Thái Lan đều là vay ngắn hạn: năm 1996, trong số 89 tỷ USD nợ nớc ngoài thì có tới 65% đến hạn trả trong vòng 1 năm
Cũng do tính chất hớng ngoại của nền kinh tế nên hệ thống ngân hàng ở Thái Lan không có đợc sự chủ động trong kinh doanh Việc sử dụng đến 90% nguồn vốn nớc ngoài ở dạng đầu t tài chính và tín dụng ngắn hạn đã tạo nên áp lực tài chính rất lớn đối với các doanh nghiệp trong nớc Ngân hàng Thái Lan vay lãi của nớc ngoài sau đó cho các công ty của Thái Lan vay với lãi suất lên
đến 16,3%/năm, còn hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp chỉ đạt 1%/năm thì nguy cơ phá sản doanh nghiệp là điều không thể tránh khỏi Điều đặc biệt là cho đến trớc khi diễn ra cuộc khủng hoảng, các ngân hàng và công ty tài chính
ở Thái Lan rất tích cực vay nợ của nớc ngoài để đầu t trong nớc “Tổng số nợ
n-ớc ngoài của hệ thống ngân hàng Thái Lan đã tăng từ 2,85% năm 1991 lên 28,69% năm 1996 Tổng số nợ nớc ngoài so với tổng số tài sản nớc ngoài mà
hệ thống ngân hàng có đã tăng từ 171% năm 1991 lên 694% năm 1996” [43;
80] Tính đến thời điểm giữa năm 1997, tổng số nợ quá hạn mà các công ty tài chính Thái Lan phải gánh chịu lên tới gần 30 tỷ USD Rõ ràng, nguy cơ phá sản của các ngân hàng đã lên đến đỉnh điểm Ngời ta tính rằng, trên thực tế nợ ngắn hạn của Thái Lan đã gấp 1,18 lần dự trữ ngoại tệ quốc gia từ năm 1995 Nghĩa
là Thái Lan mất khả năng thanh toán nợ nớc ngoài Đến tháng 6 - 1997, nợ nớc ngoài ngắn hạn đã bằng 1,5 lần dự trữ ngoại tệ của Thái Lan, nguy cơ mất khả năng thanh toán của quốc gia trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết
Trang 21Nh vậy, việc xây dựng nền kinh tế hớng ngoại với chính sách tranh thủ nguồn vốn của nớc ngoài bao giờ cũng tồn tại tính chất hai mặt của nó Điều này đã đợc thể hiện rõ ở Thái Lan Trong thời kỳ đầu thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Thái Lan đã khai thác tốt nguồn vốn của nớc ngoài để đạt đợc tốc độ phát triển cao Tuy nhiên, bớc sang những năm cuối thế kỷ XX, trong bối cảnh đầy biến động của toàn cầu hoá kinh tế, việc duy trì và có phần lạm dụng chính sách vay vốn nớc ngoài của Chính phủ Thái Lan đã đa nền kinh tế đất nớc vào tình trạng bị lệ thuộc nặng nề, không có tính chủ động trong hội nhập kinh
tế quốc tế Chính sự lệ thuộc quá lớn vào nguồn vốn của nớc ngoài là một trong những nguyên nhân sâu xa làm bùng nổ cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ Thái Lan năm 1997
1.1.1.3 Sự mất cân đối trong cơ cấu đầu t và xuất nhập khẩu
Để thực hiện mục tiêu chiến lợc biến Thái Lan thành một nớc công nghiệp mới vào đầu thế kỷ XXI, Chính phủ Thái Lan đã dành sự u tiên đặc biệt cho các lĩnh vực đầu t và xuất khẩu Trong suốt thập kỷ 80 và nửa đầu thập kỷ
90 của thế kỷ XX, nền kinh tế hớng ngoại của Thái Lan đã đạt đợc những thành tựu to lớn trên hai lĩnh vực này: giai đoạn 1986 - 1990, tốc độ tăng trởng xuất khẩu bình quân là 28%/năm; năm 1992 và 1993 khoảng 13%/năm; năm 1994
và 1995 khoảng 20%/năm, giá trị xuất khẩu theo đầu ngời cũng tăng từ 630 USD/ngời năm 1991 lên 1.177 USD/ngời năm 1996 [43; 76]
Trên lĩnh vực đầu t, do GDP tăng trởng cao, tỷ giá hối đoái gần nh cố
định nên Thái Lan trở thành nớc có môi trờng đầu t hấp dẫn đối với các doanh nghiệp nớc ngoài Chỉ tính riêng trong thời kỳ 1991 - 1996, tổng số vốn nớc ngoài đợc đầu t vào Thái Lan là 85,293 tỷ USD Bên cạnh đó, Chính phủ cũng
đã tập trung đầu t xây dựng và phát triển nhiều ngành kinh tế trọng điểm để có thể đem lại lợi ích nhanh chóng nh: công nghiệp điện, điện tử, xây dựng khách sạn du lịch
Trang 22Nh vậy nếu chỉ căn cứ vào chỉ số xuất khẩu và đầu t thì có thể khẳng định các hoạt động này đang đi đúng hớng và góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy tăng trởng kinh tế Thái Lan Tuy nhiên, với bản chất của một nền kinh tế hớng ngoại, hoạt động đầu t và xuất nhập khẩu ở Thái Lan cũng bộc lộ nhiều hạn chế.
