1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm biệt danh của trẻ em ở Hà Nội

114 350 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các công trình của ông nghiên cứu một cách toàn diện về tên riêng, chính danh, tên họ, tên đệm, tên làng, tên sông, tên thần linh, tên địa danh,...trong đó ông có nêu rõ về đặc điểm cấu

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: GS T S NGUYỄN VĂN KHANG

Hà Nội – 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được công bố trong bất kì công trình nghiên cứu nào khác

Tác giả luận văn

Phạm Thu Huyền

Trang 4

và chỉ dẫn ấy đã giúp tôi tìm cách khắc phục và vượt qua khó khăn để đi được đến điểm cuối cùng của luận văn

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô trong khoa Ngôn ngữ học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập cũng như thực hiện và hoàn thiện luận văn

Lời cảm ơn đặc biệt tôi muốn gửi tới gia đình tôi đã luôn bên cạnh và ủng hộ và giúp đỡ về mặt tinh thần cho tôi rất nhiều Tôi cảm ơn bạn bè và tập thể lớp cao học K57 Ngôn ngữ học đã giúp đỡ và đồng hành cùng trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn

Hà Nội, ngày 06 tháng 02 năm 2015

Tác giả

Phạm Thu Huyền

Trang 5

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

PHẦN MỞ ĐẦU 5

1 Lý do chọn đề tài 5

2 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 5

3 Phương pháp nghiên cứu của luận văn 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 6

5 Ý nghĩa của luận văn 6

6 Bố cục của luận văn 7

PHẦN NỘI DUNG 8

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LUẬN VĂN 8

1.1 Danh học với việc nghiên cứu tên riêng 8

1.1.1 Danh học và một số vấn đề hữu quan 8

1.1.1.1 Lược sử danh học 8

1.1.1.2 Phạm vi nghiên cứu và phân loại danh học 10

1.1.2 Tên riêng và những vấn đề hữu quan 11

1.1.2.1 Khái niệm tên riêng 11

1.1.2.2 Ý nghĩa của tên riêng 13

1.2 Nhân danh học với việc nghiên cứu tên người 15

Trang 6

1.2.1 Nhân danh học và một số vấn đề hữu quan 16

1.2.1.1 Lược sử nghiên cứu nhân danh học trên thế giới 16

1.2.1.2 Lược sử nghiên cứu nhân danh học ở Việt Nam 17

1.2.2 Tên người và một số vấn đề hữu quan 20

1.2.2.1 Khái niệm tên người 20

1.2.2.2 Lược sử nghiên cứu tên người 21

1.2.2.3 Các loại tên riêng 22

1.3 Biệt danh và một số vấn đề hữu quan 27

1.3.1 Khái niệm “biệt danh” 27

1.3.2 Lược sử nghiên cứu biệt danh 29

1.3.3 Phân loại biệt danh 32

1.3.4 Phân biệt biệt danh với các loại tên riêng khác 35

Tiểu kết 36

CHƯƠNG 2: 37

ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO VÀ Ý NGHĨA BIỆT DANH CỦA TRẺ EM 37

2.1 Đặt vấn đề 37

2.1.1 Đặc điểm nguồn gốc ngôn ngữ biệt danh của trẻ em 37

2.1.1.1 Biệt danh là các từ thuần Việt (từ bản ngữ) 39

2.1.1.2 Biệt danh là các từ ngữ Hán Việt 39

Trang 7

2.1.1.3 Biệt danh là các từ ngữ gốc Ấn - Âu 40

2.1.2 Đặc điểm cấu tạo hình thức biệt danh của trẻ em 50

2.1.2.1 Biệt danh là các từ (từ đơn) 52

2.1.2.2 Biệt danh là các từ phức 55

2.2 Đặc điểm ý nghĩa biệt danh của trẻ em 55

2.2.1 Đặc điểm từ vựng – ngữ nghĩa 57

2.2.2 Đặc điểm từ vựng – ngữ pháp 67

Tiểu kết 68

CHƯƠNG 3: NGUỒN GỐC HÌNH THÀNH BIỆT DANH 69

3.1 Đặt vấn đề 69

3.2 Nguồn gốc hình thành biệt danh 70

Tiểu kết 81

PHẦN KẾT LUẬN 82

TÀI LIỆU THAM KHẢO 85

PHỤ LỤC 1 91

PHỤ LỤC 2 106

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Biệt danh là các từ thuần Việt 39

Bảng 2.2: Biệt danh là từ thuần Việt phổ biến 39

Bảng 2.3: Biệt danh là từ Hán Việt 40

Bảng 2.4: Biệt danh là các từ ngữ gốc Ấn – Âu 41

Bảng 2.5: Biệt danh là từ tiếng Anh được sử dụng trong tiếng Việt 43

Bảng 2.6: Biệt danh là từ vay mượn nguyên dạng phổ biến 43

Bảng 2.7: Biệt danh là các từ vay mượn Anh/ Pháp 47

Bảng 2.8: Biệt danh là các từ vay mượn tiếng Anh/ Pháp phổ biến 48

Bảng 2.9: Biệt danh là từ đơn và từ phức 51

Bảng 2.10: Biệt danh là từ đơn phổ biến 54

Bảng 2.11: Biệt danh là từ phức phổ biến 55

Bảng 2.12: Thống kê biệt danh là tên các sự vật 60

Bảng 2.13: Thống kê biệt danh là các hiện tượng tự nhiên và xã hội 62

Bảng 2.14: Thống kê biệt danh về con người và sinh hoạt của con người 64

Bảng 2.15: Thống kê nhóm nghĩa đặc biệt 65

Bảng 2.16: Thống kê các nhóm biệt danh theo phân loại từ vựng - ngữ nghĩa 66

Bảng 2.17: Thống kê biệt danh theo từ vựng - ngữ pháp 67

Bảng 3.18: Thống kê lý do đặt biệt danh 81

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Danh xưng đối với người Việt nói riêng không chỉ để phân biệt với người này với người kia, mà còn cung cấp thêm những thông tin cá nhân khác của người xưng danh Bởi danh xưng không đơn thuần chỉ là tên gọi Danh xưng đồng thời phản ánh những đặc trưng về văn hoá – xã hội của một cộng đồng người nhất định Đối với những cộng đồng người khác nhau, cách đặt tên được thể hiện khác nhau và phản chiếu sự phát triển về kinh tế, văn hoá và xã hội của cộng đồng đó Trong những giai đoạn khác nhau, với những đặc điểm về kinh tế, những quan niệm và xu hướng khác nhau, cái tên lại được đặt khác nhau và truyền đạt những tư tưởng và mong muốn khác nhau Tên riêng nói chung bao gồm nhiều loại tên khác nhau Nhưng có thể nói tên gọi thân thuộc nhất đối với mỗi người chính là biệt danh được đặt từ khi còn nhỏ Cho dù không được sử dụng trong những ngữ cảnh mang tính chất pháp lý và chính thức, nhưng biệt danh có những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực đến bản thân người được đặt tên Hiện nay, những nghiên cứu về biệt danh ở trên thế giới cũng đã được thực hiện, tuy nhiên, những nghiên cứu đó mới chỉ phác hoạ bức tranh biệt danh và còn cần thêm nhiều các nghiên cứu khác về biệt danh trên thế giới để hoàn thiện thêm bức tranh đa màu sắc ấy Ở Việt Nam, biệt danh cũng là một lĩnh vực mới mà ở đó gần như chưa có các nghiên cứu chuyên sâu nào được thực hiện Đó cũng là lý do

chúng tôi thực hiện đề tài “Đặc điểm biệt danh của trẻ em ở Hà Nội” Thông qua đề

tài, chúng tôi mong muốn tìm hiểu đặc điểm cấu tạo cũng như làm rõ hơn biệt danh được đặt cho trẻ em như thế nào, truyền tải những thông điệp gì, mang ý nghĩa gì cũng như xu hướng phát triển của biệt danh

2 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

Mục đích nghiên cứu chính trong luận văn của chúng tôi là đưa ra một bức tranh cụ thể về cách thức người Việt đặt biệt danh cho trẻ em trong những năm gần đây ở Hà Nội Từ đó, phác hoạ một phần bức tranh biệt danh của người Việt

và cũng phần nhỏ phác hoạ những biến đổi về văn hoá, xã hội được phản ánh qua cách thức người Việt đặt biệt danh

Để đạt được mục đích trên, luận văn cần phải:

- Hệ thống cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài

Trang 10

- Miêu tả các đặc điểm cấu tạo cũng như ý nghĩa của biệt danh được người Việt sử dụng để đặt tên cho con trong những năm gần đây

- Chỉ ra những lý do cũng như cách sử dụng và những đặc điểm ngôn ngữ

xã hội của biệt danh của trẻ em, để qua đó, đưa ra những dự đoán mới về xu hướng đặt tên của người Việt

3 Phương pháp nghiên cứu của luận văn

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp thống kê – phân loại

- Điều tra bằng anket và phỏng vấn sâu

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1 Luận văn hướng đến nghiên cứu các đặc điểm cấu tạo - ngữ nghĩa biệt danh của trẻ em ở Hà Nội Từ việc đầu tiên là chỉ ra cách thức sử dụng ngôn ngữ để đặt biệt danh cho trẻ em ở Việt Nam, và sau đó đưa ra các lý do khác nhau để đặt biệt danh

4.2 Luận văn tập trung vào nghiên cứu biệt danh của trẻ em ở Hà Nội Đối tượng hướng đến ở đây là “biệt danh” của trẻ em ở “Hà Nội”

Địa bàn nghiên cứu trong luận văn hướng đến là Hà Nội – trung tâm chính trị, văn hoá, kinh tế của cả nước Các mẫu được chọn hoàn toàn ngẫu nhiên ở những gia đình khác nhau thuộc những địa điểm khác nhau trên địa bàn Hà Nội Cụ thể như sau:

- Quận Thanh Xuân: 76 biệt danh

- Quận Ba Đình: 64 biệt danh

- Quận Long Biên: 76 biệt danh

- Quận Hoàng Mai: 75 biệt danh

- Quận Hai Bà Trưng: 68 biệt danh

- Quận Đống Đa: 63 biệt danh

- Quận Hoàn Kiếm: 69 biệt danh

- Quận Cầu Giấy: 67 biệt danh

Tổng số biệt danh chúng tôi thu được trong quá trình khảo sát là 558 biệt danh

5 Ý nghĩa của luận văn

Luận văn hướng tới đóng góp vào những vấn đề lý luận và thực tiễn về nghiên cứu nhân danh học nói riêng và danh học nói chung Quan trọng hơn cả,

Trang 11

luận văn chỉ ra những đặc trưng về đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa của biệt danh dành cho trẻ em của người Việt Thông qua đó, luận văn nêu lên những vấn đề xã hội – văn hoá liên quan đến biệt danh

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm ba chương nằm trong phần nội dung như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận của luận văn

Chương 2: Đặc điểm cấu tạo và ý nghĩa của biệt danh trẻ em

Chương 3: Nguồn gốc hình thành biệt danh của trẻ em

Trang 12

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LUẬN VĂN

1.1 Danh học với việc nghiên cứu tên riêng

1.1.1 Danh học và một số vấn đề hữu quan

Thuật ngữ chuyên ngành sử dụng cho nghiên cứu tên nói chung là danh học (onomastics), và những nhà khoa học nghiên cứu danh học được gọi là nhà danh

học (onomasts) Theo Mai Ngọc Chừ, “bộ môn danh học nghiên cứu các quy luật đặt tên: tên người, tên sông, tên núi non, tên vùng đất.” [7; tr.133] Như vậy, danh

học là bộ môn nghiên cứu những quy luật cơ bản về nguồn gốc phát sinh, thành phần cấu tạo, quá trình phát triển và sự hoạt động của tên riêng trong hệ thống ngôn ngữ Danh xưng nhìn chung, nghiên cứu về tất cả những danh từ thể hiện được bản chất của sự vật, bao gồm cả tên chung và tên riêng (proper names) Cụ thể hơn, danh học nghiên cứu nguồn gốc, đặc điểm cấu tạo, quá trình và xu hướng phát triển

của tất cả các loại tên: tên người như tên họ, tên đệm, tên chính, biệt danh, bút danh, thụy hiệu, ; tên nơi chốn như quốc gia, phố phường, thị trấn, làng mạc, ; tên của các danh lam thắng cảnh như sông núi, chùa chiền ; tên của các công trình xây dựng như nhà cửa, đường phố, sân bay, khách sạn, ; tên của công trình giao thông như đường phố, cầu cống, ; tên của các loài thực vật, động vật; tên của các phương tiện giao thông như tàu, máy bay, ; tên của các sản phẩm thương mại như rượu, thuốc, ; tên của các công trình sáng tạo nghệ thuật như sách vở, thơ ca, phim truyện, tất cả những cái tên trong tưởng tượng cũng như trong thế giới thật Danh

sách các loại tên sẽ còn mãi tiếp diễn Như vậy, có thể nói rằng, danh học có một phạm vi rất rộng và bao quát Chính sự bao quát đó khiến danh học được rất nhiều học giả quan tâm Thật khó để tìm thấy một ngành khoa học xã hội và nghệ thuật nào, dù ít hay nhiều, không liên quan đến cái tên

