Vì vậy có thể định nghĩa như sau: Hành động trực tiếp/hiển ngôn là hành động tạo ra đích ngôn trung hiển ngôn được biểu hiện trực tiếp bởi các dấu hiệu hình thức ngôn từ đặc trưng cho nó
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA NGÔN NGỮ HỌC -*** -
PHAN TRỊNH VŨ (PAN ZHENG YU)
PHÁT NGÔN CẦU KHIẾN GIÁN TIẾP TRONG TIẾNG VIỆT
(LIÊN HỆ VỚI TIẾNG HÁN)
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
HÀ NỘI - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA NGÔN NGỮ HỌC
~~~☆~~~
PHAN TRỊNH VŨ (PAN ZHENG YU)
PHÁT NGÔN CẦU KHIẾN GIÁN TIẾP TRONG TIẾNG VIỆT
(LIÊN HỆ VỚI TIẾNG HÁN)
Luận Văn Thạc sĩ chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 60 22 02 40
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Hữu Hoành
HÀ NỘI – 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Cuối cùng luận văn của em đã hoàn thành sau một thời gian cố gắng
và nỗ lực Trong hai năm học tập tại khoa Ngôn ngữ học – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn và trong quá trình hoàn thành luận văn này ,
em đã nhận được nhiều sự giúp đỡ và hướng dẫn quý báu của các thầy cô giáo Qua đây em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất của mình tới các thầy
cô giáo Đặt biệt, em xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Hữu Hoành, tận tâm dậy và trực tiếp hướng dẫn em viết luận văn này
Em xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo của khoa Ngôn ngữ học – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội Vì khả năng em có hạn, nếu luận văn này có gì thiếu sót hy vọng được các thầy cô
Xin trân trọng cảm ơn
Hà Nội , tháng 01 năm 2015
Học viên : Phan Trịnh Vũ
Trang 4QUY ƢỚC VIẾT TẮT
- D1: Danh từ hoặc đại từ nhân xưng ở ngôi thứ nhất
- D2: Danh từ hoặc đại từ nhân xưng ở ngôi thứ hai
- D3: Danh từ hoặc đại từ nhân xưng ở ngôi thứ ba
- P: Phần biểu thị lõi sự tình (nội dung mệnh đề lô gíc)
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Đối tượng nghiên cứu và mục đích nghiên cứu 1
3 Phương pháp nghiên cứu 2
4 Ý nghĩa của đề tài 2
PHẦN NỘI DUNG 3
CHƯƠNG I: NHỮNG CƠ SỞ LÝ THUYẾT CÓ LIÊN QUAN 3
1 Hành động ngôn ngữ 3
1.1 Khái niệm 3
1.2 Các loại hình hành động ngôn ngữ 3
1.3 Điều kiện sử dụng hành động tại lời 4
1.4 Khái niệm về biểu thức ngữ vi và dấu hiệu ngữ vi 6
2 Hành động cầu khiến và ý nghĩa cầu khiến 6
2.1 Khái niệm hành động cầu khiến 6
2.2 Ý nghĩa cầu khiến 7
2.3 Hiển ngôn và hàm ngôn 9
2.4 Hành động hiển ngôn/trực tiếp và hàm ngôn/gián tiếp 10
3 Hành vi ngôn ngữ gián tiếp 13
3.1 Khái niệm hành vi ngôn ngữ gián tiếp 13
3.2 Hành vi cầu khiến gián tiếp 14
4 Một số vấn đề cơ bản về so sánh, đối chiếu ngôn ngữ 16
Trang 64.1 Khái niệm so sánh, đối chiếu trong ngôn ngữ học 16
4.2 Nhiệm vụ của ngôn ngữ học đối chiếu 17
4.3 Những cách tiếp cận cơ bản nghiên cứu đối chiếu ngôn ngữ 18
4.3.1 Nghiên cứu đối chiếu một chiều 18
4.3.2 Nghiên cứu đối chiếu hai chiều 19
CHƯƠNG II: NHỮNG PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN HÀNH ĐỘNG
CẦU KHIẾN GIÁN TIẾP TRONG TIẾNG VIỆT 20
2.1 Dùng hình thức phát ngôn hỏi – cầu khiến 21
2.1.1 Đặc diềm của phát ngôn hỏi – cầu khiến 21
2.1.2 Các kiểu phát ngôn hỏi – cầu khiến 22
2.1.2.1 Phát ngôn hỏi – cầu khiến đồng hướng 22
2.1.2.2 Phát ngôn hỏi – cầu khiến ngược hướng 32
2.2 Dùng hình thức trần thuật – cầu khiến 39
2.3 Dùng hình thức cảm thán – cầu khiến 42
TIỂU KẾT 44
CHƯƠNG III: PHÁT NGÔN CẦU KHIẾN GIÁN TIẾP TIẾNG VIỆT TRONG SỰ LIÊN HỆ VỚI TIẾNG HÁN 45
3.1 Đôi nét về tình hình nghiên cứu phát ngôn cầu khiến trong tiếng Hán 45
3.2 Phát ngôn cầu khiến gián tiếp trong tiếng Hán 47
3.3 Phát ngôn cầu khiến gián tiếp tiếng Việt và những biểu hiện tương đương trong tiếng Hán 62
3.3.1 Phát ngôn hỏi – cầu khiến tiếng Việt và những biểu hiện tương đương trong tiếng Hán 62
Trang 73.3.2 Phát ngôn trần thuật – cầu khiến tiếng Việt và những biểu hiện tương đương trong tiếng Hán 73 3.3.3 Phát ngôn cảm thán – cầu khiến tiếng Việt và những biểu hiện tương đương trong tiếng Hán 76 TIỂU KẾT 78
KẾT LUẬN 80 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Căn cứ vào mục đích giao tiếp, khi nghiên cứu lời nói trong hoạt động giao tiếp, người ta thường hay chia lời nói thành 4 kiểu phát ngôn: tường thuật, nghi vấn,cảm thán và cầu khiến Việc nghiên cứu phát ngôn cầu khiến đã từ lâu thu hút các nhà ngôn ngữ học ở các nước phương Tây Ở Việt Nam, việc nghiên cứu phát ngôn cầu khiến theo cách tiếp cận mới này chỉ mới xuất hiện trên mười năm nay và được nhiều người quan tâm đến Đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến phát ngôn cầu khiến được công bố Tuy nhiên, việc nghiên cứu về phát ngôn cầu khiến trong tiếng Việt có liên hệ với tiếng Hán thì chưa ai
đề cập đến, do vậy chúng tôi chọn đề tài “ Phát ngôn cầu khiến gián tiếp trong tiếng Việt (liên hệ với tiếng Hán) ” với mong muốn được đóng góp một phần nhỏ cho lĩnh vực nghiên cứu ngữ pháp – ngữ nghĩa của lời trong sự so sánh, đối chiếu giữa hai ngôn ngữ
2 Đối tƣợng nghiên cứu và mục đích nghiên cứu:
Luận văn này chủ yếu nghiên cứu về phát ngôn cầu khiến gián tiếp tiếng Việt, nhất là phương thức gián tiếp biểu hiện hành động cầu khiến, và liên hệ với phát ngôn cầu khiến gián tiếp tiếng Hán
Mục đích của luận văn này là trên cơ sở kế thừa những kết quả đã có được của những nhà nghiên cứu và công trình nghiên cứu trước, trước hết chúng tôi sẽ nhận diện và miêu tả phát ngôn cầu khiến gián tiếp trong tiếng Việt; sau đó nhận diện và miêu tả phát ngôn cầu khiến gián tiếp trong tiếng Hán và cuối cùng là so sánh đối chiếu một số đặc điểm của phát ngôn cầu khiến gián tiếp trong tiếng Việt với tiếng Hán trên một số tác phẩm văn học để tìm ra sự giống nhau và khác nhau giữa hai ngôn ngữ
Trang 93 Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng phương pháp miêu tả và phương pháp so sánh, đối chiếu với các thủ pháp phân tích nghĩa, phân tích ngữ cảnh, mô hình hóa
Ngoài ra, luận văn còn quan tâm tới ngữ cảnh đủ rộng để có thể phân tích ngữ nghĩa trong từng phát ngôn cụ thể Vì vậy, tư liệu trích dẫn không phải ở dạng cô lập mà thường kèm theo ngữ cảnh giúp cho việc phát hiện các hành động ngôn trung trực tiếp cũng như gián tiếp của phát ngôn Các ví dụ được sử dụng trong luận văn đều nằm trong ngữ cảnh hội thoại