Đối với lĩnh vực đầu t: với mong muốn đạt tỷ lệ sản xuất công nghiệp chiếm hơn 20% GDP (một trong những tiêu chí để gia nhập câu lạc bộ các nớc công nghiệp mới trong thập kỷ 80 của thế kỷ XX), Chính phủ Thái Lan đã dành
sự u tiên đặc biệt cho các ngành công nghiệp phục vụ xuất khẩu Tuy nhiên, khi xem xét cơ cấu công nghiệp, ngời ta thấy nền công nghiệp của Thái Lan chủ yếu là những ngành công nghiệp nhẹ Phần lớn các ngành công nghiệp đem lại giá trị xuất khẩu cao của Thái Lan lại là những ngành phải nhập nguyên liệu liệu của nớc ngoài nhiều nhất: “ngành vi điện tử nhập tới 100% nguyên liệu để sản xuất, ngành chế tạo đá quý, dệt may đem lại cho đất nớc 40 tỷ Bạt mỗi năm cũng phải nhập tới 90% nguyên vật liệu” [26; 89] Có tới 90% các nhà
máy, cơ sở sản xuất của Thái Lan chỉ làm nhiệm vụ lắp ráp, còn mọi máy móc trang thiết bị đều nhập từ bên ngoài vào Cũng do quá chú trọng vào các ngành công nghiệp nhẹ, một ngành ít phải đầu t nhng lại thu lợi nhanh nên Chính phủ Thái Lan cha coi trọng đúng mức chính sách phát triển công nghiệp nặng Điều này làm cho đất nớc thiếu hụt khả năng công nghệ - kỹ thuật phục vụ sản xuất Phần lớn máy móc thiết bị quan trọng phục vụ sản xuất ở Thái Lan đều phải nhập từ nớc ngoài về Rõ ràng, đây là dấu hiệu cho thấy sự bất hợp lý trong chính sách đầu t của Thái Lan Những khoản tiền phải chi cho việc nhập khẩu nguyên liệu và khoa học công nghệ sẽ trở thành gánh nặng đối với nền tài chính quốc gia
Sự nóng vội trong chính sách đầu t của Thái Lan còn đợc thể hiện ở chỗ, các ngân hàng, công ty tài chính đổ xô vốn ồ ạt vào các ngành xây dựng nhà hàng, khách sạn và kinh doanh bất động sản, dẫn đến cung lớn hơn cầu, cùng với xuất khẩu giảm mạnh vào năm 1996 đã làm cho hoạt động đầu t bị đình trệ:
Trang 23“Thị trờng bất động sản bắt đầu nguội lạnh, khách sạn nhà hàng ế ẩm, văn phòng không ngời thuê mớn ” [21; 35] Đặc biệt đầu t trực tiếp của nớc ngoài
vào Thái Lan chiếm tỷ trọng rất thấp so với đầu t gián tiếp (đầu t tài chính và sử dụng vốn vay của nớc ngoài) “Tổng đầu t trực tiếp của nớc ngoài vào Thái Lan thời kỳ 1991 - 1996 là 11,701 tỷ USD, tổng đầu t trực tiếp của Thái Lan
ra nớc ngoài là 2,857 tỷ USD Trong khi đó, tổng đầu t tài chính là 16,4 tỷ USD
và tổng vốn vay ngắn hạn là 60,04 USD” [43; 79]
Nh vậy, trong tổng số vốn nớc ngoài đầu t vào Thái Lan thời kỳ 1991 -
1996 là 85,293 tỷ USD thì đầu t trực tiếp chỉ chiếm 10,36%, đầu t gián tiếp 19,23%, còn tín dụng và vay ngắn hạn chiếm tới 70,4%
Bảng 2: Số liệu kinh tế Thái Lan (diện tích 514.000 km 2 , dân số 61 triệu ngời)
(tỷ USD) - 5,9 - 4,16 - 4,3 - 3,7 - 7,7 - 9,5 1,5 12,3
Cán cân tài khoảng
vãng lai (tỷ USD) - 7,59 - 6,3 - 6,36 - 8,08
- 13,55
- 14,69 - 3,02 14,3 7,2Cán cân tài khoản
vốn (tỷ USD) 11,76 9,47 10,5 12,17 21,9 19,5 - 15,8 - 9,5
Đầu t trực tiếp thuần
Đầu t tài chính thuần
(cổ phiếu, trái phiếu
- tỷ USD)
- 0,081 0,924 5,455 2,481 4,181 3,544 4,361
Đầu t khác thuần (tỷ
- 23,51
Nợ nớc ngoài
Nợ ngắn hạn
Trang 24Mặc dù chủ trơng xây dựng nền kinh tế hớng ngoại với rất nhiều chính sách u tiên cho các ngành công nghiệp xuất khẩu nhng về cơ bản Thái Lan vẫn
là nớc nhập siêu Cán cân thơng mại của Thái Lan trong thời kỳ 1991 - 1996 luôn mang giá trị âm: tổng giá trị cán cân thơng mại trong thời kỳ này là -35,26
tỷ USD Xuất khẩu của Thái Lan năm 1996 chỉ tăng 0,2% so với 23,6% năm
1995 Đặc biệt một số mặt hàng đợc coi là lợi thế của Thái Lan nh dệt, may mặc, nhựa mất dần khả năng cạnh tranh với các nền kinh tế mới nổi lên trong khu vực Nh vậy là từ chỗ xuất khẩu giảm sút, nhập khẩu tăng, đặc biệt là nhập khẩu hàng xa xỉ từ nguồn vốn vay của nớc ngoài đã khiến tài khoản vãng lai bị thâm hụt nặng nề ở Thái Lan “Năm 1995 thâm hụt tài khoản vãng lai của Thái Lan chiếm 8,1% GDP (13,55 tỷ USD), năm 1996 con số này lên tới 8,2% GDP (14,69 tỷ USD), cao hơn tỷ lệ thâm hụt tài khoản vãng lai của Mêhicô năm 1994 (8% GDP) và đứng hàng thứ hai trong số các nớc bị khủng hoảng (sau Malaixia 9,7% GDP)” [19; 20] Lẽ ra trong bối cảnh thâm hụt tài khoản
vãng lai kéo dài nh vậy, Chính phủ Thái Lan cần phải cơ cấu lại nền kinh tế, giảm thiểu chi tiêu nhằm đẩy lùi độ thâm hụt xuống dới 5% GDP (mức độ tối
đa trớc ngỡng khủng hoảng) để sẵn sàng đối phó nếu khủng hoảng xảy ra Thế nhng, những biện pháp mà Chính phủ Thái Lan đã thực hiện chỉ nhằm mục đích duy trì sự ổn định giả tạo của đồng Bạt Nói cách khác, những biện pháp can thiệp của Chính phủ Thái Lan lúc này chỉ góp phần làm cho tình hình kinh tế - tài chính đất nớc trở nên trầm trọng thêm, nguy cơ bùng nổ một cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ ở Thái Lan là điều khó tránh khỏi
Trang 251.1.1.4 Tình trạng đầu cơ.