1.1.1.1 Lược sử danh học

Nếu sự xuất hiện của một ngành khoa học mới được đánh dấu bằng khả năng nhận diện chủ thể thì mầm mống của danh học có thể được tìm thấy ở Ai Cập cổ đại cách đây 5.000 – 6.000 năm Trên các bia đá thời kì này đã bước đầu phân biệt giữa tên riêng và những danh từ chung thông qua khắc vẽ tên các vị thần hay tên vua Pharaohs, và sau này được viết bằng sơn đỏ trên giấy papyrus Cái tên trong thời kì này, được bắt nguồn với ý nghĩa tôn trọng các vị vua chúa mà không nhằm mục đích gọi tên, nhưng sự tri nhận về tên riêng cũng đã được biểu thị

Trang 13

Có thể nói tên và những gì được gọi là mầm mống liên quan đến tên được tìm thấy trong các câu chuyện thần thoại, truyền thuyết của nguồn gốc dân tộc học

và trong các tác phẩm văn học cách đây hàng nghìn năm Điều này được minh chứng bởi những lời giải thích của từ nguyên học về tên Các nhà văn hay sử học cũng như từ nguyên học trong các tác phẩm của mình đề cập khá nhiều về tên riêng cũng như tên địa danh về khía cạnh này hay khía cạnh khác, tuy nhiên, phải cho tới thế kỉ XVI trở về sau, danh sách tên hay tên riêng, một loại từ điển đặc biệt bao gồm những tài liệu phong phú cho tên riêng, mới hiện hành Đến thế kỉ XVII, tên riêng đã được thu thập và giải thích nhiều hơn

Thế kỉ XIX xuất hiện các nhà ngữ pháp xuất sắc từ các nhiều quốc gia như La-tinh, Đức, Séc, Hung-ga-ry, nhưng lý luận của các nhà ngữ pháp này là không

mở rộng ý niệm của danh từ riêng ra khỏi tên riêng và tên địa danh Sự chuyển hướng trong thế kỉ XIX – XX đã chỉ ra sự bùng phát chung trong việc nghiên cứu tên trên toàn thế giới Cho tới thời kì này, tên vẫn là đối tượng của những nghiên cứu lịch sử; từ đầu thế kỉ XX tên trong lịch sử dân tộc nhận được nhiều chú ý hơn, theo tài liệu thư mục học của Ekwall, có ít nhất một tá các nghiên cứu về tên địa danh lịch sử được xuất bản ở Anh

Từ nửa cuối thế kỉ XX, một hệ thống lý thuyết chung về danh học đã được phát triển Danh học trở thành một chuyên ngành độc lập của ngôn ngữ với sự kết nối sâu rộng với các ngành khoa học xã hội và tự nhiên khác Ý nghĩa xã hội của tên trong giao tiếp và trong quản lý khuyến khích sự phát triển mạnh mẽ các nghiên cứu

về danh học mà có thể khởi nguồn từ tài liệu tổng quát và từ sự sáng tỏ những vấn

đề hiện hành trong các ấn phẩm đặc biệt về danh học

Ở Việt Nam, danh học là lĩnh vực dành được sự quan tâm của nhiều nhà

nghiên cứu từ sau những năm 1954 như Nguyễn Bạt Tuỵ với tác phẩm “Tên người Việt Nam”, Hoàng Thị Châu công bố kết quả nghiên cứu về địa danh, chức danh và thần danh Việt Nam vào những năm 1960 “Việt Nam danh nhân tự điển” của

Nguyễn Huyền Anh (1967) giới thiệu các vị tiền hiền với những đóng góp của họ

cho đất nước và “Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam” của Nguyễn Quang Thắng và

Nguyễn Bá Thế trình bày một cách chi tiết thân thế và sự nghiệp của hơn 1.500 nhân vật lịch sử Việt Nam đã đóng góp rất lớn cho danh xưng học Việt Nam (1988) Đến những cuối thế kỉ XX, danh học Việt Nam đã có nhiều bước chuyển biến mạnh

Trang 14

mẽ hơn với nhiều nghiên cứu lớn, có tính hệ thống và sâu sắc hơn Các luận văn, luận án thạc sĩ, phó tiến sĩ đã nghiên cứu sâu sắc hơn về chính danh cũng như địa danh người Việt Phạm Tất Thắng là người có rất nhiều đóng góp cho nhân danh học Việt Nam nói riêng và danh học nói chung Ông có nhiều tác phẩm xung quanh các vấn đề này và vẫn tiếp tục là nhà nghiên cứu tích cực với những công trình lớn trong lĩnh vực này Các công trình của ông nghiên cứu một cách toàn diện về tên riêng, chính danh, tên họ, tên đệm, tên làng, tên sông, tên thần linh, tên địa danh, trong đó ông có nêu rõ về đặc điểm cấu tạo, ý nghĩa, cũng như mối quan hệ của tên với ngôn ngữ học, xã hội học

1.1.1.2 Phạm vi nghiên cứu và phân loại danh học

Như vậy, danh học là một khoa học nhân văn, nghiên cứu tên nơi chốn, tên người Mảnh đất danh học này rất rộng lớn, bao gồm mọi khu vực địa lý, văn hóa, ngôn ngữ, và mọi thời đại lịch sử Dựa vào những tiêu chí khác nhau, danh học được phân loại khác nhau

1) Phân loại theo ngôn ngữ

Danh học trên thế giới được phân chia theo từng ngôn ngữ như sau:

- Danh học tiếng Anh

- Danh học tiếng Pháp

- Danh học tiếng Việt

2) Phân loại theo đối tượng nghiên cứu

Theo Lê Trung Hoa, danh học được chia thành hai nhóm: nhân danh học và

địa danh học Mai Ngọc Chừ cũng có chung kết luận như vậy: “bộ môn danh học ( ) có hai phần: nhân danh học và địa danh học Nhân danh học nghiên cứu các quy luật đặt tên người, còn địa danh học nghiên cứu quy luật đặt tên núi non, sông suối, biển, hồ ” [7; tr.133]

Một cách chung nhất, có thể phân chia danh học thành hai nhóm trên Đây cũng là cách phân loại ra đời đầu tiên ở châu Âu và châu Mỹ trong những năm cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX Tuy nhiên, theo chúng tôi, cần phân biệt rõ ràng và cụ thể hơn nữa các nhóm của danh học

Theo đó, danh học được chia thành các nhóm như sau:

Trang 15

- Địa danh học (toponymy): một cách chung nhất, địa danh học là một môn khoa học chuyên nghiên cứu ý nghĩa, nguồn gốc và những biến đổi của địa danh Địa danh nói chung là tên đất, gồm tên sông nước, núi non, thị trấn, làng mạc

- Nhân danh học (anthroponymy hay anthroponomastics): nhân danh học là ngành ngôn ngữ học nghiên cứu tên riêng của người, động vật, sự vật Đối tượng nghiên cứu chủ yếu và quan trọng nhất của nhân danh học là tên người

- Thần danh học có đối tượng nghiên cứu và những tên gọi thần linh của mỗi dân tộc, mỗi tôn giáo

- Vũ trụ danh học có đối tượng nghiên cứu là tên gọi của các ngôi sao, các hành tinh, thiên thể,

- Vật danh học nghiên cứu về tên gọi của các loại vật chất

Trong sự phù hợp với đề tài của luận văn nghiên cứu về tên riêng của người, chúng tôi sẽ đi sâu vào nhân danh học và những vấn đề liên quan đến nhân danh học ở phần sau

1.1.2 Tên riêng và những vấn đề hữu quan

Tên riêng trong tiếng Anh được dùng bởi thuật ngữ “proper names” Tên

riêng tồn tại trong bất kì ngôn ngữ nào và cũng là lĩnh vực quan tâm của không chỉ các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học; cả từ vựng học lẫn ngữ pháp học mà còn nhận được sự quan tâm của các nhà sử học, dân tộc học, văn học, xã hội học, Vào những năm 30 của thế kỉ XX, các công trình nghiên cứu về tên riêng đã bắt đầu xuất hiện nhưng phát triển nhiều và sâu rộng hơn trong khoảng những năm 80 - 90 của thế kỉ

XX và đặc biệt là khoảng 20 năm trở lại đây

1.1.2.1 Khái niệm tên riêng

Trong từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, có định nghĩa thuật ngữ “tên

riêng” như sau: “tên riêng” tên gọi của từng cá nhân, cá thể riêng rẽ, phân biệt với những cá nhân, cá thể khác cùng loại Ví dụ: viết hoa các tên riêng [67; tr.1167]

Trong “Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học”, do Nguyễn Như Ý chủ

biên, giải thích tên riêng như sau: “Từ, cụm từ hoặc câu dùng để tách biệt đối tượng được gọi tên ra khỏi tập hợp các đối tượng khi cá thể hoá chúng Đặc điểm của tên riêng là dùng để gọi tên (kí hiệu) người hoặc sự vật riêng lẻ, không liên quan gì đến đặc trưng của chúng, tức là không có sự tương ứng giữa tính chất của sự vật được gọi tên (kí hiệu) và nghĩa của từ, cụm từ hoặc câu.” [68; tr.259]

Trang 16

Tên riêng được các nhà từ vựng học tiếng Việt gọi chung là từ, nhưng lại

không xếp chúng thuộc lớp từ nào cụ thể Theo Nguyễn Thiện Giáp, “tên riêng nên được coi là những từ, ngữ dùng để gọi tên những thực thể vật chất và tinh thần có vai trò quan trọng trong đời sống văn hoá – xã hội, tồn tại với tư cách là những cá thể trong tư duy của từng dân tộc.” [75]

Trong khi đó, các nhà ngữ pháp học xếp tên riêng thuộc từ loại danh từ và

gọi là danh từ chung Theo Mai Ngọc Chừ, “danh từ được phân chia bước đầu thành 2 lớp nhỏ là danh từ riêng và danh từ chung Danh từ riêng là tên gọi dùng chỉ cá thể vật như tên người (Nguyễn Văn Việt), tên đất (Hà Nội, Đồng Nai, Buôn

Ma Thuột), tên núi sông (Trường Sơn, Mê Công) Danh từ chung là tên gọi của cả một lớp vật đồng tính xét theo một tiêu chuẩn đã chọn.” [7; tr.269] Tuy nhiên,

những vấn đề về tên riêng không chỉ dừng lại ở đó Bản chất của tên riêng vẫn còn

là một “ẩn số” (chữ dùng của Phạm Tất Thắng) “Các tên riêng không chỉ có cấu trúc đặc biệt, mà trong các thành phần tạo nên chúng còn chứa đựng những thông tin đủ loại mang tính lịch sử, truyền thống, văn hóa, xã hội đặc trưng cho mỗi cộng đồng dân tộc nhất định [83] Chính vì thế, tên riêng trở thành đối tượng quan tâm

nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội khác như: sử học, dân tộc học, tâm lí học, xã hội học, văn học, ngôn ngữ học,

Đồng tình với quan điểm tên riêng thuộc lớp danh từ riêng, Nguyễn Tài Cẩn

cho rằng: “bất kì đó là nhân danh, địa danh, tên sách báo, hay tên gọi các tổ chức, tên gọi thời đại, danh từ riêng cũng có đặc điểm là dùng để gọi tên của một sự vật duy nhất cá biệt Chính đặc điểm này là đặc điểm đã làm cho danh từ riêng khác hẳn các danh từ còn lại, cả về mặt ý nghĩa, cả về mặt đặc trưng ngữ pháp.” [2; tr.80] Phạm Tất Thắng phân biệt tên riêng và tên chung như sau: “Tên chung - đó là những từ chung có ý nghĩa chỉ ra một lớp đối tượng cùng loại; còn tên riêng (proper names) chỉ là những kí hiệu định danh cho một đối tượng cá biệt, đơn nhất và xác định Nói cách khác, tên chung có mối liên hệ với khái niệm, còn tên riêng thì không

có mối liên hệ với bất kì khái niệm nào cả ( ) Ở đâu mà sự vật riêng lẻ được con người chú ý đến, thì ở đó có tên riêng Tên riêng xác nhận sự tồn tại của sự vật ( ) Tên riêng thì cá thể hoá ( ) Về nguyên tắc, mọi đối tượng đều có thể có cả tên chung

và tên riêng Tuy nhiên, những đối tượng có tên riêng thường phải có mối liên hệ đặc

Trang 17

biệt đối với con người Nói cách khác, các đối tượng có tên riêng bị quy định bởi các giá trị xã hội của chúng đối với con người [33; tr.11]

Là đối tượng nghiên cứu quan trọng của danh xưng học, tuy nhiên, để phù hợp với mục đích và khối lượng nghiên cứu của luận văn, chúng tôi không đi sâu vào cả ba bình diện chức năng, ngữ pháp và nghĩa của tên riêng Theo đó, chúng tôi

đi sâu hơn vào tìm hiểu “Ý nghĩa của tên riêng”

1.1.2.2 Ý nghĩa của tên riêng

Có hay không “ý nghĩa của tên riêng” là một “cuộc chinh chiến” lâu dài của

các học giả quan tâm đến “tên riêng” Theo Nguyễn Việt Khoa, “tên riêng có nghĩa hay không có nghĩa cũng chính là khẳng định sự tồn tại hay không tồn tại của kết cấu vật chất bên trong của tên riêng.” [21; tr.11] Có hai trường phái quan điểm trái

ngược nhau về sự tồn tại hay không tồn tại của kết cấu vật chất bên trong của tên riêng – nghĩa là quan điểm cho rằng tên riêng không có nghĩa và quan điểm cho rằng tên riêng có nghĩa

Những học giả trên thế giới cho rằng tên riêng không có nghĩa như Nina Davidovna Arutjunova, John Stuart Mill, Saul Aaron Kriple, Watanabe Mitsou,…