Về mặt tư liệu, các ví dụ được nêu trong bài là dựa trên những tác phẩm Việt Nam nổi tiếng như “ Nửa chừng xuân ” “ Đất làng ” “ Vỡ bờ ” “ Gió lạnh đầu mưa ” “ Biệt thự xanh ” “ Bước đường cùng ” còn những tác phẩm văn học nổi tiếng nước ngoài như “ Hai số phận ” “ Trở về Êđen” và “ Lôi vũ ” “Tây
du ký” v.v
4 Ý nghĩa của đề tài:
Việc nghiên cứu phát ngôn cầu khiến trong tiếng Việt và liên hệ với tiếng Hán rất có ý nghĩa đối với những vấn đề lý luận và thực tiễn sử dụng ngôn ngữ
Về mặt lý luận, đề tài cung cấp những sự kiện ngôn ngữ trong tiếng Việt
và tiếng Hán nhằm góp phần khẳng định lý thuyết ngữ dụng học, lý thuyết gián tiếp, vấn đề tổ chức và tri nhận lời nói
Về mặt thực tiễn, việc nhận diện phát ngôn cầu khiến gián tiếp trong tiếng Việt (có liên hệ với tiếng Hán) có thể đóng góp cho lĩnh vực dạy và học hai ngôn ngữ này, giúp học sinh có thể nắm được sự khác biệt và những đặc điểm của phát ngôn cầu khiến ở hai ngôn ngữ, giúp cho việc sử dụng tốt hai ngôn ngữ
Trang 10
PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: NHỮNG CƠ SỞ LÝ THUYẾT CÓ LIÊN QUAN
1 Hành động ngôn ngữ
1.1 Khái niệm
Khi chúng ta giao tiếp với nhau như đã biết ít ra là phải có hai người, vai nói, vai nghe luân phiên nhau nói nghe Như thế giao tiếp là một dạng hành động xã hội của con người bằng ngôn ngữ Hành động cầu khiến được biểu hiện bằng phát ngôn
Trong các hoạt động xã hội bằng ngôn ngữ đó, vai nói có thể dùng ngôn ngữ để miêu tả một hiện thực nào đó, để kể lại một sự việc nào đó, để khẳng định một nhận xét nào đó, để hỏi, để yêu cầu, để khuyên nhủ Miêu tả, kể (trần thuật, tự sự), khẳng định, hỏi, yêu cầu, khuyên nhủ là những hành động bộ phận nằm trong hoạt động giao tiếp nói chung Khi miêu tả, kể, hỏi, yêu cầu, khuyên nhủ là chúng ta hành động, chúng ta thực hiện những hành động đơn phương trong lòng hoạt động xã hội tổng quát là giao tiếp Có thể tạm dùng thuật ngữ “ hành động ngôn ngữ ” để chỉ những hành động bộ phận bằng ngôn ngữ này
1.2 Các loại hình hành động ngôn ngữ
Tiếp nhận những kiến giải của trường phái triết học phân tích Anh, Austin
là người đầu tiên xây dựng những cơ sở cho lý thuyết hành động ngôn ngữ, Austin chia các hành động ngôn ngữ thành ba nhóm lớn:
Hành động tạo lời: “ Là hành động sử dụng các yếu tố của ngôn ngữ như
ngữ âm, vốn từ, quy tắc kết hợp để tạo thành những phát ngôn (đúng về hình
Trang 11thức và cấu trúc) hay những văn bản có thể hiểu được ” (dẫn theo Đỗ Thị Kim Liên [4 70] )
Hành động mƣợn lời: “ Là những hành động mượn những phương tiện
ngôn ngữ, hay nói một cách khác, là mượn các phát ngôn để gây ra một tác động hay hiệu quả ngoài ngôn ngữ đối với người nghe Hiệu quả này không đồng nhất
ở những người khác nhau ” (dẫn theo Đỗ Thị Kim Liên [4,71] )
Hành động tại lời: “Là những hành động người nói thực hiện ngay khi
nói năng Hiệu quả của chúng gây những sự tác động trực tiếp thuộc về ngôn ngữ, gây phản ứng với người nghe Sở dĩ ta gọi là hành động tại lời là vì khi nói thì ta đồng thời thực hiện luôn một hành động ở trong lời ( còn gọi là hành động tại lời, hành động trong lời )” (dẫn theo Đỗ Thị Kim Liên [4, 72])
Theo quan điểm của J.L.Austin thì khái niệm Hành động ngôn ngữ được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm ba loại hành động – hành động tạo lời, hành động mượn lời và hành động tại lời Nhưng trong một số trường hợp thì Hành động ngôn ngữ được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, trùng với khái niệm Hành động tại lời Trong luận văn này, chúng tôi cũng dùng thuật ngũ Hành động ngôn ngữ theo nghĩa hẹp
1.3 Điều kiện sử dụng hành động tại lời
Theo tác giả Đỗ Hữu Châu để một hành động nói chung, một Hành động ngôn ngữ nói riêng đạt được hiệu quả đúng với đích của nó thì phải thỏa mãn các điều kiện sử dụng “Điều kiện sử dụng các hành vi tại lời là những điều kiện
mà một hành vi tại lời phải đáp ứng để nó có thể diễn ra thích hợp vói ngữ cảnh của sự phát ngôn ra nó.” [6.111]
Trang 12Tác giả Đỗ Thị Kim Liên cho rằng: “Điều kiện sử dụng Hành động tại lời
là những nhân tố cần thiết cho phép thực hiện một Hành động tại lời nhất định trong một ngữ cảnh giao tiếp cụ thể.” [4.82]
Điều kiện sử dụng các Hành động tại lời theo J.L.Austin là các điều kiện
“may mắn” (felicic condition) vì nếu chúng được bảo đảm thì hành động mới thành công.[24.30]
- Phải có thủ tục có tính quy ước và thủ tục này cũng phải có hiệu quả có tính quy ước; Hoàn cảnh và con người phải thích hợp với những điều kiện quy định trong thủ tục
- Thủ tục phải được thực hiện một cách đúng đắn và đầy đủ
- Thông thường thì những người thực hiện hành động tại lời phải có ý nghĩ tình cảm, ý định giống như đã được đề ra trong thủ tục và khi hành động diễn ra thì ý nghĩ tình cảm, ý định đúng như nó đã có (dẫn theo Đỗ Hữu Châu [6.112])
J.R.Searle gọi Hành động tại lời là điều kiện thỏa mãn, bao gồm bốn loại sau:
- Điều kiện nội dung mệnh đề: chỉ ra bản chất nội dung của hành động
- Điều kiện chuẩn bị: bao gồm những hiểu biết của người phát ngôn về năng lực, lợi ích, ý định của người nghe và về các quan hệ giữa người nói và người nghe
- Điều kiện chân thành: chỉ ra các trạng thái tâm lí tương ứng của người phát ngôn về năng lực, lợi ích, ý định của người nghe và về các quan hệ giũa người nói và người nghe, như xác tín đòi hỏi niềm tin, mệnh lệnh đòi hỏi mong muốn, hứa hẹn đòi hỏi ý định người nói
Trang 13- Điều kiện căn bản: là điều kiện đưa ra kiểu trách nhiệm mà người nói, người nghe bị ràng buộc khi Hành động tại lời đó được phát ra.[12 88-103]
Sở dĩ chúng tôi quan tâm nhiều hơn tới Hành động tại lời và điều kiện
sử dụng Hành động tại lời bởi chính các điều kiện sử dụng đó sẽ giúp cho việc nhận diện và phân biệt các hành động tại lời trực tiếp và hành động tại lời gián tiếp
1.4 Khái niệm về biểu thức ngữ vi và dấu hiệu ngữ vi
Biểu thức ngữ vi là những công thức nói năng mà khi nói nó ra là ta nhằm thực hiện một hành động tại lời nào đó Có những dấu hiệu giúp ta nhận ra hành động tại lời do biểu thức đó thực hiện Các dấu hiệu đó là kiểu kết cấu, ngữ điệu