Từ những năm 80 của thế kỷ XX, giới phân tích kinh tế thế giới đã cảnh báo về tình trạng phát triển mất cân đối của Thái Lan Đến đầu thập kỷ 90, nhiều chuyên gia kinh tế trong và ngoài nớc đã chỉ ra những nguy cơ có thể dẫn
đến khủng hoảng kinh tế ở Thái Lan Đặc biệt, giữa năm 1995, các nhà kinh tế trong nớc đã khẩn thiết đề nghị Chính phủ tiến hành cải cách một số lĩnh vực kinh tế, trong đó có việc điều chỉnh chính sách tỷ giá hối đoái Tuy nhiên, những đề nghị cải cách ấy đã không đợc thực hiện và phải đến cuối năm 1996 trở đi khi nguy cơ mất giá của đồng Bạt ngày càng trở nên rõ ràng hơn thì Chính phủ mới có những động thái cải cách Rõ ràng đây là cơ hội dành cho giới kinh doanh và đầu cơ tiền tệ đa ra những dự tính để trục lợi
Vào cuối năm 1996, thị trờng chứng khoán Thái Lan đã có dấu hiệu suy sụp (chỉ số thị trờng chứng khoán giảm 40%), khách hàng đua nhau rút tiền ra khỏi các công ty tài chính (1,2 tỷ USD đã bị rút ra chỉ trong vòng tháng 3 năm 1997) Đặc biệt ngày 2 - 3 - 1997, thị trờng chứng khoán Băng Cốc đã phải tạm thời đóng cửa một ngày Lợi dụng tình hình hỗn loạn của thị trờng tài chính Thái Lan, giới đầu cơ chứng khoán đã nhảy vào kiếm lợi Họ nhanh chóng bán phá giá cổ phiếu và chuyển tiền ra nớc ngoài mua USD Hàng trăm công ty tài chính của nớc ngoài sẵn sàng tham gia vào cuộc khủng hoảng tài chính ở Thái Lan bằng cách bán đổ bán tháo đồng Bạt để tích trữ USD Nhiều tập đoàn tài chính - ngân hàng vốn là đối tác kinh tế của Thái Lan không còn cách nào khác cũng phải nhanh chóng thu hồi vốn trong khả năng có thể để tránh rủi ro Mặc
dù đất nớc rơi vào tình trạng khủng hoảng nhng không ít kẻ đã lợi dụng cơ hội này để kiếm đợc những nguồn lợi không nhỏ Điều này cũng phản ánh năng lực quản lý yếu kém của Chính phủ Thái Lan trong việc điều tiết kinh tế vĩ mô Những biện pháp mà các nhà hoạch định chính sách Thái Lan đa ra vào thời
điểm đó nh can thiệp mạnh vào thị trờng ngoại hối, bảo lãnh cho các ngân hàng không còn khả năng trả nợ không những không cứu vãn đ… ợc đồng Bạt và
Trang 26chống đợc nạn đầu cơ mà trái lại còn kích thích đầu cơ chứng khoán, đẩy lãi
suất trong nớc lên cao, hạn chế việc khuyến khích các công ty tài chính và ngân hàng (hiện đang thua lỗ) cải cách và thay đổi các hoạt động mạo hiểm của họ Cuối cùng, tất cả các biện pháp đó đã phải trả giá một giá rất đắt: “dự trữ ngoại
tệ của ngân hàng Trung ơng Thái Lan (BOT) đã giảm mất 5 tỷ USD xuống còn 33 tỷ USD chỉ trong vòng có 1 tháng” [50; 37] Thái Lan đã thực sự rơi vào
tình trạng “trong phá ngoài công”, lại không có sự trợ giúp vì thị trờng các nớc
trong khu vực nh Malaixia, Philíppin, Inđônêxia cũng đang ở trong tình trạng
t-ơng tự Có thể nói nạn đầu cơ là giọt nớc cuối cùng đã làm “tràn cốc nớc vốn
đã đầy của nền kinh tế Thái Lan” [77; 44] Ngày 2 - 7 - 1997, Chính phủ Thái
Lan phải tuyên bố thả nổi đồng Bạt, chấm dứt thời kỳ chế độ tỷ giá hối đoái cố
định kéo dài gần 14 năm
Nh vậy, tuy không phải là nguyên nhân chính nhng đầu cơ đã đóng một vai trò rất quan trọng trong việc thúc đẩy và làm sâu sắc thêm cuộc khủng hoảng hoảng Sự mất giá của đồng Bạt và tệ nạn đầu cơ tràn lan đã chứng minh rằng chính sách tiền tệ của ngời Thái là một hớng đi mạo hiểm và không bền vững Thái Lan thực sự đã “cỡi lên lng cá sấu với hy vọng có thể qua sông đợc nhanh chóng để rồi chính con cá sấu này quay lại cắn vào lng ngời cỡi nó”
Trang 27động khủng bố do các phần tử Hồi giáo ở miền Nam gây ra Do đó, các đảng phái chính trị ở Thái Lan khi lên nắm quyền bên cạnh việc chăm lo phát triển kinh tế đất nớc còn phải chịu một sức ép chính trị rất lớn. Bên cạnh đó, cũng do
sự tranh giành quyền lực quyết liệt và tốn kém trong các cuộc bầu cử nên “phần lớn các chính khách Thái Lan khi lên nắm quyền đều tìm cách bù lỗ cho những chi phí khổng lồ bỏ ra trong các cuộc tranh cử ” [21;36] Rất nhiều Chính phủ đã bị buộc tội tham nhũng hoặc tỏ ra yếu kém trong cuộc chiến chống tham nhũng, tiêu cực
Đặc điểm lớn nhất của nền chính trị Thái Lan đó là sự chi phối của giới
sự trong đời sống chính trị đất nớc suốt một thời gian dài, thậm chí cho đến ngày nay các tớng lĩnh quân đội vẫn có vai trò quan trọng trên chính trờng Thái Lan
Chế độ quân chủ lập hiến ở Thái Lan đợc hình thành vào năm 1932 Nếu hoạt động đúng theo nguyên tắc của thể chế chính trị này thì quyền lực lớn nhất phải thuộc về Nghị viện Thế nhng ở Thái Lan quyền lực thực tế lại nằm trong tay phái quân sự, chế độ lập hiến chỉ là chiếc “áo khoác” Có thể nói lịch sử chính trị Thái Lan đã trải qua một thời kỳ dài bị lực lợng quân sự thao túng (từ năm 1947, sau cuộc đảo chính của Phibun Songkram đến năm 1973 khi Chính phủ dân sự đầu tiên đợc thành lập)
Từ 1932 - 1978, ở Thái Lan diễn ra 14 cuộc đảo chính quân sự với sự ra
đời của 12 bản Hiến pháp khác nhau, 7 Thủ tớng vốn là tớng lĩnh quân đội cầm
quyền trong vòng 43 năm Đến năm 1973, phong trào đấu tranh chống chế độ
độc tài quân sự của các lợng lợng dân chủ, tiến bộ ở Thái Lan dâng cao mạnh
mẽ Đi đầu trong phong trào là lực lợng sinh viên trong các trờng đại học ở Băng Cốc Những ngời đấu tranh phản đối chính sách theo đuôi Mỹ và bóp nghẹt nền dân chủ của nhà nớc độc tài quân sự, đòi cải tổ hệ thống chính trị, thiết lập Nghị viện và ban hành Hiến pháp mới Phong trào nhanh chóng lan
Trang 28rộng ra phạm vi cả nớc và phát triển thành những cuộc xung đột đẫm máu ở thủ
đô Băng Cốc