J St Mill cho rằng: “Tên riêng cũng giống như vệt phấn đánh dấu ở một cái nhà; nó không có nghĩa mà chỉ có mục đích là chỉ ra biểu vật Tên riêng thường

được quan niệm để gọi tên sự vật mà không gán cho sự vật bất kì một thuộc tính nào Đồng tình với quan điểm của J St Mill, Saul A Kriple, một nhà triết học, logic học

người Mỹ cho rằng: “tên riêng chỉ gọi tên sự vật một cách cứng nhắc, tên riêng không có nghĩa hàm chỉ” Ông nói rõ hơn “nếu tên riêng có nghĩa thì dường như cái biểu vật của tên riêng sẽ thay đổi trong các thế giới khác nhau.” [theo 31; tr.23] Theo N.D.Arutjunova, tên riêng “trong suốt như thuỷ tinh, qua nó có thể thấy rõ cái sở biểu Nếu nó có nghĩa thì cũng giống như thuỷ tinh, các vết rạn nứt,

nó sẽ không được trong suốt, khiến ta không thấy được biểu vật.” [theo 31; tr.23]

Wanatabe Mitsuo, một giáo sư Nhật Bản chuyên ngành Giáo dục ngôn ngữ

Anh, cũng đưa quan điểm của mình về tên riêng: “Tôi hay bạn rất có thể bị ai đó căm ghét mà chưa từng được gặp, vẻ mặt của tôi hoặc của bạn không gợi lên điều

gì trong đầu của họ ngoài cái tên riêng của tôi hoặc của bạn.” [theo 18; tr.13]

Trong khi đó, trường phái cho rằng tên riêng có nghĩa trên thế giới bao gồm

F L Gottlob Frege, A.A Ufimceva, E.S Aznaurova,

Trang 18

Gottlob Frege - người được coi là cha đẻ của triết học phân tích qua các bài

về toán học, triết học và ngôn ngữ - cho rằng: “nếu thay đổi nội dung của những tên cùng tham chiếu thì sẽ thấy tên riêng có nghĩa.” Trong nhận thức của người Việt,

không ai nghi ngờ “sao Mai” là sao mọc buổi sáng và việc nói “sao Hôm” mọc vào buổi sáng là trái với hiểu biết chung Khó khăn mà những người theo trường phái này gặp phải chính là vấn đề diễn đạt, bày tỏ ý nghĩa của tên tiêng.” [theo 21; tr.11]

A.A Ufimceva, nhà kí hiệu học người Nga cho rằng: “tên riêng khiếm khuyết

về phương diện ngữ nghĩa nên không có cấu trúc ngữ nghĩa như ở trên chung, kể cả những trường hợp trùng với tên chung về mặt hình thức, nó cũng không có các mối liên hệ có tính liên tưởng và tính cấu trúc Trong điều kiện đó, hình thức âm thanh của tên riêng có giá trị lớn hơn rất nhiều so với tên chung.” [theo 18; tr.23]

Bức tranh ý nghĩa của tên riêng trên thế giới với hai thế đối lập cũng được nhà Việt ngữ học quan tâm đến tên riêng phác hoạ như vậy Các nhà ngôn ngữ học chủ trương tên riêng không có nghĩa điển hình như Hoàng Phê Đối lập với quan điểm đó, nhiều nhà ngôn ngữ học lại cho rằng tên riêng có nghĩa như Đỗ Hữu Châu, Phạm Tất Thắng, Nguyễn Kim Thản, Hoàng Tuệ, Lê Trung Hoa,

Hoàng Phê cho rằng: “Tên riêng là những kí hiệu thuần tuý không có nghĩa

Có những tên riêng vốn có nghĩa thì cái nghĩa đó thường không ai nghĩ đến, nó thực

sự trở thành “vô nghĩa” [26; tr.75]

Phần lớn các nhà Việt ngữ học đều cho rằng tên riêng có nghĩa Theo Hoàng

Tuệ: “Một tên riêng tạo nên trong trí óc ta sự liên hệ đến một thực thể trong tính chất cá thể ( ) Tên riêng không phải là một con số, một cái nhãn chỉ có tác dụng

đủ để phân biệt, mà là một biểu trưng.” [38; tr.230]

Tác giả Bình Long khẳng định: “Ngoài các mặt cấu tạo, chính tả, phát âm

và cách dùng khi xưng hô, tên riêng của các nước, các dân tộc còn đáng được tìm hiểu về mặt nghĩa.” [24; tr.25]

Tác giả Phạm Tất Thắng trong bài: “Về ý nghĩa tên riêng và ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam” đã khẳng định rất rõ tên riêng có nghĩa “Nghĩa của tên riêng (chỉ người) cũng chính là đối tượng với đầy đủ các đặc điểm từ ngoài hình cho đến các đặc điểm về tâm sinh lý giới tính, lứa tuổi, nghề nghiệp, trình độ văn hoá, của người có tên.” Ông cũng cho rằng: “để hiểu tên riêng, người ta cần phải

có sự hình dung rõ ràng và cụ thể về đối tượng được gọi tên chứ không phải thông

Trang 19

qua các đặc điểm của nó Một tên riêng bất kì (cụ thể là tên người) hoàn toàn xa lạ với chúng ta sẽ không nói lên được điều gì ngoài thứ âm thanh trống rỗng nên chúng ta không thể hiểu biết gì về đối tượng được gọi tên là nam hay nữ, già hay trẻ, cao hay thấp, béo hay gầy.” Như vậy, nghĩa của tên riêng mang ý nghĩa hàm

chỉ Bên cạnh đó, tên riêng cũng mang giá trị biểu trưng bởi “tên riêng phản ánh những tư tưởng, tình cảm, hay nguyện vọng của con người đối với việc hiện thực thông qua việc lựa chọn và sử dụng các hình thức ký hiệu tên gọi” [32]

Có thể nói rằng, quan điểm tên riêng có nghĩa hay không có nghĩa vẫn là đề tài tranh luận sôi nổi của các học giả trong và ngoài nước Bởi mỗi quan điểm lại có những điểm mạnh và cũng có những lý giải chưa thoả đáng Các tác giả không cho rằng tên riêng không có nghĩa lại chưa thể giải thích được nội dung có tính chất nhận

thức hiển nhiên của tên riêng Xét ví dụ sau: “Nguyễn Tấn Dũng, sinh ngày 17 tháng

11 năm 1949 tại Cà Mau, là Thủ tướng đương nhiệm của nước CHXHCN Việt Nam.”

[70] Trong ví dụ trên, nếu cho rằng “Nguyễn Tấn Dũng” là một tên riêng vô nghĩa thì thật chưa thoả đáng Bản thân tên “Nguyễn Tấn Dũng” hàm chỉ tới một đối tượng xác định, người là “Thủ tướng đương nhiệm của nước CHXHCN Việt Nam” Đồng thời,

“Nguyễn Tấn Dũng” cũng gợi ra nhiều đặc điểm và liên tưởng khác ngoài phạm vi ngôn ngữ thuần tuý Ngược lại, đối với các tác giả cho rằng tên riêng có nghĩa, vậy

trong những trường hợp sau nghĩa được hiểu và bày tỏ như thế nào: “Những ai tên Huyền tập trung lại đây” Như vậy, cái tên “Huyền” không bao gồm bất kì một đặc

điểm hay ý nghĩa nào khác ngoài việc gọi tên đối tượng chưa xác định

Quan điểm về nghĩa của tên riêng, trong luận văn này, chúng tôi đồng tình với quan điểm của Phạm Tất Thắng và Lê Quang Thiêm Theo đó, “tên riêng tự thân khiếm nghĩa, chỉ khi tên riêng được gắn với nội dung biểu đạt được hình thành trong xã hội thì nó mang nghĩa hàm chỉ và có giá trị biểu trưng”

1.2 Nhân danh học với việc nghiên cứu tên người

Nhân danh học là một ngành khoa học có thể nói có lịch sử nghiên cứu lâu đời, nhưng những nghiên cứu cho đến nay cũng chưa phản ánh được hết các giá trị cũng như khai thác được các lĩnh vực của mảnh đất màu mỡ này Càng đi sâu nghiên cứu nhân danh học, chúng ta càng hiểu rõ thêm nguồn gốc, quá trình phát triển và phương hướng phát triển, đặc điểm cấu tạo, chức năng xã hội cũng như nghĩa của tên người

Trang 20

1.2.1 Nhân danh học và một số vấn đề hữu quan

Là một nhánh thuộc danh học và được giảng dạy tại phân khoa của Ngôn ngữ học, nhưng để có thể nghiên cứu danh học, cần có sự kết hợp giữa các khoa học khác như lịch sử học, xã hội học, dân tộc học, văn học, nhân loại học Đến lượt mình, các ngành khoa học đó cũng dựa trên những kết quả nghiên cứu của nhân danh học để hoàn thiện các nghiên cứu

Thông qua khảo sát, thống kê, phân tích các nghiên cứu về tên người nói chung, nhân danh học chỉ ra những đặc điểm cấu tạo, ngữ nghĩa của tên người Đồng thời, nhân danh học làm rõ nguồn gốc, lịch sử hình thành, phát triển, hiện trạng và xu hướng phát triển trong tương lai của tên người Xu hướng đó có mối liên hệ chặt chẽ đến sự phát triển của xã hội đó về nhiều mặt Bởi nhân danh học cũng đồng thời chỉ ra mối quan hệ giữa tên người với những đặc trưng xã hội như giới, giai cấp, nghề nghiệp, văn hoá, tôn giáo,

Một đặc điểm có thể nói là quan trọng và thực tiễn nhất của nhân danh học là

từ đó, có thể đặt được những cái tên hay, phù hợp, mang lại những điều tốt lành cho người sở hữu cái tên đó Cái tên “Mạnh Dũng” được kết hợp từ hai yếu tố “mạnh” (mạnh khoẻ) và “dũng” (dũng cảm) người đặt tên đã gửi gắm mong muốn người được đặt tên sẽ lớn lên mạnh khoẻ và dũng cảm

Chính vì những đặc điểm trên, nhân danh học vừa là một bộ môn khoa học mang tính chất lý luận nhưng đồng thời mang tính ứng dụng, thực tiễn cao

1.2.1.1 Lược sử nghiên cứu nhân danh học trên thế giới

Theo Nguyễn Vy Khanh, “nghiên cứu tất cả hệ thống tên họ các dân tộc trên thế giới cho thấy người Việt có lẽ là dân tộc đầu tiên, cùng với người Trung Hoa và Hàn Quốc, có một hệ thống tên họ đơn giản và hợp lý nhất” [80] Đáng chú ý và có

lịch sử lâu đời nhất phải kể đến hệ thống của tên họ của người Trung Quốc Có thể nói cho tới nay, Trung Quốc là một trong những quốc gia đầu tiên trên thế giới có những tác phẩm nói về tên họ Manh nha nghiên cứu về tên người ở Trung Quốc đã bắt đầu từ những năm 2852 trước Công Nguyên, khi vua Phục Hi ra lệnh bắt dân chúng phải có một “gia tính” hay “tộc tính” để dễ phân biệt các hệ phái gia đình và định phép tắc hôn nhân Các nghiên cứu phát triển nhanh và nhiều hơn vào Ðời Tấn (265 - 420) Cho tới tận trước thế kỉ XIX, ở Trung Quốc, nhân danh học mới chỉ dừng lại ở việc khảo sát và tìm hiểu cội nguồn cũng như phân loại họ và tên Tuy

Trang 21

nhiên, bước sang thế kỉ XX là sự phát triển mạnh mẽ của ngành nhân danh học ở Trung Quốc Với lịch sử lâu đời cũng như những nghiên cứu sâu rộng của mình, Trung Quốc là một trong những quốc gia có thư mục về nhân danh học phong phú nhất trên thế giới Các nhiều tác giả đã công bố các tác phẩm của mình về nhân

danh học Theo tác giả Sheau Yueh J Chao, trong tác phẩm “In Search of Your Asian Roots”, ở Trung Quốc có khoảng 210 tác phẩm nói về tên họ Trong đó, có những tác phẩm mang tính chất chuyên ngành và được đánh giá cao như “Trung Quốc Tính Thị Đại Toàn” của Trần Minh Nguyên và Vương Tống Hổ; “Phân tích thống kê cách dùng chữ trong họ tên” của NXB Ngữ Văn năm 1986; “Họ tên và văn hoá trung hoa” của Hà Hiểu Minh năm 2001; “Bàn về văn hoá tên người trong tiếng Hán” của Dương Dương năm 2004, [theo 22; tr.13]

Là châu lục có nhiều đặc điểm thú vị về cách đặt tên, châu Âu có nhiều công trình về nhân danh học xuất hiện khá sớm Những tác phẩm khởi đầu cho nhân danh học tại châu Âu thường gắn với các tác phẩm kinh Thánh, bởi ở đó, đề cập tới tên các vị thánh thần, tên con chiên,

Hiện nay, Mỹ là quốc gia có nhiều nhà nhân danh học gạo gội và sở hữu một

số lượng tài liệu nghiên cứu danh học phong phú nhất trên thế giới Tập san

“Names” do Tổ chức American Name Society xuất bản từ năm 1951 đến nay đã phổ biến những tin tức, tài liệu liên quan đến danh học trên toàn thế giới Một trong những nhà nhân danh học có ảnh hướng lớn ở nước Mỹ là cố Giáo sư Elsdon C

Smith Ông sở hữu hơn 1.200 cuốn sách về danh học Trong tác phẩm “Personal Names – A Bibliography” (1952), ông đã liệt kê tổng 3.415 tài liệu về tính danh học