và những từ ngữ chuyên dụng Ví dụ biểu thức ngữ vi “ anh có đi Hà Nội không?” có kiểu kết cấu “ có không? ” kèm theo ngữ điệu hỏi Nhờ các dấu hiệu này ta biết biểu thức này thực hiện hành động tại lời “hỏi” Cũng như vậy, biểu thức ngữ vi “anh đóng giùm cái cửa lại ”, nhờ từ “giùm” chúng ta biết rằng người nói thực hiện hành động tại lời yêu cầu (ra lệnh) một hành động ở người nghe Chúng ta gọi các dấu hiệu đó là các dấu hiệu ngữ vi
2 Hành động cầu khiến và ý nghĩa cầu khiến
2.1 Khái niệm hành động cầu khiến
Hành động cầu khiến là khái niệm tổng quát bao gồm các hành động ngôn trung có ý nghĩa “cầu” (cầu, nhờ, mời, chúc, xin ) và các hành động ngôn trung
có ý nghĩa “khiến” (yêu cầu, ra lệnh, cấm, cho phép ) nói chung Cầu và
khiến đều giống nhau ở đích ngôn trung, đều yêu cầu người nghe thực hiện
hành động mà người nói mong muốn Sự khác nhau giữa cầu và khiến là ở
Trang 14mức độ của hiệu lực ngôn trung: nếu như cầu kêu gọi thiện chí, sự tự nguyện hành động của người nghe thì khiến lại áp đặt cho người nghe, cưỡng ép
người nghe phải hành động
Ví dụ: - Lời cầu: Con mời bố mẹ ra ăn cơm
- Lời khiến: (Con) ra đổ rác đi.-> lời người mẹ sai khiến con đổ rác Giữa hai cực đó là những hành động vừa có tính cầu vừa có tính khiến (khuyên, đề nghị ) Cho nên tập hợp các hành động trên thành hành động cầu khiến thì có phạm vi bao quát hơn khái niệm mệnh lệnh chỉ tương ứng với khiến mà thôi
2.2 Ý nghĩa cầu khiến
Ý nghĩa cầu khiến của phát ngôn chính là nội dung của hành động cầu khiến Nó là nghĩa tình thái do mục đích nói của người nói quy định, thuộc phạm vi dụng học, nó phân biệt với nghĩa tình thái nhận thức vốn là tình thái của hiện thực được phản ánh trong lời lồng trong nghĩa sự tình gọi là tình thái
của nội dung sự tình, thường được biểu hiện bằng phụ từ như đã (sự tình đang diễn ra = hiện thực hóa), sẽ (sự tình sẽ diễn ra = chưa hiện thực hóa) thuộc
phạm vi nghĩa học
Có thể phân loại hành động cầu khiến ra các tiểu loại chi tiết thể hiện mức độ cầu khiến cao hay thấp khi căn cứ vào lực ngôn trung cầu khiến Tên gọi của từng hành động cầu khiến cụ thể phản ánh nội hàm ý nghĩa thường tương ứng với vị từ ngôn hành cầu khiến tường minh (trừ một vài hành động không có vị từ ngôn hành cầu khiến tường minh như dặn, rủ, nài) Dưới đây là kết quả phân loại:
Trang 15TT Hành động
cầu khiến
Mức độ cầu khiến
Nội dung lệnh
Hình thức biểu đạt điển hình
1 Ra lệnh Khiến cao nhất Làm Vnh= ra lệnh;hãy, đi
2 Cấm Khiến cao nhất Không làm Vnh= cấm; không
với
(Ghi chú: Vnh = vị từ ngôn hành; hãy, đi, nhé, với = từ có vai trò làm phương tiện chỉ dẫn lực ngôn trung cầu khiến)
Trang 162.3 Hiển ngôn và hàm ngôn
Hàm ngôn (implicature) được dùng để đối lập với hiển ngôn Hiển ngôn là thông tin được biểu hiện trực tiếp bằng phương tiện ngôn từ Hàm ngôn là thông tin hàm ẩn nằm sau ngôn từ được suy ra từ thao tác suy ý Các nhà ngữ học thường nêu ra những loại hàm ngôn sau:
Hàm ngôn quy ước (conventional implicature) do việc sử dụng những biểu thức nhất định ở lời quy định
Hàm ngôn hội thoại (conversational implicapture) do ngữ cảnh quy định Hàm ngôn quy ước gồm có:
- Tiền giả định (pressuposition): ý nghĩa có trước lời được suy ra từ lời
- Dẫn ý / kéo theo (entailment): lời được nói ra là tiền đề giúp suy ra ý nghĩa kéo theo
Chẳng hạn, lời Tân đánh Nam ngoài ý nghĩa hiển ngôn được biểu hiện
trực tiếp ở câu chữ ngôn từ còn có các hàm ngôn quy ước sau:
a Tiền giả định: Nam làm Tân tức giận
b Dẫn ý/kéo theo: Nam bị đau
Hàm ngôn hội thoại thì phụ thuộc vào ngữ cảnh Chẳng hạn, lời đói quá
do sinh viên nói ra trong lớp học lúc gần hết giờ học có hàm ngôn hội thoại biểu
thị ý muốn thầy/cô giáo cho nghỉ sớm
Trang 172.4 Hành động hiển ngôn/trực tiếp và hàm ngôn/gián tiếp
Từ cách hiểu hiển ngôn là ý nghĩa được biểu thị trực tiếp bằng ngôn từ ở lời còn hàm ngôn là ý nghĩa được suy ra từ thao tác suy ý qua ngôn từ hoặc ngữ cảnh, ta có thể vận dụng để phân biệt hành động ngôn trung hiển ngôn/hàm ngôn Hành động hiển ngôn là hành động mà đích ngôn trung được biểu hiện trực tiếp bằng dấu hiệu hình thức ngôn từ đặc trưng cho nó còn gọi là phương tiện chỉ dẫn lực ngôn trung Hành động hàm ngôn là hành động mà đích ngôn trung không được biểu hiện trực tiếp bằng phương tiện chỉ dẫn lực ngôn trung của nó mà được biểu hiện gián tiếp thông qua phương tiện chỉ dẫn lực ngôn trung của hành động khác Chẳng hạn, “Anh có thể đóng cửa sổ được không?” (1) trực tiếp đưa
ra một hành động hỏi về khả năng thực hiện hành động để người nghe trả lời Nếu người nghe trả lời “có” thì người nói sẽ yêu cầu người nghe thực hiện hành động “đóng cửa sổ” Kiểu lời hỏi này khác với lời hỏi để nhằm vào sự xác nhận
về hành động (thường là đã xảy ra) như: “(Lúc nãy), Anh có đóng cửa sổ không?” (2) Người nghe khi trả lời chỉ cần xác nhận một trong hai khả năng
“có” hoặc “không” là đủ Như vậy, lời hỏi (2) chỉ chứa một hành động ngôn trung hỏi nhằm một đích ngôn trung chính là muốn người nghe trả lời cho lời hỏi, nên đó là hành động ngôn trung trực tiếp/hiển ngôn Còn “có thể không?” hỏi về khả năng thực hiện hành động tức là hành động chưa xảy ra Vì thế phát ngôn hỏi này có hàm ý: người nói muốn người nghe sẽ thực hiện hành động đó Hàm ý này được nhận biết bằng dấu hiệu ngôn ngữ tạo ra định hướng ngữ nghĩa
trong phát ngôn là kết cấu: có thể + V không thuộc kiểu hàm ngôn quy ước Ở
đây, ý nghĩa cầu khiến là hàm ý của lời, được bày tỏ gián tiếp thông qua hành
Trang 18động hỏi nên ý nghĩa cầu khiến này là ý nghĩa hàm ngôn Còn ý nghĩa hỏi được nhận diện trực tiếp bằng dấu hiệu ngôn ngữ hiển hiện trong phát ngôn (khuôn cấu trúc hỏi: có không ?) – phương tiện trực tiếp chỉ ra lực ngôn trung hỏi – được gọi là ý nghĩa hiển ngôn Phát ngôn hỏi trên chứa hai hành động: 1 hành động hỏi với chức năng dẫn nhập, gọi là hành động dẫn nhập được biểu thị bằng hiển ngôn và 2 hành động cầu khiến là hành động đích thì được biểu thị bằng hàm ngôn Từ đó ta thấy có sự tương ứng về tên gọi theo phương thức biểu hiện trực tiếp/gián tiếp với tên gọi theo ý nghĩa được biểu hiện là hiển ngôn/hàm ngôn Thực chất cách gọi tên hành động ngôn từ trực tiếp/gián tiếp là cách gọi tên từ phương thức biểu hiện còn cách gọi tên hành động hiển ngôn/hàm ngôn là cách gọi tên từ ý nghĩa được biểu hiện, chúng có sự tương ứng với nhau vì có cùng đối tượng quy chiếu Vì vậy có thể định nghĩa như sau:
Hành động trực tiếp/hiển ngôn là hành động tạo ra đích ngôn trung hiển ngôn được biểu hiện trực tiếp bởi các dấu hiệu hình thức ngôn từ đặc trưng cho
nó tức là bằng phương tiện chỉ dẫn lực ngôn trung trực tiếp Hành động trực tiếp tạo ra lời trực tiếp/ lời chính danh
Hành động gián tiếp/hàm ngôn là hành động mà đích ngôn trung không được biểu hiện trực tiếp bằng các dấu hiệu hình thức ngôn từ đặc trưng cho nó
mà được biểu hiện gián tiếp thông qua dấu hiệu hình thức của hành động khác (hành động dẫn nhập) tạo ra hàm ý của lời được người nghe nhận diện bằng thao tác suy ý trên cơ sở ngữ nghĩa và ngữ cảnh (bao gồm bối cảnh giao tiếp và thể chế, ước chế xã hội đã được mã hóa) Hành động gián tiếp tạo ra lời gián tiếp/hàm ngôn
Trang 19Thao tác suy ý là quá trình tư duy để nhận biết được mục đích ngôn trung cuối cùng mà người nói bày tỏ trong lời Thao tác suy ý được thực hiện theo các bước sau:
a Phân tích ngữ nghĩa của lời tường minh và ngữ cảnh chứa nó để thấy được hành động ngôn trung trực tiếp của lời không phải là đích ngôn trung cuối cùng của lời
b Lập luận để xác định được hành động ngôn trung gián tiếp nào đó chính là đích ngôn trung của lời
Từ góc độ dụng học, có thể gọi tên hành động cầu khiến trực tiếp có ý nghĩa cầu khiến hiển ngôn là hành động cầu khiến hiển ngôn, còn hành động cầu khiến gián tiếp có hàm ý cầu khiến (ý nghĩa cầu khiến được suy ý qua hành động dẫn nhập khác) là hành động cầu khiến hàm ngôn Lời chứa hành động cầu khiến hàm ngôn thường có ít nhất là hai hành động: hành động có chức năng dẫn nhập thì được hiển ngôn còn hành động đích là hành động hàm ngôn Phát ngôn
“Anh có thể đóng cửa sổ không?” chứa hai hành động: hành động dẫn nhập là hành động hỏi hiển ngôn và hành động đích là hành động cầu khiến hàm ngôn
Về nguyên tắc lí thuyết thì hoàn toàn có thể có lời mà hành động đích được dẫn nhập qua nhiều hành động dẫn nhập Chẳng hạn: “Con có ăn không nào” của người mẹ nói với con có dấu hiệu hình thức ngôn từ là cụm từ “có không” - phương tiện trực tiếp chỉ dẫn lực ngôn trung hỏi và từ “con” ở ngôi hai - tiếp ngôn cùng với từ “nào” – tiểu từ tình thái cầu khiến – phương tiện chỉ dẫn lực ngôn trung cầu khiến giúp cho ta biết đây là phát ngôn vừa hỏi vừa cầu khiến,
Trang 20ngôn trung hàm ngôn cảnh báo/đe dọa không được nói ra trong phát ngôn: con
mà không ăn thì mẹ sẽ dùng biện pháp mạnh bắt con phải ăn
3 Hành vi ngôn ngữ gián tiếp
3.1 Khái niệm hành vi ngôn ngữ gián tiếp
Khái niệm này lần đầu tiên được Searle đưa ra vào năm 1969 và được phát triển trong công trình “Các hành vi ngôn ngữ gián tiếp” (Searle, 1975) Searle đã nhận thấy một hành vi tại lời được nói ra nhưng lại nhằm hướng tới một hành vi tại lời khác theo ý đồ của người nói “Một hành vi tại lời được thực hiện gián tiếp qua một hành vi tại lời khác sẽ được gọi là một hành vi gián tiếp.” [18.60]
Ví dụ: Phát ngôn “Nóng quá, nóng không thể chịu nổi!” là phát ngôn được chủ ngôn thể hiện bằng biểu thức cảm thán với hàm ý: muốn được bật quạt, tức là muốn cầu khiến tiếp ngôn bật quạt giúp cho mình Tiếp ngôn nhận biết được đích cầu khiến của phát ngôn do thao tác suy ý dựa trên sự tiếp nhận thông tin từ ngữ nghĩa của vị từ “nóng” ở mức độ cao cần phải cảm thấy mát mẻ tức là phải có gió mát cho chủ ngôn Phát ngôn cầu khiến gián tiếp không trực tiếp cầu khiến tiếp ngôn thực hiện hành động mà chủ ngôn muốn, nên không có tính áp đặt, bắt buộc tiếp ngôn thực hiện như phát ngôn cầu khiến trực tiếp Phát ngôn cầu khiến gián tiếp muốn tiếp ngôn thực hiện dựa trến sự tình nguyện của bản thân tiếp ngôn nên có tính lịch sự, đề cao thể diện của tiếp ngôn, vì vậy, thường được sử dụng trong trường hợp chủ ngôn xuất phát từ lợi ích của mình và có vị thế giao tiếp thấp hơn tiếp ngôn
Trang 213.2 Hành vi cầu khiến gián tiếp
Hành vi cầu khiến gián tiếp đã dược Searle nghiên cứu rất kỹ Sau đó đã
có nhiều tác giả đi theo hướng nghiên cứu của Searle và phát triển vấn đề này như K.Oecchione, D.Gondon, G.Lakoff, G Green, J.Mogan Bản chất của hành
vi cầu khiến có sự đe dọa thể diện của người đối thoại nên trong một số trường hợp, nhằm đạt được mục đích giao tiếp, người nói phải sử dụng các hình thức gián tiếp mang tính lịch sự
Sự phân biệt giữa hành vi cầu khiến trực tiếp và hành vi cầu khiến gián tiếp chủ yếu dựa trên khái niệm “hàm ý hội thoại” của Grice (1975) Một phát ngôn được nói ra nếu đối ngôn hiểu được ngay ý định cầu khiến của chủ ngôn và không trải qua một quá trình suy ý nào thì đó là hành vi cầu khiến trực tiếp Ngược lại, một hành vi cầu khiến được coi là gián tiếp nếu người che giấu ý định cầu khiến dưới hình thức một hành vi tại lời khác và đối ngôn phải trải qua một quá trình suy ý
Trong tiếng Việt, ý nghĩa cầu khiến gián tiếp có thể được thể hiện dưới hình thức trần thuật, hỏi, cảm thán
Trên thực tế có phát ngôn nếu đặt ra ngoài ngữ cảnh cụ thể thì chúng không nhằm một thông báo nào cả Cái đích ngôn ngữ cuối cùng mà người nói muốn biểu đạt chỉ có thể xác định được trong một ngữ cảnh Một kết cấu trần thuật, hỏi hay cảm thán đều có thể chứa hành vi cầu khiến
a Hình thức hỏi
◆ Quất lăn ngay ra đống rơm góc bếp, vừa khóc vừa gào
- Có câm mồm không? Muốn khóc ông cho khóc một thể!
<Đất làng, Nguyến Thị Ngọc Tú>
Trang 22Với trích đoạn này, chủ ngôn đưa ra hình thức hỏi Không đặt trích đoạn vào trong ngữ cảnh này thì có thể hiểu là một phát ngôn hỏi Tuy nhiên, không ai khờ khạo đến mức trả lời: có hoặc không, mà bất cứ ai cũng nhận thấy rằng đó là một mệnh lệnh cần thực hiện ngay, nếu không thì sẽ nhận được hậu quả xấu
Kinh nhắc lại mệnh lệnh của Xướng
<Dấu chân người lính, Nguyễn Minh Châu> Trong trích đoạn trên, “Tất cả nằm xuống” có hình thức thần thuật, kể lại một sự tình Nhưng người nghe, tuy nhiên hiểu ngay hàm ý đề nghị của người nói trong ngữ cảnh trên
c Hình thức cảm thán
◆ Rồi nàng rùng minh:
- Lạnh quá!