Trớc tình thế đó, nhà vua Thái Lan Bumiphôn đã buộc Thanỏm phải rời khỏi cơng vị Thủ tớng, chấm dứt sự tồn tại 26 năm của chế độ độc tài quân sự (1947 - 1973) ở Thái Lan
Sau khi chế chế độ độc tài quân sự sụp đổ, một Chính phủ dân sự do nhà vua chỉ định đợc thành lập Tuy nhiên, những bất ổn về chính trị vẫn cha chấm dứt trong những năm tiếp theo, các Chính phủ dân sự liên tiếp sụp đổ sau thời gian cầm quyền ngắn ngủi Đến tháng 10- 1976, lực lợng quân sự đã tiến hành một cuộc đảo chính lật đổ phe dân sự Một Chính phủ mới đợc thành lập do luật
s Thanin Kravichiên đứng đầu nhng trên thực tế Chính phủ Thanin hoạt động
d-ới sự điều khiển của lực lợng quân sự Năm 1978, dd-ới sức ép của những ngời
đấu tranh đòi dân chủ, giới cầm quyền quân sự Thái Lan đã có sự nhợng bộ trong bản Hiến pháp năm 1978 bằng việc chấp nhận thành lập Quốc hội lỡng viện, trong đó Hạ viện do dân bầu cử Tuy nhiên, chính sách trên của giới quân
sự cũng chỉ mang tính hình thức, bởi lẽ trên thực tế giới quân sự vẫn nắm quyền chi phối việc bổ nhiệm các Thợng nghị sĩ để thông qua đó khống chế nền chính trị đất nớc Thợng viện đợc sử dụng nh một công cụ để giới quân sự thực thi quyền lực của mình Thậm chí bớc vào cuối thập niên 80 của thế kỷ XX, mặc
dù lực lợng dân chủ đã trở lại địa vị lãnh đạo đất nớc (từ tháng 8 - 1988) nhng các cuộc đảo chính quân sự vẫn thờng xuyên diễn ra, giới quân sự vẫn chi phối mạnh mẽ đến tình hình chính trị đất nớc
Mặc dù đạt đợc tốc độ tăng trởng kinh tế cao, có những lúc lên tới hai con số (năm 1988, 1989 trên 10%), nhng việc phái quân sự thao túng đời sống chính trị đã làm cho tình hình chính trị - xã hội liên tục mất ổn định Sự thiếu vắng của một nền dân chủ thực sự ở Thái Lan đã kìm hãm sự phát triển năng
động của nền kinh tế Bởi lẽ khi kinh tế thị trờng tự do cạnh tranh phát triển thì
sự tồn tại của các yếu tố phi dân sự sẽ không còn phù hợp Giới quân sự Thái
Trang 29Lan trong nhiều năm cầm quyền đã mắc phải những sai lầm trong việc hoạch
định các chính sách kinh tế vĩ mô, thiếu chiến lợc phát triển ổn định và bền vững, quá thân phơng Tây để mất đi sự chủ động trong hội nhập kinh tế quốc tế
Sau nhiều thập kỷ đạt đợc tốc độ tăng trởng kinh tế cao, Thái Lan đợc nhìn nhận là một trong những “hiện t ợng” của châu á Sự đánh giá quá cao về
triển vọng phát triển của Thái Lan của cộng đồng quốc tế đã phần nào làm cho ngời Thái nóng vội trên hành trình trở thành nớc công nghiệp mới mà quên đi những khuyết tật trong hệ thống chính trị - xã hội của đất nớc
Truyền thống thân phơng Tây của giới cầm quyền Thái Lan đã đa quốc gia Phật giáo này đến với một nền văn hoá mang nặng tính thực dụng Thái Lan trở thành một trong những xã hội tiêu dùng xa xỉ nhất ở châu á Trong khi nền kinh tế chỉ chạy theo những chỉ số tăng trởng mà không quan tâm đến tính cân
đối và bền vững thì chỉ số tiêu dùng của ngời dân luôn ở mức cao Các mặt hàng
xa xỉ phẩm đợc nhập vào Thái Lan hàng năm tiêu tốn hàng tỷ USD “Thủ đô Băng Cốc cổ kính, một trong những trung tâm Phật giáo lớn ở Đông Nam á
đã trở thành một trong những ổ chứa mại dâm lớn nhất thế giới ” [21; 122]
Sự phát triển nhanh của nền kinh tế đã hình thành ngày càng nhiều tầng lớp kinh doanh ở các đô thị lớn, đặc biệt là Băng Cốc Trong đó hơn một nửa là ngời Hoa, họ nắm trong tay nhiều tập đoàn kinh tế lớn Sự xuất hiện của tầng lớp doanh nhân mới, đặc biệt là doanh nhân ngời Hoa đã làm rạn nứt cơ cấu xã hội hình thành từ năm 1932 vốn dựa trên những đặc quyền đặc lợi của giới quân
đội và cảnh sát Từ một tầng lớp nhỏ bé, họ đã vơn lên trở thành một giai cấp trong xã hội có học thức, có tiềm lực kinh tế Giai cấp này đã đòi có vị trí chính trị tơng xứng với tầm vóc kinh tế của họ Vì thế nhiều ngời trong số họ đứng trong hàng ngũ những ngời biểu tình đấu tranh đòi thực hiện dân chủ ở Thái Lan Đây là tầng lớp nhận đợc sự ủng hộ của dân chúng trong cuộc đấu tranh nhằm thực hiện nền chính trị thực sự dân chủ ở Thái Lan
Trang 30Trong khi đó, tình trạng bạo loạn ở miền Nam luôn trở thành vấn đề nóng bỏng thách thức giới cầm quyền Thái Lan Năm tỉnh miền Nam Thái Lan là nơi
c trú của khoảng 6 triệu ngời Hồi giáo, chiếm 10% dân số nớc này, trong đó 85% dân số theo đạo Hồi Từ năm 1959, cộng đồng Hồi giáo ở đây đã lập ra Mặt trận Giải phóng dân tộc Pattani (BNPP) với mục tiêu giành độc lập hoàn toàn và thành lập một bang Hồi giáo Từ thập niên 80 của thế kỷ XX, những cuộc xung đột vũ trang kết hợp với thơng lợng liên tục diễn ra giữa BNPP và Chính phủ Băng Cốc Chính phủ đã bãi bỏ một số luật lệ nhằm trao trả lại các
đặc quyền cho cộng đồng Hồi giáo, đồng thời thực hiện một số dự án kinh tế để cải thiện tình trạng nghèo khổ ở các tỉnh miền Nam Tuy nhiên, những cố gắng của Chính phủ cũng không thể giải quyết đợc tình hình, hố ngăn cách giữa chính quyền Băng Cốc với cộng đồng Hồi giáo miền Nam vẫn còn rất rộng
Có thể nói trớc khi cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ bùng nổ ở Thái Lan, đất nớc này đã trải qua một thời kỳ dài mất ổn định về chính trị - xã hội Chính vì thế, khi nhận thấy nguy cơ khủng hoảng sắp bùng nổ, giới doanh nhân
và ngời dân đã nhanh chóng rút tiền ra khỏi ngân hàng để mua USD làm cho hệ thống tài chính ngân hàng suy sụp nhanh chóng
Tóm lại, mặc dù không phải nguyên nhân chính nhng sự mất ổn định của tình hình chính trị - xã hội là một trong những tác nhân góp phần dự báo, đẩy nhanh và làm sâu sắc thêm cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ ở Thái Lan