được xuất bản ở Mỹ và Anh Đây là kho tài liệu dồi dào và phong phú cho bất kì nhà nhân danh học nào khi nghiên cứu lĩnh vực này

1.2.1.2 Lược sử nghiên cứu nhân danh học ở Việt Nam

Ngành nhân danh học ở Việt Nam thực sự được hình thành năm 1954 thông qua tác phẩm “Tên người Việt Nam” của Nguyễn Bạt Tuỵ Công trình được công

bố trong tập san của hội Khuyến học Nam Việt Trong đó, Nguyễn Bạt Tuỵ liệt kê

308 họ người Việt và vấn đề tổng quát về chữ lót (tên đệm) và tên đẻ (tên chính) Tuy nhiên, những tài liệu về nhân danh học ở Việt Nam nằm rải rác từ trước đó rất

lâu trong các bộ cổ sử như Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư, Quốc Triều Hình Luật, Khâm Ðịnh Ðại Nam Hội Ðiển Sự Lệ, Ðại Nam Thực Lục v.v…Từ cuối thế kỷ

Trang 22

XVIII đã có các loại sách ghi tên những bề tôi nổi tiếng, gọi là “Danh thần lục”, sách ghi những người đỗ tiến sĩ, gọi là “Đăng khoa lục”, trong đó tiêu biểu là các cuốn “Đại Việt lịch triều đăng khoa lục” (1779) của Nguyễn Hoàn,” Quốc triều đăng khoa lục” (1894) của Cao Xuân Dục

Nhân danh học không chỉ nhận được sự quan tâm của các học giả Việt Nam trong nước mà còn ở nước ngoài Có thể kể đến các tác phẩm tiêu biểu như “Những cuộc đổi họ lớn trong lịch sử" của Trần Gia Phụng (1988); “Người Việt tên Mỹ - Vấn đề cần suy nghĩ “của Nguyễn Đức Mai (1999); Giáo sư Vũ Hiệp viết bài: “Tìm hiểu nguồn gốc và sự phát triển của một số dòng họ tiêu biểu của người Việt Nam” (2001); “Xưng hô trong gia đình Việt Nam” của Nguyễn Đăng Trúc (2002), “Cách xưng hô trong xã hội Việt” của Hoàng Đức Phương (2002)

Các công trình nghiên cứu liên quan đến nhân danh học ở Việt Nam bao gồm các cuốn sách, bài báo, công trình khoa học như luận văn, luận án từ sau 1954 đến nay cũng rất đa dạng Trong đó, đề cập nhiều nhất là các công trình về nhân danh, tên riêng, tên người cũng như những vấn đề văn hoá – xã hội – ngôn ngữ liên quan Các công trình tiêu biểu như:

- Họ và tên người Việt Nam, tác giả Lê Trung Hoa năm 1992 của nhà xuất

bản Khoa học Xã hội Cuốn sách này được hoàn thiện từ luận án cùng tên của tác giả Đây là một công trình có tính hệ thống và được đánh giá cao trong giới nhân danh học Trong tác phẩm này, tác giả đưa ra cái nhìn toàn diện về lịch sử, chức năng, nguyên tắc đặt tên và cả quy tắc viết hoa tên người Quan trọng hơn, tác giả đã đề cập được từng yếu tố trong tên gọi người Việt như tên họ, tên đệm, tên chính và các nhóm danh hiệu;

- Đặc điểm của lớp tên riêng chỉ người (chính danh) trong tiếng Việt của tác

giả Phạm Tất Thắng Một luận án Phó tiến sĩ tại Viện Ngôn ngữ học, Viện Khoa học

xã hội Việt Nam, năm 1996 Trong công trình này, tác giả đã nêu bật những khái niệm cơ bản của danh học và vấn đề nghiên cứu nhân danh học ở Việt Nam Tác giả cũng đồng thời chỉ ra đặc điểm cấu tạo cũng như ý nghĩa tên riêng người Việt cũng như cách thức sử dụng tên riêng trong giao tiếp Đây được xem là công trình nghiên

cứu chuyên sâu và có hệ thống về tên người trên quan điểm ngôn ngữ học;

- Khảo sát đặc điểm cấu trúc- ngữ nghĩa của tên người Anh của tác giả

Nguyễn Việt Khoa là một luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ tại khoa Ngôn ngữ học,

Trang 23

Đại học khoa học xã hội và nhân văn, Hà Nội, năm 2002 (đã được phát triển

thành luận án Tiến sĩ);

- Đặc điểm cấu trúc ngữ nghĩa của tên (chính danh) người Nhật (có đối chiếu với tên người Việt) của tác giả Vương Đình Hòa – luận văn Thạc sĩ bảo vệ tại khoa Ngôn ngữ học, Đại học khoa học xã hội và nhân văn, Hà Nội, năm 2005;

- Những đặc trưng xã hội - ngôn ngữ học của tên riêng chỉ người trong tiếng Việt của tác giả Vũ Thị Kim Hoa, luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ tại khoa Ngôn

ngữ học, trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn, Hà Nội, năm 2005 Luận văn miêu tả cấu trúc của tên thật người Việt; khảo sát và miêu tả những đặc trưng về mặt xã hội học của tên thật người Việt Qua đó, luận văn góp phần làm rõ bản chất

xã hội của các tín hiệu ngôn ngữ và có ý nghĩa trong việc tìm hiểu những giá trị

truyền thống, văn hóa của người Việt thông qua cách đặt tên và gọi tên;

- Nghiên cứu tên người trên bình diện ngôn ngữ học – xã hội, in trong

“Những vấn đề ngôn ngữ học xã hội” là một đề tài cấp Viện do Nguyễn Văn Khang

chủ nhiệm năm 2006;

- Đặc điểm cấu tạo của tên gọi thần linh đất Việt của tác giả Nguyễn

Phượng Anh, luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ tại khoa Ngôn ngữ học tại trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn, Hà Nội năm 2007 Trong công trình này, tác giả khảo sát, miêu tả, phân tích và làm sáng tỏ các đặc điểm cấu tạo hình thức và nội dung ý nghĩa của tên thần linh đất Việt Tác giả đồng thời đưa ra các nội dung của tên thần vừa có ý nghĩa biểu chỉ vừa có ý nghĩa biểu tượng nhằm góp phần vào những kết quả

nghiên cứu đã có về văn hóa tín ngưỡng dân gian cũng như chuyên ngành danh học;

- Tìm hiểu về tên gọi sông hồ ở Hà Nội của tác giả Phạm Tất Thắng được

in trong “Những vấn đề ngôn ngữ học: Học tập ngôn ngữ Hồ Chí Minh - Tiếng Hà

Nội với ngôn ngữ văn hoá Việt Nam” năm 2007;

- Đặc điểm văn hóa - xã hội của tên riêng chỉ người trong tiếng Việt,

của tác giả Phạm Tất Thắng (Chủ nhiệm) là đề tài khoa học cấp cơ sở của Viện

Ngôn ngữ học, năm 2013;

Có thể nói các công trình nghiên cứu nhân danh học ở Việt Nam khá toàn diện, sâu sắc và đem lại những đóng góp rất lớn cho lĩnh vực nghiên cứu nhân danh học ở Việt Nam Tuy nhiên, bức tranh nhân danh học sẽ hoàn thiện hơn nếu có

Trang 24

những mảnh ghép nghiên cứu chuyên sâu các loại tên người, mà cụ thể ở đây, chúng tôi lựa chọn biệt danh để hoàn thiện hơn bức tranh đó

1.2.2 Tên người và một số vấn đề hữu quan

1.2.2.1 Khái niệm tên người

Trong sự phân loại tên riêng của các học giả, có thể nói tên người chiếm một

vị trí quan trọng Theo Hoàng Tuệ, tên riêng được chia thành 5 loại: tên người, tên nơi chốn, tên thời kì, thời điểm, sự kiện lịch sử, tên tổ chức và tên công trình [38; tr.231] Một cách chi tiết hơn, Phạm Tất Thắng phân chia tên riêng thành:

- Tên người (nhân danh)

- Tên Thánh, Thần, tên Phật

- Tên văn vật

- Tên thời đại, thời kì, thời nhật

- Tên công trình kiến trúc, cơ quan xí nghiệp, tàu bè, vũ khí

- Tên sách báo, vở diễn, phim ảnh

- Tên sự kiện, phong trào xã hội, nhân vật, địa danh lịch sử, nhãn hiệu hàng hoá

- Tên đất (địa danh)

- Tên các vùng không gian vũ trụ, thiên hà, chòm sao

- Tên các thiên thể

- Tên các thiên tai

- Tên gia súc, gia cầm

- Tên cỏ cây hoa lá [31; tr.20]

Cho dù có phân loại thế nào, tên người cũng nằm trong danh sách ưu tiên hàng đầu của nhân danh học nói riêng và danh học nói chung Tên người hay còn được dùng với thuật ngữ “nhân danh” dùng để chỉ tên của người nói chung Theo Phạm Tất Thắng, “có thể sử dụng thuật ngữ “Tổ hợp định danh” (THĐD) để chỉ loại đơn vị định danh tên người Theo đó, tên người là một THĐD gồm ba bộ phận: tên họ, tên đệm và tên cá nhân Như vậy, THĐD ở Việt Nam hay trên thế giới nói chung được cấu tạo từ “Tên họ”, “Tên đệm” và “Tên cá nhân” tuỳ theo vị trí quy định của từng vùng miền Ngoài THĐD, người Việt còn nhiều loại tên khác

như: tên cúng cơm, tên hiệu, tên huý, tên thánh, tên thuỵ, tên tục, tên tự, biệt danh (nickname), bút danh, nghệ danh mà có thể có hoặc không được cấu tạo theo cách

Trang 25

một THĐD cấu tạo Trong sự phù hợp với mục tiêu nghiên cứu của luận văn,

những cái tên này sẽ được làm rõ ở phần “Các loại tên người”

1.2.2.2 Lược sử nghiên cứu tên người

Như đã từng đề cập ở phần lược sử nhân danh học, nhân danh học có một lịch sử khá lâu đời, tuy nhiên, ngành khoa học nghiên cứu về tên người chính thức

ra đời vào khoảng cuối thế kỉ XIX ở các nước phương Tây như Anh, Mỹ, Thuỵ Điển và các nước phương Đông như Trung Quốc, Nhật Bản, Sự ra đời của nhân danh học với tư cách một môn khoa học chính thức nghiên cứu chuyên sâu về tên người giúp cho nghiên cứu tên người được mở rộng và chuyên sâu hơn từ đặc điểm cấu tạo đến ngữ nghĩa và những vấn đề ngôn ngữ - xã hội liên quan đến tên người Nghiên cứu tên người Anh cuối thế kỉ XIX tiêu biểu với các tác phẩm nghiên

cứu tên người trên phương diện sử học và ngôn ngữ học như “An index of Arthurian Names in Middle English” (1867) của Robert W Ackerman, “English surnames” (1875) của M A Lower, “Homes of Family names in Great Britain” (1890), Chuyển

sang thế kỷ XX, tên người Anh đã được nghiên cứu một cách toàn diện hơn thông qua

các cuốn từ điển tiêu biểu như “A Dictionary of English and Welsh Surnames” (1901), của Charles Wareing Bardsley”, “Penguine Dictionary of Surnames ” của Basil Cottle (1967), “A Dictionary of First Names (1990)” của Flavia Hodges, “A Dictionary of English Surnames” (1991) của P H Reaney và R M Wilson”,

Không chỉ vậy, các học giả nước ngoài có ảnh hưởng lớn đối với con đường nghiên cứu tên người Trung Quốc Tiêu biểu như L H Lewis Henry Morgan (nhà dân tộc học người Mỹ) và James George Frazer (nhà dân tộc học người Anh) Chính họ

đã mở rộng tầm nhìn cho việc nghiên cứu tên người ở Trung Quốc Từ đó, nhiều

công trình về tên người ra đời như: Trung quốc gia phả lược sử (năm 1930); Trung Quốc cổ đại Tính Thị chế độ Nghiên cứu; Tính và Thị (1950); Triệu Thụy Dân - tính danh Trung Quốc Văn Hóa (1988); Trương Liên Phương - Trung Quốc nhân đích tính danh (1992); Nạp Nhật Bích Lực Qua - Tính Danh Luận (1997); Dương Dương - Hán ngữ nhân danh văn hóa phóng đàm (2013)

Những nghiên cứu về tên người ở Việt Nam được mở đầu bằng những quan điểm xung quanh vấn đề thống nhất cách viết hoa tên riêng trong đó có tên người Việt vào khoảng những năm 70 của thế kỉ trước Thông qua đó, người Việt đã tìm hiểu sâu hơn về đặc điểm cấu tạo, ngữ nghĩa cũng những khía cạnh ngôn ngữ và xã