Liên chạy đóng cửa phòng, quay trở vào
<Gió lạnh đầu mùa, Thạch Lam>
Trang 23Cũng vậy, đối ngôn nghe thấy chủ thể nói “lạnh quá” thì hiểu ngay ý đó của chủ ngôn trong hoàn cảnh cụ thể
Trong phạm vi của luận văn chúng tôi sẽ tập trung đi sâu tìm hiểu cấu trúc, cơ chế hoạt động của các phát ngôn có hình thức hỏi – hành vi gián tiếp cầu khiến
4 Một số vấn đề cơ bản về so sánh, đối chiếu ngôn ngữ
4.1 Khái niệm so sánh, đối chiếu trong ngôn ngữ học
Trong tiếng Việt, từ “đối chiếu” và “so sánh” có thể dùng thay thế nhau Trong “Từ điển Tiếng Việt”, so sánh là xem xét, đối chiếu nhằm tìm ra những điểm giống, tương tự và khác biệt nhau Đối chiếu thì là so sánh hai sự vật liên quan chặt chẽ với nhau Thật ra, trong ngôn ngữ học, hai khái niệm " so sánh "
và " đối chiếu " cũng có những sự phân biệt nhất định
So sánh trước hết là thao tác tư duy giúp con người nhận thức hiện thực khách quan Hoạt động so sánh là hoạt động đối chiếu “ một cái này với một cái khác nhằm tìm ra mối quan hệ và liên hệ giữa chúng” Trong ngôn ngữ học, so sánh, thường được dùng với ý nghĩa chung để chỉ phương pháp hay cách tiếp cận nghiên cứu, lấy đối tượng là hai hoặc nhiều ngôn ngữ Sự tiếp cận đối tượng theo cách này được gọi là ngôn ngữ học so sánh ( Comparative Linguistics) Căn
cứ vào đối tượng, mục đích và cách thức tiến hành Người ta chia ngôn ngữ học
so sánh thành các phân ngành nhỏ như: Ngôn ngữ học so sánh lịch sử (Comparative Historical Linguistics), loại hình học ( Typological Linguistics), ngôn ngữ học đối chiếu ( Contrastive Linguistics), ngôn ngữ học tiếp xúc ( Contact Linguistics), ngữ vực học (Arial Linguistics)v.v
Trang 24Hầu hết các phân ngành trong ngôn ngữ học so sánh như ngôn ngữ học
so sánh - lịch sử, ngôn ngữ học so sánh loại hình, ngôn ngữ học tiếp xúc đều giống nhau ở chỗ: tập trung vào việc xác định những điểm giống nhau giữa các ngôn ngữ
Trong tiếng Việt, thuật ngữ đối chiếu là dịch từ thuật ngữ Contrastive Đối chiếu ngôn ngữ là việc so sánh hai hoặc nhiều hơn hai ngôn ngữ để xác định những điểm giống và điểm khác giữa các ngôn ngữ; trong đó, thông thường điểm khác nhau được lưu ý nhiều hơn Chính ở điểm này, ngôn ngữ học đối chiếu khác với các phân ngành khác của ngôn ngữ học so sánh, lựa chọn ngôn ngữ để đối chiếu hoàn toàn tùy thuộc vào những yêu cầu lý luận, và thực hiện việc nghiên cứu Trong ngôn ngữ học đối chiếu, cách thức so sánh, về căn bản, đứng trên quan điểm đồng đại
4.2 Nhiệm vụ của ngôn ngữ học đối chiếu
Trong lịch sử phát triển của ngôn ngữ học đối chiếu, việc xác định những nhiệm vụ chính của ngôn ngữ học đối chiếu cũng có nhiều quan điểm khác nhau Tuy có nhiều khám phá khác nhau, cũng có ý kiến của các học giả được thống nhất Có thể tóm tắt những nhiệm vụ chính của ngôn ngữ học đối chiếu thành 3 điểm cơ sở như sau:
1) Phát hiện điểm giống và điểm khác trong việc sử dụng các phương tiện ngôn ngữ của các ngôn ngữ khác nhau Trong đó, sự khác nhau được lưu
ý nhiều hơn
2) Xác định những đặc điểm ( hoặc là đặc trưng) của các ngôn ngữ được đối chiếu hiện có nhưng chưa được chú ý nếu chỉ nghiên cứu đơn ngữ
Trang 253) Ngôn ngữ học đối chiếu liên quan trưc tiếp đến ngôn ngữ học ứng dụng Ngôn ngữ học đối chiếu tạo cơ sở ngôn ngữ học cho lý thuyết phiên dịch, dịch một ngôn ngữ thành ngôn ngữ khác, để so sánh đối chiếu hai ngôn ngữ ấy khác
ở chỗ nào, khác nhau thế nào Ngôn ngữ học đối chiếu còn cung cấp các tư liệu cho nghiên cứu loại hình học ngôn ngữ, dạy tiếng nước ngoài
4.3 Những cách tiếp cận cơ bản nghiên cứu đối chiếu ngôn ngữ
4.3.1 Nghiên cứu đối chiếu một chiều
Nghiên cứu đối chiếu một chiều xem xét ý nghĩa của một phương tiện nào
đó trong ngôn ngữ này và xác định những phương tiện biểu hiện ý nghĩa tương ứng trong ngôn ngữ khác Bắt đầu từ việc miêu tả các hình thức trong ngôn ngữ thứ nhất rồi đối chiếu với những cái tương đương trong ngôn ngữ thứ hai Cũng
có thể ngược lại, bắt đầu từ việc miêu tả các hình thức trong ngôn ngữ thứ hai rồi đối chiếu với những cái tương đương trong ngôn ngữ thứ nhất
Sở dĩ gọi là một chiều là vì khi đối chiếu, người nghiên cứu chọn một ngôn ngữ làm điểm xuất phát và một ngôn ngữ làm đích Việc chọn ngôn ngữ nào làm ngôn ngữ xuất phát và ngôn ngữ nào làm ngôn ngữ đích phụ thuộc vào mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đối chiếu, chứ không bị quy định bởi đặc điểm của cấu trúc ngôn ngữ
Trong so sánh thông thường, khi không có sự vật nào trong những sụ vật
so sánh được chọn làm gốc thì ta có thể nói A và B giống nhau hay khác nhau về một điểm nào đó, như: “Chiếc ghế này và chiếc ghế kia giống nhau về chất liệu, màu sắc, nhưng khác nhau về hình dáng và kích thước.” Tuy nhiên, khi có một
Trang 26sự vật A nào đó được chọn làm gốc thì chỉ có thể nói B giống / khác với A, mà không thể nói theo chiều ngược lại A giống / khác với B Chẳng hạn, có thể nói
“Nó mắt giống mẹ”, chứ không thể nói : “Mẹ nó mắt giống nó.”
4.3.2 Nghiên cứu đối chiếu hai chiều
Nghiên cứu đối chiếu hai (hay nhiều) chiều xem xét các hiện tượng được
so sánh của hai hay nhiều ngôn ngữ trong mối quan hệ qua lại trên một cơ sở đối chiếu, dựa vào một TC (Tertium comparationis) Cách đối chiếu này được tiến hành theo thủ tục như sau: Chọn TC, sau đó xác định các phương tiện ngôn ngữ biểu thị, thuộc về phạm trù này trong các ngôn ngữ đối chiếu
Các nghiên cứu đối chiếu theo cách này thường có nhan đề dạng “những phương tiện hoặc cách thức để biểu hiện phạm trù X trong ngôn ngữ A và ngôn ngữ B.” Trong đối chiếu hai chiều, khi sử dụng TC cần chú ý các phương tiện ngôn ngữ thường đa nghĩa Cho nên, trong giới hạn của một TC chỉ có thể để cập đến một hoặc một số ý nghĩa nào đó
Cách tiếp cận này gọi là đối chiếu hai chiều không phải vì việc đối chiếu các ngôn ngữ theo cả hai chiều từ ngôn ngữ A đến ngôn ngữ B và sau đó, ngược lại, từ ngôn ngữ B đến ngôn ngữ A, mà là nghiên cứu các hình thức thể hiện TC trong hai ngôn ngữ, sau đó phân tích những hình thức thể hiện này có những điểm nào giống nhau và khác nhau, không có ngôn ngữ nào là ngôn ngữ xuất phát và ngôn ngữ nào là ngôn ngữ đích
Trang 27CHƯƠNG II: NHỮNG PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN
HÀNH ĐỘNG CẦU KHIẾN GIÁN TIẾP TRONG TIẾNG VIỆT
Trong tiếng Việt, hành động cầu khiến có thể được bảy tỏ một cách gián tiếp thông qua một hành động ngôn trung khác như hỏi, trần thuật hoặc cảm thán
Hành động cầu khiến được thể hiện gián tiếp qua hình thức hỏi như:
- Hay mai anh đi sang nhà bác đi ?