1.2 Nguyên nhân khách quan.
Từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Thái Lan trở thành đồng minh kinh
tế, chính trị của hai siêu cờng Mỹ và Nhật Bản Hai cờng quốc này có ảnh hởng rất quan trọng đến tình hình kinh tế - chính trị Thái Lan
Đối với Mỹ, sau khi hất cẳng Anh, Mỹ đã dần dần xâm nhập và biến Thái Lan thành căn cứ quân sự ở Đông Nam á (thông qua việc thành lập Tổ chức Hiệp ớc phòng thủ chung Đông Nam á năm 1954) Số tiền viện trợ quân sự và kinh tế hằng năm lên tới hàng trăm triệu USD của Mỹ đã trở thành một nguồn
Trang 31lực quan trọng để Thái Lan tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc Tuy nhiên, bớc vào những năm 90 của thế kỷ XX, sau khi Liên Xô và Đông Âu tan rã, Mỹ đã quan tâm nhiều hơn đến thị trờng Đông Âu, vì thế nguồn ngân sách viện trợ cho Thái Lan cũng bị cắt giảm Bên cạnh đó, sau khi vấn đề Cămpuchia đợc giải quyết, vị trí chiến lợc của Thái Lan cũng bị giảm sút trong con mắt của các nhà hoạch định chiến lợc Hoa Kỳ Cũng trong thời điểm đó, sau một thời gian đợc hởng lợi từ việc đồng USD của Mỹ giảm giá, Thái Lan đã phải đối phó bị động khi đồng tiền này đột ngột tăng giá trở lại Tỷ giá hối đoái
cố định giữa đồng Bạt và đồng USD có nguy cơ sẽ bị phá vỡ
Đối với Nhật Bản: Nhật Bản là quốc gia có quan hệ đối ngoại truyền thống với Thái Lan từ trớc Chiến tranh thế giới thứ hai Sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, cả hai nớc cùng cảnh bại trận và cùng nhận đợc sự viện trợ của Mĩ Đến thập kỷ 60, 70 của thế kỷ XX, khi Nhật Bản đạt đợc sự phát triển
“thần kỳ” và trở thành một trong ba trung tâm kinh tế tài chính của thế giới thì
ngời Nhật càng chú trọng hơn đến Thái Lan Với dân số đông (khoảng 60 triệu ngời), lại là một xã hội tiêu dùng nên Thái Lan nhanh chóng trở thành thị trờng
đầu t số một của Nhật Bản ở châu á Sau một thời gian dài tăng trởng liên tục, nền kinh tế Nhật Bản đã có dấu hiệu chững lại trong những năm 90 (đồng yên mất giá 50% so với đồng USD) Điều này đã làm giảm sút đáng kể nguồn vốn
đầu t của Nhật Bản vào thị trờng Thái Lan Hàng hoá của Thái Lan xuất sang Nhật Bản cũng bị ảnh hởng nặng nề Mặt khác, cùng vào thời điểm này, các nhà
đầu t Nhật Bản bắt đầu mở rộng thị trờng đầu t sang các nớc Đông Âu sau khi chủ nghĩa xã hội ở đây sụp đổ
Nh vậy, cùng một thời điểm Thái Lan phải chịu tác động mạnh mẽ trong quan hệ đối ngoại với hai đồng minh chiến lợc thân cận nhất là Mỹ và Nhật Bản Đây cũng là một trong những nhân tố khiến cho nguồn vốn vay lâu dài của Thái Lan bị giảm sút, dẫn đến việc ngân hàng nớc này buộc phải thực hiện
Trang 32chính sách “vay nóng” các đối tác kinh tế khác Nợ ngắn hạn nớc ngoài đối với
Thái Lan vì thế cũng tăng lên nhanh chóng
Do chính sách đầu t và xuất khẩu không hợp lý nên đến đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, hàng hoá của Thái Lan đã bị cạnh tranh gay gắt trên thị trờng quốc tế Sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc, ấn Độ và 4 “Con Rồng châu á”
(Hồng Kông, Đài Loan, Hàn Quốc, Xingapo) đã làm cho nhiều mặt hàng xuất khẩu truyền thống của Thái Lan nh: điện tử, may mặc, nông sản không còn chiếm đợc vị thế nh trớc Đến năm 1996 kim ngạch xuất khẩu chỉ tăng 7% so với mức tăng đều đặn trên 20% của các năm trớc đó
Một nguyên nhân đáng chú ý nữa đó là sự can thiệp của các tập đoàn kinh tế nớc ngoài vào cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ ở châu á, trong đó
có Thái Lan Sau khi nhận thức đợc nguy cơ bùng nổ của cuộc khủng hoảng tài chính ở châu á, ngời ta ớc tính có khoảng 3.000 quỹ tiền tệ nớc ngoài sẵn sàng nhảy vào lũng đoạn thị trờng tiền tệ ở châu á, trong đó chủ yếu là của Mỹ Họ mua tích trữ USD và bán đổ bán tháo đồng tiền của các nớc Đông Nam á Tiêu biểu trong số các nhà đầu cơ tiền tệ là Sôrốc, một tỷ phú Mỹ gốc Hunggari có tài sản ớc tính 12 tỷ USD đợc coi là ngời trực tiếp gây nên sự mất ổn định trên thị trờng tiền tệ châu á Ngoài Sôrốc còn có hàng loạt quỹ đầu t khác của Mỹ
nh Taigơ, Ôbít, Puma cũng nhảy vào tìm cách lũng đoạn thị trờng tiền tệ Đông Nam á, góp phần làm cho cuộc khủng hoảng tiền tệ trong khu vực thêm trầm trọng
Cuối cùng có thể thấy rõ rằng: trong khi Thái Lan đứng bên bờ vực của
sự khủng hoảng thì tình trạng của các quốc gia trong khu vực cũng không khá hơn Nói cách khác Thái Lan đã không có sự hỗ trợ kịp thời trớc nguy cơ khủng hoảng đồng Bạt Cũng vì thế, ngày 2 - 7 - 1997, khi ngân hàng Trung ơng Thái Lan tuyên bố thả nổi đồng Bạt thì phần lớn các nớc trong khu vực cũng tuyên
bố nằm trong tình trạng khẩn cấp Cuối cùng từ Thái Lan, cuộc khủng hoảng
Trang 33lan rộng sang nhiều nớc châu á, gây nên một cơn chấn động tài chính lớn nhất trong những năm cuối thế kỷ XX.