Trang 26

hội liên quan đến tên riêng Các công trình nghiên cứu tổng thể về tên người Việt

tiêu biểu như: “Tìm Hiểu Tên, Bút Hiệu Của Văn Nghệ Sĩ Tiền Chiến, Hiện Ðại (1973) của Vũ Bằng; “Vài Nét Về Tên Người Việt” (1975) của tác giả Nguyễn Kim Thản; “Và Tương Lai Của Tên Riêng Trong Người Việt Nam” (1976) của tác giả Trần Ngọc Thêm; Họ và tên người Việt Nam (1992), tác giả Lê Trung Hoa; “Đặc điểm của lớp tên riêng chỉ người (chính danh) trong tiếng Việt” (1996) của tác giả Phạm Tất Thắng; “Khía cạnh tâm lí xã hội trong tên người” (1996) của tác giả Trần Thị Minh Đức; “Tên Người Việt Nam” (1998) của tác giả Nguyễn Ngọc Huy; “Cấu tạo của tên gọi thần linh đất Việt” (2008) của tác giả Phạm Tất Thắng; Các công trình nghiên cứu chuyên sâu về tên họ như “Về số phận của các họ ghép và họ kép của người Việt” (1999) của tác giả Phạm Hoàng Gia; tên đệm (tên lót) như “Vài Nhận Xét Về Yếu Tố Ðệm Trong Tên Gọi Người Việt (1988) của tác giả Phạm Tất Thắng; “Việc chọn chữ lót cố định cho dòng họ có từ bao giờ” (2002) của tác giả Phạm Thuận Thành; tên cá nhân (tên chính) như “Cách đặt tên chính của người Việt” (1992) của tác giả Lê Trung Hoa,

Như vậy, tên người Việt được khai thác khá đầy đủ từ tên họ, tên đệm (tên lót), tên cá nhân (tên chính) đến bút hiệu, tên gọi thần linh, tên sông hồ, Tuy nhiên, như đã đề cập ở trên, tên riêng trong tiếng Việt không chỉ dừng lại ở đó Còn có tên cúng cơm, tên hiệu, tên huý, tên thuỵ, tên thánh, tên tục, biệt danh Những công trình nghiên cứu về những cái tên khác này chưa được thực hiện nhiều, và đó cũng

là một lĩnh vực cần nhiều hơn nữa các nghiên cứu của các học giả quan tâm để đóng góp những lý luận cũng như thực tiễn làm phong phú thêm tên riêng Việt Nam nói riêng và nhân danh học Việt Nam nói chung

1.2.2.3 Các loại tên riêng

Như đã trình bày ở trên, ngoài tổ hợp định danh (THĐD) còn có nhiều loại tên người khác như tên cúng cơm, tên hiệu, tên huý, tên thánh, tên thuỵ, tên tục, tên tự, biệt danh (nickname), bút danh, nghệ danh Những cái tên này được chúng tôi phân loại như sau: (1) các loại tên được sử dụng dành cho vua chúa ở Việt Nam; và (2) các loại tên được sử dụng cho thường dân ở Việt Nam

(1) Các loại tên được sử dụng dành cho vua chúa ở Việt Nam

a) Ðế hiệu

Trang 27

Đế hiệu là một pháp chế chính trị phát xuất từ triều đình Trung Quốc “Đế hiệu” được hiểu là tên triều đại của một vị vua được công bố trong ngày lễ đăng quang để minh chứng với thần dân trong nước vua là chủ, người cao nhất của một đất nước, là thiên tử “Đế hiệu thường là các danh từ Hán Việt và chỉ có duy nhất một đế hiệu trong suốt quá trình trị vì.” [theo 30; tr.6] Nhìn chung, “đế hiệu” có hai loại: (1) “Đế hiệu” có từ đế hay hoàng đế; (2) “Đế hiệu” có từ vương, chẳng hạn như Nam Bình Vương (Vua Lý Thánh Tông), An Nam Quốc Vương (Vua Trần Thánh Tông), An Nam Đại Vương (Thái Thượng Hoàng Trần Thái Tông)

b) Niên hiệu

Theo từ điển Hoàng Phê, “niên hiệu” là “tên của vua đặt ra để tính năm trong thời gian mình trị vì” [67; tr.939] Chẳng hạn vua Minh Mạng (Minh Mệnh) trị vì trong khoảng thời gian từ 1820 đến 1840; năm 1820 được tính là Minh Mạng năm thứ nhất, 1821 là Minh Mạng năm thứ hai… 1840 là Minh Mạng năm thứ hai mốt Niên hiệu được dùng để dân chúng gọi một ông vua trong một thời kì nhất định nên khi xưa dân gian chỉ biết niên hiệu chứ không biết tên thật của vua

Khác với “Đế hiệu”, một ông vua có thể có một hoặc nhiều niên hiệu Điển hình là vua Lý Nhân Tông (1072 – 1127) có tất cả 08 niên hiệu Trong khi đó các vua triều Nguyễn dù trị vì trong thời gian dài hay ngắn đều chỉ lấy một niên hiệu như Gia Long (1802 – 1819), Minh Mạng (1820 – 1840), Thiệu Trị (1841 – 1847),

Tự Đức (1848 – 1883),…

c) Tôn hiệu

Tôn hiệu là “tên vua được triều đình đặt trong những ngày đặc biệt như ngày lên ngôi hoàng đế, ngày thượng thọ ngũ tuần, lục tuần, ngày thắng trận trở về.” [42; tr.153] Trong các dịp này, đình thần tổ chức buổi lễ mừng, đồng thời dâng lên vua một tôn hiệu để ca ngợi vua Khi Đinh Bộ Lĩnh (968 - 979) lên ngôi hoàng đế, đình thần dâng tặng tôn hiệu: Ðại Thắng Minh Hoàng Ðế

d) Thụy hiệu

Thụy hiệu được gọi là thánh thụy hay tên thuỵ, theo từ điển Hoàng Phê, là tên thời phong kiến dùng đặt cho người có sự nghiệp, công trạng sau khi chết” [67; tr.1167] Trong Hán tự, thụy nghĩa là tốt, thụy hiệu nghĩa là tên tốt Để tôn vinh các tôn vương, con cháu thường ghép miếu hiệu với thánh thụy Chẳng hạn như Thế Tổ

Trang 28

Cao hoàng trong đó: THĐD là Nguyễn Phúc Anh, miếu hiệu là Thế Tổ, thuỵ hiệu là Cao Hầu hết tên thụy đều hàm ý ca ngợi đức tính như trung tín, cần mẫn, ngay chính e) Miếu hiệu

“Miếu hiệu là tên hiệu mà một ông vua mới lên ngôi đặt cho ông vua vừa băng hà để thờ cúng” [30; tr.16] Ví dụ vua Lý Công Uẩn có miếu hiệu là (Lý) Thái

Tổ, vua Lê Lợi có miếu hiệu là (Lê) Thái Tổ, vua Lê Tư Thành có miếu hiệu là (Lê) Thánh Tông, vua Nguyễn Phúc Thì (Tự Đức) có miếu hiệu là (Nguyễn) Dực Tông, vua Nguyễn Huệ (Quang Trung) có miếu hiệu là (Nguyễn) Thái Tổ,…

(2) Các loại tên được sử dụng dành cho thường dân ở Việt Nam

Các loại tên thường dùng của thường dân ở Việt Nam được đề cập trong luận

văn của chúng tôi bao gồm: biệt danh, bí danh, bút danh, nghệ danh, tên cúng cơm, tên hiệu, tên huý, tên tôn giáo, tên tục, tên tự Đối tượng nghiên cứu của luận văn là biệt danh, thuộc các loại tên được sử dụng dành cho thường dân ở Việt Nam Tuy

nhiên, trước khi đi vào nghiên cứu biệt danh, chúng tôi sẽ đề cập tới các loại tên khác trước và sẽ làm rõ hơn về biệt danh ở phần sau

a) Bí danh

Theo từ điển Hoàng Phê, “bí danh” là “tên dùng thay cho tên thật [để giấu tên thật].” [67; tr.84] Cụ thể hơn, bí danh là tên thay cho tên chính được dùng vào mục đích chính trị Một đảng viên, một người làm trong ngành an ninh, tình báo thường được Đảng hay cơ quan đặt cho một bí danh với mục đích gây cho đối

phương khó khăn khai thác lý lịch Ví dụ như “Nguyên thủ tướng nước Cộng hoà

xã hội chủ nghĩa Việt Nam Võ Văn Kiệt có bí danh là “Sáu Dân””

b) Bút danh/ bút hiệu

Bút danh hay còn gọi là bút hiệu của các văn nghệ sĩ, ký giả như nhà văn, nhà thơ, nhà báo, nhà nghiên cứu, nhạc sĩ, hoạ sĩ chọn để thay cho tên chính, đi kèm với tên chính để xác nhận quyền tác giả trên những tác phẩm văn chương, nghệ thuật Theo từ điển Hoàng Phê, “bút danh” là “tên riêng [khác với tên thật] tác giả dùng để ghi vào tác phẩm của mình.” [67; tr.127] Bút hiệu có thể gồm một từ, hai

từ, ba từ, hoặc là một THĐD, tên nước ngoài, tên viết tắt,

c) Nghệ danh

Nghệ danh là “danh hiệu của giới nghệ sĩ trong các ngành ca nhạc kịch, hội họa, điêu khắc gia, ” [theo 30; tr.37] Trải qua thời gian, dưới tác động của các

Trang 29

nhân tố kinh tế - văn hoá - xã hội, nghệ danh thay đổi đa dạng: mang ý nghĩa, thẩm

mỹ, tượng trưng, tượng hình,

d) Tên cúng cơm

Theo từ điển Hoàng Phê, “tên cúng cơm” hay còn được gọi là “tên hèm” là

“tên thật [của người đã chết] dùng để khấn khi cũng giỗ.” [67; tr.1166]

e) Tên hiệu

Theo từ điển Hoàng Phê, tên hiệu là “tên tồn tại bên cạnh tên vốn có, do người trí thức thời phong kiến tự đặt thêm cho mình [thường là một từ ngữ Hán Việt có ý nghĩa].” [67; tr.1166]

“Theo định nghĩa của học giả Trung Quốc Sheau Yueh J Chao, “tên hiệu hay biệt hiệu là tên của nhà nho dùng để ghi dấu nơi chốn một người được giáo dục về mặt tri thức và đạo đức, đồng thời là nơi dùng để sáng tác hay biên soạn các tác phẩm văn chương, học thuật.” Theo Nguyễn Long Thảo, tên hiệu của các nho sĩ Việt Nam

có thể được chia thành ba loại sau: (1) tên hiệu chỉ nơi sinh hoạt trí thức; (2) tên hiệu chỉ nơi sinh quán; và (3) tên hiệu chỉ đức tính hay triết lý sống [30; tr.28]

f) Tên huý

Theo từ điển Hoàng Phê, “tên huý là tên do cha mẹ đặt từ lúc nhỏ, sau khi trưởng thành thường được thay thế bằng tên khác và thường kiêng không nhắc hay gọi đến theo tục lệ cũ.” [67; tr.1166] Hiện nay, tên huý và những quan niệm về tên huý tuy không còn quy định trong điều luật và khắt khe nữa, nhưng vẫn là luật “bất thành văn” Chính tục kiêng huý này mà trong tiếng Việt có hàng loạt từ bị nói và

viết chệch đi: chu thành châu, hoa thành huê, hoàng thành huỳnh, vũ thành võ, mệnh thành mạng, phúc thành phước, nhậm thành nhiệm,

g) Tên tôn giáo

Tên tôn giáo là tên của những người theo tôn giáo Chẳng hạn những người theo Phật giáo có pháp danh, pháp tự, pháp hiệu còn những người theo Công giáo

có tên thánh Khi một Phật tử xuất gia đi tu và được thế độ làm tăng, vị bổn sư sẽ đặt cho Phật tử đó một pháp hiệu, đôi khi còn gọi là pháp tự Pháp hiệu là tên chính thức của vị tu sĩ trong suốt cuộc đời hành đạo Còn tên thánh, theo từ điển Hoàng Phê, là “tên lấy theo tên của một vị Thánh, do linh mục đặt thêm cho người theo Công giáo khi làm lễ rửa tội.” [67; tr.1167]

h) Tên tự

Trang 30

Theo từ điển Hoàng Phê, “tên tự” là tên đặt bằng từ Hán - Việt và thường dựa theo nghĩa của tên vốn có, thường phổ biến trong giới trí thức thời trước [67; tr.1167] Tên tự ra đời với mục đích kiêng kị với tên chính, do đó, nguyên tắc cơ bản khi đặt tên tự là mối liên hệ với tên chính Tên tự có thể bao gồm hai,

ba hoặc bốn chữ nhưng phần lớn là hai chữ, trong đó một trong hai chữ có mối liên hệ với tên chính Chữ này được đặt theo bốn phương pháp sau: (1) dùng những chữ đồng nghĩa; (2) dùng phương pháp loại suy; (3) dùng điển tích để đặt tên tự; và (4) dùng tiếng phản nghĩa để đặt tên tự Từ còn lại được thêm vào dựa trên ba nguyên tắc sau: (1) để chỉ thứ cấp trong họ hàng; (2) để chỉ sự tôn kính;

và (3) để hài hoà với tên tự và ý nghĩa đẹp

i) Tên tục

Theo từ điển Hoàng Phê, “tên tục là tên do cha mẹ đặt cho lúc mới sinh, thường xấu xí, chỉ dùng để gọi khi còn nhỏ nhằm tránh sự chú ý quấy phá của ma quỷ, theo quan niệm cũ.” [67; tr.1167]