- Ngày mai em có đi mua sách hộ chị được không ?
- Mẹ ơi, con muốn xem tivi, có được không ?
Hành động cầu khiến được thể hiện gián tiếp qua hình thức trần thuật như:
- Anh mua hoa, em mua hoa quả, nửa tiếng sau anh em mình sẽ gặp lại ở đây (hai anh em định đi bệnh viện thăm người bạn đang ốm)
Hành động cầu khiến được thể hiện gián tiếp qua hình thức cảm thán như:
- Ôi, áo này đẹp quá! (hai vợ chồng đi dạo phố, người vợ muốn người chồng mua cho chiếc áo)
Theo kết quả các các công trình nghiên cứu của Đào Thanh Lan thì hành động cầu khiến được thực hiện thông qua câu hỏi phổ biến hơn câu trần thuật và câu cảm thán Tóm lại, hành động cầu khiến được thẻ hiện một cách gián tiếp có nhiều hình thức khác nhau, tùy theo yêu cầu lựa chọn sử dụng của người đề xuất,
vì cách bảy tỏ gián tiếp không áp đặt cho người tiếp nhận, tăng quyền chủ động cho tiếp ngôn, do đó có tính lịch sự cao hơn cách cầu khiến trực tiếp
Trang 282.1 Dùng hình thức phát ngôn hỏi – cầu khiến
2.1.1 Đặc diềm của phát ngôn hỏi – cầu khiến
Câu hỏi vốn là hình thức thể hiện hành động ngôn trung hỏi mà mục đích
là hỏi điều chưa rõ và yêu cầu tiếp ngôn trả lời điều chưa rõ ấy Nội dung của vấn đề cần hỏi rất rộng nên không phải tất cả mọi câu hỏi đều được sử dụng cho mục đích cầu khiến Hành động cầu khiến được thể hiện gián tiếp qua hình thức hỏi thì chủ ngữ của hành động mệnh đề thường ở ngôi hai hoặc ngôi gộp đối với hành động cầu khiến hoặc ở ngôi một đối với kiểu câu có hành động xin phép được làm Về mặt ngữ nghĩa thì hành động cầu khiến được thể hiện gián tiếp qua hình thức hỏi có định hướng nghĩa đã xác định và nhiệm vụ của tiếp ngôn khi trả lởi có hay không đồng nghĩa với việc chấp thuận hay từ chối thực hiện hành động
Phát ngôn hỏi – cầu khiến có hình thức hỏi nhưng mang đích ngôn trung cầu khiến tức là hỏi – cầu khiến có phương tiện chỉ dẫn hành động ngôn trung hỏi nhưng hàm chứa hành động ngôn trung gián tiếp là cầu khiến Do đó, nó có đặc điểm hình thức của lời hỏi và có đặc điểm nội dung của phát ngôn cầu khiến
Đây là kiểu phát ngôn trung gian giữa hai kiểu phát ngôn hỏi và phát ngôn cầu khiến Kiểu phát ngôn trung gian này một mặt tạo nên tính đa dạng và tinh
tế trong thực tiễn dùng phát ngôn của người Việt nhưng mặt khác cũng gây nên
sự phức tạp trong việc nhận diện chúng Do đó, việc tìm ra những dấu hiệu đặc trưng (tiêu chí) giúp nhận diện chúng là rất cần thiết
Trang 292.1.2 Các kiểu phát ngôn hỏi – cầu khiến
Mục này sẽ miêu tả các kiểu cấu trúc đặc biệt của biểu thức hỏi cho phép suy ý để tạo ra phát ngôn hỏi – cầu khiến Nếu dựa vào ngữ nghĩa khái quát của kiểu mục đích cầu khiến thì có thể phân chia các biểu thức hỏi thành hai loại: biểu thức hỏi có mục đích cầu khiến thực hiện hành động đã nêu trong phát
ngôn hỏi được gọi là kiểu phát ngôn hỏi – cầu khiến đồng hướng và biểu thức
hỏi có mục đích cầu khiến là ngăn cản thực hiện hành động ngược lại với hành
động đã nêu trong phát ngôn hỏi được gọi là kiểu phát ngôn hỏi – cầu khiến
ngược hướng Các phát ngôn hỏi – cầu khiến đồng hướng đều sử dụng thao tác
suy ý đồng hướng (mục đích cầu khiến của phát ngôn hỏi được suy ý đồng hướng ngữ nghĩa với hành động đã nêu trong phát ngôn hỏi) Các phát ngôn hỏi – cầu khiến ngược hướng đều sử dụng thao tác suy ý ngược hướng (mục đích cầu khiến của phát ngôn hỏi được suy ý trên cơ sở sự đối lập ngữ nghĩa với hành động đã nêu trong phát ngôn hỏi)
2.1.2.1 Phát ngôn hỏi – cầu khiến đồng hướng
a) Biểu thức hỏi chứa sẵn định hướng trả lởi
Nếu quy ước phần biểu thị lõi sự tình (nội dung mệnh đề lôgic) của lời là
P với ghi chú: trong kiểu lời hỏi – cầu khiến, chủ thể của sự tình ở P là danh/ đại
từ ngôi 2/ ngôi gộp, ta có mô hình cấu trúc của biểu thức hỏi dạng này là:
Trang 30Theo Từ điển tiếng Việt, hay là kết từ “biểu thị quan hệ tuyển chọn giữa
hai điều được nói đến, có điều này thì không có điều kia và ngược lại Thí dụ: về hay ở? Anh hay nó đi cũng được ”
Ví dụ: Anh đi hay ở lại?
Lời hỏi với từ hay đòi hỏi phải lựa chọn một trong hai phương án: đi/ ở lại
Khi chủ ngôn muốn thể hiện ý định cầu khiến tiếp ngôn thực hiện hành động theo ý của chủ ngôn thì chủ ngôn chỉ nêu ra một phương án mà chủ ngôn
đã lựa chọn trước để hỏi
Ví dụ: Hay mai chúng ta đi chơi Bách Thú?
<Nửa chừng xuân – khái Hưng>
Cách hỏi này chỉ yêu cầu tiếp ngôn trả lời vâng khi chấp nhận hoặc
không khi từ chối Đây là kiểu phát ngôn hỏi chứa sẵn định hướng trả lời nhằm
mục đích cầu khiến tiếp ngôn thực hiện hành động đã nêu ra trong phát ngôn hỏi, thuộc kiểu phát ngôn hỏi – cầu khiến đồng hướng Phát ngôn hỏi – cầu khiến này dành cho tiếp ngôn có quyền quyết định hành động của mình (chấp nhận hoặc từ chối) nên có tính lịch sự, tôn trọng thể diện của tiếp ngôn Do vậy, phát
ngôn hỏi có dạng: “hay + P” sẽ là dấu hiệu để đánh dấu lực ngôn trung rủ trong
phát ngôn hỏi – cầu khiến
Khả năng kết hợp của biểu thúc: hay + P với tiểu từ cầu khiến đi:
Ví dụ: Hay là đem ra chợ bán đi?