* Tiểu kết
Trong suốt hơn 30 năm tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc (1961 - 1996), Thái Lan đợc biết đến nh một trong những nớc có tốc độ tăng tr-ởng kinh tế cao trên thế giới (mức trung bình luôn đạt từ 7% đến 8%) D luận quốc tế nhìn nhận Thái Lan nh một “hiện tợng châu á”, các nhà kinh tế học ví
đất nớc Chùa Tháp nh một trong những “con hổ” của nền kinh tế châu á Nhiều
chuyên gia kinh tế, nhiều nhà hoạch định chiến lợc trong khu vực và trên thế giới đã đến tìm hiểu, nghiên cứu về sự phát triển kỳ diệu của Thái Lan Không ít quốc gia đang phát triển coi Thái Lan là một trong những hình mẫu phát triển lý tởng để học tập trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế Tuy nhiên, đằng sau lớp sơn hào nhoáng ấy, đất nớc Thái Lan cũng chứa đựng nhiều khuyết tật trong mô hình phát triển Nhiều chỉ số kinh tế đã chứng minh rằng Thái Lan là một quốc gia phát triển không bền vững
Trên thực tế, do phải dồn sức để chạy theo những chỉ số phát triển nh tốc
độ tăng trởng GDP, thu nhập quốc dân tính theo đầu ngời, tỷ trọng công nghiệp,
tỷ lệ tăng trởng xuất khẩu nên Chính phủ Thái Lan đã thiếu một chính sách kinh
tế vĩ mô hợp lý Trong một thời gian dài, ngời Thái chỉ chú ý đến những lợi ích trớc mắt mà thiếu đi một chiến lợc phát triển ổn định, bền vững và lâu dài
Chính vì vậy nên mặc dù đạt đợc tốc độ phát triển cao nhng nền kinh tế Thái Lan cũng phải đối mặt với hàng loạt thách thức: lạm phát luôn ở mức trên dới 5%, chi phí đầu t chiếm 40% GDP, cán cân thơng mại luôn mang giá trị âm, thâm hụt tài khoản vãng lai luôn ở mức báo động
Tóm lại, từ sự phân tích trên, có thể khẳng định rằng nguyên nhân sâu xa
và chủ yếu dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ Thái Lan năm 1997 đó
là do Chính phủ nớc này đã quá coi trọng mục tiêu tăng trởng nhanh, quá “nóng vội” trong nỗ lực “vật lộn để hoá Rồng” mà thiếu đi một chiến lợc phát triển ổn
định và bền vững Một chính sách đầu t bất hợp lý và sự lệ thuộc quá lớn vào
Trang 34nguồn vốn của nớc ngoài đã khiến nền kinh tế Thái Lan thiếu đi sự chủ động trong hội nhập, đất nớc phát triển không cân đối, tình hình chính trị - xã hội bất
ổn định
Nguyên nhân trực tiếp dẫn đến đồng Bạt bị thả nổi là do chính sách đầu
t bất động sản và tài chính quá nóng vội cùng với nạn đầu cơ đã bóp nghẹt thị trờng tiền tệ Thái Lan vốn đã “ủ bệnh” một thời gian dài Đây là những tác
nhân góp phần đẩy nhanh và làm sâu sắc thêm cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ ở Thái Lan
Chơng 2 Diễn biến và tác động của cuộc khủng hoảng
Trang 35tài chính - tiền tệ ở Thái Lan
2.1 Khái quát diễn biến cuộc khủng hoảng.
Những dấu hiệu về sự phát triển không bền vững của Thái Lan xuất hiện
từ những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX Tuy nhiên, do đạt đợc tốc độ phát triển cao (hơn 8%) nên Chính phủ Thái Lan cha quan tâm đầy đủ đến sự phát triển ổn định, bền vững của đất nớc trong xu thế hội nhập Đến cuối năm 1996,
đầu năm 1997, nền kinh tế Thái Lan đã tích tụ đầy đủ các nguy cơ khủng hoảng
ở mức cao:
Bảng 2: Các tiền đề và cơ chế khủng hoảng kinh tế - tài chính ở Thái Lan 1997 - 1999
Đó là doanh nghiệp kinh doanh kém hiệu quả, ngân hàng và công ty tài chính đứng trớc nguy cơ phá sản, quốc gia đứng trớc nguy cơ mất khả năng thanh toán
Tích luỹ nguy cơ khủng hoảng
Doanh nghiệp kinh doanh kém hiệu quả: tỷ suất lợi nhuận 1%
Ngân hàng, công ty tài chính kinh doanh
kém hiệu quả: tỷ suất lợi nhuận
0,99%/năm
Tỷ giá hối đoái gần như cố định (25,34 Bạt/USD),
đồng Bạt bị lên giá 25% thâm hụt tài chính vãng lai
khoảng 14,7 tỷ đồng Nguy cơ nợ quốc gia mất khả năng thanh toán:
1996 nợ nước ngoài ngắn hạn: 45,7 tỷ USD,
dự trữ ngoại tệ 38,7 tỷ USD, thâm hụt tài khoản
vãng lai: 14,69 tỷ USD
Nội tệ mất giá
nhanh,
từ 3.1997
Các nhà đầu tư nước ngoài rút vốn và đổi
ra ngoại tệ
1
Người dân rút tiền tiết kiệm mua ngoại tệ,
vàng
Ngân hàng, công ty tài chính phá sản
Doanh nghiệp phá
sản hàng loạt
Khủng hoảng
Tác động chậm
từ tháng
12 - 1997
Tác động nhanh
3 - 1997
2
3
Nguồn [43; 83].