Trước khi bị buộc phải làm giấy khai sinh cho trẻ sơ sinh, tên tục khá phổ biến

và tạo thành một quan niệm xã hội và là nét văn hoá của người Việt Trước đây, cuộc sống của người Việt còn gặp nhiều khó khăn, trẻ em thường bị chết yểu bởi rất nhiều

lý do Người ta giải thích vì tà ma thích bắt những đứa trẻ đẹp, nên từ quan niệm này,

có hai nét văn hoá về tên tuy không còn phổ biến nhưng vẫn tồn tại cho tới thời nay: (1) các bậc cha mẹ không muốn ai khen con mình đẹp, và (2) cha mẹ đặt tên xấu cho trẻ nhằm đánh lừa tà ma và không bị bắt đi Tên tục phổ biến như thằng Cu, con Đĩ, cái Hến, cái Hĩm, thằng Cò, thằng Cún, Những cái tên tục thường là chỉ bộ phận sinh dục, chỉ sự dơ bẩn, hay là tên loài vật, Do bắt nguồn từ quan niệm tránh tà ma, nên khi trẻ lên khoảng 5 đến 10 tuổi, nghĩa là gần như đã qua thời gian dân gian tin là

dễ bị tà ma chú ý, cha mẹ sẽ đặt tên chính thức cho con Khi tên chính thức đã có, tên tục ít được nhắc đến bởi đó là xúc phạm đến danh dự Quan niệm đặt những tên xấu (tên tục) tuy không còn phổ biến tuy nhiên vẫn còn đâu đó những kiêng kị nên đặt tên xấu cho dễ nuôi nên các biệt danh xấu vẫn được sử dụng khá phổ biến Các biệt danh loại này thường là chữ Nôm Theo quan điểm của người Việt trước đây, trẻ em thường chết yểu và được giải thích do tà ma thích bắt những đứa trẻ đẹp hay có tên chính đẹp Do đó, cha mẹ dường như cũng không ai thích khen con đẹp, sợ tà ma

Trang 31

biết mà bắt đi Từ tục lệ đó, các tên tục như “Hĩm”, ““Tũn”, “Khoai Lang”, “Khoai Tây”, “Cu Tũn”, được đặt để đánh lừa tà ma

1.3 Biệt danh và một số vấn đề hữu quan

1.3.1 Khái niệm “biệt danh”

Ngoài những cái tên đã được nêu ở trên, còn có một loại tên mà các nhà tính danh học Anh – Mỹ gọi là “nickname”, trong tiếng Pháp là “Sobriquet”, trong tiếng Latin là “Agnomen”, trong tiếng Việt chúng tôi dùng thuật ngữ “biệt danh”

Các nghiên cứu về biệt danh ở Việt Nam rất ít Trong công trình “Sơ thảo tính danh học Việt Nam”, Nguyễn Long Thảo dành một mục trong chương 5 để nói

về “biệt hiệu” (chữ dùng của Nguyễn Long Thảo)

Theo định nghĩa của học giả Trung Quốc Sheau Yueh J Chao, “tên hiệu hay biệt hiệu là tên của nhà nho dùng để ghi dấu nơi chốn một người được giáo dục về mặt tri thức và đạo đức, đồng thời là nơi dùng để sáng tác hay biên soạn các tác phẩm văn chương, học thuật.” [59; tr.xi]

Trong quan điểm của chúng tôi, thuật ngữ “nickname” trong tiếng Anh được dùng trong tiếng Việt là “biệt danh” bởi “hiệu” hay “tên hiệu” là tên được các nhà nho hay dùng để biểu lộ tư tưởng, đức tính, ý muốn, sở thích của mình, mang tính chất văn

chương, học thuật Còn biệt danh, theo từ điển Hoàng Phê, là “tên người nói chung ngoài tên chính thức thường gọi” Một cách dễ hiểu hơn, có thể hiểu “biệt danh” là

những cái tên mang tính chất đặc biệt

Theo Elsdon C Smith, “biệt danh (nickname) là tên mà người khác đặt thêm vào tên chính hoặc thay thế cho tên chính của một người, một vật, hay một nơi chốn

để bày tỏ tình cảm yêu thương, kính trọng, hoặc chế diễu đùa cợt, hay để phân biệt những cá nhân trong cộng đồng.” [52; tr.77]

Theo James K Skipper, “biệt danh” (nickname) bắt nguồn từ một từ tiếng

anh cổ “eke name” Từ này dựa theo động từ “ecan” có nghĩa là “thêm vào hay gia tố” Theo đó, các biệt danh được thêm vào THĐD và cung cấp thông tin thú vị hơn

và chính xác hơn Các biệt danh thường đề cập đến một đặc điểm nào đó về một người hơn là chỉ cái tên chính thức của họ Biệt danh thường chỉ những đặc điểm hay minh hoạ cho tính cách, bề ngoài hoặc phong cách của một ai đó [77; tr.1] Theo Donna Starks và Kerry Taylor-Leech [51; tr.87-97], biệt danh mang lại công cụ sức mạnh cho cả bản thân người được đặt và những người khác Hầu hết

Trang 32

các biệt danh liên quan đến những đặc tính cá nhân của người sử dụng chẳng hạn như những mong muốn của người sử dụng Biệt danh, hiểu theo nghĩa rộng, vừa có

ý nghĩa tích cực vừa có ý nghĩa tiêu cực về bản thân người sử dụng và những người khác, nhưng thường là không chính xác Mặc dù các nền văn hoá khác nhau cùng tồn tại, các loại hình của biệt danh cho thấy rằng chúng có khuynh hướng tập hợp lại thành những nhóm cụ thể Biệt danh thường liên quan đến những đặc điểm các nhân ví dụ như chiều cao, cân nặng, màu tóc hay những thói quen và đặc điểm cá nhân của người sử dụng, thường là khả năng của người sử dụng Một số biệt danh lại có liên quan đến nguồn gốc cá nhân chẳng hạn như văn hoá hay tôn giáo Một số biệt danh lại chính là việc chơi chữ hay tên gọi âu yếm của cá nhân đó hay tên họ Theo George E Shankle, ngày nay người Mỹ sử dụng nhiều biệt danh hơn bất

kì dân tộc nào trên thế giới là điều không có gì phải nghi ngờ Họ đặt tên cho vợ, chồng, con cái, bạn bè, kẻ thù và cho hầu hết mọi đối tượng mà họ nhìn thấy hay sử dụng Không có cái tên nào quá thiêng liêng hay tối gian đến mức họ không thể rút ngọn hay giảm thiểu các yếu tố tạo thành một biệt danh có tính ảnh hưởng, hài ước

thậm chí để chế nhạo ai đó “Biệt danh là một từ lóng hay một tên gọi được sử dụng thay cho tên chính của một người, địa điểm hay vật.” [54; tr.VII] Một quan điểm khác

lại cho rằng: ngày nay theo lý thuyết, tên họ có thể nói đôi điều cá nhân cũng như diện mạo về một người khi chỉ vừa mới giới thiệu tên Chẳng hạn như một thị trấn có vào người tên là “John”, có thể một anh chàng John đẹp trai nào đó sẽ có biệt danh là

“John Beal” bởi “Beal” bắt nguồn từ “bel” – điển trai hoặc đáng yêu [76]

Theo quan điểm của Sharon Leggio, biệt danh là một điều gì đó mọi người rất quen thuộc Tuy nhiên, hầu hết mọi người gần như không có những kinh nghiệm

cá nhân với biệt danh Trong nền văn hoá của Ý và Mỹ, biệt danh đóng vai trò chính yếu trong cuộc sống thường nhật Biệt danh được cấu tạo từ những hình thức nhất định với tầm quan trọng nhất định Cho dù đối với những nền văn hoá khác tưởng chừng như biệt danh khá thô lỗ và ác nghiệt, thì biệt danh trong nền văn hoá của Ý

và Anh, là những lời âu yếm và mang ý nghĩa riêng [82]

Như vậy, biệt danh là tên thường được được nhiều người gọi theo hoặc công nhận Nó được gắn liền với một khả năng, tính cách, phong thái, hành động gây ấn tượng, mang tính so sánh của một người nào đó Biệt danh hiện nay được sử dụng rất đa dạng và phong phú Có những biệt danh được đặt thêm vào tên chính hoặc

Trang 33

thay thế cho tên chính để bày tỏ lòng ngưỡng mộ như Nguyễn Khuyến đỗ đầu ba kỳ thi Hương, Hội, Ðình và sinh quán ở làng Yên Đổ nên dân chúng gọi ông bằng biệt danh Tam Nguyên Yên Đổ, ; có những biệt danh lại mang ý nghĩa đùa cợt thường khai thác khía cạnh khiếm khuyết nơi cơ thể: Tiến Gầy, Hoa Cong, Quý Ròm, Minh Mập, hoặc để phân biệt những cá nhân cùng THĐD ví dụ như (Phạm Thị) Huyền đen, (Phạm Thị) Huyền Trắng; nhưng lại cũng có những biệt danh được đặt lúc sinh

ra mang tính kỉ niệm,

Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng thuật ngữ “biệt danh” trong phạm vi

hẹp, “trong tiếng Anh dùng thuật ngữ “nickname” là những cái tên dùng để xưng danh, mà người khác đặt thêm vào tên chính hoặc thay thế cho tên chính của một người, thường được đặt khi còn nhỏ (trước hoặc sau khi sinh, ban đầu được dùng bởi những thành viên trong gia đình hay người thân và gắn với những đặc tính cá nhân như diện mạo, tính cách, phong cách, sở thích hay các đặc điểm cá nhân để bày tỏ tình cảm yêu thương, hoặc chế giễu đùa cợt âu yếm, hay để phân biệt những

cá nhân trong cộng đồng.”

Theo định nghĩa trên, biệt danh được cấu tạo như sau: (1) tên riêng kết hợp với biệt danh; và (2) biệt danh (kết hợp với biệt danh)

1.3.2 Lược sử nghiên cứu biệt danh

Những nghiên cứu xã hội học của biệt danh hành chức đã chỉ ra rằng tên trong hành chức thường liên quan đến lĩnh vực sử dụng ngôn ngữ Chẳng hạn như những cái tên thường được đặt theo nhóm như trong nghiên cứu của Rymes (1996) hay Zaitzow (1998); trong quân đội như nghiên cứu của Potter (2007), của các đội bóng đá như nghiên cứu của Kennedy & Zamuner (2006), Skipper (1984); Wilson

& Skipper (1990); trong các cuộc đấu như những công trình của Adams(2008, 2009); Gladkova (2003); Lieberson (2007); và trong gia đình như nghiên cứu của Blum-Kulka & Katriel (1991); Goicu (2008); Goitein (1970) Phần lớn các nghiên cứu tập trung vào việc đặt tên trong nhà trường như nghiên cứu của Back (1991); Crozier & Dimmock (1999); Eliasson, Laflamme & Isaksson (2005); Kepenecki & Cinkir (2006); Kolawole, Otuyemi & Adeosun (2009); Thomas (1985)

Biệt danh là một trong những đề tài được nghiên cứu sâu rộng trong các ngôn ngữ bao gồm các nghiên cứu về biệt danh của những quốc gia sử dụng tiếng Anh của các nhà nghiên cứu điển hình như Chevalier (2004, 2006), Glazier (1987),

Trang 34

người Ai Len như Wilson (2008); người Tây Ban Nha như Brandes (1975), Fernandez (2008), Gilmore (1982); người Nga như Drannikova (2006), Shcherbak (2006), Superanskaya (2003); người Li-tu-a-ni như Butkus (1999); người Đức như Koss (2006); người Bantu (Nam Phi) như Klerk & Bosch (1997); người Zulu (Nam Phi) của Molefe (2001); người Trung Quốc như Wong (2007); người Ả-rập như Haggan (2008), Wardat (1997); người Hy Lạp như Lytra (2003); các ngôn ngữ bản địa khác ở Mê-xi-cô và Úc như Collier & Bricker (1970); và Nicholls (1995)

Những thống kê ngôn ngữ học về biệt danh có khuynh hướng tập trung vào các mặt âm vị học như công trình của Liao năm 2006 hoặc tập trung vào quá trình thành lập từ của biệt danh của Kennedy & Zamuner năm 2006 Các nghiên cứu về mặt phân loại hình học cũng đã được tiến hành trong một phạm vi hạn hẹp, những nghiên cứu về biệt danh cũng đã xem xét về cách thức biệt danh được sử dụng để miêu tả về những đặc điểm tính cách của người sử dụng và vai trò của biệt danh trong xã hội như nghiên cứu của McDowell năm 1981 và Wilson & Skipper năm

1990 Những nghiên cứu sau đó lại tập trung nghiên cứu về mặt xã hội của biệt danh trong hành chức Những công trình này không nằm trong phạm vi ngôn ngữ học mà thuộc các bài báo về xã hội học và giáo dục

Một đặc điểm đáng chú ý khác về tình trạng hiện tại của các nghiên cứu về biệt danh là cho dù có rất nhiều thông tin về các biệt danh hành chức của các nền văn hoá khác nhau trên thế giới, nhưng lại có rất ít các thông tin về các biệt danh trong hành chức ở các dân tộc thiểu số trong các nền văn hoá đó Những công trình

đó nghiên cứu văn hoá của các dân tộc thiểu số nhưng lại chia tách cộng đồng đó khỏi cộng đồng lớn hơn về mặt chính trị xã hội học

Những nghiên cứu về biệt danh của các dân tộc thiểu số như nghiên cứu của Brandes (1975) ở một ngôi làng tên Castilian Công trình tập trung vào nghiên cứu biệt danh hiện hành của một cộng đồng riêng biệt, chứ không xem xét biệt danh hành chức của một bộ phận dân cư trong đó có những cộng đồng thiểu số sinh sống Công trình đã vẽ lên một bức tranh về biệt danh trong hành chức trong một cộng đồng nhất định chứ không phải nghiên cứu chéo giữa các cộng đồng

Có rất ít nghiên cứu về biệt danh ở Australia và Newzealand Năm 1990, Poyton đã nghiên cứu về tên người Australia nói chung, trong đó Poyton có phân biệt sự khác nhau giữa những biệt danh dựa theo tên (dựa theo tên chính hoặc tên