- Con không bán đâu U già rồi sống được bao nhiêu lâu nữa Để ăn
cho nó biết mùi
<Đất làng, Nguyễn Thị Ngọc Tú>
Trang 31Tiểu từ cầu khiến đi góp phần bổ sung tính khiến tạo nên sắc thái giục giã,
muốn tiếp ngôn chấp nhận đề nghị của chủ ngôn ngay Về nguyên tắc lí thuyết
thì phát ngôn hỏi – cầu khiến dạng “hay + P” còn có thể kết hợp với các tiểu
từ cầu khiến để thể hiện rõ hành động đề nghị như: nhé, thôi, đã nhưng còn tùy thuộc vào nghĩa sự tình trong P có phù hợp với các tiểu từ đó hay không
a) (2) Biểu thức dạng: P + chứ ?
Ngữ nghĩa của biểu thức:
Từ điển tiếng Việt giải thích chứ là trợ từ, dùng trong đối thoại, thường ở cuối lời hoặc sau P, là từ “biểu thị ý ít nhiều đã khẳng định về điều nêu ra để hỏi,
tựa như chỉ là để xác định thêm Ví dụ: Anh vẫn khỏe đấy chứ? Hoặc Anh quen ông ấy chứ?”
Như thế, phát ngôn hỏi với trợ từ chứ nhằm mục đích yêu cầu tiếp ngôn xác
nhận điều mà chủ ngôn đã biết cho nên nó có thể được dùng để bày tỏ đề nghị của chủ ngôn một cách gián tiếp
Ví dụ: Cà phê chứ?
<Trở về Êđen, R.Miles> Các con vào rót nước mời bác xơi đi chứ?
<Đất làng, Nguyễn Thị Ngọc Tú>
Chứ đánh dấu hành động hỏi có định hướng, hàm ý đề nghị tiếp ngôn thực
hiện hành động đã nêu trong phát ngôn hỏi - cầu khiến một cách rõ rệt cho nên thường được dùng làm phát ngôn hỏi - cầu khiến đồng hướng Tuy nhiên, việc
xác định biểu thức dạng P+chứ? là phát ngôn hỏi - cầu khiến vẫn cần căn cứ
vào ngữ cảnh vì ngữ cảnh giúp cho việc nhận diện danh/đại từ chỉ ngôi của sự tình được hỏi ở ngôi nào
Trang 32Ví dụ: (1) “Quán Chánh nghĩ: “chắc là trâu vàng nên nó mới cất vào trong
tủ chè”, rồi e hèm hỏi tên tuần đoàn:
- Trâu vàng chứ? Còn cả chín con chứ? Hay bạc?
- Dạ, còn cả chín con ạ Nhưng làm gì có trâu vàng, trâu bạc nào ạ Chín con trâu sành, bẩm quan.”
<Ba Giai - Tú Xuân - Lữ Huy Nguyễn> (2) “Buổi chiều, thường thường họ cùng ngồi với nhau bên bờ biển, nướng con cá mà Dan bắt được và ăn với nhau
- Chị không từ chối dùng bữa tối với tôi chứ?
- Cho vàng tôi cũng không từ chối đâu Chị trả lời ngay tức khắc với giọng trịnh trọng cố ý.”
<Trở về Êđen, R.Miles>
Ngữ cảnh (1) cho biết, phát ngôn P+chứ hỏi về sự vật ở ngôi thứ ba (trâu vàng) nên là phát ngôn hỏi, còn ngữ cảnh (2) cho biết từ chị tiếp ngôn ở ngôi thứ
hai nên có là phát ngôn hỏi - cầu khiến
Biểu thức P+chứ có thể biểu thị những hành động ngôn trung cầu khiến sau:
1) Hành động đề nghị
Ví dụ: - Anh cũng vào chứ, Rét?
- Không, chàng nói và lại lên xe
<Cuốn theo chiều gió, M.Mitcheln> 2) Hành động mời
Ví dụ: Ông uống một chút gì chứ?
<Hai số phận, J Archer>
Trang 333) Hành động thúc giục
Ví dụ: Đổng sốt ruột hỏi phóng:
- Thế nào, quyết đi chứ?
<Đất làng, Nguyễn Thị Ngọc Tú> 4) Hành động yêu cầu
Ví dụ: Các anh nghe rõ cả rồi chứ?
Không ai nói gì
<Hai số phần, J.Archer> Phát ngôn hỏi - yêu cầu dùng khi người nói có vị thế giao tiếp cao hơn người nghe
Khả năng tạo ra biểu thức hỏi dạng P+chứ từ biểu thức cầu khiến chứa tiểu
từ cầu khiến: đi, thôi, đã, với
Ví dụ: - Các con vào rót nước mời bác xơi đi chứ?
bằng cách ghép từ hỏi chứ vào cuối phát ngôn cầu khiến hạt nhân Đây là một
Trang 34biến thể của dạng phát ngôn hỏi - cầu khiến P+chứ Do bộ phần hạt nhân của
phát ngôn là phát ngôn cầu khiến nên tính cầu khiến được biểu thị rõ qua tiểu từ cầu khiến, không cần đến sự hỗ trợ, của ngữ cảnh cầu khiến Dạng phát ngôn hỏi
- cầu khiến này là biện pháp gián tiếp hóa phát ngôn cầu khiến trực tiếp nhằm
tăng tính lịch sự trong giao tiếp qua cách hỏi để đề cao vị thế giao tiếp, đề cao thể hiện của tiếp ngôn
Khả năng kết hợp của biểu thức P+chứ với tiểu từ ạ:
Tiểu từ tính thái ạ được dùng để biểu thị thái độ lễ phép của chủ ngôn
nhằm thể hiện sự kính trọng tiếp ngôn, do đó nó thường được ghép vào cuối phát ngôn hỏi hoặc phát ngôn cầu khiến để tăng tính lịch sự của phát ngôn Phát
ngôn hoi - cầu khiến dạng P+chứ theo quy luật trên cũng được ghép thêm tiểu
từ ạ vào cuối để tăng tính lịch sự Lúc đó, vị thế giao tiếp của chủ ngôn thấp hơn
Ví dụ: Có để cho cậu làm việc không?
<Nửa chừng xuân, Khái Hưng>
Biểu thức dạng có P+hay+không có biến thể rút gọn thành có P+không cũng giống với biểu thức hay+P ở chỗ chủ ngôn chỉ hỏi để yêu cầu tiếp ngôn trả
lời là chấp nhận hay từ chối thực hiện hành động được nêu ra trong phát ngôn hỏi chứ không yêu cầu giải đáp về nội dung của cái chưa biết cho nên nó giống
Trang 35như phát ngôn đề nghị(phát ngôn cầu khiến có mục đích đề nghị) Vì thế, nó được dùng để cầu khiến gián tiếp đồng hướng Việc nhận diện mục đích cầu khiến của dạng biểu thức này bắt buộc phải dựa vào ngữ cảnh hội thoại để suy ý thì mới phân biệt được với phát ngôn hỏi chính danh
Ví dụ: a) Ba Giai mới nhân cơ hội đó thách thức cô ả:
- Nào, có thi chửi không? Bà con làm chứng nhé
<Ba Giai- Tú Xuất- LHN>
b) Vừa gặp tôi, Mai hỏi ngay:
- Hôm qua em có thi chửi không? Thế nào,tốt chứ?
- Tốt Cuộc thi vui lắm (khẩu ngữ)
Ngữ cảnh a) cho biết phát ngôn hỏi “có thi chửi không” là phát ngôn kêu gọi sự thách thức, nhằm mục đích cầu khiến vì nó đứng sau tiểu từ tình thái cầu
khiến nào Còn ngữ cảnh b) với các từ hỏi, hôm qua báo hiệu phát ngôn hỏi “có
thi chửi không” hỏi về sự việc đã xảy ra nên là phát ngôn hỏi chính danh, nhằm mục đích hỏi để biết thông tin
Ví dụ về hành động yêu cầu:
1) Em có cho phép anh hôn em một lần cuối cùng không ?
<Nửa chừng xuân, Khái Hưng> 2) - Bác sỹ ơi, - ông thị trưởng nói, - Tôi đang ốm lắm Tôi chất mất Ông có giúp tôi được không?
- Thưa ông thị trưởng, - tôi nói, - Tôi không phải là môn đồ chính tông của S.Q.Lapiút
<Chiếc lá cuối cùng, O Henry>
Trang 363) Có để cho cậu làm việc không?
<Nửa chừng xuân – Khái Hưng>
Ở các phát ngôn trên, có một điểm chung là cho dù vị thế xã hội của chủ
thể có cao, thấp, hay ngang bằng so với đối ngôn thì vị thế giao tiếp của chủ
ngôn luôn luôn thấp Bởi lẽ, chủ ngôn thường mong muốn đối ngôn thực hiện
hành động có lợi cho mình, do đó, sắc thái cầu luôn luôn chiếm vai trò chủ đảo
Ví dụ về hành động ra lệnh:
1) Ra đây, có ra không thì bảo ?
<Truyện ngắn, Nguyễn Huy Thiệp>
2) Bỏ tay ra! Bỏ tay ra! Có bỏ tay ra không?
<Ba Giai, Tú Xuất, Lữ Huy Nguyễn>
Ở ví dụ “Ra đây, có ra không thì bảo? ”, vị thế xã hội và vị thế trong giao
tiếp cụ thể đối với chủ ngôn và đối ngôn là không như nhau: người có vị thế cao ra
lệnh cho người có vị thế thấp hơn phải “ra”, nếu không ra thì sẽ nhận được một hậu
quả xấu qua tác tử lôgíc – tình thái “ thì bảo” Phát ngôn ra lệnh này có sắc thái
khiến rất mạnh Ví dụ này chứng tỏ rằng, gián tiếp không có nghĩa là lịch sự
Ví dụ “Bỏ tay ra! Bỏ tay ra! Có bỏ ta ra không?” xảy ra trong hoàn cảnh
chủ ngôn và đối ngôn có vị thế ngang bằng nhau Việc làm của đối ngôn đã làm
mất thể diện của chủ ngôn ở giữa chợ, nên phát ngôn cầu khiến chỉ có sắc thái
khiến, không có tính lịch sự
Nhìn chung, tính bất lịch sự của hành vi ra lệnh của cấu trúc hỏi
“có không?” thể hiện khi không có đại từ nhân xưng ngôi thứ 2 và là cơ sở để
phân biệt hành vi ra lệnh với các hành vi khác, ngoài ra nó còn hàm chứa sự đe
dọa ẩn bên trong về phía đối ngôn
Trang 37c) Biểu thức hỏi về khả năng thực hiện hành động của tiếp ngôn có dạng:
có thể + P + không / được không ?
Ngữ nghĩa khái quát của biểu thức:
Ví dụ: 1) Ông có thể giúp tôi điều này không?
<Đống rác cũ, NCH> 2) Bác sỹ biết chắc là chị ta nói dối Nhưng ông vẫn hỏi tiếp:
- Chị có thể kể rõ hơn được không ?
- Một ông già bạn tôi có quen những người thổ dân và học được những bài thuốc của họ, đã chữa cho tôi bằng loại keo gì đó làm từ đất sét với phấn hoa đặc
<Trở về Êđên, R.Miles>
Theo từ điển tiếng Việt, có thể thường dùng phụ trước động từ với nghĩa
“có khả năng hoặc điều kiện, chủ quan hoặc khách quan làm việc gì Thí dụ: Tự mình có thể đảm đương công việc Làm mọi việc có thể làm” Vì thế, phát ngôn
hỏi chứa có thể dùng để hỏi về khả năng có thể thực hiện hành động của tiếp ngôn Lời đáp là một trong hai khả năng: có thể hoặc không thể Lời đáp có thể
là lời đáp tích cực (lời đáp ngược lại là tiêu cực) Khi hỏi nhằm mục đích cầu khiến, người nói dự liệu trước lời đáp theo hướng tích cực kéo theo hệ quả là người nghe sẽ thực hiện hành động đã nêu trong phát ngôn hỏi Vì vậy, phát ngôn hỏi – cầu khiến về khả năng thực hiện hành động của tiếp ngôn được xây dựng trên nguyên tắc suy ý đồng hướng Với phát ngôn hỏi dạng này, lời đáp
tiêu cực không chính là hành động từ chối phát ngôn cầu khiến
Trang 38d) Biểu thức hỏi – cầu khiến nêu nguyện vọng của chủ ngôn, dạng:
D1 + muốn/có thể + V + được không/ D1 + V + được không?
Ví dụ: a) Bạch cụ tôi muốn gặp nó được không?
<Dải lụa, Dương Duy Ngữ> b) Jilly đây mà, Tara, tớ rất ngại đánh thức cậu dậy sớm thế này,
nhưng quả là tớ đang ở một tình huống khó xử quá
- Câu đang ở đâu?
- Ở đồn cảnh sát Cậu có thể bảo lãnh cho tớ được không?
- Ừ Tất nhiên Thế này nhé độ nửa tiếng nữa tớ sẽ đến
<Trở về Êđen, R.Miles> c) Thế các anh có thể cho biết thêm tin tức về chồng tôi được
không?
<Truyện ngắn lãng mạn, 2001, các tác giả> Đặc trưng ngữ nghĩa cơ bản của phát ngôn hỏi – cầu khiến dạng này là biểu thị tính cầu tương ứng với hành động đề nghị, xin phép tiếp ngôn cho chủ ngôn được thực hiện hành động đã nêu ra trong phát ngôn hỏi một cách lịch sự, mang tính hướng nội Vì thế, nó có đặc trưng về cấu trúc khác với các phát ngôn hỏi – cầu khiến hướng ngoại đã nêu ở các mục trên là danh từ/ đại từ làm đề ngữ nêu chủ thể của hành động được hỏi hiển ngôn không phải ở ngôi 2 mà ở ngôi 1 báo hiệu người hỏi đồng nhất với người thực hiện hành động đã nêu trong phát
ngôn hỏi Phát ngôn hỏi – cầu khiến dạng D1 + muốn + V + được không do có mặt từ muốn mà nguyện vọng của chủ ngôn được hiển ngôn rõ ràng, còn cụm từ
được không tạo nên sắc thái lịch sự của phát ngôn hỏi khiến cho phát ngôn hỏi
Trang 39có hàm ý cầu khiến rất rõ Phát ngôn hỏi – cầu khiến dạng D1 + muốn + V +
được không thể hiện sắc thái lịch sự như dạng dùng muốn, song không thể hiện
rõ nguyện vọng của chủ ngôn như dùng muốn
2.1.2.2 Phát ngôn hỏi – cầu khiến ngược hướng
a) Phát ngôn hỏi mang nghĩa phủ định nhằm mục đích cầu khiến ngăn cấm
hành động đã nêu trong phát ngôn hỏi hoặc yêu cầu thực hiện hành động ngược
lại hành động đã nêu trong phát ngôn hỏi với dạng thức : Ai + P ? Sao/Tại
sao/Vì sao + P ?
Ngữ nghĩa của biểu thức:
Sao/Tại sao/Vì sao là đại từ “dùng để chỉ nguyên nhân không biết rõ của
điều đã xảy ra Còn ai là đại từ “dùng chỉ người nào đó không rõ” (thường dùng
để hỏi) ” (Từ điển tiếng Việt ) Khi dùng tạo phát ngôn hỏi, sao/tại sao/vì sao đòi hỏi tiếp ngôn trả lời bằng cách nêu rõ nguyên nhân của sự tình, còn ai yêu
cầu tiếp ngôn nêu rõ đối tượng nào đã thực hiện hành động, tức là nêu rõ chủ thể của sự tình
Trang 40Loan giật mình ngửng lên Người đội xếp dịch ra tiếng ta xong, thì Loan thấy bà Phán chỉ vào nàng nói:
1) Đổng đứng trên thềm, hai tay vỗ vào nhau nói to:
- Này, bà cụ! Lợn gà thế nào thì trình bày cho nó rõ ràng, đâu có
đó, sao lại cứ ồn lên thế?
Giọng Đổng sang sảng, mắt anh quắc lên Trông thật dữ quá Thế là hai mắt tròn đang giương lên như hạt nhãn của bà Nhìn cụp ngay xuống
- Khốn dưng của đau con xót, các bác tính cho tôi thân “khô” thế “khô”
<Đất làng, Nguyễn Thị Ngọc Tú> 2) – Cô muốn vác cái gì ra thì vác Còn ông bà cha mẹ có động chạm gì đến ta mà ta chửi
Đám đông ồn ào tán thưởng:
- Đúng rồi, ai làm này chịu, Thế mới quân tử
Ả hàng xén trợn mắt:
- Ai mướn các ông các bà chõ mõm vào?
<Ba Giai - Tú Xuất, Lữ Huy Nguyên>