Trang 36Khi các nguy cơ khủng hoảng xuất hiện, những ngời nắm đợc thông tin
về các nguy cơ này lo sợ các công ty tài chính sẽ phá sản Do đó, từ đầu năm
1997, ngời dân Thái Lan đã đổ xô đến các ngân hàng rút tiền để mua USD Mỹ vì lo sợ tỷ giá hối đoái sẽ tăng, đồng Bạt sẽ mất giá Thực tế ở Thái Lan “từ đầu năm 1997 đến tháng 3 - 1997, các nhà đầu t bắt đầu rút vốn ở dạng tiền mặt
ra khỏi các ngân hàng và công ty tài chính, buộc Chính phủ phải tuyên bố
đóng cửa thị trờng chứng khoán một ngày (ngày 3 - 3 - 1997) và yêu cầu mọi
tổ chức tài chính phải tăng thêm dự trữ tiền mặt” [43; 84] Chỉ tính riêng trong
hai ngày 4 và 5 - 3 - 1997, sau khi Chính phủ công bố 10 công ty tài chính đang
ở trong tình trạng không bình thờng, thì đã có tới 21,4 tỷ Bạt (820 triệu USD) đã
đợc rút ra khỏi các ngân hàng và công ty tài chính Cũng trong tháng 3 - 1997,
Thái Lan công bố mức thâm hụt th
[21; 35] (mức thâm hụt cho phép là dới 5% GDP)
Sau đó một tháng, ngày 9 - 4 - 1997, đồng Bạt giảm tới mức thấp nhất trong vòng 7 năm (1991 - 1997): 26,08 Bạt/USD Lợi dụng điều này, giới đầu cơ tiền tệ quốc tế tấn công mạnh mẽ vào đồng Bạt làm cho thị trờng tài chính chao đảo, nguy cơ đồng Bạt buộc phải thả nổi ngày càng trở nên rõ rệt
Tháng 6 - 1997, bất lực trong việc duy trì sự ổn định của nền tài chính Thái Lan cùng với những bất đồng trong quan điểm giải quyết cuộc khủng hoảng với Thủ tớng Chalavít, Bộ trởng Tài chính Annuay Viravan từ chức Sự ra
đi của ông Annuay Viravan cho thấy những bất ổn trong nội các Thái Lan, đó
đợc coi là bớc khởi đầu cho một cuộc khủng hoảng “kép” ở Thái Lan: khủng
hoảng kinh tế - chính trị Thay thế ông Annuay Viravan là ông Thanong Bidiađay, giám đốc ngân hàng quân sự Thái Lan, một ngời đợc coi là có quan
điểm cứng rắn và khá thân thiết với đơng kim Thủ tớng Chalavít
Những sự thay đổi trên chính trờng Thái Lan với mong muốn sẽ đem đến một luồng sinh khí mới cho nền tài chính đất nớc vốn đang trong tình trạng ảm
Trang 37đạm Tuy nhiên, những sự thay thế đó cũng không đem lại kết quả tốt cho nền tài chính đang đứng trớc bờ vực của sự khủng hoảng.
Ngày 25 - 6 - 1997, sau một thời gian cảnh báo nguy cơ hoạt động không bình thờng, Chính phủ Thái Lan buộc phải ra lệnh đóng cửa 16 công ty tài chính Ngời dân và các nhà đầu t đổ xô đi rút tiền ở các ngân hàng và công ty tài chính cha bị đóng cửa Để giữ tỷ giá hối đoái trong điều kiện số lợng ngoại
tệ đợc đặt mua tăng vọt, Chính phủ đã phải bán ngoại tệ, làm suy kiệt dự trữ ngoại tệ quốc gia: từ 38,78 tỷ USD tháng 6 - 1996 xuống 31,4 tỷ USD vào 30 -
6 - 1997
Việc sử dụng nguồn ngoại tệ dự trữ của quốc gia để duy trì tỷ giá hối
đoái là một biện pháp bất đắc dĩ của Chính phủ Thái Lan Nếu biện pháp này không thể duy trì và vực dậy đợc nền tài chính đất nớc thì rất có thể đồng Bạt sẽ
bị thả nổi, khi đó mức độ khủng hoảng sẽ rất trầm trọng Có lẽ do thấy trớc đợc nguy cơ này sớm muộn cũng xảy ra nên ngày 2 - 7 - 1997, Chính phủ Thái Lan buộc phải tuyên bố thả nổi đồng Bạt sau gần 20 năm theo đuổi chính sách tỷ giá hối đoái ổn định Ngay lập tức đồng Bạt giảm giá tới mức thấp nhất trong vòng
12 năm kể từ 1986 (29,55 Bạt /USD) Cơn bão tài chính - tiền tệ châu á bùng
nổ ở Thái Lan, báo hiệu một thời kỳ khủng hoảng của thị trờng tài chính châu
á
Ngày 11 - 7 - 1997, sau những nỗ lực chống đỡ bất thành, Chính phủ Philíppin cũng phải chấp nhận sự thả nổi đồng Pêsô Một tháng sau đó, đến lợt Inđônêxia đổ vỡ tiền tệ (14 - 8), đồng Rupia mất giá 19% Cơn bão tài chính tiếp tục lan rộng đến các nớc Hàn Quốc, Malaixia, Nhật Bản vào cuối năm 1997
Tại Thái Lan, sau khi Chính phủ tuyên bố thả nổi đồng Bạt, chấp nhận thực tế nền tài chính quốc gia rơi vào tình trạng khủng hoảng nặng nề, hàng loạt các ngân hàng và công ty tài chính tiếp tục bị đình chỉ hoạt động Ngày 28 - 7 -
Trang 381997 có tới 42 ngân hàng và các công ty tài chính buộc phải đình chỉ hoạt động Thái Lan chấp thuận kế hoạch cứu vãn nền kinh tế do IMF đề nghị mặc dù kéo theo đó là những ràng buộc kinh tế bất lợi cho đất nớc.