Trang 35

họ), biệt danh dựa theo người nhận (dựa trên đặc tính của người được đặt tên) và biệt danh dựa theo sự kiện (là những biệt danh được phái sinh từ những sự kiện xảy

ra có ý nghĩa lớn trong cuộc đời của người đó)

Ở Australia chỉ có duy nhất một nghiên cứu chi tiết về biệt danh do Chevalier tiến hành năm 2006 Chevalier đã hoàn thiện một nghiên cứu rất chi tiết

về việc thực tế đặt tên của công dân Sydney dựa trên 304 bảng phỏng vấn Chevalier đã khảo sát cách người lớn và các thành viên trong gia định đặt tên và báo cáo dữ liệu của 498 người Nghiên cứu này rất hữu ích bởi nó đã cung cấp một số lượng đáng kể biệt danh và một bảng phân tích rất chi tiết các loại biệt danh Nghiên cứu của Chevalier bao gồm những thông tin về giới, tuổi, nghề nghiệp và quê quán cũng như ngôn ngữ mẹ đẻ Mặc dù mẫu được chia đều dựa theo tiêu chí tuổi tác, giới tính và cùng một nơi cư trú, tuy nhiên nghiên cứu ít mang tính cấu trúc bởi mẫu cũng bao gồm một số lượng nhỏ những người đến từ các quốc gia phi bản ngữ tiếng Anh và để mã hoá nhân tố nghề nghiệp Nền tảng ngôn ngữ của những người tham gia phỏng vấn cũng như bố mẹ và ông bà cũng được đề cập đề có thể so sánh sự khác biệt và mối tương quan giữa tính dân tộc và ngôn ngữ Nghiên cứu của Chevalier đề cập tới cả tên chính và biệt danh Đó là một nghiên cứu mang lại một bước khởi đầu hữu ích cho việc mã hoá các nghiên cứu trong tương lai [50; tr.125 - 137] Các nghiên cứu về biệt danh ở Australia thường tập trung chủ yếu vào giới trẻ cho dù biệt danh được chấp nhận khá rộng rãi rằng những kiểu hành chức ngôn ngữ như thế có cả mặt tích cực và tiêu cực trong nhận thức của người lớn

Ở Việt Nam, các nghiên cứu về biệt danh chưa được quan tâm nhiều Hầu hết các nghiên cứu tính danh học ở Việt Nam mới đề cập tới tên chính, tên đệm, tên

họ, xa hơn nữa là các nghiên cứu về tên thần linh hay tên hiệu Trong khi đó, các nghiên cứu về biệt danh là một đề tài khá mới mẻ đối với tính danh học Việt Nam Trong “Sơ thảo tính danh học”, Nguyễn Long Thảo dành một mục nhỏ để nói về biệt hiệu (chữ dùng của tác giả), định nghĩa biệt hiệu, cách đặt biệt hiệu và có so sánh với các nước phương Tây, chủ yếu là Anh và Mỹ Tuy nhiên, những nghiên cứu của Nguyễn Long Thảo mới chỉ dừng lại ở sơ lược lý thuyết liên quan đến biệt hiệu, mà chưa nghiên cứu biệt hiệu ở đặc điểm cấu tạo, ngữ nghĩa cũng như các vấn

đề ngôn ngữ xã hội liên quan đến biệt hiệu Chính vì vậy, chúng tôi thực hiện đề tài này để tìm hiểu nhiều hơn về biệt danh ở Việt Nam Từ đó đưa ra những đặc điểm

Trang 36

cấu tạo, ngữ nghĩa, cũng như các vấn đề ngôn ngữ - xã hội của biệt danh, cách dùng cũng như xu hướng đặt biệt danh ở Việt Nam

1.3.3 Phân loại biệt danh

Biệt danh, theo mỗi học giả, lại có những cách phân loại riêng Theo Morgan, biệt danh được phân loại như sau:

1) Một đặc tính: chẳng hạn như “Sugar” (Sweet) (ngọt ngào);

2) Một thuộc tính như trong trường hợp với từ “Wheaties” (lúa mì);

3) Một phép loại suy khẩu ngữ, chẳng hạn như tên “Marlene” được chuyển dịch là Maagarin (tiếng Nhật là Margarine) Đây cũng là một biệt danh;

4) Thuộc ngữ vật lý ví dụ “Jackie Amos” trở thành “Mosquito (con muỗi)

và ai đó có mắt lồi ra trở thành “Tombo” (nghĩa là Ruồi trong tiếng Nhật);

5) Một đặc tính dân gian hoặc phổ biến như Donald trở thành “Duck” (con vịt trong tiếng Nhật là “Genji” có nghĩa là “dân chơi” trong tiếng Nhật;

6) Các từ vần với nhau ví dụ “Harris” trở thành “Paris”;

7) Thêm tiền tố hoặc hậu tố “-ie” như vậy sẽ trở thành “Jackie”;

8) Chữ viết tắt của tên như “Daniel” thành “Dan”; [57; tr.120 - 123],

Theo Brett và Kate McKay, biệt danh được chia thành các loại sau:

- Biệt danh sở chỉ (referential nickname): là những biệt danh được công chúng đặt cho và thường được dùng để đặt tên cho các chính trị gia hay vận động viên thể thao Ví dụ như Thủ tướng thứ bảy của Anh Andrew Jackson được gọi là

“Old Hickory” (Cây mại châu già) Biệt danh thường ám chỉ tới ai đó – không nhằm chỉ họ một cách trực tiếp

- Biệt danh cá nhân (private nicknames): cũng được gọi là những cái tên đáng yêu (love-name) hay tên dành cho thú cưng (pet-name), những cái tên này được

sử dụng giữa những người yêu nhau Chẳng hạn như “Sweetie Pie” (bánh ngọt) or

“Honey Buns” (bánh mật)

- Biệt danh phổ biến (Public nickname): biệt danh phổ biến là loại biệt danh thường được gia đình hoặc bạn bè đặt cho một người khi còn nhỏ Cũng có khi những cái biệt danh này được dùng khi họ giới thiệu về bản thân mình với người mới gặp, bạn bè hay những mối quan hệ mà họ không biết tên thật Nếu như James được anh trai gọi là “Fuzz” từ khi còn nhỏ bởi vì tóc gáy của anh ta mọc quá nhanh sau mỗi lần cắt tóc Thêm vào đó, bố của James có đồng nghiệp là một anh chàng

Trang 37

trông không được sáng sủa cho lắm luôn gọi “Fuzz” là “Buzz” nên từ đó, mọi người đều gọi James với cái tên rất vui nhộn là “Buzz” Sau này, đây cũng là cái tên được mọi người và James giới thiệu

- Biệt danh di truyền (Generic nickname): những biệt danh này ít mang tính chất cá nhân, thay vào đó lại được đặt cho những người phù hợp với một đặc điểm nào đó Chẳng hạn như “Doc” được dùng để chỉ một bác sĩ; “Shorty” cho cá nhân có chiều cao khiêm tốn; “Paddy” được dùng để chỉ một người Ireland,

- Biệt danh nhóm (Group nicknames) là những tên được đặt cho các thành viên trong nhóm và chỉ được sử dụng trong nhóm Biệt danh nhóm thường dành riêng cho những người đàn ông, và mục đích cũng như chức năng chỉ có những người đàn ông trong nhóm mới có thể biết được [72]

Theo Diego Gambetta, biệt danh ở Italia đươc phân loại như sau:

- Các biệt danh mang tính chất cá nhân (Physical Nicknames) như

“u’Beddu” (có nghĩa là đẹp trai), “Il Gosso” (có nghĩa là mập), “Tignusu” (nghĩa là hói), “Pietro u’Zappuni” (để chỉ những người có hai răng thỏ”),

- Các biệt danh mang tính chất mô tả (Descriptive Nicknames) chẳng hạn

như “L’Ingegnere” (Kĩ sư - là người chịu trách nhiệm sửa chữa radio của các tàu buôn lậu); “Il Senatore” (Thượng nghị sĩ – người đàn ông không nắm chức vụ này

nhưng có liên quan đến chính trị và cũng rất được ủng hộ),

- Những biệt danh mang tính chất tước hiệu/ danh vị (Titled Nicknames)

ví dụ như “Reella Lalsa” (được dùng với nghĩa “Hoàng đế của Kalsa); “Principe di Villagrazia” (Hoàng tử của Villagrazia)

- Những biệt danh hành vi (Behavioral Nicknames) ví dụ “u’Tranquillu” (chỉ những người trầm lặng); “u’Guappo” (để chỉ những người hay khoe khoang, khoác lác); Farfagnedda (dùng để chỉ những người có tật nói lắp); “Studenete” (để

chỉ những sinh viên ở các trường đại học nhưng chẳng bao giờ tốt nghiệp)

- Biệt danh để chỉ các con vật (Animal Nicknames) ví dụ như “Il Cane” (nghĩa là chó); “Cavadduzza” (nghĩa là tiểu mã); “Conigghiu” (nghĩa là thỏ);

“Farfalla” (nghĩa là bướm)

- Những biệt danh để chỉ các khách thể (Objects Nicknames) chẳng hạn

như “Pinnaredda” (mang nghĩa ông bố trẻ); “Putina” (mang nghĩa đinh nhỏ)

Trang 38

- Những biệt danh để chỉ tên thực vật (vegetable nicknames) chẳng hạn

như “Milinciana” (để chỉ cây cà) hay “Cipudda” (để chỉ củ hành) [theo 72]

Theo Nguyễn Long Thảo, biệt hiệu được phân thành hai loại: (1) biệt hiệu để

tỏ lòng ngưỡng mộ; và (2) biệt hiệu để chế giễu đùa cợt Ông cũng cho rằng, cách

phân loại này có “giá trị tương đối vì biệt hiệu nào cũng tiềm ẩn ý nghĩa hài hước”

Theo đó, “biệt hiệu để tỏ lòng ngưỡng mộ” lại được chia thành bốn tiêu chuẩn: 1) Dùng học vị để đặt biệt hiệu Có hai cách dùng học vị để đặt biệt hiệu: (1) học vị phối hợp với sinh quan thành biệt hiệu tỏ lòng ngưỡng mộ; và (2) học vị phối hợp với tên chính làm thành biệt hiệu tỏ lòng ngưỡng mộ chẳng hạn như ông Nguyễn Hữu Huân (1841-1875) đỗ đầu kỳ thì Hương nên được gọi là Thủ Khoa Huân 2) Dùng địa danh để đặt biệt hiệu: Đức Thánh Chèm là biệt hiệu của Lý Ông Trọng, người Việt Nam làm tướng ở Trung Quốc đời nhà Tần, được dân chúng lập miếu thờ Ông được gọi như vậy vì tương truyền quê ông ở làng Chèm, huyện Từ Liêm, Hà Nội

3) Dùng đặc điểm tính tình, tài năng để đặt biệt hiệu: Có nhiều biệt hiệu dùng những đặc điểm về tính tình để đặt Ví dụ: Ông Hoàng Hoa Thám, là hùng

cứ vùng rừng núi Yên Thế, chống Pháp rất dữ dội nên dân chúng đặt cho ông là Hùm Xám Yên Thế Cũng có những biệt hiệu dùng tài năng của mỗi để đặt Ví dụ: ông Vũ Huyên giỏi cờ nên dân chúng đặt cho là Trạng Cờ Ông Vũ Phong giỏi vật được đặt là Trạng Vật

4) Biệt hiệu do cha mẹ đặt cho con cái Ngoài tên chính thức, cha mẹ hoặc các thành viên trong gia đình như ông bà, cô bác còn đặt thêm các tên cho trẻ, mang tính chất kỉ niệm hay để bày tỏ sự vui mừng cũng như yêu thương đối với đứa trẻ Loại tên này thường được đặt trong quá trình trước, trong khi mang thai hoặc sau khi sinh đến 3, 4 tuổi với các tên như Cún, Mít, Xoài,

Biệt hiệu để chễ giễu, đùa cợt lại được chia thành ba nhóm:

1) Biệt hiệu châm biếm liên quan đến hình dạng thân xác Đây là biệt hiệu

đề cập đến những khiếm khuyết của cơ thể ví dụ như Còi, Còm, Hói, Sứt,

2) Biệt hiệu châm biếm liên quan đến đức tính, thường là những tính xấu ví

dụ như Hóng, Le te, Giấm,

Trang 39

3) Sửa đổi tên để làm biệt hiệu châm biếm Đây là một loại biệt hiệu thường thấy trên báo chí là tên người được sửa đổi để châm biếm Ông Mao Trạch Ðông đã từng bị báo chí Việt Nam châm biếm gọi là Mao Xếng Xáng

4) Biệt hiệu châm biếm dựa trên nghề nghiệp: người Việt Nam cũng dùng các từ châm biếm về nghề nghiệp để đặt biệt hiệu Ví dụ các thầy lang được gọi là Lang Băm hay các luật sư được gọi là Thầy Cãi

Như vậy, biệt danh theo cách sử dụng rộng rãi, trong các lĩnh vực như thể

thao, văn hoá thậm chí là chính trị Tuy nhiên, trong luận văn này, biệt danh được thu hẹp phạm vi Đây là tên do cha mẹ hay những thành viên khác trong gia đình đặt cho con cái trước/ trong quá trình mang thai hoặc sau khi sinh Đây là loại biệt danh dùng để xưng gọi và để bày tỏ tình cảm đối với người được đặt Như vậy, loại tên này khác tên chính hoặc gọi kèm theo tên chính, được cha mẹ hoặc những người thân trong gia đình đặt trước, trong khi mang bầu hoặc sau khi sinh đến khoảng ba, bốn tuổi, thậm chí có những biệt danh được dùng đến khi trưởng thành