Ngày 10 - 8 - 1997, 58 trong số 91 công ty tài chính và ngân hàng bị
đóng cửa tại Thái Lan, một số khác bị quốc hữu hoá do Chính phủ giám sát
Tr-ớc tình hình đó, cộng đồng quốc tế đã nhóm họp ở Tôkyô (11 - 8 - 1997) bao gồm đại diện của IMF và các nớc, các tổ chức có liên quan nhằm huy động nguồn tài trợ cho các quốc gia bị khủng hoảng tài chính, trong đó có Thái Lan Tại Hội nghị này, các bên có liên quan cam kết sẽ cho Thái Lan vay 17,2 tỷ USD để khắc phục hậu quả khủng hoảng và tái thiết nền kinh tế đất nớc Riêng Nhật Bản, đối tác kinh tế lớn nhất của Thái Lan cam kết sẽ hỗ trợ trớc mắt 1 tỷ USD nhằm khắc phục cuộc khủng hoảng
Ngày 20 - 8, IMF và các nớc, các tổ chức tham dự Hội nghị tài trợ đa
ph-ơng tại Tôkyô ngày 10 - 8 đã “phê chuẩn khoản tín dụng dự phòng 4 tỷ USD cho Thái Lan và giải ngân 1,6 tỷ USD” [19; 179].
Những nỗ lực của cộng đồng quốc tế và hàng loạt những biện pháp cấp bách của Chính phủ Thái Lan trên thực tế không đủ sức để vực dậy đợc nền tài chính đất nớc vốn đang ngày càng lún sâu vào cuộc khủng hoảng Tháng 10 -
1997, đồng Bạt mất giá từ 26 Bạt/USD vào tháng 6 - 1997 xuống còn 36,5 Bạt/USD Tính trung bình trong năm 1997 đồng Bạt giảm giá 89% (47,25 Bạt/USD) Giữa lúc cuộc khủng hoảng đang diễn ra trầm trọng, giá trị đồng Bạt liên tục giảm thì ông Thanong Bidiađay tuyên bố từ chức sau cha đầy 4 tháng ngồi trên ghế Bộ trởng Tài chính (từ 20/6 đến 19/10/1997) Tiếp theo sự ra đi của Bộ trởng Tài chính Thanong Bidiađay, hàng loạt các thành viên trong nội các của Thủ tớng Chalavít cũng đệ đơn xin từ chức Đặc biệt, ngày 3 - 11, bốn tháng sau ngày đồng Bạt bị thả nổi, đến lợt ông Chalavít tuyên bố rời khỏi chiếc ghế Thủ tớng Thay thế ông Chalavít là ông Xuôn Lịchphai (20 - 11 - 1997) Liên minh cầm quyền của ông Xuôn Lịchphai lên lãnh đạo đất nớc trong bối
Trang 39đóng góp một cách vô tình hay cố ý
Thái Lan Ông Tarin phân tích rằng các đối tợng kinh doanh tiền tệ cần chấm dứt việc tích trữ đồng USD vì nó tạo nên một “tác động tâm lý” mạnh mẽ, làm
tụt giá đồng Bạt, rằng tích trữ USD tởng nh có lợi trớc mắt nhng về lâu dài, tất cả mọi ngời đều bị thiệt hại
Những khuyến cáo của tân Bộ trởng Tài chính Thái Lan cũng không làm cho giới đầu cơ tiền tệ lo ngại, nạn đầu cơ vẫn tiếp tục công phá nền tài chính
ốm yếu của đất nớc Đồng Bạt đã đạt đến mức sụt giá kỷ lục 112% (54,1 Bạt/USD) Kết thúc năm 1997, 15,8 tỷ USD bị rút ra khỏi Thái Lan, trong khi trớc đó, năm 1996 khoảng 20 tỷ USD đợc đầu t vào Tăng trởng kinh tế từ 6,4% năm 1996 tụt xuống còn - 0,4% năm 1997, Thái Lan trở thành nớc duy nhất trong số các nớc bị khủng hoảng tăng trởng âm
Bớc sang năm 1998, Chính phủ của Thủ tớng Xuôn Lịchphai đã liên tiếp
đa ra dự định th về các biện pháp bổ sung dới sự phối hợp của IMF Dự định th
bổ sung ngày 24 - 2 - 1998 nhằm ổn định hoá nhanh chóng tỷ giá hối đoái,
đồng thời hạn chế mức độ và tác động tiêu cực từ sự suy thoái kinh tế đa lại Ngày 4 - 3 - 1998, Hội đồng quản trị IMF đã hoàn thành nhanh chóng tỷ giá hối
đoái, hạn chế mức độ và tác động tiêu cực từ sự suy thoái kinh tế đa lại, đồng thời IMF cũng đã lên kế hoạch dự phòng và giải ngân 270 triệu USD cho Thái Lan Tuy nhiên, những nỗ lực của cộng đồng quốc tế và Chính phủ Thái Lan vẫn cha
đủ sức vực dậy đợc nền kinh tế
Biểu đồ 1: Tỷ giá hối đoái trớc và trong khủng hoảng tài chính - tiền tệ ở Thái Lan
39
55 50 45 40 35 30
Trang 401.7.97 1.10.97 1.1.98 30.4.98 1994 1995 1996 1997 1998 1999 Năm
(Nguồn: [21; 75]
Năm 1998 đợc coi là năm ảm đạm nhất trong lịch sử kinh tế Thái Lan kể
từ thập kỷ 60 của thế kỷ XX Đồng Bạt có thời điểm mất giá trên sàn giao dịch quốc tế đến mức kỷ lục 54,1 Bạt/USD (7 - 1 - 1998), lạm phát ở mức cao (8,1%), nợ nớc ngoài lên tới trên 100 tỷ USD, dự trữ ngoại tệ giảm gần 10 tỷ USD so với năm 1996 (từ 38,7 tỷ USD xuống còn 29,5 tỷ USD năm 1998) Cũng trong năm 1998, 9,5 tỷ USD vốn vay đã chạy ra nớc ngoài, các ngân hàng
do Chính phủ quản lý gần nh chỉ để duy trì sự tồn tại hơn là để phát triển Nền kinh tế Thái Lan khủng hoảng trầm trọng trên tất cả các lĩnh vực, tốc độ tăng tr-ởng kinh tế năm 1998 là - 8,3%, trong khi đó Malaixia là 2%, Philíppin là - 0,5%, Hàn Quốc là - 5,5% và Inđônêxia là -13,7% [43; 18] Cha bao giờ ngân sách quốc gia của Thái Lan bội chi đến mức kỷ lục: - 128 tỷ Bạt năm 1998 và -
Tháng 11 – 1999, Hội nghị Bộ trởng Tài chính ASEAN đã đa ra tuyên
bố khẳng định ASEAN đã thoát khỏi khủng hoảng ở cấp độ quốc gia, chỉ còn