1.3.4 Phân biệt biệt danh với các loại tên riêng khác

Sự khác biệt cơ bản giữa tên chính và biệt danh là tên chính là tên chính thức được sử dụng trong các văn bản pháp lý được cha mẹ hoặc người thân đặt (đa số là do cha mẹ đặt) Còn biệt danh, không mang tính chất chính thức và có thể tự đặt hoặc những người xung quanh như cha mẹ, ông bà, bạn bè, thậm chí là hàng xóm, đặt cho Chính vì lý do đó mà biệt danh thường phản ánh tính cách của một người hơn là tên chính

Tên chính được bố mẹ đặt cho trẻ có sự kết hợp khuôn mẫu và sẽ theo suốt cuộc đời Trong khi đó, biệt danh lại phản ánh cách những người khác nhìn một người Tên chính thường được xếp hạng cao dựa theo thuộc tính thành công và đạo đức và được cho là phù hợp (hơn biệt danh) trong môi trường kinh doanh và chuyên nghiệp Nhưng ngược lại, biệt danh lại được xếp hạng cao ở khía cạnh vui vẻ và phổ biến Tên người không được lựa chọn một cách cố định

Biệt danh là những tên được dùng để thay thế cho tên chính hoặc thêm vào tên chính nhưng không mang tính chính thức Trong khi tên chính của một người được sử dụng để diễn tả sự tôn trọng thì sử dụng biệt danh lại là một hình thức không chính thức để gọi tên Ở những cộng đồng nhỏ, những biệt danh mang tính

Trang 40

chất châm biếm thường được sử dụng sau lưng người khác, trong khi những người được đặt tên thậm chí còn không biết về ý nghĩa tên gọi đó

Căn cứ vào những đặc điểm của biệt danh và tên tục, chúng tôi thấy rằng, giữa “biệt danh” và “tên tục” có những đặc điểm khá giống nhau Theo đó, cả tên tục và biệt danh đều là tên được gọi ở nhà giữa những người thân trong gia đình

và thường được đặt từ khi còn nhỏ Tuy nhiên, biệt danh cung cấp thêm nhiều thông tin cá nhân thú vị về người được đặt tên như hình dáng bề ngoài, tính cách, thói quen hay đặc điểm cá nhân còn tên tục lại được đặt bằng những cái tên xấu

để tránh sự chú ý, đe doạ của ma quỷ

Tiểu kết

Trong chương I chúng tôi đã đề cập đến những vấn đề lý luận tổng quát về danh học cũng như nhân danh học - ngành khoa học nghiên cứu tên người nói chung Chúng tôi cũng đã liệt kê những tác phẩm/ công trình nghiên cứu tiêu biểu ở các nước trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng về tên người Từ những công trình nghiên cứu tiêu biểu đó, chúng tôi nhận thấy rằng, những tác phẩm/ công trình nghiên cứu về biệt danh ở Việt Nam còn ít và chưa hệ thống

Đó cũng là lý do chúng tôi tiến hành đề tài này, để đóng góp những vấn đề lý luận cũng như thực tiễn cho nhân danh học Việt Nam

Cũng trong chương này, chúng tôi cũng đã đưa ra các vấn đề lý luận trong việc nghiên cứu biệt danh Những nền tảng cơ bản và quan trọng nhất để có thể nghiên cứu được những vấn đề về biệt danh trong luận văn này là những vấn đề về danh xưng học, nhân danh học, những lý thuyết về tên riêng nói chung, tên người

nói người hay các loại tên người khác như bí danh, bút danh (bút hiệu), nghệ danh, tên cúng cơm, tên hiệu, tên huý, tên tôn giáo, tên tục, tên tự Từ những cơ sở lý

luận này giúp chúng tôi tiếp tục tiến hành ở những chương tiếp theo khảo sát và phác hoạ đặc điểm cấu tạo - ngữ nghĩa cũng như cách sử dụng và xu hướng phát triển của biệt danh ở Việt Nam trong những năm tiếp theo

Ngày đăng: 12/06/2015, 10:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
16. Cao Xuân Hạo (1991), Tiếng Việt sơ thảo ngữ pháp chức năng - Tập I, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt sơ thảo ngữ pháp chức năng - Tập I
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học Xã hội
Năm: 1991
17. Lê Trung Hoa (2002), Họ tên người Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Họ tên người Việt Nam
Tác giả: Lê Trung Hoa
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 2002
18. Vương Đình Hoà (2005), Đặc điểm cấu trúc - ngữ nghĩa của tên (chính danh) người Nhật (có đối chiếu với tên người Việt), Luận văn bảo vệ Thạc sĩ tại Khoa Ngôn ngữ học, Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm cấu trúc - ngữ nghĩa của tên (chính danh) người Nhật (có đối chiếu với tên người Việt)
Tác giả: Vương Đình Hoà
Năm: 2005
19. Nguyễn Văn Khang (1999), Ngôn ngữ học xã hội – những vấn đề cơ bản, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học xã hội – những vấn đề cơ bản
Tác giả: Nguyễn Văn Khang
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học Xã hội
Năm: 1999
20. Nguyễn Văn Khang (2007), Từ ngoại lai Tiếng Việt, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ ngoại lai Tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Văn Khang
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2007
21. Nguyễn Việt Khoa (2002), Khảo sát đặc điểm cấu trúc - ngữ nghĩa của tên người Anh, Luận văn Thạc sỹ Ngôn ngữ học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát đặc điểm cấu trúc - ngữ nghĩa của tên người Anh
Tác giả: Nguyễn Việt Khoa
Nhà XB: Luận văn Thạc sỹ Ngôn ngữ học
Năm: 2002
22. Mông Lâm (2010), Đặc điểm tên người Hán hiện nay (đối chiếu với tên người Việt), Luận văn Thạc sĩ Ngôn ngữ học, Khoa Ngôn ngữ học, Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm tên người Hán hiện nay (đối chiếu với tên người Việt
Tác giả: Mông Lâm
Năm: 2010
24. Bình Long (1984), Nghĩa trong tên riêng của người, T/c Ngôn ngữ (số phụ), Số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghĩa trong tên riêng của người
Tác giả: Bình Long
Nhà XB: T/c Ngôn ngữ
Năm: 1984
25. Vũ Đức Nghiệu (chủ biên) (2009), Nguyễn Văn Hiệp, Dẫn luận ngôn ngữ học, Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận ngôn ngữ học
Tác giả: Vũ Đức Nghiệu, Nguyễn Văn Hiệp
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2009
26. Hoàng Phê (1979), Vấn đề cải tiến và chuẩn hoá chính tả, Tạp chí Ngôn ngữ số 3, 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề cải tiến và chuẩn hoá chính tả
Tác giả: Hoàng Phê
Nhà XB: Tạp chí Ngôn ngữ
Năm: 1979
27. Lê Thị Bích Phượng (2008), Khảo sát chính danh người Việt xuất hiện từ năm 2000 đến nay tại Thanh Hoá, Luận văn thạc sĩ, Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát chính danh người Việt xuất hiện từ năm 2000 đến nay tại Thanh Hoá
Tác giả: Lê Thị Bích Phượng
Nhà XB: Vinh
Năm: 2008
28. Nguyễn Văn Thạc (1979), Những cơ sở để xây dựng quy tắc viết hoa, Tạp chí Ngôn ngữ số 3, 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cơ sở để xây dựng quy tắc viết hoa
Tác giả: Nguyễn Văn Thạc
Nhà XB: Tạp chí Ngôn ngữ
Năm: 1979
29. Nguyễn Kim Thản (1964), Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Kim Thản
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Năm: 1964
30. Nguyễn Long Thảo (2003), Sơ thảo tính danh học Việt Nam, Nxb. Thằng Mõ, Mỹ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ thảo tính danh học Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Long Thảo
Nhà XB: Nxb. Thằng Mõ
Năm: 2003
31. Phạm Tất Thắng (1996), Đặc điểm của lớp tên riêng chỉ người (chính danh) trong tiếng Việt, Luận văn PTS khoa học Ngữ văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm của lớp tên riêng chỉ người (chính danh) trong tiếng Việt
Tác giả: Phạm Tất Thắng
Năm: 1996
32. Phạm Tất Thắng (1998), Về ý nghĩa tên riêng, trong tiếng Việt và ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, Kỉ yếu HNKH Viện Ngôn ngữ học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về ý nghĩa tên riêng, trong tiếng Việt và ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Tất Thắng
Năm: 1998
33. Phạm Tất Thắng (2004), Mối quan hệ giữa tên riêng và tên chung, trong những vấn đề ngôn ngữ học, Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mối quan hệ giữa tên riêng và tên chung, trong những vấn đề ngôn ngữ học
Tác giả: Phạm Tất Thắng
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội
Năm: 2004
34. Trần Ngọc Thêm (1976), Về lịch sử hiện tại và tương lai của tên riêng trong người Việt, tạp chí dân tộc học, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về lịch sử hiện tại và tương lai của tên riêng trong người Việt
Tác giả: Trần Ngọc Thêm
Năm: 1976
35. Lê Quang Thiêm (2006), Ngữ nghĩa học, Giáo trình Đại học khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ nghĩa học
Tác giả: Lê Quang Thiêm
Nhà XB: Giáo trình Đại học khoa học xã hội và nhân văn
Năm: 2006
79. Luật của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam số 25/2004/QH11 ngày 15 tháng 06 năm 2004 về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, http://www.tuonglaicentre.org/thu-vien/luat-va-chinh-sach/quyen-tre-em-cac-van-ban-phap-luat-lien-quan Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2: Biệt danh là từ thuần Việt phổ biến - Đặc điểm biệt danh của trẻ em ở Hà Nội
Bảng 2.2 Biệt danh là từ thuần Việt phổ biến (Trang 43)
Bảng 2.1: Biệt danh là các từ thuần Việt - Đặc điểm biệt danh của trẻ em ở Hà Nội
Bảng 2.1 Biệt danh là các từ thuần Việt (Trang 43)
Bảng 2.4: Biệt danh là các từ ngữ gốc Ấn – Âu - Đặc điểm biệt danh của trẻ em ở Hà Nội
Bảng 2.4 Biệt danh là các từ ngữ gốc Ấn – Âu (Trang 45)
Bảng 2.5: Biệt danh là từ tiếng Anh được sử dụng trong tiếng Việt - Đặc điểm biệt danh của trẻ em ở Hà Nội
Bảng 2.5 Biệt danh là từ tiếng Anh được sử dụng trong tiếng Việt (Trang 47)
Bảng 2.6: Biệt danh là từ vay mượn nguyên dạng phổ biến - Đặc điểm biệt danh của trẻ em ở Hà Nội
Bảng 2.6 Biệt danh là từ vay mượn nguyên dạng phổ biến (Trang 47)
Bảng 2.7: Biệt danh là các từ vay mượn Anh/ Pháp - Đặc điểm biệt danh của trẻ em ở Hà Nội
Bảng 2.7 Biệt danh là các từ vay mượn Anh/ Pháp (Trang 51)
Bảng 2.8: Biệt danh là các từ vay mượn tiếng Anh/ Pháp phổ biến - Đặc điểm biệt danh của trẻ em ở Hà Nội
Bảng 2.8 Biệt danh là các từ vay mượn tiếng Anh/ Pháp phổ biến (Trang 52)
Bảng 2.11: Biệt danh là từ phức phổ biến - Đặc điểm biệt danh của trẻ em ở Hà Nội
Bảng 2.11 Biệt danh là từ phức phổ biến (Trang 59)
Bảng 2.12: Thống kê biệt danh là tên các sự vật  Nhóm 1 chỉ ý nghĩa sự vật là nhóm có số lượng nhiều nhất, trong đó, các biệt  danh là động vật cùng với những đặc điểm liên quan đến các loài động vật chiếm số  lượng lớn với tổng 55,02% - Đặc điểm biệt danh của trẻ em ở Hà Nội
Bảng 2.12 Thống kê biệt danh là tên các sự vật Nhóm 1 chỉ ý nghĩa sự vật là nhóm có số lượng nhiều nhất, trong đó, các biệt danh là động vật cùng với những đặc điểm liên quan đến các loài động vật chiếm số lượng lớn với tổng 55,02% (Trang 64)
Bảng 2.14: Thống kê biệt danh về con người và sinh hoạt của con người - Đặc điểm biệt danh của trẻ em ở Hà Nội
Bảng 2.14 Thống kê biệt danh về con người và sinh hoạt của con người (Trang 68)
Bảng 2.15: Thống kê nhóm nghĩa đặc biệt - Đặc điểm biệt danh của trẻ em ở Hà Nội
Bảng 2.15 Thống kê nhóm nghĩa đặc biệt (Trang 69)
Bảng 2.16: Thống kê các nhóm biệt danh theo phân loại từ vựng - ngữ nghĩa - Đặc điểm biệt danh của trẻ em ở Hà Nội
Bảng 2.16 Thống kê các nhóm biệt danh theo phân loại từ vựng - ngữ nghĩa (Trang 70)
Bảng 2.17: Thống kê biệt danh theo từ vựng - ngữ pháp - Đặc điểm biệt danh của trẻ em ở Hà Nội
Bảng 2.17 Thống kê biệt danh theo từ vựng - ngữ pháp (Trang 71)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm